Mỗi dân tộc trên thế giới đều có một loại y phục cá biệt, khi nhìn cách phục sức của họ, chúng ta nhận biết họ thuộc quốc gia nào. Người Nhật Bản có chiếc áo Kimono, người Trung Hoa đời Mãn Thanh có chiếc áo Thượng Hải mà quí bà quí cô thường gọi là áo "xường xám", người Đại Hàn, người Phi, người Thái v.v. Người Việt Nam, chúng ta hãnh diện về chiếc áo dài, được trang trọng nâng lên ngôi vị quốc phục, cũng có người gọi một cách hoa mỹ hơn: "chiếc áo dài quê hương". ( Áo dài Vinh design to fit )

Không ai biết rõ chiếc áo dài đã gắn bó với người phụ nữ Việt nam từ lúc nào . Theo các nhà khảo cổ : hình ảnh chiếc áo dài với hai tà phất phơ trong gió, được phát hiện trên mặt trống đồng Ngọc Lũ vào khoản ba ngàn năm về trước. Theo truyền thuyết Hai Bà Trưng khi ra trận thường mặc áo dài hai tà dát vàng .Khi Hai Bà mất, để tỏ lòng tôn kính phụ nữ thời đó không mặc áo hai tà nữa mà cách tân thành áo bốn tà gọi là áo tứ thân : Ngụ ý của bốn tà là bốn đức sinh thành ( cha mẹ của vợ, chồng )

Ngoài đồng ruộng hay trong những buổi chợ, chiếc áo tứ thân có mầu nâu non, nâu già hoặc đen, mặc với váy vải thô nhuộm bùn, nhưng trong những dịp hội hè đình đám cưới hỏi, áo được may bằng hàng the, nhiễu, thao, lụa, khoác bên ngoài chiếc yếm đỏ thắm hay hồng đào và phủ lên chiếc váy lĩnh hoa chanh hoặc váy sồi có thắt lưng mầu lá mạ hay mầu cánh chả bay lượn trong gió. Tóc quấn khăn nhung,đầu đội nón quai thao, chân đi dép dừa hoặc hài cong. Vào thời vua Gia Long (1802 1819), chiếc áo dài tứ thân được biến cải thành áo ngũ thân, rất phổ thông trong giới quyền quý và dân thành thị. Áo ngũ thân cũng được may như áo tứ thân, nhưng vạt áo bên phải phía trước chỉ được may bằng một thân vải, còn vạt áo bên trái được may bằng hai thân vải như vạt áo đằng sau. Ngoài ra, áo năm thân có khuy áo như đàn ông, lúc mặc có thể cài khuy như áo dài ngày nay hoặc thắt vạt như áo tứ thân. Về ý nghĩa, bốn thân áo chính tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, và thân thứ năm (vạt con) tượng trưng cho người mặc áo; năm chiếc khuy tượng trưng cho đạo làm người theo Khổng Giáo: Nhân (lòng thương người, nhân từ), Lễ (biết trên, dưới), Nghĩa (nghĩa khí), Trí (sự sáng suốt, trí tuệ), Tín (uy tín). Rõ ràng, chiếc áo dài ngũ thân diễn đạt nhân sinh quan của Việt Nam nhưng không khỏi sự ảnh hưởng của Trung Hoa qua nhiều năm đô hộ.( Áo dài Vinh design to fit )

