Thursday, 29. June 2006, 07:39:55
Truyen ngan
Truyện ngắn của Phan Thị Tần
Nguyên thường có cái thú là ngồi trước màn ảnh truyền hình để xem chương trình thời sự. Chẳng phải anh muốn có thêm kiến thức về tình hình trong tỉnh tuần qua đâu, mà bởi vì trong chương trình thời sự mỗi đêm, người phát thanh viên chẳng ai khác hơn chính là Quy. Thật là thú vị khi có người yêu xuất hiện trên ti vi hàng đêm để ngắm nhìn. Rồi chẳng bao lâu khi Quy trở thành "bà xã của ông Nguyên", Nguyên vẫn không bỏ thói quen ngắm nhìn vợ mình qua màn ảnh nhỏ như thế.
Nghề nghiệp của hai người hoàn toàn không giống nhau. Quy tốt nghiệp đại học kinh tế, nhưng có bao nhiêu người có bằng cử nhân kinh tế nên Quy đành phải ở nhà, mỗi buổi sáng ra phụ bán cho shop quần áo của mẹ. Cho đến khi đài truyền hình thi tuyển phát thanh viên, Quy cũng nộp đơn cầu may, nhưng kết quả cuối cùng là đài chỉ tuyển có ba người mà Quy thì đứng... thứ tư. Mặc dù đậu vớt, vận may lại đến với Quy vì có một cô trong tốp ba người nhờ đoạt giải giọng hát hay trên sóng phát thanh truyền hình nên đã xin nghỉ việc để vào TPHCM tìm cơ hội. Thế là Quy có việc làm.
Sau này ông Giám đốc vẫn gật gù cái đầu khi nói chuyện với Quy: "Chú không ngờ cháu lại là phát thanh viên giỏi. Suýt tí nữa thì một tài năng bị thất nghiệp". Quy chỉ cười, mỗi lần Quy cười thì hai hạt gạo ở hai bên má cứ rung rung khiến cho khối chàng trai phải ngẩn ngơ.
Hôm chính thức trở thành phát thanh viên, Quy đã mời Nguyên đi ăn nhà hàng. Ðó là ngoại lệ, bởi vì từ ngày quen nhau, do phải góp nhặt tiền bạc để làm đám cưới, cả hai chỉ rủ nhau đi ăn vỉa hè. Bà bán thịt vịt ở Cầu Dứa đều quen mặt hai người. Khi thấy họ xuất hiện, ngay tức khắc bà đem ra một đĩa tiết canh, một cái đùi luộc, cổ đầu vịt và một chai bia Sài Gòn, có khi hai người chán ăn thịt vịt, lại chở nhau đến tận quán nhỏ dựa theo dòng sông Cái, kêu nửa con gà luộc. Quen Quy, dần dần Nguyên trở nên nghe lời Quy giống như một cậu học trò luôn luôn tin tưởng tuyệt đối vào những bài giảng của cô giáo. Việc mỗi đêm Quy xuất hiện trên màn ảnh nhỏ đã khiến cho Nguyên "yên bụng" vì chẳng có anh chàng nào "mắt liếc ngược liếc xuôi" tán tỉnh Quy. Lễ cưới được tổ chức sau hai tháng Quy về đài phát thanh truyền hình.
Dáng Quy nhỏ xíu, khi mặc áo dài Quy thật mảnh khảnh và trông yếu đuối làm sao. Thời đi học, Quy được bầu làm lớp trưởng, những cậu học trò cùng lớp đã tặng cho Quy một cái tên rất ư là học trò: "Bà lớp trưởng". Mặc dù là con gái, nhưng do bản tính năng động nên bọn con trai trong lớp đều e dè Quy. Quy mang tính cách của một người chỉ huy từ thuở đi học về làm vợ Nguyên. Yêu thương vợ, Nguyên gần như chấp nhận những điều kiện mà Quy đưa ra.
- Anh không được tiêu xài không có kế hoạch. Tiền bạc thời buổi này cần phải chắt chiu để mua một căn nhà.
Nguyên chống chế:
- Nhưng nhà của bố mẹ cho mình mà. Trước sau thì nó cũng thuộc về mình. Mình mua nhà làm gì nữa?
