You Thái Mến ! Đầu thơ cho mình gởi lời thăm hai bác. Riêng gởi đến you những gì thân thiết nhất, trừu mến nhất, đầm ấm nhất, thân thương nhất và gì cũng I - I - Ha Ha, chịu hôn nè ! Việc làm ra sao rồi, lư lư gần tết chắc là lu xu bu lắm phải hôn Nè nè ! Do you think of me some times? Riêng you are the man like the most . ok. You are the first man who wins my heart . ki ki ki You đã hứa với mình qua tết sẽ ghé Hà Tiên quê tôi. Mình chờ you đó – kha kha ! hãy đợi đấy ! Ta là bà Tiên xứ sở thơ mộng sẽ ban cho you những nguyện vọng mà you mong ước được không ? Anh và em có gì giống như Cái vỏ diêm và chiếc que diêm Cả hai cùng biết đợi chờ Cái giây phút chớp lửa * Biển xanh đấy, biển xanh Và hơi thở phập phồng Biển có gì giống tình em anh gặp Cái tình xanh biếc bên ngoài Mà mặn chát bên trong You mến ! Một mùa xuân lại đến, chúng mình lại thêm một tuổi, tất cả đều trở thành U 50. Nè nè ! đừng có mà mơ mộng trở thành đứa trẻ nữa người ta mà nghe được cười chết đó. Đức Khổng Tử có nói : Sinh - Lão - Bệnh - Tử ( Sinh ra già - bệnh rồi trở về với cát bụi )đó là quy luật không một ai có thể thoát khỏi. Do đó, sống cho ra sống, sống phải có mục đích, có lý tưởng đừng vì những việc gì không đáng mà thối chí, không nên vì khiếm khuyết mà tự ái, nhớ đó nhá ! Ha ha ! muốn viết nhiều lắm nhưng không viết nữa để dành đó đó, hì… You are really too kind with me. Lúc nào cũng chìu tôi trong những lúc lòng đầy bực bội, mọi hờn giận đều trút vào you, you là 1 người bạn tốt. Chúc you luôn gặp may mắn trong cuộc sống, vui vẻ và khỏe mạnh và là 1 người luôn luôn đón nhận được hạnh phúc.
Th “I kiss you” Thân ái ! Ngọc lâm; ngày 04 tháng 01 năm 2009
Gửi chị Hai kết nghĩa !
Chị Hai à! Có lẽ hôm nay em không thể chịu đựng được nữa, em không thể chịu đựng đuợc những cái suy nghĩ mong lung về chị Hai của em được nữa rồi. Ngồi một mình giữa bốn bức tường trong đêm vắng, chị Hai có biết em nhớ chị Hai biết dường nào không? Tim em cứ rộn lên những hồi đau nhói, những cảm giác khó tả, em hiểu được cảm giác đó, bởi vì em đã từng trãi qua. Em muốn lừa dối bản thân nhưng con tim em thì khác, chị Hai có biết em dằn dặt, đau khổ dường nào không? Khi mà tình yêu và lí trí luôn đấu tranh nhau. Em ao ước được bên cạnh chị Hai nói rõ những nổi lòng, nhưng càng yêu quý chị Hai, em càng không thể… Em không muốn chị Hai của em phải suy nghĩ lung tung rồi lại thêm nhiều chuyện, em biết bây giờ với chị Hai cũng đã quá mệt mõi lắm rồi. Em ao ước có thể san sẽ với chị Hai, nhưng có lẽ chị Hai sẽ không bao giờ hiểu được em đâu. Hiểu rằng em yêu quý chị Hai biết dường nào, hơn cả bản thân mình và em từng nghĩ có thể làm bất cứ điều gì để chị Hai vui! Một ngày không được nhìn thấy chị Hai em khó chịu vô cùng. Em cảm thấy trống trải và nhớ nhung da diết. Không lúc nào em không nhớ về chị Hai, không lúc nào em không tự hỏi bây giờ chị Hai của em ở đâu, đang làm gì…và đôi lúc chỉ là một ước muốn nhỏ nhoi : Không biết có bao giờ chị Hai nghĩ về em dù chỉ là thoáng qua không nhỉ ? Chỉ cần thế thôi em cũng đã mãn nguyện lắm rồi! Nhớ chị Hai em không thể tập trung làm bất cứ điều gì được, em không thể làm được điều gì chị Hai à. Như hôm nay cả ngày không gặp chị Hai, không được nhìn thấy chị Hai, nói chuyện với chị Hai em như người mất hồn, đi ra đi vào với những suy nghĩ mong lung. Em nhớ chị Hai nhiều lắm chị Hai à, ngồi ở nhà một mình em tìm đủ mọi cách để chỉ mong được biết chị Hai của em đang ở đâu, làm gì sao không cho em gặp. Muốn gọi điện cho chị Hai, nhưng em ngại, em ngại lắm vì em không tìm được một lí do nào cho hợp lí cả. Rồi em sợ sẽ làm cho người ta hiểu lầm…rồi sẽ sinh ra nhiều chuyện lắm. Em đã kìm chế con tim mình đã lâu lắm rồi, sao em không thể tiếp tục vậy chị Hai, em biết sẽ rất sai lầm nếu em không chịu đựng được. Nhưng chị Hai ơi, tình yêu làm gì có lỗi chị Hai nhỉ ? Em không hiểu tại sao ông trời cho em gặp chị Hai, đễ rồi em không thể rời xa chị Hai được. Dù bây giờ chị Hai vẫn chưa hiểu lòng em nhưng như thế em mãn nguyện lắm rồi. Tuy có những lúc một mình thế này đây, lòng em lại dâng trào lên mãnh liệt khó mà kìềm chế. Nhưng vì chị Hai, vì tương lai… em sẽ cố gắng, em sẽ cố gắng che đậy và đè nén nổi lòng mình. Như lúc này đây em không sao kiềm chế được cảm xúc của bản thân. Em không thể nói cho chị Hai biết bất kì điều gì em hiểu được, nên đành viết ra đây cho vơi đi nổi lòng. Hiện tại em muốn mình thật say thật sỉn đễ quên đi hình bóng chị Hai nhưng tim em cứ thắt lại, thắt lại từng cơn. Em thấy mắt mình cay cay khi nghĩ về chị Hai, em không hiểu vì sao. Có lẽ em tự thương xót cho bản thân mình, cho một con người bất hạnh như em. Nhưng dù sao khoảng thời gian được quen biết, thân thiết với chị Hai em rất vui và hạnh phúc. Từ lâu em đã xem niềm vui của chị Hai là niềm an ủi hạnh phúc của bản thân em vì thế em luôn làm mọi thứ để chị Hai vui! Đó là cả tấm lòng của em, nó xuất phát từ trái tim. Còn nhiều điều em muốn nói với chị Hai của em lắm, nhưng câu mà em muốn nói nhất là : “Em yêu chị Hai” chị Hai ạ. Em có thể đánh đổi tất cả vì chị Hai, nhưng em biết đó chỉ là những suy nghĩ thấp hèn, viễn vong của em thôi. Em sẽ cố gắng, cố gắng để được mãi bên cạnh chị Hai, được dõi bước theo từng bước tiến của em, được chứng kiến chị Hai của em hạnh phúc …thế là em mãn nguyện lắm rồi. Có lẽ một ngày nào đó chị Hai sẽ hiểu được nỗi lòng của em. Nhưng dù sao tình yêu của em dành cho chị Hai vẫn là mãi mãi và sẽ mãi mãi tồn tại trong một tâm hồn, chị Hai nhỉ !