Mới đây, trong cuốn "Chín Chúa Mười Ba Vua Triều Nguyễn" của ông Tôn Thất Bính, (Nhà Xuất Bản Đà Nẵng 1997, trang 29) có bài "Những Trang Đầu của Lịch Sử Áo Dài" tác giả chép như sau: "Chiếc áo dài tha thướt xinh đẹp hiện nay phải qua một quá trình phát triển. Nó được hình thành từ đời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Nguyên chúa Nguyễn Phúc Khoát nghe người Nghệ an truyền câu sấm: "Bát đại thời hoàn trung nguyên" (tám đời trở về trung nguyên), thấy từ Đoan Quốc Công đến nay vừa đúng tám đời bèn xưng hiệu lấy thể chế áo mũ trong Tam tài đồ hội làm kiểu... để gìn giữ bản sắc văn hóa riêng, Vũ Vương Nguyễn Phúc Khoát ban hành sắc dụ về ăn mặc cho toàn thể dân chúng xứ Đàng Trong phải theo đó thi hành : "Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay rộng hoặc hẹp tùy tiện. Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền, không được xẻ mở. Duy đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn ống tay hẹp cho tiện khi làm việc thì được phép ..." (sách Đại Nam Thực Lục Tiền Biên). Trong Phủ Biên Tạp Lục, Lê Quý Đôn viết "Chúa Nguyễn Phúc Khoát đã viết những trang sử đầu cho chiếc áo dài như vậy". Căn cứ theo những chứng liệu này, có thể khẳng định chiếc áo dài với hình thức cố định đã ra đời và chính thức được công nhận là quốc phục dưới triều chúa Nguyễn Vũ Vương (1739-1765).
Thời vua Minh Mạng
Cho đến thế kỷ 17 truyền thống mặc váy vẫn tồn tại ở Việt Nam như đã ghi trong sách Lê Triều Thiên Chính đời vua Lê Huyền Tông, tháng 3 năm 1665 với sắc lệnh nhắc nhở: "... áo đàn bà con gái không có thắt lưng, quần không có hai ống từ xưa đến nay vốn đã có cổ tục như thế...". Vậy có thể nói rằng bộ áo ngũ thân xuất hiện vào khoảng đời vua Gia Long (1802-1819). Sở dĩ có sự ước đoán này, vì mặc áo ngũ thân thì phải mặc quần chớ không thể mặc váy. Năm Minh Mạng thứ 9 (1828), triều đình Huế ra chiếu chỉ cấm đàn bà mặc váy và bắt phải mặc quần hai ống, nên hồi ấy mới xuất hiện câu ca dao than vãn:
Tháng Tám co chiếu vua ra
Cấm quần không đáy, người ta hãi hùng!
Áo dài Le Mur
Cho đến năm 1930, nhóm văn sĩ Tự Lực Văn Đoàn chủ xướng cải cách văn hóa trong đó có Cát Tường một họa sĩ du học bên Pháp về đã cải biên chiếc áo tứ thân thành chiếc áo dài chỉ có hai vạt trước và sau mà thôi dài chấm đất, phần trên được may ôm sát theo đường cong của cơ thể tạo nên vẻ yêu kiều và gợi cảm rất độc đáo . Hàng nút phía trước được dịch chuyển sang một chỗ mở áo dọc theo vai rồi chạy dọc theo một bên sườn. Áo may ráp vai, ráp tay phồng, cổ bồng hoặc cổ hở. Thời đó mà mặc áo , hở cổ quần sa tanh trắng, đi giày cao gót thì dư luận không đồng tình và tẩy chay .
Áo dài Lê Phổ
Năm 1934, một họa sĩ khác là Lê Phổ bỏ bớt những nét lai căng, cứng cỏi của áo Le Mur, đồng thời đưa thêm các yếu tố dân tộc từ áo tứ thân, ngũ thân vào, nối vai và tay không phồng lên, tạo ra một kiểu áo vạt dài cổ kính, ôm sát thân người, trong khi hai vạt dưới được tự do bay lượn. Áo dài Lê Phổ được may bằng vải màu mặc với quần trắng, tóc búi lỏng hay vấn trần hoặc vấn khăn nhung. Sự dung hợp này quá hài hòa, vẹn vẻ giữa cái mới và cái cũ, được giới nữ thời đó hoan nghênh nhiệt liệt. Rất gần gũi với áo dài tân thời ngày nay .

Thời Cách mạng Tháng 8
Năm 1947 trong bối cảnh Việt Nam mới tuyên bố độc lập và các phong trào "diệt giặc đói, giặc dốt" đang được phát động, nhằm phát động phong trào tiết kiệm, ngày 20 tháng 3 năm 1947, Hồ Chí Minh, với bút hiệu Tân Sinh, đã viết một cách vắn tắt rõ ràng và dễ hiểu bài "Đời sống mới" trong đó vận động người dân bỏ thói quen mặc áo dài để thay bằng áo vắn vì mặc áo dài đi đứng, làm việc bất tiện, lượt thượt, luộm thuộm. Áo dài tốn vải, khoảng hai cái áo dài may được ba cái áo vắn, nếu chỉ mặc áo vắn có thể sẻn được 200 triệu đồng/năm. Áo dài không hợp với phụ nữ Việt Nam đời sống mới.( Hồ Chí Minh, Về đạo đức cách mạng, trang 14, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, năm 2007 ). Cuộc vận động này dần đã được người dân hưởng ứng và áo dài không còn là trang phục thông dụng của phụ nữ Việt Nam trong một thời gian dài ở miền bắc .
Áo dài cổ thuyền

