Skip navigation.

Sign up | Lost password? | Help

Trẻ không xông pha, già không kinh nghiệm !!

Do minh hoang

Do minh hoang

  • Age: 30
  • Sex: Male
  • Location: Viet Nam
  • Occupation: investor
  • Status: Tất cả những gì anh yêu sẽ mất đi một nửa thú vị nếu không có em để cùng chia sẻ !!
  • Member since: Mar 2007
  • E-mail: hoanghoaky [at] yahoo.com
  • MSN hoanghoaky
  • Yahoo!: hoanghoaky
  • Skype hoanghoaky
  • Web site: http://www.dvsc.com.vn
  • Login status: Online

About me

Chao mung ban da den voi hoanghoaky . Landscape 11Beautiful Wallpaper Collection -



Xin chuc quy vi co nhung ngay binh yen va hanh phuc .Xin tu gioi thieu, toi la Do Minh Hoang,hien dang lam chuyen vien tu van,dau tu chung khoan va bat dong san tai Ha Noi. Neu quy khach co nhu cau dau tu vao linh vuc chung khoan va cac hoat dong lien quan den bat dong san, hay den voi chung toi . Rat han hanh duoc don tiep quy vi tai cong ty chung toi.
,Xin hay lien he voi chung toi, quy vi se co nhung thong tin tot nhat ve thi truong chung khoan , bat dong san.
Thong tin ve cong ty chung khoan cua chung toi tai :
So 18 PHO NUI TRUC - BA DINH - HA NOI .
Tel : 047263805
www.dvsc.com.vn
Thong tin lien he voi toi :
Email : hoanghoaky@yahoo.com


VUI VE CHUT CAC BAN NHE :








" Lúc bé , nghỉ học là chuyện lạ. Lớn lên mới biết, chuyện lạ là đi học... Lúc bé, tưởng đến trường là phải học. Lớn lên mới biết, đến trường còn được ... ngủ . Lúc bé, tưởng thi xong là hết. Lớn lên mới biết , sau thi còn có thi lại... Lúc bé, tưởng gặp lại thầy cô là ở nhà. Lớn lên mới biết, còn có thể gặp lại thầy cô ở trường nhiều lần... Lúc bé , tưởng điểm 10 mới là giỏi. Lớn lên mới biết, chỉ 5 thôi đã quý lắm rồi... Lúc bé, tưởng càng học càng giỏi. Lớn lên mới biết, càng học càng ngu đi.

2. Lúc bé, tưởng khóc là buồn, bây giờ phát hiện buồn nhất là không thể khóc được, cứ trống rỗng, tỉnh táo và vô hồn Lúc bé, tưởng cười là vui, bây giờ nghĩ lại, có những giọt nước nước mắt còn vui hơn cả một trận cười. Lúc bé, tưởng đông bạn là hay, bây giờ mới biết vẫn chỉ có mình mình Lúc bé, tưởng cô đơn ở đâu xa lắm, chỉ đến ở những chỗ không người, đến giờ mới hiểu, lúc bên nhau, sự ấm áp mới thật mong manh, mà nỗi cô đơn sao lại gần gũi thế. Lúc bé, tưởng yêu là tất cả,là mọi thứ, lớn rồi mới biết sau yêu còn có chia tay ...

3. Trai độc thân chưa một lần bỏ dzợ.../
Tìm bạn đời để trao đổi dzăn thơ,/
Nếu hợp nhãn sẽ tiến tới ... hổng chờ/
Xin thành thực, đừng làm tui ... đau khổ./
Vì ... bởi Tối hôm qua nghe mẹ già than thở/
"Từng tuổi nầy mà chưa có con dâu/
Lỡ mai đây khi mỏi gối bạc đầu/
Không cháu nội thiệt tuổi già quạnh quẽ"/
Thấy mẹ buồn, lòng anh đau như xé/
Nên quyết lòng đi kiếm "ghệ" mau mau/
Liều thân trai ở giữa chô''n vàng thau/
Mười hai bến nước, trong nhờ, đục .. CHẠY.../
Anh giỡn thôi mà, em đừng áy náy/