Đời Quân ngũ... Năm 1975, khi đất nước được hoàn toàn giải phóng, lúc đó tôi vừa tròn 15 tuổi là cậu thiếu niên và cũng như bao nhiêu bạn bè trang lứa học trường làng. Đến năm 1977, đang học lớp 10 nhưng hòan cảnh gia đình lúc đó quá khó khăn, tôi nghỉ học ở nhà phụ giúp ba má làm ruộng. năm 1979 tình hình biên giới Tây Nam của Tổ quốc đã bị bọn Khơ-me Đỏ xua quân qua biên giới nước Việt Nam , bắn giết người dân vô tội, đốt nhà cướp của, hòng phá họai cuộc sống yên lành của đồng bào. Năm 1981, theo lời động viên của chính quyền xã cùng gia đình, tháng 8 năm đó tôi đã tình nguyện gia nhập vào quân đội và trở thành anh lính “bộ đội cụ Hồ”. Đi với tôi đợt ấy, xã có 12 người, 4 người bạn của tôi đã hy sinh trên đất bạn, 2 người thương binh và hiện nay tất cả đã trở về với cuộc sống đời thường. Thỉnh thoảng tụi tôi cũng gặp nhau, nhất là những dịp lễ lớn, Ngày 27/7- TBLS, kỷ niệm ngày thành lập quân đội 22/12. Ôi! vui phải biết, bao nhiêu kỷ niệm nơi chiến trường xưa được ôn lại bên những ly rượu nồng, thắm tình bạn bè đồng đội đồng chí. Trở lại chuyện binh nghiệp của tôi, sau ba tháng ở quân trường Sông Bé, tôi là lính tình nguyện Việt Nam được điều qua tỉnh Bát Tam Băng thuộc nước bạn Campuchia trong biên chế sư đoàn 309. E 31 Trung đoàn cơ động Mặt trân 479. Thời gian này ở chiến trường Campuchia vẫn còn ác liệt lắm. Vào những tháng mùa khô, sư đoàn tôi kết hợp cùng nhiều binh chủng các sư đoàn khác và lực lượng nước bạn đã mở nhiều chiến dịch lớn nhằm tiêu diệt những căn cứ, sào huyệt của bọn phản động Khơ Me Đỏ. Tôi vẫn còn nhớ như in những tình cảm mà người dân Campuchia đã dành cho “bộ đội Việt Nam” khi tụi tôi đến giải phóng từng bum, sóc bị bọn khơ me đỏ biến thành những trại tù, bắt người dân làm việc khổ sai phục vụ cho mưu đồ chính trị của chúng. Và dù chỉ là chiến sĩ trẻ nhưng với lòng quả cảm, gan dạ, nhanh nhẹn, sáng tạo trong những cuộc tập kích lớn, tên tôi đã được biểu dương nhiều lần ngay sau những trận đánh trước tiểu đội, trung đội…. Cứ như vậy, sau mỗi trận đánh tôi ngày càng trưởng thành, dày dạn trong trận mạc, tích lũy nhiều kinh nghiệm trong chiến đấu.
Và rồi, cuộc đời binh nghiệp của tôi đã phải ngắt quãng khi trước ngày thành lập quân đội 22/12 năm 1984, đơn vị của tôi nhận nhiệm vụ kết hợp cùng nhiều binh chủng các sư đoàn khác đi đánh căn cứ của bọn phản động Khơ Me Đỏ giáp biên giới Thái Lan. Sau khi đánh chiếm được căn cứ của địch. Đơn vị của tôi bàn giao lai cho đơn vị bạn, rồi rút quân về Trung đoàn. trên đường đi, bị địch phục kích, với quân số không cân sức, nhưng đơn vị của tôi đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và trong khi truy quét những tên giặc đang bỏ chạy, tôi đã đạp phải mìn của chúng cài lại… Sau khi cấp cứu từ bệnh viện dã chiến cấp trung đoàn, Mặt trận… tôi được chuyển về Việt Nam bằng máy bay C130, nằm điều trị tiếp Quân y viện 7 B - Biên Hoà. Thời gian sau, tôi đi an dưỡng Củ Chi Thành phố HCM đến tháng 5/1985 tôi phục viên về với giấy chứng nhận thương binh hạng 2/4 - 71 % ./.
Diễm xưa
Tôi đã đi qua trên vùng chiến thuật Miền nam giới tuyến đất campuchia Trên đất Tam băng tôi là lính bộ Ngày đêm chiến đấu không sợ gian nguy
Em có hay tin anh vừa trúng đạn Mìn K 58 xé nát chân anh Trên chiếc măng ca anh nằm bất động Trực thăng sơn trắng đến rước anh đi
Trời ơi ngày nào tôi cũng như ai Chiến đấu gian nan không sờn Giờ đây phế binh người yêu bỏ đi Tương lai tôi không còn mơ
Trên chiếc xe lăn tôi ngồi nhớ lại Hình dung lại những giây phút năm xưa Em hỡi em ơi em hởi em hời Một giò tôi mất trên vùng đất K ./. Thư của lính trước lúc đi xa
Toàn gia đình kính thương! Hôm nay con ngồi đây viết vài dòng chữ cuối cùng, phòng khi đã “đi nghiên cứu bí mật trong lòng đất”, thì gia đình khỏi thấy đó là điều đột ngột.
Ba Má kính mến! Lớn lên trong tay Ba Má từ khi còn trứng nước, chưa đền đáp được công ơn to lớn đó của Ba Má thì đứa con của Ba Má đã phải đi xa rồi. Thư này tới tay Ba Má, chắc Ba Má buồn lắm. Lòng mang nặng đẻ đau, giọt máu đào hơn ao nước lã. Lá vàng còn ở trên cây, lá xanh rụng xuống... trời ơi, hỡi trời! Con của Ba Má đã đi xa, để lại cho Ba Má nỗi buồn nhất trên đời. Con rất hiểu đời Ba Má khổ đã nhiều, nay bao hy vọng nuôi con khôn lớn, song vì đất nước còn chiến tranh, thì Ba Má ơi hãy lau nước mắt cho đời trẻ lâu. Con đi, Ba Má ở lại trăm tuổi bạc đầu. Coi như con lúc nào cũng nằm bên Ba Má. Ba Má đừng buồn cho linh hồn con được thoải mái bay đi. Ba Má biết bao khó nhọc, nay con đã đến ngày khôn lớn thì... Thôi nhé, Ba Má đừng buồn, coi như con đã sống trọn đời cho Tổ quốc mai sau!
Anh Hai chị Ba kính mến! Anh em liền khúc ruột mềm, mà giờ đây đã phải mãi mãi xa anh chị. Ra đi mong anh chị khỏe mạnh, trông nom Ba Má già thay em, động viên Ba Má khi biết được tin này. Em rất hiểu anh chị buồn lắm. Kể gì đây cho anh chị đỡ buồn? Song anh chị hãy coi như em đã sống trọn một đời vì chiến tranh tất cả. Anh chị hãy vui lên, chăm sóc các cháu, nuôi Ba Má già sống lâu, đó là điều em mong muốn nhất. Để cho linh hồn em mãi mãi quanh anh chị và gia đình. Thôi nhé, chào anh chị ở lại. Hồn em mãi mãi bên anh chị!
Em Năm thương mến! Nếu thực sự thương anh thì em hãy làm theo lời anh căn dặn: Hằng năm, cứ đến ngày này, em hãy thắp vài nén hương tưởng nhớ tới anh. Còn em khi nhận được thư này hãy đừng buồn nhiều cho đời tươi trẻ. Giờ đây anh biết nói gì với em. Chỉ mong em khỏe, yêu đời...Nhưng em ơi, hãy bình tĩnh lại làm theo lời anh căn dặn. Còn ngày anh đi xa, là ngày .... đề ở ngoài phong bì mà nhờ các bạn anh gửi giúp. Em sẽ đọc thư này cho mọi người trong gia đình nghe trong buổi lễ truy điệu anh. Cho anh gửi lời chúc sức khỏe tất cả những người quen thuộc trên quê hương trong buổi lễ truy điệu lịch sử này.
Cháu Hai mến thương! Giờ đây còn bé, song sau này cháu sẽ là trưởng gia. Giờ đây phải cố gắng học tập cho thành người. Được sống hòa bình, hãy luôn nhớ tới người chú ruột của cháu đã hy sinh. Khi trưởng thành, hằng năm cứ đến ngày này, hãy tưởng nhớ tới linh hồn của chú. Đặc tính của chú là thích ăn thịt gà, chuối và xôi lắm đấy. Thôi nhé, hãy làm tròn nghĩa vụ của người cháu đích tôn đối với chú! Con của gia đình Tiễn một người đi
Lá vàng ngồi khóc lá xanh Con ơi sao nỡ, sao đành bỏ đi Mẹ cha có tội tình chi Cho con chết trước, thay vì mẹ cha Cha con với mẹ đã già Sao con lại để cả nhà chịu tang Lá xanh rụng trước lá vàng Nước sông chảy ngược, bao hàng lệ tuôn Bây giờ con đã về nguồn Thôi con yên nghỉ, quê hương an bình Chiến chinh, chiến chinh điêu linh Thương anh lính chiến hy sinh cuộc đời Đọc kinh lạy Đức Chúa Trời Xin thương phù giúp những người chiến binh./.