Cuối năm 1958 Trần Lệ Xuân đã thiết kế ra kiểu áo dài cách tân mới bỏ đi phần cổ áo gọi là áo dài cổ thuyền, cổ hở, cổ khoét, dân gian gọi là áo dài Trần Lệ Xuân hay áo dài bà Nhu. Không chỉ lạ về mẫu áo, chiếc áo dài hở cổ còn được ‘phá cách’ với họa tiết trang trí trên áo: nhành trúc mọc ngược.

Áo dài với tay raglan
Thập niên 1960 có nhà may Dung ở Dakao, Sài Gòn đưa ra kiểu may áo dài với cách ráp tay raglan (giác lăng). Cách ráp này đã giải quyết được vấn đề khó khăn nhất khi may áo dài: những nếp nhăn thường xuất hiện hai bên nách. Cách ráp này cải biến ở chỗ hàng nút cài được bố trí chạy từ dưới cổ xéo xuống nách, rồi kế đó chạy dọc một bên hông. Với cách ráp tay raglan làn vải được bo sít sao theo thân hình người mặc từ dưới nách đến lườn eo, khiến chiếc áo dài ôm khít từng đường cong của thân hình người phụ nữ, tạo thêm tính thẩm mỹ theo đánh giá của một số nhà thiết kế.
Áo dài miniraglan
Phiên bản này được áp dụng rộng rãi cho nữ sinh, tên gọi của nó là : áo dài Hippy Theo phiên bản này, áo dài tay raglan có tà chỉ dài tới gối, nhưng hai ống quần rộng lòa xòa phủ kín đôi chân. Hai đặc điểm này làm cho tà áo nữ sinh đậm chất hồn nhiên, dễ thương. Mặc dù không tồn tại lâu nhưng áo dài Hippy lại là một điểm đáng chú ý trong lịch sử áo dài. Hình ảnh thiếu nữ trong trang phục áo dài với các sắc màu rực rỡ đã thể hiện nét đặc trưng của người phụ nữ hiện đại cuối những năm 1960. Tuy nhiên, trào lưu áo dài Hippy chủ yếu diễn ra tại miền Nam Việt Nam nơi mà làn sóng Hippy của nền văn hoá phương Tây tác động một cách mạnh mẽ.

Thời thống nhất đất nước năm 1975
Đất nước được thống nhất hai miền Nam Bắc, vừa mới thoát ra khỏi cuộc chiến tranh nên còn bao khó khăn về nhiều mặt về xã hội cũng như kinh tế. Nhân dân bắt tay xây dựng lại đất nước trên đống đổ nát…Cuộc sống lam lũ, lao động trở thành câu nói thường nhật của mọi đa số người dân…áo dài trở thành trang phục không phù hợp vì vướng víu trong lao động, sản xuất , thỉnh thoảng chỉ xuất hiện trong những buổi biểu diễn nghệ thuật, hay trong những buổi tiệc tùng long trọng mà thôi . Ngay cả học sinh sinh viên cũng mặc thường phục đến trường . Áo dài đi vào quên lãng !
Áo dài hiện đại
Giữa thập niên 1980 đất nước tiến hành đổi mới về kinh tế , đời sống được nâng cao, cái thời ăn chắc mặc bền bị đẩy lùi vào quá khứ , người dân có điều kiện hưởng thụ cái đẹp , nhiều công ty thời trang ra đời nhà thiết kế tha hồ sáng tạo trên nền tảng của chiếc áo dài truyền thống với nhiều chất liệu phong phú, vào năm 1989, cuộc thi Hoa hậu áo dài lần đầu tiên được tổ chức tại Sài Gòn, đánh dấu sự hồi sinh phát triển mạnh mẽ của áo dài với hàng loạt các thiết kế mới. Trong đó, nổi bật là hai trường phái: Áo dài vẽ do họa sĩ Sĩ Hoàng khởi xướng và áo dài thổ cẩm do nhà thiết kế Minh Hạnh thực hiện trên chất liệu thổ cẩm. Áo dài lại hồi sinh .
Áo dài Việt Nam vừa truyền thống lại cũng vừa hiện đại. Trang phục dành cho nữ có thể mặc mọi nơi, dùng làm trang phục công sở, đồng phục đi học, mặc đi chơi hay mặc để tiếp khách một cách trang trọng ở nhà. Những thứ mặc kèm đơn giản: mặc với một quần lụa hay vải mềm, dưới chân đi hài, guốc, hay giày gì đều được; trong những buổi lễ trang trọng (như trang phục cô dâu) thì thêm áo choàng và chiếc khăn đóng truyền thống đội đầu, hoặc một chiếc miện Tây phương tùy thích. Đây chính là điểm đặc biệt của thứ trang phục truyền thống này.