Mỗi lần Nguyên phản đối một điều gì, Quy luôn luôn trả lời:
- Em nói anh có nghe không?
Những cuộc nhậu thời độc thân dần lui vào quá khứ từ ngày có Quy. Bạn bè gọi điện, Quy trả lời rất nhỏ nhẹ: "Em có cấm anh điều gì đâu. Ðó là sự tự nguyện mà". Chiếc điện thoại di động không còn là phương tiện liên lạc hữu ích của thời đại thông tin bùng nổ nữa. Nó trở thành công cụ kiểm soát chồng. Việc ngồi trước ti vi xem vợ lúc đầu là thú vị, khi hết giờ làm việc ở đài, Nguyên mới chở vợ về. Quy rất vu vơ: "Em mặc chiếc áo màu xanh lên ti vi có đẹp không anh?". "Ðố anh biết hôm nay em tô son màu gì?".
Ðời sống là những hẹn hò cuống quýt, còn là sự hoàn thiện của cho và nhận. Với Nguyên, anh từng hứa với Quy khi có được Quy bên cạnh cuộc đời mình, Nguyên sẵn sàng nghe theo lời Quy. Anh đã hứa như thế trong một buổi chiều mát mẻ, khi hai người dạo chơi ở ngoại ô, không gian là những đồng lúa đang lên xanh, gió cứ thổi, gợi cho những vạt lúa lao xao như sóng. Sống với nhau rồi quen. Bạn bè kháo nhau: "Thôi đừng có rủ thằng Nguyên đi nhậu nữa, bà chằng Nguyên biết được thì nó ra hè nhà mà ngủ", có người còn đùa cợt với Nguyên: "Này, bà xã của mày làm gì mà mày sợ dữ vậy?". Lúc đầu là đùa, nghe xong cười, bỏ qua. Nguyên còn chống chế: "Tao sợ vợ tao chứ tao sợ vợ mày sao mà nhiều chuyện quá vậy?". Rồi Nguyên bỗng ngạc nhiên, là một tên đàn ông to lớn như mình tại sao bỗng dưng lại sợ một người đàn bà nhỏ xíu như thế? Quả thật cuộc sống là những điều tưởng chừng như vô lý mà thực ra lại có lý.
Thời gian trôi biệt giống như những cơn mưa qua, rồi tạnh. Lớp trẻ lớn lên, chúng lại thế chỗ của lớp trước. Trong đài truyền hình của Quy cũng vậy, vừa có thêm một số bạn trẻ tuyển vào để làm phát thanh viên. Quy về nói với Nguyên:
- Em sắp được đi Ðà Nẵng học khoá biên tập ba tháng. Anh có mừng không?
Nguyên nói đùa: Mừng.
- Ừ, không mừng sao được khi mà bạn bè rủ đi nhậu không bị vợ ngăn cản. Hàng đêm không phải ngồi trước ti vi để xem vợ mình nói năng. Chưa hết, rồi mặc sức quăng quần áo tứ tung trong nhà, ngủ không chịu đánh răng, sáng không chịu chải đầu. Anh có ba tháng tự do đó. Sướng chưa?
Chuyến xe lửa đêm dừng lại 10 phút. Tay Nguyên vẫy trong bóng đêm Quy không nhìn thấy. Những ngọn đèn đường ngả màu vàng chiếu rọi khiến cho con đường có chút gì đó như một bài thơ. Ba năm sống bên nhau, chưa bao giờ hai vợ chồng xa nhau một bước, chưa bao giờ Nguyên làm điều gì trái ý vợ. Giờ đây anh chỉ có một mình trong lòng thành phố như anh đã từng ao ước là lúc nào đó mình sẽ thật tự do như con chim. Nguyên sẽ không sợ Quy nhăn nhó khi chiếc đồng hồ đã chỉ đúng 9 giờ tối mà anh chưa về, bởi mâm cơm chỉ được dọn ra khi chỉ có hai người. Còn nếu hôm nào Quy trực đêm trên đài, thì bữa cơm lại sớm hơn thường lệ.