KỶ NIỆM 60 NĂM NGÀY TBLS – 27/7/2007 Hơn nửa thế kỷ qua dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt nam, các lực lượng võ trang và nhân dân ta liên tục đấu tranh Cách mạng, chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ và các thế lực phản động quốc tế giải phóng dân tộc và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và sự nghiệp xây dựng xã hội chủ nghĩa có sự đóng góp to lớn và vô giá của các anh hùng LS - TB - BB và người có công với Cách mạng, đã làm rạng rỡ thêm lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và đấu tranh giữ nước vẻ vang của dân tộc Việt nam. Để phát huy truyền thống Cách mạng tinh thần yêu nước và đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt nam. Tổ quốc và dân nhân ta nguyện đời đời ghi nhớ công ơn của các đồng chí và đồng bào đã hy sinh cống hiến cho sự nghiệp Cách mạng.
Với phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” Đảng, nhà nước và nhân dân coi việc chăm sóc giúp đỡ TB - BB - Gia đình LS và người có công với Cách mạng là điều vinh dự cao cả, đồng thời cũng là bổn phận trách nhiệm của chính mình và của các thệ hệ mai sau, hơn nửa thế kỷ qua công tác TBLS và người có công luôn được Đảng, nhà nước quan tâm chu đáo, việc làm nghĩa tình này được sự hưởng ứng tham gia nhiệt tình của toàn xã hội, là ý thức hành động Cách mạng của mọi tầng lớp nhân dân.
Được sự ưu đãi chế độ chính sách của Đảng, nhà nước và được sự yêu thương đùm bọc giúp đỡ của cộng đồng xã hội, từ ngày hoà bình thống nhất đất nước đến nay các đồng chí TB - BB - Gia đình LS và người có công với Cách mạng thấy được sự quan tâm to lớn của Đảng, nhà nước và nhân dân thể hiện hành động bằng những việc làm cụ thể, thiết thực đã phát huy truyền thống tốt đẹp của bản thân và gia đình, gương mẫu chấp hành chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước nỗ lực phấn đấu vượt lên muôn vàn khó khăn, cần cù lao động thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội, từng bước ổn định cuộc sống của riêng mình, nhiều gia đình LS - TB - BB và người có công với Cách mạng đã có nhiều cống hiến cho xã hội góp phần thực hiện mục tiêu “Dân giàu nước mạnh”.
Trong những năm qua thực hiện sự nghiệp đổi mới của Đảng, nhà nước và nhân dân đã có nhiều nỗ lực khắc phục khó khăn, đẩy mạnh sản xuất đưa nền kinh tế của xã nhà có tốc độ tăng trưởng cao theo hướng phát triển kinh tế gắn liền với sự tiến bộ và công bằng xã hội. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, sự quản lý điều hành của UBND xã và sự phối kết hợp chặt chẽ của các ban ngành đoàn thể trong những năm qua đã tổ chức mở nhiều đợt vận động, huy động sức mạnh tiềm năng của cộng đồng và nguồn lực kinh tế xã hội cùng với nhà nước hỗ trợ giúp đỡ đáp ứng những nhu cầu đa dạng trong cuộc sống hàng ngày của các gia đình có công với đất nước, tào điều kiện hết sức thuận lợi cho các đối tượng chính sách vươn lên ổn định cuộc sống và phát triển kinh tế, xoá ranh giới giàu nghèo giữa nhân dân và gia đình chính sách.
Tuy nhiên do hậu quả chiến tranh để lại quá nặng nề cùng với nỗ lực khôi phục phát triển kinh tế nhiều vấn đề xã hội đang được đặt ra, trong đó có tình hình đời sống một số bộ phận đối tượng gia đình chính sách còn nhiều khó khăn, với những bảo đảm và nhân tố mới về kinh tế xã hội do công cuộc đổi mới tạo ra chúng ta có đầy đủ cơ sở, tin tưởng vững chắc rằng các đồng chí TB - BB - Gia đình LS và người có công với Cách mạng tiếp tục giữ vững truyền thống gia đình, truyền thống quân đội nhân dân Việt nam phát huy được hỗ trợ của nhà nước và cộng đồng nâng cao ý thức tự lực, tự cường “Tàn nhưng không phế” tích cực lao động sản xuất vươn lên xây dựng cuộc sống mới, tiếp tục đóng góp trí tuệ công sức vào việc xây dựng quê hương giàu đẹp.
Năm nay chúng ta kỷ niệm 60 năm ngày TBLS - 27/7 trong không khí cả nước đang hân hoan chào mừng thành công của Đại hội lần thứ X đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt nam, một nét đẹp truyền thống đạo lý của một dân tộc đã được đưa vào văn kiện đại hội trở thành phương hướng phấn đấu của đất nước trong một giai đoạn mới “Chăm sóc tốt hơn đối với các gia đình chính sách và người có công với Cách mạng. Đảm bảo cho người có công và gia đình họ có đời sống vật chất, tinh thần bằng hoặc cao hơn mức trung bình của cộng đồng nơi đang cư trú”.
Cấp uỷ Đảng, UBND xã, MTTQ, các ban ngành đoàn thể, các đồng chí TB - BB - Gia đình LS và người có công với Cách mạng tin tưởng rằng với truyền thống của một địa phương có bề dày về công tác “Hậu phương quân đội” kỷ niệm 60 năm ngày TBLS năm nay sẽ là ngày tình nghĩa thuỷ chung của toàn dân và là ngày truyền thống vinh quang của những người và gia đình có công với đất nước./.
ĐẠO LÝ TRUYỀN THỐNG, TÍNH NHÂN VĂN CỦA NGÀY THƯƠNG BINH LIỆT SĨ - 27/7 Ngày 27/7/2007, kỷ niệm 60 năm Ngày Thương binh Liệt sĩ, đất nước ta lại dấy lên phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” bằng nhiều việc làm thiết thực đầy tình nghĩa, tỏ lòng tri ân quý trọng và biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đối với những người con ưu tú của quê hương, của dân tộc đã cống hiến và hy sinh xương máu cho nền độc lập tự do thống nhất Tổ quốc, vì hạnh phúc của mọi người.
Như chúng ta đều biết ngay sau khi Chủ tịch Hồ Chính Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2/9/1945 khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa tròn một tháng, thực dân Pháp đã trở lại xâm lược nước ta. Với tinh thần “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh…thà chết không chịu mất nước không chịu làm nô lệ” cả dân tộc lại hành quân ra trận. Trong cuộc chiến tranh anh dũng ấy nhiều đồng bào, đồng chí đã hy sinh. Vấn đề TBLS trở thành một trong những nhiệm vụ rất lớn trong chính sách của Đảng-Nhà nước ta. Để ghi nhớ những đóng góp to lớn của thương binh, sự hy sinh quên mình vì đất nước và tạo điều kiện giúp đỡ gia đình liệt sĩ, thương binh. Ngày 16/2/1947 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 20/SL “Quy định chế độ hưu bổng thương tật và tiền tử tuất, tử sĩ”. Đây là văn bản có tính pháp lý. Liên quan tới những vấn đề thuộc về chính sách xã hội đối với TBLS, chính sách hậu phương quân đội cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị. Thể theo nguyện vọng của các giới: Tổng bộ Việt minh, Trung ương Hội Phụ nữ Cứu quốc, Trung ương Đoàn Thanh niên Cứu quốc, Nha Thông tin, tuyên truyền và nhân dân xã Phú Thịnh, tỉnh Thái Nguyên nhất trí chọn ngày 27/7 hàng năm là Ngày Thương binh toàn quốc. Trong thư gửi Ban Thường trực Ngày Thương binh toàn quốc năm 1947 Bác Hồ viết: “Thương binh là những người đã hy sinh gia đình, hy sinh xương máu để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đồng bào. Vì lợi ích của Tổ quốc, của đồng bào mà các đồng chí đó bị ốm yếu…Vì vậy Tổ quốc và đồng bào phải biết ơn, phải giúp đỡ những người con anh dũng ấy”. Và cũng chỉ một năm sau, nhân ngày Thương binh, tử sĩ 27/7/1948 Chủ tịch Hồ Chí Minh lại ra lời kêu gọi quốc dân đồng bào: “Thương binh và tử sĩ đã hy sinh cho Tổ quốc, cho đồng bào. Để báo đáp công ơn đó, Chính phủ phải tìm mọi cách để giúp đỡ anh em thương binh và gia đình tử sĩ. Tôi cũng rất mong muốn đồng bào sẵn sàng giúp đỡ họ về mặt vật chất và tinh thần”. Lời kêu gọi của Người là nhân tố kích thích tinh thần chiến đấu anh dũng kiên cường sẵn sàng hy sinh quên mình cho đất nước của người lính trên chiến trường mà còn là động viên, nhắc nhở mọi tầng lớp nhân dân cả nước có trách nhiệm và nghĩa vụ thiêng liêng bằng những hành động cụ thể và thiết thực tri ân, đền đáp những hy sinh cống hiến của TBLS trong hai cuộc kháng chiến thần thánh, giành độc lập tự do thống nhất nước nhà.