Anh rất ga-lăng, tử tế, đàng hoàng/
Hồi xa xưa cũng có lúc đi hoang/
Giờ tu tỉnh, ăn chay ... nhưng ngủ MẶN ""********



Khái quát về thị trường chứng khoán




I.Thị trường chứng khoán (TTCK) là gì?
Thị trường chứng khoán là một thị trường mà ở nơi đó người ta giao dịch mua bán, chuyển nhượng, trao đổi chứng khoán nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên, đó có thể là TTCK tập trung hoặc phi tập trung. Tính tập trung ở đây là muốn nói đến việc các giao dịch được tổ chức tập trung theo một địa điểm vật chất.

Hình thái điển hình của TTCK tập trung là Sở giao dịch chứng khoán ( Stock exchange). Tại Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK), các giao dịch được tập trung tại một địa điểm; các lệnh được chuyển tới sàn giao dịch và tham gia vào quá trình ghép lệnh để hình thành nên giá giao dịch.

TTCK phi tập trung còn gọi là thị trường OTC (over the counter). Trên thị trường OTC, các giao dịch được tiến hành qua mạng lưới của hàng loạt các công ty chứng khoán phân tán trên khắp quốc gia và được nối với nhau bằng mạng điện tử. Giá trên thị trường này được hình thành chủ yếu theo phương thức thoả thuận.


II.Chức năng của TTCK

1. Huy động vốn đầu tư cho nền kinh tế:

Khi các nhà đầu tư mua chứng khoán do các công ty phát hành, số tiền nhàn rỗi của họ được đưa vào hoạt động sản xuất kinh doanh và qua đó góp phần mở rộng sản xuất xã hội. Thông qua TTCK, Chính phủ và chính quyền ở các địa phương cũng huy động được các nguồn vốn cho mục đích sử dụng và đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế, kỹ thuật, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội.


2. Cung cấp môi trường đầu tư cho công chúng

TTCK đem đến cho công chúng một môi trường đầu tư lành mạnh với các cơ hội lựa chọn phong phú. Các loại chứng khoán trên thị trường rất khác nhau về tính chất, thời hạn và mức độ rủi ro, cho phép các nhà đầu tư có thể lựa chọn loại hàng hoá phù hợp với khả năng, mục tiêu và sở thích của mình.


3. Tạo tính thanh khoản cho các chứng khoán

Nhờ có TTCK các nhà đầu tư có thể chuyển đổi các chứng khoán họ sở hữu thành tiền mặt hoặc các loại chứng khoán khác khi họ có nhu cầu. Khả năng thanh khoản là một trong những đặc tính có vẻ rất hấp dẫn của chứng khoán đối với người đầu tư. Đây là yếu tố cho thấy khả năng linh hoạt, an toàn của vốn đầu tư. TTCK hoạt động càng năng động và có hiệu quả thì tính thanh khoản của các chứng khoán giao dịch trên thị trường càng cao.


4. Đánh giá hoạt động của doanh nghiệp

Thông qua chứng khoán, hoạt động của các doanh nghiệp được phản ánh một cách tổng hợp và chính xác, giúp cho việc đánh giá và so sánh hoạt động của doanh nghiệp được nhanh chóng và thuận tiện, từ đó cũng tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm mục đích nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, kích thích áp dụng công nghệ mới, từng bước cải tiến sản phẩm.

5. Tạo môi trường giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô

Các chỉ báo của TTCK phản ánh động thái của nền kinh tế một cách nhạy bén và chính xác. Giá các chứng khoán tăng lên cho thấy quy mô đầu tư đang dần mở rộng, nền kinh tế tăng trưởng; ngược lại giá chứng khoán giảm sẽ cho thấy các dấu hiệu tiêu cực của nền kinh tế. Bởi thế, TTCK có thể được xem như là phong vũ biểu của nền kinh tế và là một công cụ quan trọng giúp Chính phủ thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô.