Chiếc áo dài cá nhân hóa rất cao: mỗi chiếc chỉ may riêng cho một người, dành cho riêng người đó; không thể có một công nghệ "sản xuất đại trà" cho chiếc áo dài. Người đi may được lấy số đo thật kỹ. Khi may xong phải qua ít nhất một lần mặc thử , sửa nhỏ nữa mới hoàn thiện.
Chiếc áo dài đã đi theo người phụ nữ Việt nam suốt chiều dài phát triển của lịch sử, qua bao lần cải biên : cổ áo thì lúc cao, lúc thấp, lúc rộng, lúc hẹp; gấu áo thì lúc vén cao, lúc hạ thấp; eo áo thí lúc nhỏ lúc to. Những thay đổi này đi đôi với những thay đổi nho nhỏ của chiếc quần phụ nữ: chân què qua đáy giữa, lưng quần thắt giải rút rồi tới giây thung, gài nút, và sau cùng là dùng phẹc mo tuya (fermeture), ống quần thì lúc rộng lúc hẹp theo thị hiếu thẩm mỹ của từng giai đoạn một. Từ đây áo dài Việt Nam đã tìm được hình hài chuẩn mực của nó, hình dạng chiếc áo dài về cơ bản vẫn giữ nguyên, tôn thêm vẽ đẹp của người phụ nữ Việt .


“Áo dài Việt Nam thắng lớn trong nước và ngoài nước, do đâu mà được vậy? Do nó cho thấy gió!”. Một nhà văn đã viết như vậy gần 40 năm trước- “Mặc áo dài mà đứng yên chưa chắc đã ăn đứt nổi những cô gái Âu, Á khác mặc y phục dân tộc của họ. Nhưng mặc áo dài mà đi, mà múa v.v.. thì người con gái Việt Nam linh động hẳn lên. Áo dài Việt Nam vừa theo sát những nét tuyệt mỹ của thân người, lại vừa trao cho tấm thân ấy sự linh động phơi phới mà nó không có. Những tà áo nhẹ ve vẩy phất phơ trong gió làm cho một thân hình nặng nề nhất, cục mịch nhất, cũng hóa ra thanh thóat. Thân người là đẹp, nhưng thứ y phục chỉ nhằm khai thác cái đẹp của thân người thì rõ ràng là tục.Trang phục là văn hóa. Văn hóa là một cố gắng cải biên thiên nhiên (…). Chiếc áo dài Việt Nam là một sự dung hòa giữa tự nhiên và văn hóa. Phần trên của nó đề cao thân người, đã có phần dưới rất thanh, thoát hẳn thân người. Nhìn vào người nữ mặc áo dài, sau khi bị khích động vì cái phần trên, mắt lần dò nhìn xuống, thì ở phần dưới lại chỉ thấy…gió! Vâng, ở đây mắt chỉ thấy có gió, có cái thướt tha, cái bay bướm mà thôi”. (VP, Đất nước quê hương, 1973)..( dohongngoc.com )

Trong thơ ca
Chiếc áo dài, một đề tài phong phú để dành cho các thi, nhạc sĩ dệt thơ họa nhạc ."Áo lụa Hà Đông" của Nguyên Sa, bài này được phổ nhạc thành một bài hát nổi tiếng và là cảm hứng cho một bộ phim điện ảnh cùng tên, với những câu:
Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát
Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông...
"Ngày xưa Hoàng Thị" của Phạm Thiên Thư với câu chuyện tình học trò cùng cô gái họ Hoàng, với những nét phác họa:
Áo tà nguyệt bạch
Ôm nghiêng cặp sách
Vai nhỏ tóc dài".
Phạm Duy phổ nhạc bài này cũng không quên làm nổi bật hình ảnh áo dài khi sửa thành:
Ôm nghiêng tập vở, tóc dài, tà áo vờn bay...
Áo dài cũng in đậm nét trong những vần thơ nghịch ngợm của Nguyễn Tất Nhiên:
Tháng giêng em bikili
Tỉnh lỵ còn nguyên nét Việt Nam
Đài các chân ngà ai bước khẽ
Quyện theo tà lụa cả phương Đông (Tháng giêng, chim)
đưa em về dưới mưa
áo dài sầu hai vạt
khi chấm bùn lưa thưa... (Em hiền như Ma-soeur)