60 năm, sự ra đời của Ngày TBLS - 27/7/1947, với bao biến cố của thời cuộc và lịch sử Việt Nam đã sang kỷ nguyên mới, Tổ quốc ta hòa bình độc lập, thống nhất và đang trên đà hội nhập phát triển. “Ăn quả nhớ người trồng cây”, “Uống nước nhớ nguồn” là truyền thống và đạo lý của dân tộc Việt Nam từ xưa tới nay luôn được gìn giữ và phát huy. Theo thông báo của Bộ Lao động TBXH, cứ đến ngày TBLS - 27/7 hàng năm các địa phương trên cả nước đều tổ chức nhiều hoạt động kỷ niệm với nội dung, hình thức đa dạng và phong phú nổi lên như : Ngày hội thu ủng hộ gây quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” đã thu hút hàng chục triệu người tham gia và hưởng ứng, thu hàng ngàn tỷ đồng chăm lo cho thương binh, các gia đình liệt sĩ, xây tặng hàng trăm ngàn căn nhà tình nghĩa. Tu sửa hoặc xây mới nghĩa trang liệt sĩ ở mọi miền đất nước. Cha mẹ, con em các gia đình TBLS luôn được Đảng, chính quyền quan tâm cả vật chất và tinh thần, tạo mọi điều kiện để các gia đình chính sách có cuộc sống ổn định./.
Những ngày tháng trong Quân đội sao nó quá cô đơn và buồn bả, mọi thứ diễn ra cứ như một cỗ máy khiến cho ta phải thích nghi đó là sự tất yếu và thật quan trọng, trong thời gian này bao nhiêu nỗi niềm cả sự ưu tư cứ mãi chất đầy trong lòng, nhưng tôi đã sẵn sàng đón nhận điều đó, cho dù tôi phải hy sinh đi nhiều thứ của cuộc đời trong bản thân, lúc này sự cô đơn và trống vắng là một trong những khó khăn mà tôi phải vượt qua nhất. Tôi buồn và muốn có người để tâm sự thật nhiều nhưng điều đó không thể vì ai cũng biết thời binh nghiệp rồi mà, thời gian không có để “thở” nói chi vậy, tôi biết lúc này đây mọi người khó có thể hiểu tôi vì thế những tâm tư tình cảm của tôi cũng chết lặng từ đó, bởi vì tôi là một người ít nói, bạn bè thân của tôi bây giờ thì đã xa nhau đến tận chân trời, mỗi người một chí hướng khác nhau, có lẽ từ đây tôi đã thật sự xa người mà tôi yêu quý. Nói thật là bây giờ đây tôi cũng không giám khẳng định là tôi đã quyết định đứng vào hàng ngũ quân đội có hoàn toàn đúng đắn hay không, có lẽ bây giờ ngay cả sau này đi nữa chắc cũng không ai hiểu tôi đâu. Tôi chỉ mong muốn rằng sau này tôi sẽ không phải hối tiếc và ân hận về quyết định của mình, mong sao những ước mơ này sẽ nhanh chóng trở thành hiện thực và đó sẽ là động lực để giúp tôi vượt qua những khó khăn trong hiện tại cũng như trong cuộc sống sau này. ……………………………………………………….. Hỡi người em gái anh thương ! Xin em đừng buồn xin em đừng suy nghĩ và đừng thương nhớ về anh, hỡi người em gái anh thương xin em đừng tuyệt vọng về anh nhé và xin em hãy xem như anh là một người không hề quen biết với em. Anh biết rằng ngày anh cất bước lên đường cũng là lúc mà anh nhận ra rằng anh đã xa em mãi mãi, khi anh đã chính thức khoác lên trên mình màu xanh áo lính, anh biết rằng từ bây giờ anh không thể cho em được nhiều điều hạnh phúc mà lẻ ra em phải có. Em yêu thân mến! em có biết anh yêu em nhiều hơn bất cứ người nào yêu em không . Anh khẳng định rằng tình yêu mà anh dành cho em là một tình yêu hoàn toàn trong trắng chân thật và cả một tấm chân tình, không hề dối gian, nếu có thể anh sẳn sàng hiến dâng cho em tất cả để em được hạnh phúc và luôn vui vẻ yêu đời.Tuy vậy anh cũng biết rằng có đôi lúc có đôi lần em nghi ngờ về tấm chân tình của anh, nhưng em ơi có biết rằng em là người mà anh yêu quý nhất ở trên đời không, ước gì anh có thời gian anh sẽ chứng minh cho em biết anh là người như thế nào? Xin em hãy hiểu cho anh, có lẻ rằng một ngày nào đó em sẽ hiểu được về anh, còn bây giờ anh mong rằng em sẽ nhanh chóng quên anh đi nhé, và tìm cho mình một niềm vui mới tốt đẹp hơn. ……………………………………………………. Thời gian cứ trôi đi đi mãi, nó không chịu dừng lại một giây phút và một khoảnh khắc nào trong cuộc sống chính nó đã chứng kiến và mang đi tất cả mọi chuyện ở trên đời: xấu tốt và những niềm vui, cả những nỗi buồn, từ những người rất trẻ rất xuân cho đến những cụ già tóc bạc, thời gian trôi đi làm chúng ta lớn hơn trưởng thành hơn nhưng quan trọng nhất là nó làm cho ta nhận ra một điều : bạn đã làm gì được cho hiện tại, tương lai cho bản thân hay chưa, để từ đó mỗi người chúng ta sẽ đánh giá lại bản thân mình, thời gian trôi đi làm cho ta cảm thấy đôi lúc chính bản thân ta không thể nhận ra, cả chính mình nữa, với biết bao cảm giác vui buồn lẫn lộn nữa chứ! Vâng mới ngày nào đây thôi tôi còn miếu máo khóc với mẹ nhưng vụt một cái , bây giờ tôi đã bước sang tuổi 21, và trở thành một chàng thanh niên to lớn và bắt đầu có những suy nghĩ và hành động có ích trong xã hội, mà nói ra bản thân tôi đang còn là một chiến sỹ quân đội nhân dân Việt Nam.