Nguyên không về nhà vội. Bởi đâu có ai nhắc nhở sự trở về của anh đâu? Ðêm đã đưa Quy đi xa, Quy còn đi xa ba tháng xa lắc nữa kia mà.
Quán lẩu nằm nép mình dưới tán cây me lớn. Chủ quán đã chọn cho quán một cái tên cũng rất dễ thương: "Quán cây me". Những Ngạn, Tuy, Hà... đủ những thằng bạn nhậu đều có mặt. Tiếng cười vui ầm ĩ:
- Hôm nay thằng Nguyên phải say. Say cho bõ những ngày sợ vợ. Say cho những ngày bị cấm uống.
Nguyên uống. Nhưng thói quen uống bia cho say đã mất. Anh nhận ra chốn này không phải chốn của mình. Say để làm gì? Trước mặt anh là những gương mặt đỏ gay vì rượu. Nguyên nói:
- Thôi! Tao về.
- Vợ mày có nhà đâu mà về?
Căn nhà thiếu bóng đàn bà rộng thênh thang. Trên chiếc bàn nhỏ đầu giường là tấm giấy Quy ghi chi tiết những điều Nguyên cần nhớ: "Em đã đặt cơm tháng cho anh. Quần áo dơ, nhà sẽ do chị Kim bên cạnh qua phụ giúp. Anh cứ coi như còn độc thân. Khi nào nhớ em thì anh gọi điện kẻo người ta gọi anh là ông chồng sợ vợ".
Anh phì cười. Không biết chiếc điện thoại di động Quy mang theo bên người có mở máy không? Và không biết tàu có vào khu vực có sóng điện thoại? Nguyên nhấn đại vào những con số. Tiếng Quy bên kia: "Làm gì khuya khoắt mà anh gọi điện cho em, bộ anh sợ em kiểm tra hả... ông sợ vợ". Nguyên thì thào trong máy, tiếng anh theo gió đến tận toa tàu của Quy: "Anh đâu có sợ em, anh chỉ nhớ em thôi. Mới có một buổi mà anh buồn quá. Anh đi Ðà Nẵng vào tuần sau nhé". Tiếng Quy cười ròn tan: "Không khéo mấy ông bạn của anh lại nói em bắt anh đi Ðà Nẵng như bắt anh ngồi trước ti vi...".
Tuesday, 6. June 2006, 07:03:17
Truyen ngan
Đôi khi tôi thấy băn khoăn giữa Nam và Tuyên. Cả hai đều gửi thư làm quen với lời giới thiệu của tôi “thích uống chocolate nóng”. Tuyên khẳng định là tôi có sở thích giống anh, còn Nam nói món chocolate của tôi gợi cho anh nhớ một câu chuyện thú vị mà anh đã đọc ở đâu đó, nếu có dịp sẽ kể cho tôi nghe.
Tuyên là giám đốc một công ty tư vấn và đào tạo nhân lực, có lẽ không tài năng và giàu có hơn nhan nhản các giám đốc trẻ thành công của những năm hai ngàn. Nhưng chắc chắn là tham vọng không thua kém. Công việc làm ăn của Tuyên gặp nhiều thuận lợi vì những cơ may từ mối quen biết có sẵn của gia đình. Tôi đoán vậy qua những lá thư. Sự tự tin của một người chưa biết khó khăn hay thất bại là gì của Tuyên không còn làm tôi nể nang nhiều. Nhưng tôi thích đọc thư Tuyên, tình cảm, văn hóa và nhiều triết lý. Còn thư của Nam, một kỹ sư ngành tin học, thì y hệt bản báo cáo công việc, luôn ngắn gọn và cụ thể : hôm nay tôi đi đâu, làm gì, tôi mới mua cuốn sách này, em đã đọc chưa?...
