Skip navigation.

CHUYỆN ĐỜI TỰ KỂ _ 6.2008

Trời đã khuya, khuya lắm rồi,… Hắn vẫn ngồi đó, một mình, ly càfê đã cạn từ lúc nào, ngồi trước máy vi tính mà đầu óc Hắn cứ suy nghĩ tận đâu đâu…

Ánh sáng mờ nhạt của cái máy vi tính và cái đèn bàn nhỏ xíu đặt sát dưới sàn hắt lên khiến thân hình hắn để lại một vệt dài, liêu xiêu trên bức tường loang lổ theo thời gian. Bất chợt Hắn nghe như từ cõi xa xăm vọng lên tiếng nhạc buồn của Trịnh: “đời sao im vắng như đồng lúa gặt xong, như rừng núi bỏ hoang, người về soi bóng mình giữa tường trắng lặng câm”.

Phải! Hắn đang soi bóng Hắn, soi rọi vào ký ức để nghĩ về quá khứ, hiện tại và cả tương lai.

Hắn – Một chàng trai tỉnh lẻ sinh ra ở một vùng quê quanh năm nghèo khó. Cha mẹ Hắn cũng như bao nhiêu con người khác ở đó quanh năm lam lũ bán lưng cho đất bán mặt cho trời. Mới sinh ra, Hắn đã chạm vào cái khó nghèo của người nông dân, tuổi thơ cơ cực với những ngày làm việc mệt nhọc và bát cơm độn ngô, sắn nhưng vẫn không đủ no vẫn còn hằn in trong tâm trí Hắn. Rất may, cha mẹ Hắn là người rất chăm chỉ, tuy vất vả, làm việc hàng ngày đến 8 – 9h tối mới về đến nhà, nhưng cha mẹ Hắn vẫn cố gắng lo cho anh em Hắn ăn học. Mẹ Hắn nói: Cha Mẹ nghèo chẳng có gì cho các con ngoài cái chữ…. Bây giờ nghĩ lại Hắn thấy thật thấm thía. Rất may, tuy không có điều kiện nhưng anh em Hắn cũng đã đang học đại học cả, dù sao….

Hắn nhớ lại câu nói của người thầy giáo mà Hắn rất tôn kính thời Hắn học phổ thông: Các em phải cố gắng làm sao để ba các em ở nhà mỗi khi nhậu say với mấy ông bạn mình có thể phanh ngực tự hào mà nói rằng, thằng đó nó là con tao…. Hắn nghe tim mình nhoi nhói, suốt bốn năm học đại học, Hắn ham chơi hơn hơn ham học, giờ nhìn lại mình, Hắn cũng thấy hơi tiếc tiếc, phải chi ngày ấy….

Bước vào cổng trường đại học, Hắn thấy mở ra trong Hắn một khung trời mới đầy ước mơ, hy vọng. Hắn nghĩ mình sẽ thực hiện được ước mơ của mình rồi đây! Nộp hồ sơ nhập học, Hắn tự nhủ thế là ta lại đậu đại học một lần nữa rồi – dù cho Hắn không đậu Luật khoa Thương mại như Hắn đăng ký.

Ngày ấy, vừa tốt nghiệp PTTH, như bao học sinh khác, Hắn cũng nộp đơn thi đại học, kết quả không tệ – Hắn đậu cả hai trường Luật và KHXH&NV. Thế nhưng, dù cho cha mẹ khuyến khích, thầy cô nhắc nhở Hắn vẫn quyết định không đi học đại học với chỉ một lập luận đơn giản không cần học đại học!

Thời gian đã chứng minh cho Hắn thấy, quan niệm của Hắn là sai lầm, ít ra cũng sai lầm đối với chính Hắn – Hắn không giỏi giang như người khác để có thể bỏ học đại học mà vẫn thành công!

Lăn lộn mấy năm với cuộc đời, Hắn chợt nhận ra rằng mình chẳng phải giỏi giang như mình nghĩ, cái tính tự cao, tự phụ trong con người hắn dần mất đi. Hắn nghĩ, bây giờ chỉ có hai con đường, một là đi học đại học lại để mong thay đổi, hai là tiếp tục cuộc sống “…đời ai vô công nhân phiêu bạt theo tiếng giờ, đã trải qua bao ngày ca tối, qua bao bận đổi ca, mới ghi cho đời bài tình ca kiếp công nhân…” như Hắn và đám bạn từng ngêu ngao. Và Hắn đã lựa chọn….

Bây giờ sắp thực hiện xong một phần sự lựa chọn đó, nghiêm túc kiểm điểm lại mình Hắn thấy Hắn đã không thực hiện được rất nhiều dự định mà Hắn đã vẽ ra từ khi mới vào đại học. Vào đại học, Hắn nghĩ mình phải học thật tốt – thần tượng của Hắn là Abraham Lincol mà. Hắn muốn thay đổi cuộc sống này, Hắn muốn làm sao cho cuộc sống của những người nông dân trong đó có cha mẹ Hắn, những người công nhân trong đó có bạn bè Hắn bớt lam lũ, nhọc nhằn hơn, cuộc sống này còn quá nhiều bất công cần phải dẹp bỏ. Có vẻ Hắn đang làm đúng lời nói của ai đó: 20 tuổi, người ta nghĩ mình có thể thay đổi được cả thế giới…. Nhưng bây giờ Hắn đã làm được những gì và sẽ làm được những gì? Mọi thứ không đơn giản như Hắn muốn, có lẽ sẽ không bao giờ như Hắn nghĩ hồi 20 tuổi, có vẻ bây giờ Hắn đã….30….

Nhưng thôi, cuộc sống có mặt này mặt khác, Hắn tự an ủi mình vậy. Trải qua bốn năm, biết bao thăng trầm, bao kỷ niệm buồn vui đã gắn bó cuộc đời sinh viên của Hắn. Những kỷ niệm với bạn bè chung lớp, với anh em hoạt động Đoàn, với những lần đi chiến dịch MHX,…. Hắn nhớ những ngày học ở lớp, những buổi chỉ mong lên giảng đường để gặp bạn bè mà thôi chứ không phải lên lớp để học. Hắn nhớ buổi sinh nhật Hắn bạn bè chẳng ai hẹn mà vẫn đông vui, vẫn rôm rả như lời thằng bạn nói: nhậu đến hết cả beer của quán… Hắn nhớ những lần tổ chức cho lớp đi chơi, tất bật chạy lên chạy xuống nhưng vui và chỉ lo bạn bè không đi được đông..… Hắn nhớ những lần đi chiến dịch tình nguyện, những con người chưa thân thiết nhưng đã sống chung với nhau thật là vui, và không ai lại không nhớ những ngày tháng ấy! Hắn cũng không thể quên được những kỷ niệm khi đi thi Olympic, những con người Hắn đã gặp trong Đoàn Trường, những người đã giúp đỡ Hắn, dìu dắt Hắn, cùng Hắn làm việc, cộng tác và những buổi tối ở lại cái văn phòng nhỏ bé đến khuya,…. Hắn nhớ...

Bất chợt, bất chợt, những ký ức trong Hắn như những lớp sóng ùa về khiến Hắn muốn ngộp thở. Mọi thứ giờ đây trong Hắn đang hiển hiện, quá khứ, thực tại cứ hòa quyện vào nhau, dồn dập. Hắn bơi chìm trong những miền xúc cảm khác nhau, người Hắn cứ ngây ra nhưng rồi Hắn chợt tỉnh, vì hiện tại bây giờ như bức tường đang chắn ngang hành lang ký ức của Hắn, tiếng trở mình của thằng bạn đã kéo Hắn về với thực tại.

Những ngày cuối của đời sinh viên, mọi thứ dường như tất bật hơn, mọi người vội vã hơn, duy chỉ có Hắn là vẫn bình chân như vại. Hắn cũng đã trải qua hơn hai tháng thực tập tại một Công ty do một người Thầy giới thiệu. Vào Công ty, Hắn lại nhận thấy những kiến thức của mình mong manh quá! Nhiều khi Hắn cũng chẳng biết phải làm sao, nhưng Hắn vẫn cố gắng và Hắn phải cố gắng. Hắn nhớ lại cái cảm giác của ngày đầu khi đến Công ty ấy, nó lạ lẫm lắm, nhưng cũng gần gũi lắm, Hắn chưa thể quên được cái cảm giác ấy, dù chỉ mảy may. Chuẩn bị hết kỳ thực tập, Hắn muốn nói với mọi người ở đó rằng: Hắn cảm ơn mọi người lắm lắm…. nhưng sao Hắn không thể nói được gì…. Hắn là con trai mà!

Rồi Hắn lại nghĩ đến tương lai, Hắn chưa có dự định làm việc ở đâu, tương lai gần phía trước Hắn không lo, Hắn cứ mải mê nghĩ rằng bốn năm nữa mình sẽ là một luật sư. Hắn cũng vạch ra cho mình một lộ trình, nhưng Hắn vẫn phải sống, phải kiếm một việc gì đó để làm để thực hiện dự định đó chứ, mọi thứ trong Hắn giờ đây rất mơ hồ, mông lung. Hắn từng nghĩ mình sẽ làm việc tại Công ty đang thực tập, nhưng rồi Hắn lại có cảm giác mình còn yếu quá, Hắn không muốn mình không hoàn thành tốt công việc, sao bây giờ tự nhiên Hắn lại tự ti thế nhỉ, chẳng giống Hắn tý nào cả. Càng nghĩ, Hắn lại càng thấy rối rắm, Hắn sẽ phải làm sao đây? Làm sao đây?... Hàng loạt những câu hỏi cuồng quay trong đầu óc Hắn, những hình ảnh của quá khứ, của hiện tại và của tương lai như những đoạn film cứ liên tiếp nhau diễn ra khiến cái đầu nhỏ bé của Hắn căng ra như những sợi dây đàn.

Trời đã khuya lắm, Hắn cũng không biết mình đã ngồi như thế này bao lâu rồi. Cuộc sống với những quy luật của nó vẫn đang viết tiếp từng trang, từng trang…. Quá khứ, hiện tại và cả tương lai cứ đan xen, hòa quyện vào nhau, lẫn lộn. Bất chợt, Hắn mở miệng nói một mình: Ngày mai,….

Cha!


Trời Sài Gòn mưa, mưa buồn da diết nỗi nhớ nhà, mưa cuốn đi biết bao xô bồ của cuộc sống phồn hoa này, mưa làm cho tâm hồn Ta tĩnh lặng để nhận ra biết bao nhiêu điều từ cuộc sống….

Đã bao lần Ta đi qua cầu Kinh, đã bao lần Ta nhìn thấy hình dáng ấy! Cái bóng hình còm cõi của một cụ già tựa mình vào thành cầu, mặc trời mưa, mặc trời nắng, mặc những dòng người qua lại,…. Cái con người bé nhỏ ấy vẫn cứ ngồi lặng lẽ, lầm lũi,… Bên cạnh chỉ là chiếc xe đạp đã cũ cùng vài trái mít, trái cau,…. chờ để bán. Những món hàng xem ra chẳng có gì đáng giá với nhiều người, nhưng có lẽ đó là cả một tài sản đối với con người bé nhỏ ấy!
Đã bao lần Ta cố gắng dừng lại, để quan sát tìm một nét cười trên khuôn mặt con người bé nhỏ ấy, mà sao Ta thấy lòng mình quặn thắt một niềm đau, một nỗi thương cảm dâng đầy,….