Bây giờ cứ nghĩ về quá khứ thì bao nhiêu kỷ niệm vui buồn pha một chút nhí nhỏm ở trong đó nó cứ hiện về trong thâm tâm tôi, và cả những hoài bão nữa chứ nó cứ theo tôi mãi mãi, thật tuyệt vời vì thế nó sẽ sống mãi trong tôi, nhưng không vì thế mà tôi có thể quên tôi đang sống ở một cuộc sống thực ở hiện tại, dù rằng bước chân tôi đi không như con đường như tôi đã vẽ ra như mơ ước, nhưng tôi sẽ phải chấp nhận và dũng cảm để bước qua những đắng cay trong cuộc đời. Tôi vẫn biết rằng cũng có thể những mơ ước và công việc mà tôi hằng mong ước sẽ không trở thành hiện thực, cho dù có phần nào là xa vời đối với tôi, có câu nói nỗi tiếng mà tôi rất tâm đắc là “ những gì mà bạn làm hôm nay sẽ là kết quả của ngày mai”. Bên cạnh đó vấn đề hoàn thiện bản thân cũng là một câu chuyện dài và hết sức quan trọng mà mỗi con người đều muốn hướng đến để sau này trở thành một con người vừa có tài vừa có đức, để khi ra sống với xã hội được người người tôn trọng và quý mến, nghĩ thế nên từ bây giờ tôi luôn luôn phải nhìn lại bản thân để nhận ra được khuyết điểm, để kịp thời sửa chửa khắc phục, theo tôi một yếu tố không kém phần quan trọng nữa là phải tiếp thu và tôn trọng ý kiến của người khác lắng nghe những điều hay lẻ phải của mọi người, rồi từ đó có thể hoàn thiện bản thân tốt hơn. Có nhiều lúc tôi tự hỏi lòng mình: liệu trên cuộc đời này có công việc gì thích hợp với bản thân tôi không, tôi có thể làm tốt được không, nói thật rằng bây giờ tôi hoàn toàn mất niềm tin và mất phương hướng trong cuộc sống. Đã nhiều lần tôi suy nghĩ rằng: liệu mai này tôi sẽ làm được gì? Công việc gì đang chờ tôi ở phía trước và tôi sẽ có một cuộc sống ra sao? cuộc đời và xã hội này có dang rộng cánh cửa để đón nhận tôi không? rất nhiều và rất nhiều câu hỏi đã hiện lên trong đầu tôi.Tôi biết phải làm sao bây giờ? Tôi buồn và thất vọng về bản thân tôi nhiều lắm! vì đã không nhận thức sớm được tương lai và cuộc sống của bản thân mình, để bây giờ phải lao đao và gặp nhiều khó khăn, nó in sâu vào trong tâm tôi ngay cả trong những giấc mơ tôi vẩn cảm thấy “thật thật hư hư, không biết đường nào mà lần” phải chăng hoàn cảnh đã biến tôi như vậy??? Nhưng bây giờ nếu có người nào hỏi tôi: rằng tôi có yêu đời không thì câu trả lời chắc chắn là tôi vẫn muốn sống một cuộc sống thật ý nghĩa và vui vẻ, luôn trẻ trung và yêu đời để con người luôn cảm thấy thoải mái trong cuộc sống, để từ đó bản thân làm việc và học tập có hiệu quả hơn, dù rằng tôi đây rất thất vọng ở cuộc sống hiện tại nên tôi phải cố gắng thật nhiều để vượt qua thử thách lớn lao trong cuộc đời. ………………………………………………. Đây là lần thứ 3 tôi trở lại nơi này cái xứ mà người ta đặt biệt danh là “chim kiêu heo hút, gà gáy chẳng ai nghe” có ai biết khi nơi đây bao trùm lên toàn sự hoang vắng, xen lẫn chút cô đơn, thử hỏi nên buồn hay nên khóc với cuộc đời. Dù vẫn biết rằng rồi đây nơi này sẽ trở thành quá khứ, là kỷ niệm trong đời binh nghiệp của mình. Lần thứ nhất: ngỡ ngẩn và tuyệt vọng tôi cứ nghĩ rằng đây chính là địa ngục của trần gian, hàng ngày thui thủi một mình sáng đi chiều về tối lại buồn muốn khóc. Bạn bè ở nơi đâu sao chẳng đến nơi này? để cùng tôi tâm sự thật nhiều làm quên đi nỗi xót xa của cuộc đời mà tôi vướng phải. Lần thứ 2 nhận lệnh xong trong lòng tôi lại buồn da diết, cứ muốn đắm chìm trong men rượu, để quên đi viễn cảnh của cuộc đời. Đôi lúc tôi nghĩ rằng sao nơi này nó lại gắn bó với tôi đến như thế, nỗi buồn này chẳng ai thấu hiểu được lòng tôi. Sống làm sao khi xung quanh chẳng có một ai để vui đùa. Trong thời gian này là điểm nóng nhất và nhạy cảm nhất của mùa hè. Rồi thì tháng 12 cũng đã đến, sắp tết rồi ôi cảm giác muốn được về nhà làm sao, để được vui đùa với gia đình bạn bè, đây là những ngày cuối năm nên ai cũng muốn quay quần bên tổ ấm của gia đình, nhưng tôi thì sao phải sống một nơi mà bốn bề toàn là rừng núi, chẳng thấy một bóng người nào khác lạ ngoài mấy chúng tôi. Rồi thì lần thứ 3 cũng đã đến, tôi không biết lần này là phải ở đây trong bao lâu và liệu tôi có còn đủ sức để chịu đựng được không. Tôi phải gặm nhắm khoản thời gian trống trải này cho đến bao giờ?. Giờ đây bản thân tôi đã thật sự bị khủng hoảng về tâm lý lẫn tinh thần, nhiều lúc tôi nghĩ rằng tương lai tôi đã bị vùi chôn ở nơi này thật rồi. Bây giờ thì tôi đã thật sự hiểu hết được ý nghĩa của 2 từ “ buồn & khổ ”. Bản thân tôi cảm thấy đã thấm thía ở trong lòng, trước khung cảnh hoang vắng đến lạ lùng của miền đất này, cái ánh nắng muà hạ trên mảnh đất này sao nó quá chói chang và khô rát. Mỗi ngày qua đi thật sự là một niềm vui thật lớn lao đối với tôi, nhưng khi màn đêm buông xuống cũng là lúc nỗi buồn cứ lắng đọng lại trong lòng tôi. Thời gian ở nơi này nó rơi nhẹ lắm. Cho dù như thế nhưng bản thân cũng xác định rằng nơi này chỉ là cái sự thử thách đầu tiên trong cuộc sống mà thôi, thế nên tôi phải vượt qua nó để sau này khi xuất ngũ ra quân, về sống với xã hội mới có thể chịu đựng được và tồn tại. …………………………………………. Đêm nay nữa là tròn 24 năm 04 tháng kể từ khi tôi rời xa môi trường quân đội và đó cũng là chuổi ngày cô đơn, buồn bã luôn theo bên tôi. Bây giờ đây trong tâm hồn tôi,buồn đến nỗi gần như đến mức tuyệt vọng cả về trong lợi danh của cuộc sống cũng như trong đường tình đầy gian nan vì thế tôi sống một cuộc sống lẻ loi buồn tẻ và thiếu sự yêu thương, phải chăng chính như thế đã làm tôi trở thành một con người thật khô khan. Dần dần phương hướng sống mà bản thân tôi đã có trước đây đi vào quên lãng. Chẳng lẻ tôi vùi chôn tất cả từ đây sao ? " T ơi T, sao mày quá vô duyên và bất hạnh giữa cuộc đời, phải chăng mày đành tâm sống một cuộc sống mà mày không mong muốn sao ?". Sao ý nghĩ đó cứ nảy sinh ra trong tôi tự bao giờ tôi cũng chẳng biết nữa. Nhưng tôi muốn sống một cuộc sống đơn độc và chẳng muốn so sánh cùng ai. Với bạn bè tôi chỉ là kẻ ngu si si si. Với cuộc đời tôi là kẻ bần cùng. Với tình yêu tôi là kẻ cô đơn đơn đơn. Với xã hội tôi là kẻ bỏ đi đi đi !!! Tôi giật mình và hốt hoảng khi quay nhìn lại và tự hỏi lòng mình sao lại nhanh đến như thế. Tôi đã nhiều tuổi như thế này rồi sao. Ôi với quảng thời gian dài như thế mà tôi chưa làm gì được cho bản thân và gia đình của tôi hết “ vẫn hoài tay trắng ”, phải chăng tôi đã lạc lối giữa cuộc đời mà tôi nào hay biết nay quay đầu lại thì đã thấy xa vời vợi, không thể nào đuổi kịp, tôi đã tự đánh mất ước mơ của mình. Tôi biết phải làm gì cho bản thân tôi bây giờ. Bây giờ đây tôi buồn thật nhiều, thất vọng thì tràn ngập, nhưng tôi chẳng thể tâm sự cùng ai và chẳng ai giúp tôi hết vậy, phải chăng tôi đã có lỗi gì trên đời vậy? nhưng “bản thân tôi không có tội gì hết mà ” vì sao lại cướp mất tương lai và con đường với bao nhiêu dự định cháy bỏng của tôi như thế. “Dây thắt lưng thắt chặt nền kinh tế. Quân hàm đỏ khống chế nền tự do. Đôi dép quoai dẫm nát đời trai trẻ. Góc ba lô khép chặt trái tim yêu "./.