Trong thơ Bùi Giáng, màu áo dài của ký ức được nâng lên thành huyền thoại:
Biển dâu sực tỉnh giang hà
Còn sơ nguyên mộng sau tà áo xanh (Áo xanh)
Và có lẽ trong những vần thơ rất dung dị sau đây của Huy Cận cũng có hình bóng của chiếc áo dài trắng nữ sinh:
Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong
Hôm xưa em đến mắt như lòng
Nở bừng ánh sáng em đi đến
Gót ngọc dồn hương bước tỏa hồng (Áo trắng).
Chiếc áo dài cũng phảng phất bay trong các ca khúc Việt Nam. Trong nhạc Trịnh Công Sơn có thể nhìn thấy khá nhiều. Theo hồi ký, chính những bước chân hoàng cung của những nữ sinh áo tím Huế đã làm cho nhạc sĩ họ Trịnh viết nên bài "Diễm xưa" nổi tiếng. Hay trong bài "Hạ trắng", hình ảnh áo dài cũng chập chờn: Gọi nắng trên vai em gầy đường xa áo bay... (Hạ trắng)
"Bé ca" của Phạm Duy viết cho con gái mới lớn, có bài "Tuổi ngọc" tả về niềm hân hoan của cô bé khi bước chân vào trung học, lần đầu khoác lên mình "một chiếc áo như mây hồng":
Xin cho em một chiếc áo dài, cho em đi mua xuân tới rồi
Mặc vào đời rồi ra, mừng lạy chào mẹ cha
Hàng lụa là thơm dáng tuổi thơ
Phạm Duy cũng không quên nhắc về chiếc áo này trong một giấc mơ hòa bình từ thập niên 1940:
Nằm mơ, mơ thấy trăm họ tốt tươi, mơ thấy bên lề cuộc đời, áo dài đùa trong nắng cười... (Quê nghèo)
Bài "Một thoáng quê hương" của Từ Huy nổi tiếng một thời với câu:
Tà áo em... bay, bay, bay, bay... trong gió nhẹ nhàng...
Dù ở đâu, Paris, Luân Đôn hay ở những miền xa. Thoáng thấy áo dài bay trên đường phố, sẽ thấy tâm hồn quê hương ở đó... em ơi...

Thi sĩ Xuân Diệu thú nhận:
Những tà áo lụa mong manh ấy,
Đă gói hồn tôi suốt trọn đời.
Các nhạc sĩ tiền chiến cũng hay ca ngợi áo dài như bài "Tà áo xanh" của Đoàn Chuẩn - Từ Linh. Và cảm xúc về chiếc áo dài cũng làm nên những câu hát nổi tiếng của Hoàng Trọng:
Ngàn thu mưa rơi trên áo em màu tím
Ngàn thu đau thương vương áo em màu tím
Nhuộm tím những chuỗi ngày vắng nhau
Tháng năm càng lướt mau
Biết bao giờ trông thấy nhau(Ngàn thu áo tím)


Trong hội họa
Có rất nhiều họa sĩ vẽ về đề tài phụ nữ và áo dài , nếu kể ra đây thì dài lắm, chỉ nêu Bức tranh "Thiếu nữ bên hoa huệ" của họa sĩ Tô Ngọc Vân sáng tác năm 1943, là một trong những tác phẩm hội họa hiện đại Việt Nam đầu tiên và nổi tiếng bậc nhất, miêu tả một cô gái mặc áo dài trắng ngồi bên một bình hoa huệ.