Cái con người bé nhỏ ấy, cái thân hình gầy guộc ấy, cái cảnh tượng ấy sao mà giống Cha Ta đến thế, phải chăng đó là hình ảnh của người Cha già ở quê, Người cũng còm cõi như thế, người cũng nhỏ bé như thế, Người cũng lặng lẽ như thế…. Năm xưa, để nuôi Ta lớn khôn, Người đã phải cặm cụi đạp xe hàng mấy chục cây số một ngày trong đêm tối, mưa gió với chiếc áo cũng phong phanh như thế thì làm sao mà đủ ấm cơ chứ! Ngày nay, để cho Ta tiếp tục cuộc sống thoải mái nơi phố thị này, Người đã phải ở ngoài đồng, mặc trời mưa gió, căn lều dựng tạm liệu có đủ sức che chắn trước những cơn gió bão bùng kia không? Cũng như chiếc áo mưa mỏng liệu có đủ giữ cho cụ già khỏi ướt? Và biết đâu, một ngày,… kẻ vô tâm như Ta qua lại chiếc cầu Kinh quen thuộc, không còn thấy cảnh tượng ấy, hình dáng ấy nữa ... Và Cha Ta, vào một ngày…. cũng thế, ….Cha ơi!....

Ta đã bao lần đọc câu thơ,
Nước biển mênh mông không đong đầy tình Mẹ,
Mây trời lồng lộng không phủ kín công Cha,
Tần tảo sớm hôm, Mẹ nuôi con khôn lớn,
Mang cả tấm thân gầy, Cha che chở đời con....

Mà sao lần này thấy thấm thía đến vậy, phải với tấm thân gầy, Cha đã che chở đời con, Cha ơi! Dù con không nói, nhưng tận đáy lòng con cám ơn Cha lắm! Cám ơn Cha đã sinh ra Con, đã nuôi Con lớn khôn, đã truyền sinh lực của Cha cho Con. Phải chăng hình hài Con càng lớn lên bao nhiêu thì hình hài Cha lại càng nhỏ bé lại bấy nhiêu, đây là quy luật của Tạo hóa ư? Tại sao lại có cái quy luật khắc nghiệt như thế chứ? Tại sao???

Sài Gòn vẫn mưa, bao cảnh đời vẫn nối tiếp nhau, bất tận…....

http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=ogASdmzRpo

Mẹ


http://www.nhac.vietgiaitri.com/bai-hat/me-18016.vgt

Mấy ngày nay mình đã nghe rất nhiều lần bài hát: MẸ (của Đức Minh), lòng chợt dâng lên nhiều nỗi niềm khó tả, nhiều lúc muốn rơi nước mắt khi nghĩ về người Mẹ của mình, một người Mẹ nghèo với biểt bao cố gắng đã tảo tần nuôi Con lớn khôn….. Vậy mà,

Có lúc ta quên màu tóc Mẹ,
Đã một thời giãi nắng dầm mưa.
Có lúc ta quên nhìn trán Mẹ,
Còn bao nghĩ suy dù ta lớn khôn rồi.

Đã rất nhiều lần Con đã vô tình không nhận ra mái tóc Mẹ đã ngả màu vì giãi nắng dầm mưa, vì trải qua bao gió sương của cuộc đời. Mẹ ơi! Những ngày con thơ bé, Mẹ đã phải làm việc, phải vất vả sớm tối, có khi đến 8 – 9h tối mới về đến nhà, mới ăn chén cơm tối, đêm khuya Mẹ lại còn phải ngồi bó rau, từng mớ rau nhỏ để cho Ba ngày mai đi bán…. Kiếm chút tiền nuôi mấy đứa con ăn học, vậy mà,….có thể vì Con đã quá vô tâm đến nỗi không nhận ra được những đổi thay trên màu tóc mẹ, Con đã quá vô tâm và vô tình đến độ Mẹ nhờ nhổ dùm Mẹ mấy sợi tóc “sâu” “tóc bạc” mà Con có chịu làm bao giờ đâu?

Cũng vậy, Mẹ ơi! Cũng đã bao lần, Con có để ý đâu vầng trán Mẹ, vầng trán đã hằn lên bao nghĩ suy, những nỗi trăn trở vì lo cho những đứa Con, biết bao giờ Con mới có thể làm cho Mẹ khỏi phải nghĩ suy, lo lắng vì Con?...hay mãi vẫn… dù cho Con lớn đến bao nhiêu, Mẹ vẫn suy tư, lo lắng cho Con. Có những lúc Con cảm thấy bực bội vì điều đó, vì sự quan tâm đó của Mẹ, nhưng Mẹ ơi! Dù không Con nói ra, và Mẹ đâu biết rằng, bao giờ cũng vậy và mãi mãi về sau, Con vẫn là con của Mẹ - đứa Con bé bỏng cần vòng tay và tấm lòng của Mẹ.

Có lúc ta quên nhìn mắt Mẹ,
Còn chờ ta mỏi ngóng đêm sâu....

Đôi mắt Mẹ ngày càng kém đi, ánh mắt mẹ ngày càng nhoè đi theo năm tháng, những vết chân chim quanh mắt Mẹ khắc đậm dấu ấn thời gian. Những ngày thời trai trẻ, Con bồng bột, nông nổi, hăng say trong cuộc đời, đắm mình vào những cuộc vui vầy cùng bạn bè thâu đêm suốt sáng. Con có biết đâu rằng Mẹ vẫn ngóng chờ Con, lo lắng trong đêm, và chỉ thở phào mừng rỡ khi thấy Con đã trở về nguyên vẹn, an toàn. Chỉ khi ấy, Mẹ mới có thể yên tâm ngủ yên, đã bao lần như thế, Con đã vô tình không nhận ra hay cố tình lảng tránh?

Có lúc ta quên nhìn dáng Mẹ,
Chợt quạnh hiu ngày ta bước vào đời....

Ngày xưa, bóng dáng Mẹ chính là chỗ dựa cho Con, bóng dáng Mẹ luôn bên cạnh đã từng bước nâng những bước chân đầu tiên Con chập chững vào đời. Mẹ đấu tranh với cuộc đời để bảo vệ Con, che chở cho Con trước những hiểm nguy cuộc đời cho tới ngày Con có thể dấn bước hiên ngang đi vào đời. Ngày ấy – cái ngày mà Con có thể tự bước đi trong đời, cũng chính là ngày dáng Mẹ trở nên già cỗi, còm cõi hơn, và cuộc đời Mẹ cũng… trở nên hiu quạnh hơn, lẻ loi hơn, vì Con không còn ở mãi bên Mẹ, con đã xa Mẹ, xa Mẹ rồi….

Cuộc sống đã cuốn con đi, việc học tập, mưu sinh đã khiến thời gian bên Mẹ của Con ngày càng ít dần, ít dần. Đã thế, nếu có chút thời gian bên Mẹ, nhiều khi Con còn mang những bực tức, cau có từ bên ngoài về để làm buồn lòng Mẹ, để Mẹ phải tủi, phải hờn. Con ích kỷ quá! chỉ biết tới bản thân, không nghĩ đến sự lẻ loi, cô đơn, hiu quạnh của Mẹ.

Có lúc ta quên thời gian qua,
Đường ta càng xa, vòng tay Mẹ ngắn lại.
Có lúc ta nghe từng nhịp đời,
Mẹ thật gần, sao ta quá xa.....

Bây giờ đây, với những nhu cầu và cuộc sống của mình, Con ngày càng xa Mẹ, Con rong ruổi trên những con đường của Sài Gòn hoa lệ để đi tìm những chân trời mới, những khát khao mới. Con đâu biết rằng, con đường của con càng xa, càng rộng thênh thang bao nhiêu thì dường như Mẹ lại càng tụt lại phía sau dường ấy, vòng tay Mẹ dường như càng ngày càng ngắn lại, ngắn lại dần không còn đủ sức ôm lấy cuộc đời con. Con đã vô tình, vô tâm quá, con đã quên thời gian đang dần trôi qua rất nhanh, Con đã vô tình quên luôn một điều: Mẹ đang ngày càng rời xa Con mỗi phút, mỗi giây….

Từng ngày, từng ngày như từng nhịp đời trôi qua, Mẹ càng gần ngày cuối trong cuộc đời, trong khi Con vẫn sống, vẫn vô tình vì còn đầy sức sống của tuổi trẻ, còn nhiều ước mơ ở phía trước để rồi giật mình nhận ra rằng: Mẹ thật gần, sao Ta quá xa…..

Có lúc ta quên nhìn áo Mẹ,
Chợt mỏng manh quang gánh chiều đông....

Con đã quên luôn sự quan tâm đến Mẹ, quên rằng Mẹ đang mặc chiếc áo mỏng manh, phong phanh trong trong những ngày đông giá rét. Trong khi con, với những bộ quần áo đắt tiền, sang trọng hơn, ấm áp hơn rất nhiều, Vậy mà, đã bao giờ con mua tặng Mẹ được một chiếc áo đâu? Cho tới tận bây giờ…..

Hát khúc hát ai quên mình có Mẹ,
Một ngày kia lặng lẽ bên cuộc đời....

Công danh sự nghiệp, bạn bè, danh vọng, tiền bạc đã khiến con quên mất mình đang có Mẹ, nhiều khi với những tham vọng của Con trong cuộc đời đã khiến Con từng “từ chối” Mẹ bên cạnh Con, hoặc cảm thấy “xấu hổ” khi có người Mẹ “quê mùa” bên cạnh để rồi có một ngày... Mẹ ơi! Con không dám nghĩ đến cái ngày ấy, cái ngày mà con không còn Mẹ trên cuộc đời.Ngày mà Con sẽ phải lặng lẽ bước trên đường đời, không còn Mẹ ở bên, ngày mà Con sẽ cảm thấy bơ vơ lạc lõng hơn lúc nào hết….. Ngày mà Con thèm lắm những câu hỏi han của Mẹ, cái nhìn hiền từ của Mẹ, cái chăm sóc “con không thích” ngày nào của Mẹ, ngày mà……có người cài lên ve áo mình một bông hoa hồng trắng…..

Cánh cò, cõng nắng, cõng mưa,
Mẹ tôi cõng cả bốn mùa gió sương…..

Câu ca dao con đã nghe bao lần, thân cò lặn lội gió sương nhưng cũng chỉ cõng nắng mưa 2 mùa. Còn Mẹ của Con phải cõng cả 4 mùa gió sương, cõng bao nhiêu gánh nặng của cuộc đời và cả sự vô tình của những đứa con như Con.