Ngày 12-2-1982 sư đoàn bộ binh 309 và các đơn vị trên toàn chiến trường bắt đầu bước vào chiến dịch C81. Trận đánh mở đầu trên hướng Bát Tam Băng của sư đoàn bộ binh 309 là trận tiến công đánh chiếm căn cứ của trung đoàn bộ binh 905 thuộc sư đoàn bộ binh 320 Pol Pot ở phía Bắc Ô-đa. Căn cứ này nằm sát biên giới Thái Lan trên phần đất của Campuchia, xung quanh núi cao, rừng rậm tạo thành cái lòng chảo, chính giữa là con suối Phasi-người Thái gọi là suối Nam Sai. Và cũng là đường biên giới giữa hai nước. Phía Đông là các dãy núi đá vôi. Cao nhất là điểm cao 505, và trên điểm cao này, Bộ đội Việt Nam đặt đài quan sát pháo binh. Lực lượng tham gia trong trận này gồm trung đoàn bộ binh 31 (chủ công), trung đoàn bộ binh 96, một đại đội Tăng-Thiết giáp, một đại đội lựu pháo 105 và các lực lượng khác như công binh, trinh sát,… Sở chỉ huy của sư đoàn đặt tại điểm cao 309, phía sau hướng chủ yếu khoảng 500 m. Xác định đây là một trận tập kích hiệp đồng binh chủng với quy mô sư đoàn, với đặc điểm là địa hình rừng núi. Điều khó khăn lớn nhất là trên các hướng có thể tiếp cận được, thì địch đã bố trí những bãi mìn dày đặc, kể cả mìn chống bộ binh và chống xe tăng. Đêm hôm trước ngày nổ súng, tiểu đoàn công binh 25 của sư đoàn 309 đã tiến hành phát quang, cưa cây, gỡ mìn, để chuẩn bị đường cho xe tăng vào chiếm lĩnh. Những nơi gần địch thì các đồng chí cho gài sẵn thuốc nổ vào gốc cây lớn, để khi nổ súng thì cho bộc phá nổ phá cây. Trận địa pháo 105 mm triển khai phía sau, bên phải Sở chỉ huy sư đoàn khoảng 200 m. Trung đoàn bộ binh 96 được giao nhiệm vụ mở một mũi đột kích chính diện từ hướng Đông Bắc mục tiêu, nhằm chia cắt giữa 2 căn cứ Ô-đa và Sơ-đa. Hai căn cứ này cũng thuộc sư đoàn bộ binh 320 của địch và cách nhau khoảng 2 km, có đường ô tô nối liền nhau. Trên hướng chủ yếu, trung đoàn bộ binh 31 được tăng cường đại đội tăng-thiết giáp, mở một mũi đột kích từ hướng Đông Nam thẳng vào mục tiêu. Trận này Bộ đội Việt Nam không tổ chức lực lượng dự bị chung, nhưng trên các mũi, các hướng đều có lực lượng dự bị. Như vậy, chỉ còn phía sau căn cứ địch là không có lực lượng luồn sâu, vu hồi; vì đó là đất Thái Lan và địa hình rất phức tạp. Sáng ngày 15-3-1982, thời tiết lúc này đang là mùa khô, nhưng vì địa hình rừng núi nên 7 giờ mới thấy rõ mục tiêu. Đài pháo binh ở điểm cao 505 của ta báo cáo: “Tình hình trong mục tiêu vẫn bình thường”. Và trên các hướng bộ đội đã vào vị trí xuất phát. Đúng 7 giờ 10 phút, trận địa pháo của ta bắt đầu nổ súng. Nhưng quả đạn đầu tiên theo đài quan sát báo cáo thì không trúng mục tiêu mà vọt qua bên kia biên giới Thái Lan. Sau ít phút hiệu chỉnh thì pháo ta bắn trúng vào căn cứ địch. Trong 10 phút bắn chuẩn bị, đồng thời từ các hướng, các mũi bí mật tiếp cận vào gần mục tiêu; công binh giật bộc phá để làm nốt phần còn lại là mở thêm một đoạn đường gần 100 m nữa, để cho xe tăng chuẩn bị đột kích. Trên hướng trung đoàn bộ binh 96, mìn địch quá nhiều nên đội hình nhích lên rất chậm. Sau 10 phút pháo ngừng bắn, trung đoàn bộ binh 31, dưới sự chi viện trực tiếp của xe tăng, đã tiến công mãnh liệt vào căn cứ. Địch chống trả quyết liệt. Pháo cối từ bên đất Thái Lan bắn vào đội hình trung đoàn bộ binh 31, nhưng lúc này bộ đội ta đã đánh chiếm được một khu vực phía Nam căn cứ, đội hình phía sau đang tiến dần vào sát mục tiêu. Do đó, đạn pháo địch hầu hết đều vọt ra phía sau. Trung đoàn bộ binh 96, tuy tốc độ tiến công có chậm nhưng cũng đã cắt được đoạn giữa của 2 căn cứ địch. Bị hoả lực xe tăng và hoả lực đi cùng bộ binh tiến công dồn dập, địch hoảng sợ, tháo chạy lên hướng Sơ Đa-Cao Mê Lai, gặp phải mũi tiến công chia cắt của trung đoàn bộ binh 96, chúng vượt qua biên giới, sang đất Thái Lan, để lại nhiều xác chết. Sau 30 phút chiến đấu, ta đã làm chủ hoàn toàn căn cứ địch, diệt tại chỗ 25 tên, thu một số súng, trong đó có một khẩu pháo phòng không 37 mm. Từ 10 giờ trở đi cho đến khoảng 15 giờ chiều, các trận địa pháo cối của địch bên đất Thái Lan bắn liên tục dưới chân núi, trên hướng tiến công của trung đoàn bộ binh 31. Tại đài quan sát, pháo binh phát hiện rất rõ khẩu pháo 85 của địch khi bắn choé lửa đầu nòng, nhưng pháo của ta hiệu chỉnh mãi vẫn không trúng. Đến khi có một số quả pháo của ta rơi xung quanh thì địch mới kéo pháo chạy sâu vào nội địa Thái Lan. Chớp thời cơ lúc địch còn đang hoang mang dao động, sau khi đánh chiếm căn cứ trung đoàn bộ binh 905 ở Bắc Ô-đa, 2 trung đoàn bộ binh 31 và 96 tiếp tục phát triển lên Sơ-đa, Phnôm Mê Lai tiêu diệt thêm một số địch và làm chủ hoàn toàn các căn cứ địch từ Phnôm Mê Lai xuống đến Bắc Pailin, dọc tuyến biên giới, với chiều dài trên 60 km. Kết thúc chiến dịch C81, sư đoàn bộ binh 309 đã tiêu diệt 255 tên địch, thu 190 súng các loại (trong đó có một khẩu pháo phòng không 37 mm) và nhiều phương tiện chiến tranh khác; triệt phá hoàn toàn hai căn cứ của sư đoàn bộ binh 320 địch từ Phnôm Mê Lai xuống đến Ô-đa với chiều dài trên tuyến biên giới từ 60-80 km, tạm thời triệt được nguồn tiếp tế, cắt được trục hàng lang thâm nhập nội địa của địch ở phía Tây tỉnh Bát Tam Băng.
Năm 1982, khi mùa mưa đến, chiến dịch C81 kết thúc thắng lợi, toàn bộ đội hình của sư đoàn bô binh 309 lui về tuyến trung gian.Tình hình trên chiến trường lúc này, địch có cơ hội từ bên kia biên giới Thái Lan quay về khôi phục lại các căn cứ trên tuyến biên giới. Kẻ thù vẫn chưa để ta yên. Chúng lợi dụng ở những nơi tiếp giáp, những nơi này thường hay sơ hở, đưa lực lượng thâm nhập vào nội địa. Ở phía Tây tỉnh Bát Tam Băng, nơi tiếp giáp giữa sư đoàn bộ binh 5 và 309 là phía Nam Phnôm Mê Lai khoảng 3 km. Trong đội hình của từng sư đoàn bộ binh, nơi tiếp giáp là các trung đoàn. Do tính chất địa hình phức tạp và chính diện tương đối lớn; các đơn vị có khi trong hoạt động lại không liên hoàn được với nhau, nên việc thâm nhập của địch từ biên giới vào nội địa là không khó. Từ khi ta lùi vào tuyến trung gian thì khoảng cách tiếp giáp đó lại càng lớn. Vì vậy, trong mùa mưa năm 1982, địch đã ồ ạt đưa phần lớn lực lượng vào nội địa, cài cắm vào trong dân, thành những phần tử “hai mặt”, chúng xây dựng các căn cứ lõm, tăng cường đánh phá giao thông, tập kích vào các vị trí đóng quân của ta; gây tổn thất không nhỏ cho bộ đội ta. Hàng loạt các trận tập kích của địch vào căn cứ của ta đã diễn ra trong suốt mùa mưa năm 1982.