Thông qua TTCK, Chính phủ có thể mua và bán trái phiếu Chính phủ để tạo ra nguồn thu bù đắp thâm hụt ngân sách và quản lý lạm phát. Ngoài ra, Chính phủ cũng có thể sử dụng một số chính sách, biện pháp tác động vào TTCK nhằm mục tiêu định hướng đầu tư đảm bảo cho sự phát triển cân đối của nền kinh tế.


III. Cơ cấu TTCK: xét về sự lưu thông của chứng khoán trên thị trường, TTCK có hai loại:

1. Thị trường sơ cấp:

Là thị trường mua bán các chứng khoán mới phát hành. Trên thị trường này, vốn từ nhà đầu tư sẽ được chuyển sang nhà phát hành thông qua việc nhà đầu tư mua các chứng khoán mới phát hành.


2. Thị trường thứ cấp:

Là nơi giao dịch các chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp.Thị trường thứ cấp đảm bảo tính thanh khoản cho các chứng khoán đã phát hành.

IV. Các nguyên tắc hoạt động của TTCK:
1. Nguyên tắc cạnh tranh:

Theo nguyên tắc này, giá cả trên TTCK phản ánh quan hệ cung cầu về chứng khoán và thể hiện mức tương quan cạnh tranh giữa các công ty. Trên thị trường sơ cấp, các nhà phát hành cạnh tranh với nhau để bán chứng khoán của mình cho các nhà đầu tư, các nhà đầu tư được tự do lựa chọn các chứng khoán theo các mục tiêu và sở thích của mình.

Trên thị trường thứ cấp, các nhà đầu tư cũng cạnh tranh tự do để tìm kiếm cho mình một lợi nhuận cao nhất, và giá cả được hình thành theo phương thức đấu giá.

2. Nguyên tắc công bằng:

Công bằng có nghĩa là mọi người tham gia thị trường đều phải tuân thủ những qui định chung, được bình đẳng trong việc chia sẻ mọi thông tin và trong việc gánh chịu các hình thức xử phạt nếu vi phạm vào những qui định đó.

3. Nguyên tắc công khai:
Chứng khoán là loại hàng hoá trừu tượng nên TTCK phải được xây dựng trên cơ sở hệ thống công bố thông tin một cách tốt nhất. Theo luật định, các tổ chức phát hành có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin đầy đủ theo chế độ thường xuyên và đột xuất thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, Sở giao dịch, các công ty chứng khoán và các tổ chức có liên quan.

4. Nguyên tắc trung gian:
Nguyên tắc này có nghĩa là các giao dịch chứng khoán được thực hiện thông qua tổ chức trung gian là các công ty chứng khoán. Trên thị trường sơ cấp, các nhà đầu tư không mua trực tiếp của nhà phát hành mà giao dịch mua với các nhà bảo lãnh phát hành.

Trên thị trường thứ cấp, thông qua các nghiệp vụ môi giới, kinh doanh, các công ty chứng khoán mua, bán chứng khoán giúp các khách hàng, hoặc kết nối các khách hàng với nhau qua việc thực hiện các giao dịch mua bán chứng khoán trên tài khoản của mình.

5. Nguyên tắc tập trung:

Các giao dịch chứng khoán chỉ diễn ra trên sở giao dịch và trên thị trường OTC dưới sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức tự quản.

V. Các thành phần tham gia TTCK

1. Nhà phát hành:
Là các tổ chức thực hiện huy động vốn thông qua TTCK dưới hình thức phát hành các chứng khoán.

2. Nhà đầu tư:
Là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên TTCK. Nhà đầu tư có thể được chia thành 2 loại:

- Nhà đầu tư cá nhân: là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời, tham gia mua bán trên TTCK với mục đích tìm kiếm lợi nhuận.

- Nhà đầu tư có tổ chức: là các định chế đầu tư thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường.