Nước mắt Con không chảy được, nhưng vẫn làm nhạt nhòa, nhạt nhòa như hình ảnh Mẹ đang ngày càng mờ xa. Hôm nay là 8/3, con cố gắng đem lại chút niềm vui cho nhiều người phụ nữ xung quanh, vậy mà, người quan trọng nhất trong cuộc đời Con lại “vô tình” không nghĩ đến….Mẹ ơi! Xin hãy tha lỗi cho con nhé Mẹ! Mong rằng Mẹ sẽ còn mãi bên cuộc đời Con, mong rằng Con sẽ vượt qua được chính mình để không phải ân hận khi một ngày kia lặng lẽ bên cuộc đời....

161818

KỶ NIỆM SINH VIÊN!

CHÚT KỶ NIỆM!

Bán thân... đúng giá!...


Đức Hiển


Tết về quê, ngang làng Nho, tôi vẫn ngóng vào ngôi nhà nhỏ ven bờ ruộng. Hai mươi năm nay nó vẫn thế. Cũng như anh, hai mươi năm không già đi tí nào. Người bé loắt choắt, mặt mũi thư sinh trắng trẻo như một cậu học sinh lớp 10.

Hồi đó, nhà nuôi heo, anh em tôi một buổi đến trường và một buổi vác bao đi hái rau, chặt thân chuối về bằm. Nhà của anh là cái "trạm nghỉ" dọc đường, khi mỏi chân và khát khô cổ sau những giờ lội ruộng, hái rau. Nhà anh cũng đông anh em và nghèo như nhà tôi, ngoài giờ học, cả nhà xúm vào lột vỏ tôm hùm cho công ty đông lạnh. Nhung anh em nhà anh, ai cũng học giỏi.

Rồi ra trường, anh ra Nha Trang học Thủy sản, tôi vào Sài Gòn. Mười mấy năm không gặp nhau. Ngày nọ, anh xuất hiện trước cổng tòa soạn vào buổi tối.

Dưới ánh đèn đường lờ mờ bị khuất tàn cây, thấy anh vẫn như xưa. Quái chiêu là đi xe ôm và chở theo một... cây nước đá: "Mai nó mới tan hết, đừng lo, giờ rảnh thì đi lai rai. Lâu quá không gặp nên gửi cậu ít quà!".

Thấy tôi khó hiểu, anh giải thích: "Năm ký vừa tôm vừa bạch tuộc xuất khẩu, mình cho đúc trong cây nước đá và gửi xe tải lên đây. Cậu về chặt nước đá ra, để vô tủ cấp đông, ăn dần".

Hai thằng ra quán. Giờ anh làm gì? Mình làm giám đốc một công ty thủy sản. Công nhân đông không? Hơn hai trăm người, năm tới sẽ gấp đôi. Lương khá không? Lương không ăn thua, lương lính mình mới cao, nhưng lợi nhuận rất khá.

Lợi nhuận khá sao nó trả lương giám đốc bèo hơn lương lính? Tôi vừa hỏi vừa cảm thấy tội nghiệp anh, đi làm mười mấy năm mà vẫn áo thun và đi dép. Kể ra phận thằng trai quê miền Trung ly hương này chẳng khá gì.

Anh cười: không phải thế, đây là công ty của mình.

Tốt nghiệp Đại học Thủy sản, khoa chế biến, về quê không xin được việc làm, anh lội ngược ra Nha Trang xin làm thuê cho một công ty đông lạnh mới thành lập. Thi công xong hệ thống kho lạnh thì giám đốc nói hết việc dành cho anh. Lại đi xin ở công ty mới. Sau một thời gian, anh trở thành trưởng phòng kỹ thuật rồi phó giám đốc một công ty chuyên thi công kho lạnh. Làm việc với khách hàng, lâu ngày anh học được những bí quyết kinh doanh của họ.

Một chủ doanh nghiệp tư nhân tìm đến anh. Ông ta mở một công ty chế biến thủy sản xuất khẩu ở Kiên Giang, nhờ anh thiết kế và thi công hệ thống kho lạnh. Năm tháng sau, công trình hoàn thành. Anh trở về Nha Trang.

Một tháng sau đó, ông ta quay ra Nha Trang: "Tôi muốn mời anh làm Phó giám đốc, lương khởi điểm hai ngàn!".

Mức lương cao gấp bốn lần thu nhập của anh.

- Dĩ nhiên là tôi từ chối. Anh trả lời trước sự ngạc nhiên của ông ta.

- Anh không chấp nhận mức lương, môi trường làm việc hay là...?

- Không, lương trả cho giám đốc mới như thế là cao. Nhưng nếu trả cho tôi thì như thế là thấp.

- Ý anh sao?

- Tôi không nhận lương, nhưng tôi muốn ông trả cho tôi 40% lợi nhuận của công ty. Xem như sự có mặt của tôi đã góp vào đó bốn phần mười tổng vốn.

Vị này tưởng anh đùa, bảo anh nghĩ lại. Anh dứt khoát: Ông có nghĩ thì nghĩ, còn tôi không nghĩ lại.

Một tuần sau, họ gặp lại. Anh đưa cho ông ta bản kế hoạch kinh doanh và chấp nhận làm ăn lương hai tháng đầu. Từ tháng thứ ba, anh không nhận lương. Yêu cầu 40% lợi nhuận được chấp thuận.

Công ty từ ngày có anh liên tục phát triển. Ba năm sau nữa, giữa lúc lợi nhuận đang cao, anh nói lời chia tay với ông chủ công ty. Ông hỏi: Đã đến lúc cậu làm ông chủ phải không? Anh gật đầu. Ông bảo: Tôi biết, cám ơn anh vì sự cộng tác mấy năm qua. Anh lựa hướng đi đúng rồi!

Anh xúc tiến thành lập công ty chế biến thủy sản của riêng mình.

Ngồi nhậu, anh cứ kè kè túi xách to đùng, trong đó là chiếc laptop. Chốc chốc lại nghe điện thoại vè chuyện giao hàng, xuất hàng. Xe hơi chưa mua, đi đâu thì Phó giám đốc đi taxi, còn anh thì suốt ngày dưới xưởng.

Lần sau lên Sài Gòn, anh rủ tôi đi ăn ở một nhà hàng khá sang, với một doanh nghiệp Hàn Quốc, đối tác của anh. Ông người Hàn bảo hai năm nay, ông ta thu hết mối làm ăn với các doanh nghiệp khác, giao cho anh.

Anh bảo: mỗi tháng, mình xuất gần chục container hàng, giờ ổn rồi. Công ty bắt đầu có uy tín với bạn hàng.

Đi công tác Cà Mau với Tổng và Phó tổng biên tập, khi xe qua phà Tắc Cậu về Kiên Giang, tôi rủ hai sếp ghé thăm anh. Anh hồ hởi khoe vừa có một phái đoàn từ châu Âu qua kiểm tra quy trình chế biến trước khi đặt hàng: "Mình lùi xùi thế này nhưng nhà xưởng thì phải hiện đại và sạch sẽ". Rồi anh dẫn chúng tôi tham quan công ty, đi khắp nhà máy, nhưng không hề nghe mùi hôi.

Hỏi anh quyết định "bán thân" với giá 40% lợi nhuận của công ty dạo nọ, có là .. quá đáng? Anh cười: Cái chính là liên tục những năm trước đó, mình cố gắng học hỏi và làm việc như điên để gia tăng giá trị cho mình. Cuối cùng phải định giá đúng bản thân mình, biết ai là người có thể mua và bán đúng giá.

Anh chàng hái rau heo, bóc vỏ tôm ngày nào; thằng học trò quê gò lưng đạp xe cả chục cây số đi học ngày nào; chàng sinh viên ra trường thất nghiệp ngày nào, giờ là ông giám đốc thành đạt.

Bước ngoặt của sự thành đạt là quyết định "bán thân đúng giá".

* Tác giả là Tổng thư ký tòa soạn báo Pháp luật Tp.HCM. Bài viết được trích từ blog của anh.
http://www.vneconomy.vn/?home=detail&page=category&cat_name=05&id=429cb0ee825424

12 ĐIỀU NHỎ BÉ ĐỂ LÀM CHO TỔ QUỐC!...


Hãy tuân thủ luật giao thông. Hãy tuân thủ luật pháp! Cách đây hai tháng, một người bạn Philippines đã gửi cho tôi cuốn sách mỏng với lời đề tặng: "Mặc dù cuốn sách này được viết cho Philippines, nhưng những gợi ý trong đó cũng có thể giúp ích cho đất nước bạn rất nhiều. Cầu chúc mọi điều tốt lành sẽ đến với Tổ quốc Việt Nam của bạn!".

Tôi mở ra và nhìn thấy tựa đề "12 điều nhỏ bé mỗi người Philippines có thể thực hiện để giúp ích tổ quốc" (12 little things every Filipino can do to help our country). Tác giả - luật sư Alexander L. Lacson. Dù chỉ là một thường dân, nhưng cuốn sách đã được khá nhiều nhân vật nổi tiếng của thế kỷ 20 quan tâm và giới thiệu. Một website
(www.12littlethings.com) cũng được mở ra để mời gọi công chúng
Philippines ủng hộ. 12 điều đó là:

1. Hãy tuân thủ luật giao thông. Hãy tuân thủ luật pháp.
2. Khi mua sắm, hãy yêu cầu có hóa đơn chính thức.
3. Đừng dùng hàng nhập lậu. Hãy mua hàng sản xuất tại đất nước mình.
4. Hãy nói tốt và tích cực về đất nước và dân tộc.
5. Hãy tôn trọng cảnh sát giao thông, công an và nhân viên thi hành dịch vụ công.
6. Đừng xả rác bừa bãi. Hãy bỏ rác thải đúng nơi qui định. Hãy phân loại, tái chế rác thải và bảo vệ môi trường.
7. Hãy ủng hộ các quĩ cứu trợ, bảo trợ. Hãy làm việc từ thiện.
8. Hãy tôn trọng và hoàn thành nghĩa vụ bầu cử thật nghiêm túc.
9. Hãy trả lương cho nhân viên một cách công bằng.
10. Hãy đóng thuế.
11. Hãy nhận tài trợ cho một quĩ học bổng hoặc nhận nuôi một đứa trẻ mồ côi.
12. Hãy thực hiện công việc làm cha làm mẹ thật tốt. Hãy dạy con cái biết cách tuân thủ luật pháp và yêu nước.

Đích thân cựu tổng thống Philippines Corazon C. Aquino - người phụ nữ đầu tiên làm tổng thống ở châu Á, được báo Time bình chọn là "nhân vật nữ của năm 1986" - đã viết lời giới thiệu cho cuốn sách như sau: "... nếu như trước đây, sức mạnh của nhân dân dùng để lật đổ kẻ độc tài và làm nên những cuộc cách mạng, thì nay vẫn cần phải được tận dụng để tạo ra công ăn việc làm và lợi ích sinh nhai, phân phát dịch vụ công, mang lại hòa bình và trật tự, cũng như cải thiện cuộc sống mọi người dân... Mỗi người Philippines chúng ta hãy tự hỏi chính bản thân – Tôi đã làm được điều gì cho tổ quốc?".