Đêm 23-5-1982, chúng tập kích vào trung đoàn pháo binh 487 đóng ở xã Tà-hen trên trục đường 58, phá huỷ của ta một số khẩu pháo 105 mm, một số đồng chí hy sinh và bị thương.Đêm hôm đó, khoảng 1-2 giờ sáng, sau khi chiếm các bốt gác của ta, bọn chúng đã đồng loạt tấn công bằng lựu đạn, chiếm tuyến chiến hào và tràn vào doanh trại bắn phá lúc bộ đội ta đang ngủ. Chúng tiến vào các cỗ pháo để phá hoại. Thời gian diễn ra rất nhanh, trong phạm vi 15-20 phút, chúng rút lui và để lại cho trung đoàn một hậu quả thật đau lòng… Trong khi đó, mạng thông tin đã bị cắt đứt. Do tình hình phát triển quá nhanh, nên sư đoàn không thể chi viện được. Không lâu sau đó, sự việc ở trung đoàn pháo binh 487 chưa kịp rút kinh nghiệm cho tất cả các đơn vị trong sư đoàn và Mặt trận thì một trận tập kích với bài bản như cũ đã xảy ra đối với tiểu đoàn công binh 25, đứng cách trung đoàn pháo binh 487 khoảng 4 km và cách Sở chỉ huy sư đoàn cũng chừng ấy. Sau khi các vị trí canh gác của ta (mỗi vị trí 2 đồng chí) bị chúng bí mật thủ tiêu, địch dàng hàng ngang, đồng loạt tấn công bằng lựu đạn và tiểu liên AK vào các dãy nhà. Xong xuôi chúng còn dùng kẻng của bộ đội ta làm tín hiệu rút lui, gây cho ta một số tổn thất đáng kể.
Đầu năm 1983, Sở chỉ huy tiền phương cùng với các trận địa pháo của sư đoàn bộ binh 309 đã được triển khai tại chân cao điểm 309 về phía Đông Bắc Ô-đa, cách biên giới Campuchia-Thái Lan khoảng 8-10 km. Trung đoàn bộ binh 31 lại được giao nhiệm vụ đánh chiếm căn cứ của trung đoàn bộ binh 905 thuộc sư đoàn bộ binh 320 Pol Pot, phía Bắc Ô-đa lần thứ 2. Năm đó, chúng tôi đón một cái tết cổ truyền ngay trên tuyến biên giới xa xôi trong một mùa khô khắc nghiệt. Trong giờ phút đón Xuân, chúng tôi đã trao cho nhau những viên kẹo, điếu thuốc ấm tình hậu phương-tiền tuyến, nâng chén rượu nồng mà bồi hồi nhớ đến hậu phương, gia đình và bè bạn… Trong đợt chiến dịch này, trung đoàn bộ binh 31 được tăng cường một đại đội xe tăng, cùng tiến công, đánh chiếm căn cứ trung đoàn 905 của địch ở Bắc Ô-đa. Trong đợt truy quét, đánh chiếm các căn cứ địch lần này, có nhiều thuận lợi hơn lần trước, vì địa hình ở đây bộ đội chúng ta đã quen thuộc, đường cơ động đã được chuẩn bị từ trước. Song, xung quanh các căn cứ và trên các trục đường, địch đã bố trí mìn với mật độ cao hơn, thủ đoạn tinh vi hơn. Đầu tháng 4 năm 1983, Trung đoàn bộ binh 31 kết hợp đại đội xe tăng đã tiến công căn cứ trung đoàn bộ binh 905 Pol Pot ở Bắc Ô-đa, tiêu diệt một bộ phận quân địch, số còn lại chạy sang đất Thái Lan. Chớp thời cơ, ta phát triển tiến công lên Sơ-đa, (một căn cứ khác của sư đoàn 320 Pol Pot) cách căn cứ trung đoàn bộ binh 905 của chúng khoảng 2 km, về phía Bắc. Bị tiến công từ sau lưng, địch trong căn cứ Sơ-đa bỏ chạy lên căn cứ phía Bắc Phnôm Mê Lai. Trung đoàn bộ binh 31 làm chủ hoàn toàn căn cứ Sơ-đa.
Trung đoàn bộ binh 31, vừa là đơn vị chủ công của sư đoàn bộ binh 309, vừa là đơn vị cơ động của Mặt trận 479, do đó thường được giao các nhiệm vụ chủ yếu và mục tiêu then chốt. Trung đoàn có sở trường đánh vận động, tập kích hiệp đồng binh chủng và nhất là đánh địch ở điểm cao. Là đơn vị 2 lần anh hùng, trung đoàn bộ binh 31 đã thể hiện được tác phong “đã đi là đến, đã đánh là diệt gọn”. Từ khi cơ động lên địa bàn phía Tây tỉnh Bát Tam Băng, trung đoàn đã chiến đấu liên tục trên mọi địa hình, mọi thời tiết, đánh chiếm hầu như tất cả các căn cứ địch trên tuyến biên giới phía Tây tỉnh Bát Tam Băng.
Tôi còn nhớ trong mùa khô năm 1982-1983, khi tiến công một loạt các căn cứ còn lại dọc biên giới từ Ô-đa xuống Com Riêng, trung đoàn bộ binh 31 đã cho một lực lượng vượt qua biên giới Campuchia-Thái Lan, bố trí phục kích trên một con đường mòn chạy từ phía Nam lên Ô-đa-con đường này thuộc lãnh thổ Thái Lan. Trong lúc ta đang tiến công vào trận địa, thì có một toán lính theo con đường này tiến vào trận địa, anh em đã nổ súng diệt gọn toán địch. Khi tiến lên thu vũ khí, mới biết được toán địch này là lính biên phòng Thái Lan qua trang bị, phù hiệu và cấp hiệu đeo trên ve áo. Lập tức, máy bay trinh sát và máy bay C130 của không lực Thái lên quần lượn và bắn phá dọc biên giới. Chúng đã dùng súng mát 12,7 mm từ trên máy bay vãi đạn xuống đội hình của quân ta.
Từ ngày 22 đến 23 tháng 4 năm 1984, sư đoàn 309 tiến hành đi trinh sát nắm địch ở cao điểm 321 đồng thời gấp rút chuẩn bị bộ đội sẵn sàng chiến đấu. Khi một toán trinh sát của ta đã bám lên được sườn điểm cao 321, thì đã thấy rõ được địch ở trên đỉnh đồi. Xung quanh đỉnh đồi là một dãy công sự được xếp bằng những phiến đá to. Địch đã bố trí các bãi mìn dày đặc từ dưới chân cao điểm 321 lên đến 2/3 sườn đồi. Lực lượng bộ binh địch tập trung chủ yếu ở phía tây cao điểm 321, kể cả trên đất Thái Lan. Còn trên đỉnh đồi là một lực lượng khoảng một trung đội hoặc hơn. Chủ yếu là hoả lực của chúng. Ngày 25 tháng 4, sư đoàn nổ súng tiến công địch ở cao điểm 321 theo kế hoạch đã định. Ngay lúc đầu, lực lượng lên sườn đồi triển khai đội hình đã đạp phải mìn. Địch từ trên cao dùng các loại hoả lực bắn xuống. Bộ đội ta có một số bị thương vong. Đội hình bị rối loạn. Chỉ huy không nắm được bộ đội, không có những biện pháp mạnh để chế áp địch. Cứ thế, địch dùng các loại súng hoả lực bắn ra xung quanh điểm cao 321. Bộ đội ta bị thương vong nhiều do mìn và do đạn hoả lực của địch… Đây là trận đánh không thành công của sư đoàn 309.