Các định chế này có thể tồn tại dưới các hình thức sau: công ty đầu tư, công ty bảo hiểm, Quỹ lương hưu, công ty tài chính, ngân hàng thương mại và các công ty chứng khoán.

3. Các công ty chứng khoán:
Là những công ty tham gia hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán, có thể đảm nhận một hoặc nhiều trong số các nghiệp vụ chính là môi giới, quản lý quỹ đầu tư, bảo lãnh phát hành, tư vấn đầu tư chứng khoán và tự kinh doanh.

4. Các tổ chức có liên quan đến TTCK:

- Uỷ ban chứng khoán Nhà nước: là cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với TTCK ở Việt nam.
- Sở giao dịch chứng khoán: là cơ quan thực hiện vận hành thị trường và ban hành những quyết định điều chỉnh các hoạt động giao dịch chứng khoán trên Sở phù hợp với các quy định của luật pháp và UBCK.
- Công ty dịch vụ máy tính chứng khoán: là tổ chức phụ trợ, phục vụ các giao dịch chứng khoán.
- Công ty đánh giá hệ số tín nhiệm: là công ty chuyên cung cấp dịch vụ đánh giá năng lực thanh toán các khoản vốn gốc và lãi đúng thời hạn và theo những điều khoản đã cam kết của công ty phát hành đối với một đợt phát hành cụ thể.



My work

Các thuật ngữ kinh tế thường dùng (I-O)





Nhiều thuật ngữ dưới đây dựa trên tài liệu chuẩn nội bộ và danh mục các định nghĩa của tờ Wall Street Journal. Các định nghĩa khác được chọn từ cuốn Hướng dẫn viết tin kinh tế Columbia Knight-Bagehot, do Pamela Hollie Kluge biên soạn.

Inflation – Lạm phát.
Tăng giá hàng hóa và dịch vụ. Nói chung, giả định về kinh tế là sức mua giảm đi vì có thừa tiền mặt lưu thông, thường là do hậu quả của việc chính phủ chi tiêu quá nhiều.

Initial Public Offering (IPO) – Phát hành công khai lần đầu (chứng khoán).
Lần đầu tiên một công ty chào bán cổ phiếu cho công chúng. Còn gọi là “going public”.

Insider trading – Giao dịch nội bộ.
Giao dịch cổ phiếu trong nội bộ công ty một cách bất hợp pháp dựa trên những thông tin không công bố.

Institutional investor – Pháp đoàn đầu tư.
Một tổ chức đầu tư tài sản riêng hoặc những tài sản do các tổ chức khác uỷ thác nắm giữ. Những nhà đầu tư như vậy thường là các quỹ hưu trí, các công ty bảo hiểm, ngân hàng và các trường đại học.

Interest – Lãi suất.

International Monetary Fund (IMF) – Quỹ Tiền tệ Quốc tế
Trụ sở tại Washington, D.C., có chức năng giám sát nguồn cung tiền tệ của các nước thành viên, với mục đích ổn định việc trao đổi quốc tế và khuyến khích thương mại cân bằng và có trật tự.

http://www.petalia.org/Card/sample1.htm



Junk bond – Trái phiếu bấp bênh.
Thuật ngữ bình dân dùng để mô tả các loại chứng khoán có lãi suất cao nhưng nhiều rủi ro, do các công ty bị nợ nần chồng chất phát hành để có thể thanh toán các khoản vay ngân hàng, để mua quyền quản lý cổ phần hoặc để tài trợ cho các vụ mua lại công ty.

Leverage – Đầu cơ vay nợ.
Việc một công ty sử dụng tài sản đi vay để tăng lợi suất trên vốn cổ phần của các cổ đông, với hy vọng lãi suất phải chịu sẽ thấp hơn lợi nhuận trên số tiền đi vay.