Ông Manuel V. Pangilinan là chủ tịch điều hành của First Pacific (một trong những tập đoàn viễn thông hàng đầu nằm trong top Forbes 50 của châu Á), chủ tịch hội đồng quản trị và CEO của PLTD (Công ty Viễn thông Philippines), người được BusinessWeek công nhận là khuôn mẫu cho "các nhà quản trị châu Á thế hệ mới", được AsiaWeek bình chọn vào top power 50 (50 người có sức ảnh hưởng nhất) của châu Á. Ông đã viết một thông điệp như sau về cuốn sách này:
"Nếu tất cả chúng ta, mọi người dân bình thường, chỉ đơn giản thực hiện được những gì mà Lacson đã viết, chúng ta có thể kiến tạo một Philippines mạnh mẽ, một quốc gia tốt đẹp hơn. Bởi vì nếu chúng ta không làm thì ai sẽ làm đây?".
Đọc cuốn sách này, tôi thật sự bị thu hút vì những điều đơn giản mà tác giả đã trình bày và biện giải. Những điều đơn giản ấy có thể làm thay đổi ý thức, cách ứng xử và hành động của mỗi thành viên trong xã hội, của mỗi công dân trong một quốc gia.

Hãy tuân thủ luật giao thông. Hãy tuân thủ luật pháp!
Bạn có thể thắc mắc vì sao trong tất cả 12 điều nhỏ bé này, việc tuân thủ luật giao thông lại được đặt lên hàng đầu?

Câu trả lời thật đơn giản. Luật giao thông là những nguyên tắc giản đơn nhất trong nền pháp luật của một đất nước. Nhưng khi thực thi được, nó cho thấy đất nước đó có một nền tảng luật pháp vững mạnh. Học cách tuân thủ luật này chính là hình thức căn bản để mọi công dân cùng xây dựng những chuẩn mực cho cộng đồng và xã hội.

Việc làm nhỏ bé này hoàn toàn không làm chúng ta tốn công và tốn tiền, hoàn toàn dễ dàng thực hiện cho mọi người. Đó là vì luật giao thông hiện diện trong mọi mặt sinh hoạt của cuộc sống thường nhật, khi người dân phải ra đường. Chúng ta đối mặt với khoản luật này hằng ngày từ sáng đến tối. Do đó, quyết định tuân thủ hay không tuân thủ luật giao thông chính là điều kiện để tạo ra một môi trường liên tục cho mọi người cố gắng và nỗ lực trong từng ngày. Nếu chúng ta quyết tâm giữ luật giao thông vào hôm nay, chúng ta cũng có thể làm được điều đó vào ngày mai, vào ngày mốt và trong tương lai.

Một ngày nào đó, việc tuân thủ luật giao thông của chúng ta sẽ có thể trở thành một thói quen, và dĩ nhiên, đó là thói quen tuân thủ chuẩn mực của quốc gia.
Một ngày nào đó, việc tuân thủ luật giao thông làm cho chúng ta dễ tuân theo những điều luật phức tạp, khó khăn và quan trọng hơn trong luật pháp nhà nước.
Một ngày nào đó, quyết tâm này có thể xây dựng một thói quen văn hóa biết tôn trọng luật pháp của bất cứ công dân nào trong một đất nước văn minh.

Đó là vì trật tự cũng giống như những bậc thang. Trước khi leo lên được bậc cao nhất, hãy bắt đầu bằng nấc thang thấp nhất, bởi lẽ "cuộc hành trình ngàn dặm nào cũng phải bắt đầu bằng một bước đi nhỏ bé đầu tiên" (trích châm ngôn của Lão Tử).
Tất cả mọi điều vĩ đại trên thế giới này đều bắt đầu từ những thứ nhỏ bé ở đâu đó, ở một khoảnh khắc nào đó trong quá khứ. Tất cả đều bắt đầu bằng một ý thức. Ý thức thật quan trọng, vì chúng sẽ trở thành hành động. Và hành động có thể trở thành thói quen. Và thói quen có thể trở thành một nếp sống. Và nếp sống có thể trở thành định mệnh cho một quốc gia, một dân tộc.
Hãy tôn trọng cảnh sát giao thông, công an và nhân viên thi hành dịch vụ công!
Đây là câu chuyện của một người dân ở Manila (Philippines): "Một lần nọ, khi đang lái xe ở Manila, tôi đã bị cảnh sát thổi vì không để ý tấm bảng hiệu giao thông cấm quẹo nhỏ xíu đặt ở góc đường, khuất sau hàng cây. Có bốn tài xế trước tôi cũng bị phạt. Tôi nghe họ đang cãi vã làm viên cảnh sát nổi nóng. Cả bốn người đều bị tịch thu bằng lái. Khi đến phiên mình, tôi lịch sự chào viên cảnh sát: "Good afternoon". Ông ta thoáng ngạc nhiên, xem tôi có ý định giễu cợt hay không. Tôi đã gọi ông ta là "officer" như cách gọi trân trọng của người Mỹ hoặc người Anh đối với viên chức nhà nước, rồi tôi cũng giải thích một cách lịch sự rằng tôi rất tôn trọng luật pháp và vì bảng hiệu giao thông vừa rồi quá nhỏ nên tôi không để ý. Tôi sẵn lòng chịu phạt, nhưng cũng đề xuất với ông ấy rằng nên thay một bảng báo hiệu lớn hơn để người lái xe dễ nhận thấy từ xa.
Thật đáng ngạc nhiên. Viên cảnh sát không hề phạt tôi hay tịch thu bằng lái. Ông ấy còn gọi tôi là "sir" một vài lần, rồi khuyên tôi lần
sau nên đi cẩn trọng hơn. Ngày hôm sau, tôi đã thấy chiếc biển báo
giao thông được thay".

Câu chuyện trên cho thấy sức mạnh của sự tôn trọng phẩm giá con người. Một con người được người khác đối xử đúng với vị trí và trách nhiệm của mình sẽ cảm thấy giá trị được nâng cao. Đó chính là giáo dục cộng đồng sâu sắc.

Hãy suy nghĩ về thói quen mà chúng ta - những người đi đường và bị phạt - thường hối lộ cảnh sát giao thông. Qua hàng loạt bài báo về nạn mãi lộ trên đường, chúng ta thường nghĩ rằng giới cảnh sát phần lớn đều "ăn bẩn". Tuy nhiên, hãy xem cách mà chúng ta đã làm cho họ bị biến chất như thế nào. Họ đã học thói xấu đó từ chính những người đi đường như chúng ta khi đối xử với họ bằng tiền bạc, chứ không phải bằng thái độ tôn trọng nhân vị.
Các chuyên gia tâm lý đều nhất trí rằng được tôn trọng là một trong những nhu cầu căn bản nhất của con người. Mọi người đều muốn mình được tôn trọng. Mọi người đều muốn mình được công nhận. Mọi người đều muốn được đối xử một cách chân thực.

Vậy, chúng ta hãy đối xử với các công chức nhà nước đúng với trách nhiệm và phẩm giá của họ. Bởi vì khi chúng ta công nhận giá trị của họ, họ sẽ nhận ra giá trị của chính họ, cũng như giá trị của những bổn phận mà họ đang đóng góp cho tổ quốc. Sự tôn trọng đích thực có tầm quan trọng không thể nhận ra ngay được. Bởi vì những gì là thật sự quan trọng, chúng ta không thể nhìn thấy bằng mắt thường. Chúng ta chỉ có thể nhìn thấy bằng trái tim, theo nhà văn Hoàng tử Bé Antoine de St. Exupéry.

NGUYỄN ĐẠT ÂN
(Theo Internet)

Học như thế nào?


Suy tư từ giảng đường ĐH của một sinh viên VN ở Úc:

TTCT - Từ trải nghiệm và quan sát cá nhân, có thể rút ra mấy điểm cốt yếu sau trong cách dạy và học ở Đại học khoa luật Melbourne: sự trung thực; độc lập và sáng tạo trong tư duy; tính căn cơ, linh hoạt và thực tế cao kết hợp cùng nhau.

Sự trung thực

Nói về sự trung thực, từ khi đặt chân vào trường, trải qua hơn một năm học, từ “ám ảnh” tôi nhiều nhất là plagiarism - đạo văn. Người ta nhắc nhiều đến nó như một thứ gì đó xấu xa lắm trong môi trường đại học, nhiều đến nỗi khiến sinh viên luôn phải dè chừng, rà từng tí một xem bài viết của mình có đạo văn không. Người ta đặt ra những chuẩn mực khắt khe để tránh nó, để bài viết được coi là “sạch sẽ”.

Từ cách chú thích, trích dẫn (dẫn ý, dẫn lời), cho đến cách làm danh sách tài liệu tham khảo đều được nói rõ chi tiết trong cuốn Hướng dẫn trích dẫn luật ở Úc (Australian guide to legal citation), chi tiết đến tẩn mẩn, nhiều lúc phát bực mình. Đã được hướng dẫn như thế, nếu vẫn “đạo” hoặc thậm chí chỉ vô tình “đạo”, bị phát hiện thì hình phạt rất cao, nhẹ thì phải đợi kỳ sau thi lại, nặng thì thôi học hẳn ở khoa.

Nhưng quan trọng hơn, danh tiếng đã sứt mẻ vì đạo văn thì khó ở đâu chấp nhận. Nếu giảng viên chấm bài nghi ngờ bài đạo văn, giảng viên đó không có quyền quyết định rằng nó đạo văn, mà sẽ đưa vấn đề ra trước khoa. Khoa sẽ thành lập một ban, ban sẽ nghe hai bên trình bày và xem lại bài, sau đó nếu vẫn thấy bài viết có đạo văn, ban sẽ áp dụng các hình thức kỷ luật thích ứng.

Triết lý của những qui tắc ngặt nghèo này khá đơn giản: anh phải trung thực và tôn trọng lao động trí óc của người khác. Sự tôn trọng thể hiện ở chỗ nếu ý tưởng, lập luận, thông tin... không phải của anh, anh phải thừa nhận tác giả của nó khi nói đến nó. Khi thừa nhận như vậy không ai dè bỉu: “Ôi dào, tay này chả nghĩ ra được cái gì, toàn trích dẫn”.

Ngược lại, người ta đánh giá cao người viết ở hai điểm: một là sự trung thực; hai là anh đã tuân thủ các qui tắc nghiên cứu hàn lâm. Một bài luận của tôi bị trừ điểm cũng vì lý do đó. Tôi chọn đề tài so sánh việc tiếp nhận pháp luật công ty ở Nhật và VN. Khi viết về phần VN, có những sự việc đã trở nên phổ biến đến mức làm tôi nghĩ trong đầu không cần phải dẫn nguồn thông tin.

Nhưng sau khi nhận lại bài luận đã chấm điểm, đến nói chuyện với bà giáo sư dạy môn đó, bà bảo: “Người khác mà chấm họ có thể đặt câu hỏi về đạo văn, vì đôi chỗ anh đưa thông tin mà không nói rõ lấy chúng ở đâu. Nhưng tôi cũng đã có chút ít kinh nghiệm làm việc với người Việt, tôi biết không phải vậy. Dù thế, tôi rất tiếc buộc phải trừ điểm anh. Vì như thế là không học thuật cho lắm (academic style). Anh có thể nắm rõ tình hình VN, nên coi đó là chuyện phổ biến không cần dẫn nguồn. Nhưng độc giả của anh nhiều người không biết anh lấy thông tin ở đâu ra, vì vậy anh phải làm cái bước đó”.