Ngày 28-11-1984, Sở chỉ huy sư đoàn bộ binh 309 được triển khai Chiến dịch K5 mùa khô 1984-1985 dưới chân cao điểm 229, về phía đông, để chỉ huy trận mở màn đánh chiếm căn cứ trung đoàn bộ binh của địch ở bắc Ô-đa. Trên cao điểm này là đài quan sát của trinh sát sư đoàn và một tổ thông tin liên lạc được trang bị cả máy vô tuyến và hữu tuyến. Trung đoàn bộ binh 31 là lực lượng chủ yếu, tiến công từ hướng đông nam vào mục tiêu. Trung đoàn bộ binh 96 làm nhiệm vụ luồn sâu, vu hồi qua đất Thái Lan chặn địch tháo chạy. Trung đoàn bộ binh 271 tổ chức một mũi đánh chia cắt địch và chặn địch từ căn cứ này chạy về hướng Sơ-đa. Đêm ngày 2 tháng 12 năm 1984, các đơn vị bộ binh vào chiếm lĩnh chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu. Đúng 6 giờ trên hướng chủ yếu, sau những loạt pháo bắn chuẩn bị, trung đoàn bộ binh 31 dưới sự chi viện trực tiếp của hoả lực đi cùng và xe tăng đã tiến công mãnh liệt vào căn cứ địch. Bọn địch tháo chạy về hướng Bắc, gặp phải mũi chia cắt, đón lõng của trung đoàn bộ binh 271, bị tiêu diệt một số. Toàn bộ số địch còn lại vượt qua biên giới sang đất Thái Lan. Ta hoàn toàn làm chủ căn cứ địch và tiếp tục phát triển lên hướng Bắc đánh chiếm khu vực Sơ-đa. Trong trận này ta đã tiêu diệt 59 tên, thu 11 khẩu cối 120 mm, 2 khẩu ĐKZ75 cùng nhiều vũ khí đạn dược của chúng. Tại căn cứ Phnôm Mê Lai tất cả các lực lượng thuộc sư đoàn bộ binh 320 Pol Pot từ Ô-đa, Sơ-đa và trong nội địa, bị tiến công đều dồn về đây, ước tính có cả hàng ngàn tên và gia đình của chúng. Nơi đây có đường biên giới hình vòng cung tạo thành một góc gần 90°. Phía trong vòng cung là đất Campuchia, phía ngoài vòng cung này là lãnh thổ Thái Lan. Do đó, địch dựa vào vòng cung này chống trả ta quyết liệt, khi có nguy cơ bị tiêu diệt, thì dễ dàng chạy thoát sang đất Thái Lan. Ở phía Nam, sau khi sư đoàn bộ binh 309 đánh chiếm Sơ-đa, cách căn cứ Phnôm Mê Lai khoảng dưới 3 km, chúng tôi được giao nhiệm vụ đảm nhiệm hướng tiến công thứ yếu từ phía Nam lên. Trên hướng này, hình thành hai mũi: một mũi đánh chiếm dãy điểm cao phía Nam căn cứ địch, còn một mũi dọc theo đường đất đỏ từ Sơ-đa tiến thẳng vào căn cứ. Trước ngày tiến công cụm pháo binh Mặt trận đã tiến hành bắn phá liên tục vào căn cứ địch. Đúng 7 giờ sáng, ta bắt đầu nổ súng. Sau những đợt pháo bắn dồn dập, bộ binh trên các hướng, dưới sự chi viện trực tiếp của hoả lực xe tăng và pháo cối đồng loạt tiến công. Địch trong căn cứ dùng cối 120 mm và sơn pháo 85 bắn chặn. ĐKZ75 của chúng đặt trên Phnôm Mê Lai bắn xuống đội hình của sư đoàn bộ binh 309. Tuy nhiên trên hướng này có thuận lợi hơn về mặt địa hình. Đến 9 giờ, một tiểu đoàn thuộc trung đoàn bộ binh 271 tăng cường cho sư đoàn bộ binh 309 đã đánh chiếm được cao điểm Phnôm Mê Lai. Trung đoàn bộ binh 31 thuộc sư đoàn bộ binh 309 tiến theo đường biên giới cùng với xe tăng cũng đã áp sát được mục tiêu vòng ngoài của căn cứ địch. Lúc 10 giờ, trên hướng thứ yếu sư đoàn bộ binh 309 đã đánh chiếm được toàn bộ căn cứ Phnôm Mê Lai và phát triển xuống phía đông. Toàn bộ địch còn lai trong căn cứ Phnôm Mê Lai chạy qua biên giới Thái Lan. Như vậy đến 11 giờ, ta hoàn toàn làm chủ căn cứ địch, kết thúc giai đoạn tiến công trên hướng tây tỉnh Bát Tam Băng. Kết quả sư đoàn bộ binh 309 đã tiêu diệt tại chỗ 101 tên địch, thu một số vũ khí, và một kho súng trên 1.000 khẩu các loại cùng toàn bộ quân trang quân dụng của địch.
Con trở về mái trường cũ thân thương Nghe đâu đó tiếng cô thầy vọng lại Ngày xưa ơi ! Có gì lưu luyến mãi? Bước chân quen....nay lạ lẫm mất rồi.... Con lặng thầm đếm khoảng thời gian trôi Ngược kí ức...đếm một thời mơ ước Năm tháng trôi...vô tình nên đánh mất Một tuổi thơ : bè bạn với mái trường...
Tà áo trắng mực tím còn vương Bàn ghế cũ ,sân trường xưa vàng nắng Giờ học văn...tiếng thầy vang đều đặn Đưa con về cổ tích - những yêu thương..
Lời dặn dò : " dù đi khắp bốn phương Con nhớ nhé : niềm tin và hi vọng Thêm một chút niềm tin và nghị lực Việc con làm....ắt hẳn sẽ thành công "...
Bao lớp người thầy đã chở qua sông Ai nhớ? ai quên?...con đò ngày xưa ấy? Dòng sông vắng ,người lái đò cần mẫn Khuya sớm miệt mài,lặng lẽ....buồn...vui....
Giữa dòng đời vội vã nổi trôi Con mới thấy mình còn nhiều khở dại Bài học xưa - một lần con nghĩ lại Vẫn hình như chưa hiểu hết cuộc đời....
Cho con một lần quay lại nhé ..thầy ơi Thời thơ bé cùng những lời dạy bảo Bài học thuộc lòng....thôi ko còn gượng gạo Áp dụng vào đời...con bỗng thấy tự tin
Tiếng ai vang trong khoảng vắng im lìm Nghe ấm áp như tiếng thầy ngày ấy Giọt mồ hôi lăn dài trên trang giấy Đưa con về...kí ức-một mùa thi....
Kẻ đi tìm tình yêu
Tôi đi tìm cái nửa của tôi Nhưng tìm mãi đên bây giờ không thấy Tình yêu của tôi ơi? Em là ai vậy? Sao để tôi tìm, tìm mãi tên em Chiều dần buông, thành phố vào đêm Sân cỏ, đường cây từng đôi ríu rít Họ may mắn hơn tôi, hay họ không biết Nửa của mình hay nửa của ai?
Tôi đi tìm cái nửa của tôi Và có thể suốt đời không tìm thấy Nên chẳng còn em tôi đành sống vậy Không lấy nửa của ai làm nửa của mình
Cái na ná tình yêu thì có trăm ngàn Nhưng đích thực tình yêu chỉ có một Nên nhiều lúc lầm tưởng mình đã gặp Nửa của mình nhưng nào phải của mình đâu
Không phải của mình, chẳng phải của nhau Thì thượng đế ơi, đừng bắt tôi lầm tưởng Bởi tôi biết khổ đau hay vui sướng Là đúng sai trong tim nửa của mình
Tôi đi tìm em, vâng tôi đã đi tìm Và có thể trên đời này đâu có Em cũng đi tìm, tìm tôi như thế Chỉ có điều chưa nhận ra nhau
Nếu mai tôi chết Nếu mai tôi chết xin em đừng khóc Trước mộ phần hãy tặng một đoá hoa Ðễ đỡ cô đơn trong đất lạnh xa nhà Và xin thắp nén nhang thơm nơi bia đá Nếu tôi chết trên vùng đầy băng giá Không bạn bè không tiếng khóc thở than Chỉ có vầng trăng lạnh giá với sao ngàn Và dã thú đi tìm mồi trong hoang vắng
Nếu mai tôi chết xin em đừng cay đắng Trước mộ phần hãy nhỏ nhẹ dùm anh Ðể vong linh được thanh thản yên bình Và nhẹ bước đi vào nơi hư ảo
Nếu mai tôi chết xin em đừng phiền não Vì không còn ai ghẹo phá với em Với những vần thơ không được ấm êm đềm Và thơ ý không làm cho em buồn khổ
Nếu mai tôi chết xin em đừng thổ lộ Tâm sự buồn của chính bản thân em Và thở than với nấm mộ hoang tàn Anh sợ lắm vì nghe những lời than oán
Nếu mai tôi chết xin em hãy cố gắng Ðừng buồn phiền, hãy tiếp tục sống nghe em Bởi đời anh đã quá đủ ưu phiền Chỉ có cái chết mới làm cho anh hết khổ...