Mẹ vẫn thường nhìn tôi thở dài. Thật ra, tôi mới 24 tuổi, chưa có gì phải nóng vội, nhưng vẻ dửng dưng của tôi làm mẹ thở dài. Một phần, nó làm cho bà nhớ đến ba tôi, cũng dửng dưng như thế, cho đến ngày tìm thấy tình yêu thật sự của ông - những rẫy cà phê bạt ngàn ở Ban Mê và một người đàn bà bị chồng bỏ vì không thể có con - thế là ông đùng đùng khoác ba lô lên vai và đi. Mẹ không có ý kiến gì cả, chỉ khóc đúng hai lần rồi thôi, sau khi đã thỏa thuận sòng phẳng với ba về chuyện tài sản và thủ tục. Mẹ luôn nói rằng bà chưa bao giờ yêu ba, chỉ có điều dù gì thì cũng đã sống với nhau gần ba chục năm trời...
Mẹ không níu kéo nhưng vẫn cảm thấy tổn thương và bị suy sụp một thời gian trước khi quen dần với sự tự do, yên ổn. Bây giờ, mỗi ngày mẹ thức dậy đi chợ, mua sắm, rồi về tiệm đọc báo Phụ nữ, trông coi đám học trò, thỉnh thoảng mới tự tay uốn hay cắt tóc cho khách quen. Phần lớn họ là những bà nội trợ trong xóm và đôi ba người đàn ông mệt mỏi vì những phi vụ làm ăn, hoặc đôi khi, vì một bà vợ hay càu nhàu, mỗi tháng vài lần đến tiệm để gội đầu cho thư giãn và tâm sự đôi chút chuyện đời với bà chủ tiệm mặt mũi hiền lành nhưng miệng lưỡi sắc lẻm có mái tóc xù như Julia Robert...
Tôi không đau đớn gì về một gia đình tan vỡ, vì nó đã vỡ từ lâu lắm rồi. Giống như tôi đã nhìn mãi một cái đĩa nứt đôi từ hơn chục năm trước, bây giờ, ba mẹ tôi mỗi người lấy đi một nửa và sống tiếp cuộc đời riêng của mình. Chuyện đó đối với tôi có khi còn nhẹ nhõm hơn vì cứ nhìn mãi vết nứt lạnh lùng ấy mà day dứt. Tôi vẫn yêu thương cả hai, và chúng tôi dù sao vẫn là một gia đình. Tôi cũng không vì cuộc chia tay đó mà đâm sợ chuyện chồng con
Mẹ nói, dù thế nào thì người đàn bà vẫn cứ cần một chỗ dựa, hoặc là chồng, hoặc là con, ai may phúc thì được cả hai. Tôi cũng nghĩ vậy, và đôi khi, tôi cũng thèm một tình yêu, thèm một vòng tay ôm rất chặt, một cái hôn làm bỏng rát đôi môi, nhất là những buổi tối ngồi một mình trước bàn làm việc, đợi vài con gió nghịch ngợm luồn qua những mái nhà, những con hẻm để lùa vào cửa sổ...
Lúc mới xin việc, tôi cứ nghĩ PR là một nghề hào nhoáng : gặp gỡ những khách hàng lớn, tổ chức những hội nghị quan trọng ở các khách sạn năm sao... Nhưng thực tế đã mở mắt cho tôi chỉ sau một thời gian ngắn : Công việc đầy áp lực và lúc nào cũng phải xoay như chong chóng, chuẩn bị thư mời, thông cáo báo chí, panô quảng cáo, âm thanh, ánh sáng, bảng tên, bánh ngọt, cà phê... Đi qua đi lại lo lắng quá giờ họp báo gần một tiếng đồng hồ mà cánh phóng viên chưa ai thèm tới, loay hoay đến toát mồ hôi khi máy in trở chứng, tới giờ họp báo vẫn chưa có thông cáo báo chí để phát. Rồi thì liên hệ khách hàng, cười nói, bắt tay, thậm chí, gà cả câu hỏi cho những phóng viên trẻ mới vào nghề...
Thỉnh thoảng lại bị hẹn hò, những cuộc gặp nhập nhằng giữa công việc và riêng tư. Và sau đó là gạ gẫm, tán tỉnh, có khi doạ dẫm... Những mâu thuẫn giữa việc giữ gìn lòng tự trọng và trách nhiệm bảo vệ đối tác, chiều ý khách hàng làm tôi mệt mỏi. Bởi cứ phải chuẩn bị tư thế để đối phó nên tôi trót biết về những người đàn ông chung quanh mình rõ trước khi có thể bắt đầu yêu thích bất cứ ai trong số họ... Nghe tôi than thở, mẹ bảo rằng số phận của tôi có thể đang ở đâu đó xa hơn, ngoài môi trường mà tôi đang sống. Tôi liền gửi lý lịch lên CLB làm quen trên mạng, và tin rằng đó là một cách tương đối thận trọng để tìm kiếm số phận của mình.