Áo dài – một vũ khí chống béo phì !
Các loại thức ăn nhanh, gà rán, khoai tây chiên…các thứ thiếu chất dinh dưỡng, thừa chất béo, sản xuất công nghiệp ngày càng… ngon, càng rẻ, càng tiện lợi nên tình trạng béo phì ở ta sẽ tăng nhanh kèm theo bao nhiêu thứ bệnh tật từ tiểu đường đến huyết áp, tim mạch… khiến các bệnh viện lúc nào cũng quá tải !
Việt Nam ta từ bao đời nay đã có một biện pháp chống béo phì tuyệt hảo là chiếc áo dài của người phụ nữ. Cả một dãi đất miền Trung nổi tiếng là “quê hương xứ dân gầy” chẳng phải đã nhờ chiếc áo dài truyền thống đó sao? Người phụ nữ miền Trung xưa vốn được mặc áo dài từ thuở còn thơ, đi chùa, đi lễ, đi học cho đến tuổi già. Quyền quý cao sang cũng áo dài. Buôn gánh bán bưng cũng áo dài. Áo dài không chỉ giúp cho người ta tha thướt, dịu dàng mà còn giúp cho người ta “vai gầy guộc nhỏ” thấy mà thương!Với áo dài, muốn hấp tấp vụt chạc cũng không được; muốn hùng hục, ngấu nghiến cũng không được. Ăn mặc là vấn đề của văn hóa. Áo pull, váy rộng, mặc sức mà ngấu nghiến. Còn với áo dài ư? Người ta chỉ có thể “ thực như miu ”!
Để phòng chống suy dinh dưỡng, y học dùng cái cân và cái thước dây nhằm phát hiện sớm bệnh. Để chống béo phì, ở Âu Mỹ, người ta khuyên lúc ngủ dây, nhảy lên cái cân “cân một cái” để biết hôm nay nên ăn uống, vận động ra sao. Nói khác đi, cái cân, cái thước giúp ta điều chỉnh hành vi ăn uống. Chiếc áo dài đã chẳng phải là một biện pháp “cân đo” hữu hiệu nhất đó sao? Nó lên tiếng báo động ngay tức khắc cho ta chỗ nào chật, chỗ nào rộng, chỗ nào sắp…nứt, nhờ đó mà ta điều chỉnh hành vi ăn uống kịp thời !
Ta có thể thấy trước, rồi đây thế hệ các thiếu nữ Việt Nam không còn mặc áo dài truyền thống nữa sẽ nhanh chóng béo phì ra sao!( dohongngoc.com )

Áo dài nam
Theo nhà biên khảo Trần Thị Lai Hồng thì áo ngũ thân đi đôi với quần hai ống và khăn đội đầu cũng là quốc phục của phái nam. Các bà các cô dùng mầu sắc óng ả dịu mát trong khi đàn ông con trai chỉ dùng màu đen, trắng, hoặc lam thẫm. Theo sắc dụ ban hành từ thời Chúa Nguyễn Vũ Vương thì sự quy định trang phục cho nam giới ít gò bó và thoáng hơn và khác biệt với người Hoa kiều đó là : Áo dài gần tới gối có xẻ hai bên từ hông xuống ,cài nút bên trái và chất liệu vải : the mỏng mặc ra ngoài áo bà ba trắng , phụ tùng kèm theo đầu đội khăn đóng, chân đi guốc mộc .

Vậy nếu nói đến quốc phục truyền thống thì chính chiếc áo dài nữ phục mới đậm nét hơn, được quy định bởi những văn bản pháp quy (sắc dụ chúa Nguyễn Vũ Vương) và chuẩn mực ăn mặc rõ ràng hơn (chiếu chỉ quy định của vua Minh Mạng về trang phục hoàn chỉnh cho áo dài nữ phục). Do đó khi nói đến áo dài Việt Nam, người trong lẫn ngoài nước thường nghĩ đến chiếc áo dài nữ phục.
Áo dài nam phục Việt Nam lại không có số phận may mắn như áo dài nữ phục. Ngày nay ta ít có dịp bắt gặp hình ảnh một thanh niên, thậm chí một ông cụ già Việt Nam, vận chiếc áo dài nam phục truyền thống. Áo dài nam phục chỉ còn xuất hiện tại những lễ hội mang đậm nét truyền thống Việt Nam. Đặc biệt tại tuần lễ cấp cao APEC 2006 được tổ chức tại Việt Nam, trong lễ công bố Tuyên bố chung, các nhà lãnh đạo các nền kinh tế APEC đều mặc trang phục truyền thống của nước chủ nhà Việt nam .

ImageImage

Write a comment

You must be logged in to write a comment. If you're not a registered member, please sign up.