Sáng tạo, độc lập, phản biện

Song song với trung thực, người ta đánh giá cao sự sáng tạo, độc lập, phản biện trong tư duy. Một bài viết chỉ dày đặc những trích dẫn tất nhiên không được coi trọng. Thậm chí nhiều giảng viên còn cảnh báo trước: bài luận nào mà chỉ có tính mô tả (descriptive) sẽ bị trừ điểm.

Một lần nói chuyện với một giảng viên đã nhận bằng tiến sĩ luật, trả lời câu hỏi điều gì là khó nhất khi làm luận án tiến sĩ, anh ta nói: critical thinking- tạm dịch là tư duy phản biện. Sinh viên các nước châu Á thường hay hoang mang: vậy thế nào là sáng tạo, độc lập? Phải nghĩ ra cái gì đó mới hay sao? Không hẳn vậy. Nhiều lúc chỉ cần một câu, một ý trích dẫn đúng chỗ, “đắt” là được khen.

Khi khác, một câu bình luận, thêm mắm, thêm muối là được gật gù. Hoặc một vài dẫn chứng cho ý trích dẫn là được chấp nhận. Nghĩa là bắt cái đầu mình phải suy nghĩ lúc trích dẫn, chứ không chỉ đơn thuần thả nó vào trong bài một cách cơ học. Biết đặt câu hỏi cũng thể hiện tư duy phản biện và độc lập. Rất nhiều lần trong các giờ học tôi từng dự, các giảng viên thường tán thưởng các câu hỏi hay và “độc” của sinh viên.

Sự độc lập thể hiện ngay từ khi chọn môn và trong giáo trình học. Sinh viên được thoải mái cân nhắc để tự chọn môn mà mình thích. Giáo trình mỗi môn đều do chính giảng viên thiết kế và chọn lọc, chứ không theo một giáo trình chung nào cả. Đó là một tập hợp các bài viết, các đoạn trích từ sách của các nhà nghiên cứu nổi tiếng, các bản án, văn bản pháp luật trong lĩnh vực liên quan, theo các chủ đề mà giảng viên cho rằng cần thiết.

Tập tài liệu này sinh viên phải đọc trước để lên lớp thảo luận. Còn khi làm bài luận, sinh viên được khuyến khích đọc thêm các tài liệu tự kiếm khác. Thế nhưng, sinh viên không bị áp đặt phải nghe theo những ý kiến, quan điểm trong đó. Sinh viên cũng không phải nghe theo những gì giảng viên nói. Sự kính nể đối với giáo sư, giảng viên đến từ vốn tri thức, tầm uyên bác, nhân cách của họ, chứ không hề áp đặt.

Ngay các giảng viên cũng không muốn thế, mà họ luôn mời gọi sự phản hồi từ sinh viên. Các sinh viên người Úc, Mỹ hoặc châu Âu thường hay phát biểu hơn sinh viên châu Á. Tuy nhiên, nói chung, nếu trên lớp anh ngại ngùng không dám nói, thì trong đầu anh luôn phải ngự trị một lối suy nghĩ độc lập, và sự độc lập đó được khuyến khích lộ diện trong bài luận, bài thi.

Tính thực tế và nghiên cứu

Một nét nổi bật nữa trong cách dạy ở đây là tính linh hoạt và hướng đến thực tiễn dựa trên cái nền nghiên cứu. Như đã nói, giáo trình do chính giảng viên thiết kế nên chính họ có thể dễ dàng cập nhật, thay đổi cho phù hợp với tình hình nghiên cứu trong lĩnh vực đó và với thực tiễn. Ngay trong mỗi tài liệu được chọn, có thể nhận thấy cả tính nghiên cứu và thực tiễn hòa lẫn với nhau.

Ví dụ, khi một tác giả viết: “Người viết bài này đã hỏi chuyện 14 chuyên gia pháp lý VN và phỏng vấn 156 doanh nghiệp tư nhân VN về giấy phép con, có 9 chuyên gia và 123 doanh nghiệp kêu ca về “hành doanh nghiệp là chính”, rõ ràng đó vừa là nghiên cứu - nghiên cứu thực nghiệm, vừa là thực tiễn.

Các giảng viên cũng hay lấy tình huống thực tế hoặc một bản án có thật, hoặc một văn bản pháp lý để sinh viên thảo luận, phục vụ cho một luận điểm lý thuyết nào đó. Sinh viên hệ đại học được cày nát các bản án, văn bản pháp luật, được học cách đọc, hiểu và phân tích một bản án, một văn bản. Họ cũng được học những môn như kỹ năng biện luận ở tòa, kỹ năng tư vấn khách hàng, kỹ năng biện luận bằng văn bản...

Bởi vậy, khi ra trường, họ ít khi rơi vào cảm giác bỡ ngỡ trong môi trường làm việc pháp lý. Ngay cả trong chương trình thạc sĩ vốn chú ý đến nghiên cứu, vẫn có những môn rất thực tế như điều hành công ty luật, quản lý nguồn nhân lực của một công ty luật. Chương trình thạc sĩ của khoa luật ĐH Melbourne có gần 130 môn đều liên quan trực tiếp đến luật, không hề có môn nào xa rời luật.

Có những môn giảng viên chú trọng đến thực tiễn nhiều hơn, như môn luật bản quyền Úc, hoặc môn trách nhiệm pháp lý của giám đốc công ty trong quản trị công ty. Những môn như vậy không thể thiếu việc phân tích các bản án có thật của tòa án các cấp ở Úc, Anh, Mỹ, Canada hoặc New Zealand. Đồng thời những môn này bao giờ cũng bắt đầu bằng vài buổi học về chủ thuyết, triết lý, lý thuyết của môn đó.

Sau đó, các nội dung lý thuyết vẫn được xen kẽ một cách khéo léo trong khi thảo luận về một bản án, vụ việc, văn bản... Lại có những môn nặng về nghiên cứu lý luận, rất khó hiểu, như môn luật học so sánh hoặc các xu hướng mới trong ngành luật học với kinh tế học. Nhưng tính nghiên cứu ở những môn như thế có hai đặc điểm: gắn với thực tiễn và trở lại soi rọi thực tiễn.

NGUYỄN ĐỨC

Tiếng nói của cuộc sống!


Xin chào!
Tôi là cuộc sống đây. Hôm nay tôi sẽ cố giải quyết mọi vấn đề bạn đang gặp phải để bạn đừng than trách tôi nữa…
Nếu bạn bị tắc đường và kẹt xe, đừng thất vọng. Còn rất nhiều người trên thế giới này, mà đối với họ, lái xe là một niềm mơ ước không thể thực hiện.
Nếu bạn cảm thấy học hành thật chán ngán. Hãy nghĩ đến người đã hàng năm trời rồi không được đi học.
Nếu bạn thất vọng vì một chuyện tình cảm đang đến hồi tan vỡ. Hãy nghĩ đến người chưa bao giờ biết yêu thương và được yêu thương là như thế nào.
Nếu bạn buồn vì một cuối tuần nữa lại sắp trôi qua. Hãy nghĩ đến những người phụ nữ ở môi trường làm việc khắc nghiệt, phải làm việc 12 tiếng một ngày, 7 ngày một tuần để nuôi con.
Nếu bạn cảm thấy mất mát và tự hỏi mình cuộc sống là gì và có mục đích gì. Hãy nghĩ đến những người bệnh tật, biết trước mình không còn sống được bao lâu nữa, và không còn cơ hội để tự hỏi mình nữa.
Nếu bạn cảm thấy khủng khiếp khi là nạn nhân của những trò đùa, những sự nhỏ mọn… của người khác. Hãy nhớ: Thế nhưng vẫn chưa là gì đâu, vì tồi tệ hơn nữa là khi: bạn có thể là chính những người đó!

MẮT XÍCH....


Đây là một câu chuyện về bốn chàng trai: Mọi Người, Người Nào Đó, Bất Kỳ Ai và Không Ai.

Có một công việc cần làm ngay và Mọi Người dám chắc Người Nào Đó sẽ làm nó. Bất Kỳ Ai cũng có thể làm được việc này, nhưng Không Ai làm. Người Nào Đó tỏ vẽ tức giận về điều này bởi đó là nhiệm vụ của Mọi Người. Trong khi đó Mọi Người lại nghĩ có thể Bất Kỳ Ai cũng làm được nhưng Không Ai hiểu rõ Mọi Người sẽ không làm.
Câu chuyện kết thúc, Mọi Người phàn nàn Người Nào Đó khi Không Ai làm việc mà đáng ra Bầt Kỳ Ai cũng có thể làm.

Theo: Inspirationstories.


THƯ GỬI CON TRAI!


Gởi con của bố,

Hai bố con đã cãi vã với nhau. Con đã rất bực tức và bố cũng thế. Bố đã mất bình tĩnh, thế là hai bố con ta to tiếng với nhau. Con biết đấy, rốt cuộc là la hét chẳng giúp ích được gì ngoại trừ làm cho mọi thứ đều trở nên tồi tệ hơn.

Bố rất vui khi tối qua con đã đến và xin lỗi bố. Điều đó bố biết không dễ dàng chút nào, đặc biệt là khi ai cũng nghĩ rằng mình đúng.

Bố cũng xin lỗi con. Bố đã sai khi mất bình tĩnh như thế. Con biết đó, làm một điều sai thì rất dễ dàng, nhưng lấy lại điều sai đó thì vô cùng khó. Bố cũng cảm thấy rất khó khăn khi nói xin lỗi con, con trai. Nhưng bố thật mừng vì cuối cùng bố cũng đã xin lỗi.

Có lẽ con không biết đâu, khi con nổi nóng bố cảm thấy như mình mất hết quyền lực. Bố sợ hãi ! Bố không còn điều khiển được cảm xúc nữa. Hoặc là bố phải đấu tranh, hoặc là bố phải trốn chạy. Bố đã chọn cách thứ nhất.

Nói lời xin lỗi quả khó thật, nó cưỡng lại quy luật tự nhiên về lòng tự ái của con người. Ai cũng luôn nghĩ là mình đúng, trong khi xin lỗi nghĩa là công nhận mình sai. "Xin lỗi", nó cần một sự thay đổi trong tư tưởng, cần phải chấp nhận rằng mình đã sai, cần sự nhún nhường, nghĩa là khước từ những gì mình đã nghĩ trong đầu trước đó.

Nhưng xin lỗi cũng có cái hại của nó, vì đã xin lỗi rồi thì khi khác, nếu trường hợp y như thế này lại tái diễn thì lời xin lỗi không còn chút giá trị gì hết. Nhưng bố biết rằng xin lỗi là đúng đắn. Bố và con phải rút kinh nghiệm, phải làm thế nào, cư xử thế nào trong tương lai. Và vì vậy hai bố con phải quên đi những lỗi lầm của nhau. Hai bố con không thể mang cái sai trong suốt hành trình còn lại của đời mình.