Hai ngày sau khi đăng ký, tôi nhận được đúng ba cái email, Tuyên từ Hà Nội, Nam ở Sài Gòn, và một người khác du học tận bên Nhật, có giọng điệu hơi khoe khoang và ngạo nghễ. Tôi delete thư của người thứ ba và trả lời hai thư còn lại...
Được bốn năm tháng gì đó, khi tôi bắt đầu quên mất họ đã viết những gì trong lá thư đầu tiên gửi cho tôi thì Nam đề nghị : “Hay là mình gặp nhau đi !”.
Chúng tôi hẹn nhau ở Friends. Quán nhỏ và lịch sự, nhạc rất êm, chỉ có một thanh niên trẻ vừa phục vụ, vừa chỉnh nhạc, vừa tính tiền. Từ đó về sau, nhiều lần chúng tôi ngồi ở chiếc bàn ngay sau khung cửa kính màu nâu của Friends, nhìn sang khách sạn nhỏ đối diện, nơi những cặp tình nhân già có, trẻ có dắt nhau đi vào rồi lại trở ra, chóng vánh, chỉ tôi với Nam ngồi đó mãi, nhìn họ đến rồi đi...
Tôi không có ấn tượng gì nhiều về ngoại hình của Nam, cao hơn mét bảy, ba mươi hai tuổi và bắt đầu có bụng, da nâu, mắt đen, hiền lành sau cặp kính trắng... Y chang một mẫu người của computer, quen thuộc với những trang web và thứ ngôn ngữ siêu văn bản, mẫu người mà tôi tưởng tượng khi anh cho biết mình là kỹ sư phần mềm. Đôi khi Nam nói chuyện khá hài hước, nhưng luôn điềm tĩnh và chậm rãi. Anh hỏi : - Em uống gì ? - Gì cũng được. - Tonic nghen ?
Tôi gật đầu. Đó là thứ nước trong vắt, chứa ký ninh, ngọt ít, đắng nhiều, có ga, vị là lạ. Nam cười nhẹ, bảo : “Anh thích thứ này lắm, uống nó thấy... hay hay”. Tôi nói, em đang đợi anh kể câu chuyện về chocolate. Nam lại cười, mắt hấp háy, và kể câu chuyện về hai người yêu nhau, cô gái chỉ uống cà phê đen còn chàng trai thích chocolate nóng. Mỗi khi họ vào quán, bất cứ quán nào, người phục vụ đều luôn đưa nhầm ly của người này cho người kia.
Sự nhầm lẫn đó ban đầu làm họ thấy thú vị, nhưng dần dà, lại khiến cô gái có cảm tưởng là người yêu mình hơi yếu đuối, vì mọi người vẫn cho rằng chocolate là thứ uống dành cho phụ nữ. Và họ chia tay nhau... bắt đầu từ món chocolate nóng. Câu chuyện đó cứ vảng vất trong đầu tôi mãi,nhất là khi mẹ đặt lên bàn tôi một ly chocolate vào mỗi sáng. Món chocolate ấy đối với tôi giống như một hồi ức êm đềm của thời thơ ấu. Đó là món khoái khẩu của ba, rồi sở thích ấy thành thói quen của mẹ, và của tôi... Từ khi chia tay ba, mẹ đâm ra ghét cay ghét đắng món chocolate, nhưng thói quen pha cho tôi một ly vào mỗi sáng thì không sao bỏ được...