Bố rất vui, con trai, con đã đến xin lỗi bố và cho bố cơ hội để xin lỗi con. Hai bố con đã cho nhau cơ hội để tha thứ lẫn nhau, để cả hai bố con mình biết: Bố yêu con như thế nào và con cũng yêu bố đến mức nào.

Bố của con.

Đây là bức thư của một người bố gửi một người con sau cuộc cãi vã. Có thể bố mẹ không nói lên thành lời như thế này, nhưng hãy tin rằng trong đầu bố mẹ luôn có một bức thư tương tự như thế. Mỗi khi bạn quá buồn bã và bị tổn thương vì những lời nói của bố mẹ trong lúc giận dữ, hãy đọc bức thư này để xoa dịu lòng mình... Để biết rằng cha mẹ thương yêu chúng ta biết bao nhiêu!

DUYÊN MAY VÀ SỰ LỰA CHỌN!


Khi ta gặp được đúng người ta yêu Khi ta ở đúng vào một nơi nào đó vào đúng một thời điểm nào đó. Đó là duyên may.


Khi bạn gặp ai đó làm lòng bạn xao xuyến, Đó không phải là một sự lựa chọn.

Đó là duyên may.

Khi bạn gặp tiếng sét ái tình (và không ít những đôi lứa đến với nhau từ đây) thì chắc chắn không phải là một sự lựa chọn rồi.

Đó là duyên may.

Vấn đề là những gì xảy ra tiếp sau đó. Khi nào thì bạn vượt qua tình trạng bồng bềnh, choáng ngợp và chìm đắm của tình yêu để bước sang một tầm mức mới ?

Đó là khi lý trí trở về, khi bạn ngồi lại và suy nghĩ xem liệu bạn có thật sự muốn tiến tới một mối quan hệ bền vững hay để tất cả vào kỷ niệm.

Nếu bạn quyết định yêu một ai đó với tất cả những nhược điểm của người ấy. Đó không còn là duyên may nữa.

Đó là sự lựa chọn.

Cho dù bạn biết rất rõ rằng có rất nhiều người ở bên ngoài trái tim bạn duyên dáng hơn, thong minh hơn, giàu có hơn người bạn yêu, nhưng bạn vẫn quyết lòng yêu người đó không đổi thay.

Đó là sự lựa chọn.

Sự choáng ngợp, bồng bềnh và tiếng sét tình yêu đến với ta bằng cơ may. Nhưng tình yêu đích thực thì chính là sự chọn lựa của trái tim.

Sự chọn lựa của chính chúng ta.

Nói về bạn đời, có một câu trong bộ phim khá hay : “Định mệnh mang chúng ta đến với nhau nhưng chính chúng ta làm cho định mệnh thành sự thật”.

Chúng ta sống trên đời này không phải để tìm thấy một người hoàn mỹ để yêu mà chính là để học cách yêu thương một người không hoàn mỹ một cách trọn vẹn…

TẢN MẠN VỀ TÌNH YÊU!


Sẽ rất đau đớn khi bạn yêu một người nào đó mà không được đáp lại. Nhưng còn đau đớn hơn khi bạn yêu một ai đó mà không đủ dũng cảm để nói cho người đó biết bạn đã yêu như thế nào.

Có thể chúng ta phải gặp một vài người nào đó, nhầm một vài lần như vậy trước khi gặp đúng người mình yêu, và bạn phải trân trọng vì điều đó.

Tình yêu là khi bạn lấy đi tất cả mọi đam mê, cuồng nhiệt, lãng mạn mà cuối cùng bạn vẫn biết rằng mình vẫn luôn nhớ về người đó.

Sẽ rất buồn khi bạn gặp một ai đó mà bạn cho rằng vô cùng có ý nghĩa đối với bạn, chỉ để cuối cùng bạn nhận ra rằng tình cảm đó sẽ chẳng bao giờ được đáp lại và bạn là người phải ra đi. Nhưng khi một cánh cửa đóng lại, một cánh cửa khác lại mở ra. Ðiều bạn cần làm là thôi không chờ đợi nơi cánh cửa đã đóng, hãy tìm một cánh cửa khác đang mở ra cho mình.

Người bạn tốt nhất là người mà bạn có thể ngồi cùng ở bất cứ đâu, cùng đung đưa mà không nói một lời, để khi bước đi, bạn lại cảm thấy như đã nói hết mọi điều.

Có một sự thật là bạn sẽ không biết bạn có gì cho đến khi đánh mất nó, nhưng cũng có một sự thật khác là bạn cũng sẽ không biết bạn đang tìm kiếm cái gì cho đến khi có nó.

Trao cho ai đó cả con tim mình không bao giờ là một sự đảm bảo rằng họ cũng yêu bạn, đừng chờ đợi điều ngược lại. Hãy để tình yêu lớn dần trong tim họ, nhưng nếu điều đó không xảy ra thì hãy hài lòng vì ít ra nó cũng đã lớn lên trong bạn.

Có một vài thứ mà bạn rất thích nghe nhưng sẽ không bao giờ được nghe từ người mà bạn muốn nghe, nhưng nếu có cơ hội, hãy lắng nghe chúng từ người nói với bạn bằng cả trái tim.

Ðừng bao giờ nói tạm biệt khi bạn vẫn còn muốn thử. Ðừng bỏ cuộc khi bạn cảm thấy vẫn còn có thể đạt được. Ðừng nói bạn không yêu ai đó nữa khi bạn không thể rời xa họ. Tình yêu sẽ đến với những người luôn hy vọng dù họ đã từng thất vong. Ðừng chạy theo vẻ bề ngoài hào nhoáng, nó có thể phai nhạt theo thời gian. Ðừng chạy theo tiền bạc, một ngày kia nó cũng sẽ mất đi. Hãy chạy theo người nào đó có thể làm bạn luôn mỉm cười bởi vì chỉ có nụ cười là tồn tại mãi. Hy vọng rằng bạn sẽ tìm ra người đó.

Ðôi khi trong cuộc sống, có lúc bạn cảm thấy bạn nhớ ai đó đến nỗi muốn chạy đến và ôm chầm lấy họ. Mong rằng bạn sẽ luôn mơ thấy họ. Hãy mơ những gì bạn muốn, đi đến nơi nào mà bạn thích, hãy là những gì bạn thích vì bạn chỉ có một cuộc sống và một cơ hội để làm tất cả trong cuộc đời. Mong rằng bạn luôn có đủ hạnh phúc để vui vẻ, đủ thử thách để mạnh mẽ hơn, đủ nỗi buồn để bạn trưởng thành hơn và đủ tiền để mua quà cho bạn bè.

Hãy luôn đặt mình vào vị trí người khác, nếu điều đó làm tổn thương bạn thì nó cũng sẽ tổn thương người khác. Một lời nói vô ý là một xung đột hiểm họa, một lời nói nóng giận có thể làm hỏng cả một cuộc đời, một lời nói đúng lúc có thể làm giảm căng thẳng, còn lời nói yêu thương có thể chữa lành vết thương và mang đến sự bình yên.

Tình yêu bắt đầu bằng cách yêu con người thật của họ, chứ không phải là yêu họ như yêu một bức tranh bạn vẽ ra, bằng không bạn chỉ yêu sự phản chiếu của chính bạn nơi họ.

Người hạnh phúc nhất không cần phải có mọi thứ tốt nhất, họ chỉ là người làm cho mọi việc, mọi chuyện đều diễn ra theo ý họ. Hạnh phúc thường đánh lừa những ai khóc lóc, những ai bị tổn thương, những ai đã tìm kiếm và đã thử. Nhưng nhờ vậy, họ mới biết được giá trị của những người chung quanh họ.

Tình yêu bắt đầu bằng nụ cười, lớn lên bằng nụ hôn và thường kết thúc bằng nước mắt.

Tương lai tươi sáng thường dựa trên quá khứ đã quên lãng, bạn không thể sống thanh thản nếu bạn không vứt bỏ mọi nỗi buồn đã qua.

Khi bạn sinh ra đời, bạn khóc còn mọi người xung quanh cười. Hãy sống sao cho khi bạn qua đời, mọi người khóc còn bạn, bạn cười.

1/ Khi bạn yêu ai đó, đừng viết tên họ vào hình trái tim mà hãy viết vào một vòng tròn. Bởi vì một vòng tròn không có điểm đầu và cũng chẳng có điểm cuối. Bạn không hề biết tình yêu bắt đầu từ khi nào và tốt nhất là không có điểm kết thúc.

2/ Nếu có ba chữ cái: H R T, tôi có thể thêm vào đó chữ E và A để có được chữ HEART. Nhưng tôi cũng có thể thêm vào đó chữ U và nhận từ HURT
(sự đau đớn). Nhưng tôi thà có bạn (U=you) và chấp nhận HURT còn hơn có một trái tim-HEART-mà không có bạn (U).

3/ Cũng như vậy: Bạn chưa cần đến 3 giây để nói "I love you", chưa đến 3 phút để giải thích câu nói ấy, chưa đến 3 ngày để cảm nhận được ý nghĩa của nó nhưng để chứng minh câu nói đơn giản ấy thì cả cuộc đời vẫn là chưa đủ ...

4/ Chẳng có định nghĩa nào về tình yêu chính xác hơn bức tranh về 2 người tuyết đang ôm nhau và dần dần tan chảy vào nhau.

HTT
Tình yêu có thể an ủi được tất cả, có thể an ủi được ngay chính cả những ưu phiền của nó gây ra .
(P. Rachpedre)

- Trên đời chẳng có gì ngọt ngào bằng giấc mộng yêu đương thời tuổi trẻ .
(Thomas Moore)

- Ái tình đối với lứa tuổi nào cũng có nỗi thống khổ riêng của nó .
(hong biết ai nói )

- Người giàu tình cảm nhất (hay là người đa tình nhất) là người chỉ có một tình yêu, nhưng đó là tình yêu chân chính, không thay lòng đổi dạ .
(Balzac)

- Tình yêu nâng cao con người thoát khỏi sự tầm thường .
(Pascal)

- Sự bẽn lẽn giúp cho ái tình sức tưởng tượng, chính nó cho ái tình sinh khí .
(Stendhal)

- Càng tiến sâu vào tình yêu, linh hồn càng bất tử .
(F. Dastoevsky)

- Sự chắc chắn được yêu đương đem lại rất nhiều duyên dáng cho kẻ nhút nhát, tạo cho nó sự hồn nhiên .
(André Maurois)

- Giới hạn của tình yêu là yêu không giới hạn .
(Saint Augustine)

- Trong tình yêu, việc quen thuộc cũng trở nên đẹp đẽ .
(P.B. Shelley)

- Không thể nói mình yêu một cách đích thực nếu không yêu đến cả những khuyết điểm của người mình yêu .
(Calderon de La Barca)

- Bất kỳ ai biết yêu đều có thể trở nên đáng yêu .
(Jules de Goncourt)

- Khi hai kẻ yêu nhau lúc xa nhau còn nói đến chuyện xa nhau là họ còn nhớ tới nhau .
(Léon Tolstoi)

- Ái tình là một liều thuốc đắng, nhưng không một ai có can đảm chối từ .
(Montesquieu)

- Ở đâu có quá nhiều những lời nói yêu đương, thì ở đó không hề có tình yêu chân chính .
(hong biết ai phán nhưng miễn đúng là được gùi )

- Ái tình là một thứ rượu, làm cho người ta hăng hái thì ít, mà khiến người ta say sưa thì nhiều .
(Montesquieu)

- Thước đo giá trị của người phụ nữ chính là người đàn ông mà cô ta yêu .
(Bennekin)

BẢN CHẤT CỦA TÌNH YÊU!