Bây giờ mỗi tuần tôi gặp Nam một lần, hoặc xem kịch, hoặc đến ngồi nghe nhạc cả buổi ở Friends, lẩn trốn cái nóng và sự ồn ào của Sài Gòn những ngày cuối tuần... Mỗi lần, Nam lại hỏi câu quen thuộc, với ngữ điệu quen thuộc: “Tonic nghen, em ?”. Chỉ có điều, lần sau Nam xin vài lát chanh, ly tonic có thêm mùi thơm nhẹ nhàng, chua chua và vị đắng dịu của vỏ chanh. Lần sau nữa, tôi nói : em thấy người ta cho chút muối. Bỏ vào, nước sẽ sủi lên, thấy không ? Và tonic thêm vị mặn nơi đầu môi... Nam nhấp một ngụm : “Bây giờ mới thiệt là ngon !”.
Từ đó, tôi có những buổi tối về nhà, mệt lả vì cả ngày phải đi qua đi lại, nói nói cười cười, ra lệnh và vâng dạ, thấy rất thèm một ly tonic với muối và chanh... Nhưng lần ngồi ở Friends, nhìn những đôi tình nhân khoác tay nhau đi như lướt qua bên ngoài cửa kính, tôi cứ đợi Nam nói một điều gì đó... Nhưng anh im lặng mãi. Chỉ có một lần, Nam thổ lộ rằng anh có một niềm say mê nhỏ, đó là rùa. Nhưng nhà cửa bây giờ chật chội, không có chỗ cho nó sống. Anh lặp đi lặp lại : - Sao anh thích nuôi một con rùa quá.
Tôi bảo : - Em thì không thích những con vật, em chỉ thích trồng cây. Nam yên lặng một chút rồi nói, rất nghiêm túc : - Có sao đâu. Rùa cũng dễ sống lắm, sau này em cứ trồng cây và anh nuôi rùa, mình có thể cho nó bò loanh quanh những cái cây của em. Tôi tự hỏi mình có nên xem đó là một lời tỏ tình hay không. Rồi quyết định là không. Tôi không thích nghe một lời tỏ tình mà lại phải tự hỏi không biết đó có thật là một lời tỏ tình hay không ? Tôi giả vờ làm ngơ và Nam cúi đầu thinh lặng.
Tôi vẫn nhận mail và reply cho Tuyên mỗi tuần. Tuyên hỏi số điện thoại nhưng tôi không cho. Tôi nghĩ giọng nói có thể gây nhiều nhầm lẫn trong việc nhận biết một con người. Tôi vẫn thích sự thận trọng của những lá thư hơn, cho đến khi có thể gặp nhau trực tiếp.
... Một tuần ở Hà Nội, tôi xoay như chong chóng với chương trình ra mắt sản phẩm mới của hãng Z. Lại họp báo, tiệc tùng, quay phim quảng cáo, bắt tay, cười nói... Lần lữa mãi mới gặp được Tuyên. Thật tình, tôi không mấy bất ngờ trước vẻ hào hoa lịch thiệp và cả giọng nói nhỏ nhẹ như vuốt dọc sống lưng của Tuyên... Nhưng có điều gì đó làm tôi không thấy thoải mái ngay từ buổi gặp mặt đầu tiên ở một quán kem nhỏ gần hồ Gươm. Có lẽ, bởi Tuyên ăn mặc và xử sự trịnh trọng quá, giống như những người tôi vẫn phải bắt tay trong phòng họp.
Tuyên gọi : - Cho hai chocolate nóng. - Không đâu - Tôi lắc đầu - Em uống tonic, với muối và chanh. Tuyên quay sang nhìn tôi, cau mày : - Em thích uống chocolate cơ mà ? Tôi ngẩng lên, nhìn khuôn mặt điển trai xa lạ của Tuyên, bất giác thở dài, và chợt nhận ra là thậm chí mình có thể thở dài hàng trăm lần nữa, vì có điều gì đó nặng nề lắm cứ chặn ngang lồng ngực. Tôi thấy thèm một ly tonic đăng đắng, mằn mặn, lạnh ngắt, và vị ngọt thì đọng đâu đó, không phải trên môi, không phải trên đầu lưỡi, mơ hồ, hoang đường, như không hiện hữu trong vị giác mà là trong cảm thức. Giữa tia suy nghĩ nào đấy vừa thoáng qua về vị ngọt trong ly tonic, tôi chợt nhận ra tình yêu cũng giống như lời tỏ tình.