Có một nhà tâm lý học đã viết: Tình yêu tuổi thơ đi theo nguyên tắc : " Tôi yêu vì tôi được yêu"; tình yêu trưởng thành trái lại : " Tôi được yêu vì tôi yêu "; tình yêu thiếu trưởng thành thì : "Tôi yêu bởi vì tôi cần đến em"; tình yêu trưởng thành lạị nói " Tôi cần đến em vì tôi yêu em ". Ðiều đó có nghĩa là gì ? Phải chăng "sự phát sinh tình yêu bằng cách yêu thì hay đẹp hơn là bị lệ thuộc vì được nhận tình yêu ? " Nói cách khác, bản chất của tình yêu là Cho hay là Nhận? Giải quyết được vấn đề này sẽ giúp ta 3 điều thú vị :
Một là: Nếu chưa có tình yêu, ta vẫn còn cô đơn, ta sẽ có thể tìm gặp được đối tượng và tìm thấy tình yêu.Hai là: Nếu đang yêu, ta sẽ giữ được tình yêu và người yêu. Ba là: Nếu đã là bạn đời với nhau, ta sẽ củng cố được hạnh phúc gia đình, làm cho cuộc sống lứa đôi mãi mãi có hương vị quyến rũ như thủa nào.

Nhưng tình yêu là gì ? Tại sao trong cuộc đời, tình yêu lại quan trọng đến nỗi không thể không có nó? Tình yêu là sự kết hợp với "người ta" để giữ toàn vẹn được mình. Là sức mạnh hoạt động của con người, làm cho con người chiến thắng được cảm thức cô đơn. Có thể nói yêu là điều kiện để thực hiện nghịch lý: "Mình với ta tuy hai mà một", "Ta với mình tuy một mà hai". Ta sẽ nghĩ thế nào trước mệnh đề "Tình yêu là hiến tặng" ? Thông thường hiến tặng ai một cái gì, có nghĩa là mất đi, là một sự hy sinh. Trong ý nghĩa ấy, sẽ có lập luận cho rằng bản chất của tình yêu và vô điều kiện. Nghĩa là yêu không cần đáp trả. Yêu không cấn đáp trả là một hình thức của tình cảm đơn phương. Ðấy là trường hợp tình yêu chỉ mới thực hiện được có một nửa. Bởi vì bản chất của tình yêu phải là sự cộng hưởng. Khi ta nói yêu nhau, tức là yêu cầu cả hai người và về cả hai phía. Do đó, hiện tượng yêu không cần đáp trả là sự biến dạng của tình yêu chứ không phải là tình yêu trọn vẹn. Ðiều đó, chứng tỏ rằng khởi điểm của tình yêu là cho, là hiến tặng. Mà điều tối quan trọng của cho không phải chủ yếu thuộc về vật chất. Sự hôn phối nào, tình yêu nào đặt trên cơ sở việc cho về vật chất sẽ không tồn tại. Vậy thì cho cái gì? Ðó là mạng sống, con người, cái gì quý giá nhất của chính mình. Tóm lại tặng hiến của tình yêu quý giá nhất là cái gì thuộc về phạm vi nhân bản, là niềm vui, sự hiểu biết, sở thích, óc hài hước, sự buồn khổ, và tất cả những gì làm cho người yêu "giàu" hơn lên, sống động hơn lên, làm sản sinh ra một đời sống mới, một thế giới mới. Như vậy, "Cho", tự bản chất là một niềm khoái lạc. Và chỉ có người thật sự làm chủ, thật sự "giàu" mới có khả năng cho và muốn cho.

Từ đó, ta sẽ hiểu yêu là một sức mạnh, một năng lực tuyệt đỉnh sản sinh ra hạnh phúc, niềm vui, khoái lạc. Cho nên ý nghĩa cao cả của tình yêu không phải là yêu không cần được đáp trả mà là đem tới cho người kia niềm vui, sở thích,v.v.. . nghĩa là cái gì quý giá nhất của mình đống thời từ đó mở ra hướng "kẻ cho lẫn ngưởi nhận đều có cái thú là mình đã cho ra đời một cái gì mới". Ðó chính là tình yêu đích thực, trọn vẹn, tự do và tự nguyện.Trên ý nghĩa căn bản đó, chúng ta thấy mối liên hệ và nội dung của việc cho và tặng quà đối với người yêu cũng như đối với người bạn đời của mình. Cho và tặng quà đối với người yêu là cả một nghệ thuật. Một giáo sư chuyên khoa về vấn đề này đã viết: "Tặng quà là cả một nghệ thuật cực kỳ tinh xảo tỏ ra giữa hai người bạn tâm tình có những tình cảm tế nhị sâu sắc. Ðó là biểu hiện của xã hội văn minh: thương nhau không cần phải tỏ ra bằng lời nói mà, phải tìm cách để hiểu lòng nhau. Tùy theo mỗi xã hội, mỗi thời đại, việc cho và tặng quà 4 người yêu có những hình thức khác nhau. Có thể tặng quà thật đắt giá, rất có giá trị về kinh tế, hoặc tặng quà có ý nghĩa.

"Món đồ tặng phải nói lên một cái gì thầm kín, cho ở đây phải được lựa chọn tinh tế như một thứ ngôn ngữ tỏ tình tuyệt diệu hơn lời nói trực tiếp. Nó là tình yêu được tổng hòa cùng một lúc: tình cảm yêu mến, lòng chăm sóc, sự hiểu biết và quí trọng dành cho một người và chỉ một người ấy thôi. Cho nên, qua món quà tặng và việc tặng quà, bạn có thể biết được người yêu của bạn là ai, có người chọn quà theo ý thích của riêng mình, chứ không để ý tới sở thích của người yêu. Nếu người yêu của bạn làm như thế, thì bạn có thể biết được tính cách của anh ấy: một người độc đoán, chủ quan và chỉ nghĩ tới mình ! "

Ở đây chúng ta cần sáng suốt để nhận ra rằng việc cho và tặng quà đối với người yêu là một cách biểu lộ tình yêu bởi vì bản chất của tình yêu là dâng hiến. Cho nên khi gặp một trường hợp đối nghịch lại hành vi cho thật nhiều quà, tức là không hề tặng, thì có nghĩa là tình yêu mang tính giả tạo... Người cho quà tới tấp, cũng như người không hề trao tặng bất cứ món gì ngoài những lời tán tỉnh, có một điểm giống nhau: họ đang đùa giỡn với trái tim và cả bạn nữa!Về phía người nhận quà, cách nhận cũng nói lên phần nào tính cách của họ. Người yêu của bạn thích những món quà có giá trị vật chất, thì đó là người có óc thực tế. Nếu thích nâng niu những món quà giản dị nhưng in dấu những kỷ niệm đẹp, đó là người chung thủy. Còn tặng phẩm của bạn bị bỏ rơi ở đâu đó, thì người nhận có tính hời hợt, và nông cạn. Tóm lại, khởi phát của tình yêu là ban tặng, là cho. Ði từ cái cho thuộc về tinh cảm, thuộc về tâm hồn chuyển hóa thành cải cho có tính cách vật chất, tình yêu bao gồm trong bản thân nó trái tim và thân xác, tinh thần và vật chất. Có ai đó đã từng nói: "Tình yêu là sự kích thích, đồng thời là một ý niệm chịu tác động ở phía bên ngoài. Nếu quả thật như vậy thì khi nào bạn thiếu thốn tình yêu, có nghĩa là bên ngoài không còn tác động gì đối với bạn, và chính bạn, bạn đã không còn khả năng kích thích phía bên ngoài. Ðó là một hiện tượng "nghèo nàn không thể ban tặng gì cho ai, và mất hiệu lực hòa nhập với con người. Cho nên, trong suốt cuộc tình của mlnh, không phải yêu một lần là đủ cho một lần là xong. Muốn giữ cho tình yêu bền chặt, hạnh phúc lứa đôi không vơi cạn, mỗi người phải cho không ngừng để làm sản sinh ra tình yêu. Người nào chỉ thích thú khi nhận mà không cảm thấy thích khi cho, người đó sẽ không có tình yêu.

BÀI DIỄN VĂN HAY NHẤT THIÊN NIÊN KỶ


Diễn văn của luật sư Georger Graham Vest tại một phiên toà xét xử vụ kiện người hàng xóm làm chết con chó của thân chủ, được phóng viên Wiliam Safire của Báo The New York Times bình chọn là hay nhất trong tất cả các bài diễn văn, lời tựa trên thế giới trong khoảng 1000 năm qua.

Thưa quí ngài nội thẩm!

Người bạn tốt nhất mà con người có được trên thế giới này có thể có một ngày nào đó hoá ra kẻ thù quay ra chống lại ta. Con cái mà ta nuôi dưỡng với tình thương yêu hết mực rồi có thể là một lũ vô ơn.
Những người gần gũi, thân thiết ta nhất, những người gởi gắm hạnh phúc và danh dự có thể trở thành kẻ phản bội, phụ bạc lòng tin cậy và sự trung thành. Tiền bạc mà con người có rồi sẽ mất đi. Nó mất đi đúng vào lúc ta cần nó nhất. Tiếng tăm của con người cũng có thể tiêu tan trong phút chốc bởi một hành động dại một giờ. Những kẻ phủ phục tôn vinh ta khi ta thành đạt có thể sẽ là những kẻ đầu tiên ném đá vào ta khi ta lỡ vận. Duy có một người bạn không bao giờ rời bỏ ta, không bao giờ tỏ ra vô ơn hay trắc trở, đó là con chó của ta.

Con chó của ta luôn ở bên cạnh ta trong phú quí cũng như lúc bần hàn, khi khoẻ mạnh cũng như lúc ốm đau. Nó ngủ yêu trên nền đất lạnh, dù gió đông cắt da cắt thịt hay bão tuyết vùi miễn sao được kề cận bên chủ là được. Nó hôn bàn tay ta dù khi ta không còn thức ăn gì cho nó. Nó liếm vết thương của ta và những trầy xước mà ta hứng chịu khi va chạm với cuộc đời tàn bạo này. Nó canh giấc ngủ của ta như thể ta là ông hoàng, dù ta có là một gã ăn mày. Dù khi ta đã tán gia bại sản, thân tàn danh liệt vẫn còn con chó trung thành với tình yêu nó dành cho ta như thái dương trên bầu trời. Nếu chẳng may số phận đá ta ra rìa xã hội, không bạn bè, vô gia cư thì con chó trung thành chỉ xin ta một ân huệ là cho nó được đồng hành, cho nó được là kẻ bảo vệ ta trước hiểm nguy, giúp ta chống lại kẻ thù. Và một khi trò đời hạ màn, thần chết đến rước linh hồn ta đi, để lại thân xác ta trong lòng đất lạnh, thì khi ấy, khi tất cả thân bằng quyết thuộc đã phủi tay sau nắm đất cuối cùng và quay đi để sống tiếp cuộc đời của họ, thì khi ấy vẫn còn bên nấm mồ ta con chó cao thượng của ta nằm gục mõm giữa hai chân trước, đối mắt ướt buồn vẫn mở to cảnh giác, trung thành và trung thực ngay cả khi ta đã chết rồi.

GIẤC MƠ HAWARD


Con có biết hồi nhỏ trường đại học nào ở Mĩ mà ba được nghe nói đến đầu tiên không? Đó là trường Havard! Lúc học đến trung học, ba đọc trong cuốn “bách khoa toàn thư” và được biết trường Havard có lịch sử dài hơn chính lịch sử nước Mĩ. Tính đến đầu những năm 60, Havard đã đào tạo cho nước Mĩ 6 vị tổng thống. Những nhà văn nhà thơ mà ba sùng bái đều học trường Havard.
Có điều lúc đó ngay đến việc có thi đỗ vào những trường đại học trong nước hay không cũng còn chưa biết chắc nữa, chứ nói gì đến Havard. Cho mãi đến khi ba gặp con trai ngài đại sứ Mĩ ở Trung Quốc thì cái ý định thi vào trường Havard mới nhen lên trong ba. Chú ấy nói với ba: “Kết quả học tập hồi trung học của tôi cũng không phải thật xuất sắc, nhưng sau cuộc phỏng vấn tôi đã được nhận vào. Lúc ấy vị giám khảo đã nói: “Chúng tôi quan tâm đến việc anh sẽ đạt được những gì trong tương lai, chứ không phải là những việc mà anh đã đạt được trong quá khứ”. Thế là ba nghĩ, biết đâu với một kết quả học tập không mấy xuất sắc như ba, nhưng lại có một ngày nào đó bản thân mình sẽ được vào trường Havard!
Sau này khi sang Mĩ, vừa đến nơi, ba đã thấy trên báo có bài đăng trường Havard cải cách chương trình học, mỗi một học sinh tốt nghiệp ra trường đều phải đạt tiêu chuẩn tinh thông viết lách, toán học và máy tính. Họ cho rằng đây là những bước đào tạo cơ bản cho một sinh viên đại học, nếu không biết linh hoạt sử dụng ba môn này thì khó lòng trở thành thế hệ kế tục trong xã hội tương lai.
Bài báo còn nói thêm, trường Havard cho rằng, giáo dục đại học không phải là đào tạo ra một loạt những con mọt sách làm việc máy móc, mà là chỉ dẫn cho sinh viên biết cách làm thế nào để đi sâu nghiên cứu các lĩnh vực khác nhau.
Trường Havard cho rằng, họ cần những “Con nguời quốc tế”. Đó chính là những nguời có tầm nhìn mang tính quốc tế. Cho dù có giỏi những môn khoa học cơ bản thế nào đi chăng nữa mà thiếu đi thế giới quan hay sự tu dưỡng về đạo đức thì cũng vẫn không đủ. Trường Havard càng ngày càng trở nên thú vị với ba. Thậm chí khi ba đã là phó giáo sư, ba vẫn muốn bỏ việc, chuyển đến Cambridge để làm “Một sinh viên Havard”.
Thật tiếc, những lo lắng của cuộc sống cộng với việc con đỗ vào trường Shyvesant đã khiến ba phải từ bỏ ý định này. Thêm nữa, năm ngoái đọc báo cáo thống kê thấy nói, thậm chí những học sinh có số điểm trung bình là 97,27 cũng bị trường Havard trả về, ba lại sợ rằng “có khi đến con trai mình cũng khó vào được Havard”. Nhưng con không nản lòng, con đến thư viện trường lần giở “Hồ sơ lưu trữ”. Đó là tập hồ sơ tập hợp những bài phát biểu cảm tưởng của những bậc tiền bối các khóa học ở các trường danh tiếng. Con nói với ba: “Havard quả là mái trường có sức hấp dẫn mê hồn với bao nhiêu nguời”. Mặc dù những nguời trong trường đều nói ở đó có những “đồ ăn” khó nhá nhất thiên hạ, nhưng con nói: “Cái hấp dẫn nguời ta nhất không phải là những vị giáo sư mà là chính những sinh viên, không phải cơ sở vật chất của trường học mà là không khí học. Ở đó, mỗi cá nhân đều khác nhau”. “Cái chúng ta cần chính là những cái không giống nhau đó, chứ không phải là cái giống nhau. Sản phẩm của sự giáo dục máy móc, chỉ là những thứ giống hệt nhau, nhưng trường Havard để sinh viên tự mình phát triển trở thành chính mình”. Nhìn đôi mắt sáng ngời của con, ba lại nhớ đến tuổi trẻ của mình, mơ ước được trở thành một sinh viên Havard.
Thế là đến năm cuối cấp 3, con đã bắt đầu làm hồ sơ thi tuyển: Viết đơn xin học, viết lí lịch bản thân, xin trường Havard đồng ý nhập học trước thời hạn. “Con có thể kể ra những việc con đã làm giúp ba” – Ba góp ý. “Cái đó không quan trọng, bởi vì nhà trường không tính điểm dựa theo thành tích đã đạt được của những nguời trong gia đình”. “Ba mẹ có thể nhờ thầy hiệu trưởng của trường con viết cho một lá thư giới thiệu” - Mẹ con nói. “Điều đó cũng chẳng quan trọng, ba mẹ ạ!”.
Ba mẹ cũng chẳng nói gì thêm nữa, thôi thì để tự con thực hiện giấc mơ của mình. Đến lúc con cầm bản lí lịch tự thuật của mình đưa ba xem, con đã làm ba ứa nước mắt. Con viết: “Là nguời di cư đến đây, tôi có cách đánh giá nền văn hóa Mĩ bằng một con mắt hoàn toàn mới. Tôi có thể dùng quan điểm của phương Tây để nhìn lại di sản nền văn hóa phương Đông. Dòng máu phương Đông chảy trong huyết quản, nếu có thể vào trường Havard, tôi hy vọng sẽ tìm thấy sự giao thoa giữa một bên là chủ nghĩa cá nhân phương Tây và tư tưởng Nho giáo phương Đông. Tôi sẽ dùng vốn văn hóa phương Đông khiêm tốn của mình bắc thành chiếc cầu nối giữa hai nền văn hóa hai dân tộc này…” Ba phát hiện ra rằng, lúc đến Mĩ định cư, khi ấy con mới 7 tuổi, ngày nào ba cũng bắt con học tiếng Hoa, vì điều này mà ba con mình tranh cãi không biết bao nhiêu lần và cũng hao tốn bao nhiêu tâm lực của ba, thế nhưng hôm nay ba đã thấy công sức của ba đã kết thành quả ngọt.
Hôm nay, trước đêm Noel, ba ngồi viết thư cho con từ một phía khác của quả đất, lòng tràn đầy xúc động, thầm cảm tạ cuộc đời và lòng biết ơn đối với trời cao đất dày. Cuối thư, ba muốn nói rằng:
Chúc con trở thành một sinh viên Havard! Ba mẹ đặt niềm tin tự hào và vinh quang nơi con!
Những sản phẩm được giáo dục một cách máy móc chỉ là những thứ giống hệt nhau, nhưng trường Havard để sinh viên tự do phát triển trở thành chính mình.

Hạnh phúc??????????


Khi còn ở tuổi niên thiếu, dường như mọi người chúng ta thường nhìn nhận khái niệm hạnh phúc rất đơn giản - đó là đạt được những điều mình muốn. Khi bước vào cuộc sống, chúng ta thực sự đặt chân lên cuộc hành trình tự khẳng định mình, trải nghiệm, khám phá và đi tìm hạnh phúc cuộc sống.
Trong cuộc hành trình đó, biết bao điều bất ngờ, biến cố buồn vui đón chờ ta. Và biết bao lần chúng ta phải đối diện với thất vọng, mất mát niềm tin, khổ đau và cả bất hạnh. Chúng ta nhận ra hạnh phúc không hề đơn giản. Và chúng ta đã từng trăn trở tìm cách để cảm nhận cuộc sống mình được hạnh phúc hơn. Qua những khó khăn thử thách, chúng ta từng bước trưởng thành, khám phá ra ý nghĩa cuộc sống có nhiều cung bậc, đa dạng. Và cuộc sống không là một khuôn mẫu định sẵn mà là một không gian đa chiều, phong phú. Khám phá đó đi cùng nhận thức nội tâm và sự thức tỉnh, cách cảm nhận tâm hồn, tinh thần mỗi người.
Và hạnh phúc mà chúng ta từng cảm nhận không chỉ là khái niệm ước muốn đơn thuần hay là sự thành đạt mà là một tổng thể hài hòa của tình cảm con người, tình yêu, các mối quan hệ, nội tâm và cách nhìn. Trong đó yếu tố tinh thần là quan trọng nhất. Trong những phút giây đối mặt với thất bại, sai lầm, nghịch cảnh và đắng cay cuộc đời, ngay với những người bản lĩnh, nhiều vốn sống nhất cũng đôi lúc mất phương hướng và tự hỏi: Thế nào là hạnh phúc thực sự? Ý nghĩa và giá trị cuộc sống của mình là gì? Vì sao cảm giác hạnh phúc thực sự lại khó tìm đến thế? Hạnh phúc sao đến rồi lại đi? Có thực sự tồn tại và phải đi tìm sự hạnh phúc vĩnh hằng ở đâu? Làm thế nào để hạnh phúc thật sự? Hạnh phúc là luôn bằng lòng với chính mình hay dám thay đổi, vượt lên để đạt được điều mình mơ ước? Hạnh phúc là cảm nhận tĩnh lặng hướng nội, tự bằng lòng với cuộc sống đang có hay dám vươn lên chinh phục những thử thách để khẳng định mình và thay đổi cuộc sống?
Đó không chỉ là trăn trở của mọi người chúng ta hiện nay mà còn từng là những suy tư, câu hỏi của nhiều thế hệ. Có phải là hạnh phúc luôn ở phía trước và khó nắm bắt - chúng ta chỉ có thể hướng đến mà thôi. Hay hạnh phúc thật gần gũi, ở ngay trong tâm chúng ta. Rằng chỉ có những người từng trải qua khổ đau mới có thể hiểu giá trị và cảm nhận trọn vẹn giá trị của niềm vui hạnh phúc. Và ai đó đã chiêm nghiệm sâu sắc rằng hạnh phúc không phải là cảm giác tới đích, mà chính trên từng chặng đường đi, hạnh phúc không chỉ là nụ cười, mà còn là giọt nước mắt chia sẻ trên bờ vai tin cậy.