Nó có thể bắt đầu và kết thúc bằng một thứ nước uống ở quán cà phê. Nó có thể bắt đầu từ nỗi nhớ, không phải chính con người ấy, mà là khoảng không gian, những cảm xúc bao quanh mỗi khi ta ở bên người ấy. Sự bình yên. Tôi nhận ra mình rất nhớ một giọng nói, trầm ấm với câu hỏi quen thuộc dịu dàng : “Tonic nghen, em ?”... Tôi kể cho Tuyên nghe câu chuyện mà Nam đã kể. Tuyên lắc đầu : Chỉ vì câu chuyện ngớ ngẩn đó mà em không uống chocolate nữa à? Tôi nói, không phải, mẹ vẫn bắt em uống chocolate mỗi sáng, chỉ đơn giản là bây giờ sở thích của em thay đổi rồi. Thế thôi.
Dạo trước, tôi có lên thăm ba vài ngày. Người đàn bà kia sống cùng ba tôi trong căn nhà gỗ, giữa vườn cà phê rộng mênh mông, suốt ngày chỉ ở nhà đọc sách, nấu nướng và làm thơ, tỏ vẻ quyến luyến yêu thương tôi đúng kiểu một người đàn bà hiếm muộn... Ba có vẻ hài lòng với sự yếu đuối và phục tùng của bà, với những buổi chiều ngồi tán chuyện cà phê lên giá hay xuống giá, tình hình chiến sự thế giới ảnh hưởng đến kinh tế ra sao với mấy ông hàng xóm ở trang trại bên cạnh.
Những ngày tôi ở đó, mỗi sáng lại có ba ly chocolate nóng hổi đặt trên bàn, mùi hương ngọt ngào lan ra cả nhà, thấm vào từng thớ gỗ, từng giọt sương đọng trên lá cà phê thơm lừng. Trông họ có vẻ hạnh phúc. Tôi không nhận ra sự khác nhau của ly chocolate mẹ pha ở nhà và ở đây, có lẽ ba cũng vậy. Nhưng khi về, tôi nói với mẹ là ba thường uống chocolate nhưng bà ta không pha ngon như mẹ. Mẹ cười mãn nguyện : “Dù sao, mẹ cũng đã pha món đó hai mươi mấy năm rồi còn gì...”.
Tôi mỉm cười, ôm lấy vai mẹ và nhớ về ngôi nhà gỗ với hai con người chắp nối hạnh phúc, chợt hiểu tại sao ba lại bỏ mẹ để đến nơi ấy. Tình yêu không phải là một thói quen. Mẹ đã pha chocolate cho ba không phải vì tình yêu, mà vì thói quen. Còn người đàn bà ấy... bà nói rằng, bà không biết mình yêu ba tôi nhiều đến đâu, nhưng bà yêu vô cùng cái không gian có ba ở đó. Những buổi sáng cao nguyên trong trẻo hơn, hoa cà phê trắng hơn và thơm hơn. Bà cảm thấy việc thức dậy, nấu nước sôi rồi khuấy tan bột chocolate trong ly vào mỗi sáng là công việc tuyệt vời nhất của một ngày...
Còn tôi, tôi đã uống chocolate mãi, từ những ngày mới tự biết cầm ly uống nước, từ những ngày xa xưa khi còn cảm thấy niềm hạnh phúc gia đình như hòa tan trong ly chocolate bốc khói, cho đến những ngày hiện tại khi cảm thấy trong đó nỗi xót xa vì bị bỏ rơi vẫn xát vào trái tim của mẹ. Cho đến khi một người xa lạ mời tôi thứ nước khác, trong vắt và có vị lạ lùng... Tôi nói với Tuyên rằng, tôi vô cùng xin lỗi, vì chỉ đến khi Tuyên mời chocolate tôi mới nhận ra là tôi không thích nó. Và khi nghe Tuyên tỏ tình, chính xác là tỏ tình, ngay trong buổi đầu gặp mặt thì đầu óc tôi chỉ quay quắt nhớ về một người đã tỏ tình bằng những con rùa mà thôi...