Leveraged buyout – Sự mua lại công ty, được cấp vốn bằng nợ.
Việc mua lại một công ty của một nhóm nhỏ các nhà đầu tư, chủ yếu được cấp vốn bằng nợ. Cuối cùng, các khoản vay của nhóm này được thanh toán bằng các quỹ phát sinh từ hoạt động của công ty mua được hoặc việc bán tài sản của công ty đó.

Liquidity – Thanh khoản.
Mức độ mà tài sản có thể chuyển thành tiền mặt.

Market share – Thị phần
Tỷ lệ tổng doanh số của một sản phẩm mà một người bán có. Một công ty sẽ cố gắng mở rộng thị phần của mình (tức là giảm thị phần của các đối thủ) bằng cách quảng cáo, đưa ra mức giá hợp lý và các thủ thuật cạnh tranh khác. Thị phần càng lớn thì nhà sản xuất càng dễ kiểm soát giá và lợi nhuận.

Market capitalization – Thị giá vốn.
Giá trị của một công ty được xác định bởi giá thị trường đối với các cổ phiếu thường đã phát hành còn lại.

Maturity – Kỳ hạn.
Thời hạn phải thanh toán trái phiếu và kỳ phiếu.

Microchip – Vi mạch kiểm soát hầu hết các sản phẩm điện tử.

Monetary policy – Chính sách tiền tệ.
Tác động của chính phủ đối với nền kinh tế bằng cách kiểm soát nguồn cung cấp tiền tệ và lãi suất.

Monopoly – Độc quyền.
Sự kiểm soát của một công ty đối với một sản phẩm tại một thị trường nhất định, cho phép công ty này ấn định giá vì không hề có cạnh tranh.

Mutual fund – Quỹ tương hỗ
Điều hành bởi một công ty đầu tư huy động tiền từ các cổ đông để đầu tư vào trái phiếu, cổ phiếu, các quyền chọn, các hàng hóa hoặc các loại chứng khoán khác. Các quỹ này thường cho phép các nhà đầu tư lựa chọn một chiến lược mạo hiểm hoặc một chiến lược thận trọng để kiếm lời.

Net income/net profit – Thu nhập ròng/Lãi ròng
Cũng được gọi là “bottom line” hay lợi nhuận, là khoản còn lại sau khi trừ mọi chi phí và thuế trong thu nhập của một công ty.

Note – Kỳ phiếu
Chứng nhận do một công ty hoặc chính phủ phát hành ghi rõ số lượng một khoản vay, lãi suất phải trả và thế chấp trong trường hợp không thanh toán được. Thời hạn thanh toán thường là trên 1 năm kể từ khi phát hành nhưng không được lâu hơn 7-8 năm. Thời hạn thanh toán ngắn hơn là điểm khác biệt chính giữa kỳ phiếu và trái phiếu.

Organization for Economic Cooperation and Development (OECD) – Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế.
Một tổ chức gồm 24 nước có nền kinh tế thị trường tự do thường xuyên thu thập con số thống kê và đưa ra các báo cáo kinh tế về các nước thành viên.

Oil future market – Thị trường dầu giao sau.
Các thị trường tại New York và Luân Đôn nơi người ta cam kết mua hoặc bán dầu với giá thỏa thuận cho một thời điểm nào đó trong tương lai.

Oil spot market – Thị trường dầu giao ngay.
Các vụ giao dịch hàng ngày đối với dầu thô hoặc các sản phẩm đã tinh lọc bởi các thương nhân trên khắp thế giới, cam kết khối lượng chuyển giao với giá cụ thể.

Option – Quyền chọn.
Trong giới tài chính, đây là thỏa thuận cho phép một nhà đầu tư mua hoặc bán cái gì đó, ví dụ như cổ phiếu, trong một khoảng thời gian định trước với giá nhất định.

Ovesubscribed – Đặt mua vượt mức.
Thuật ngữ áp dụng trong việc phát hành công khai cổ phiếu, khi đơn đặt mua vượt quá số lượng cổ phiếu rao bán cho công chúng.

Paper profit – Lãi lý thuyết.
Khoản lãi chưa có thực trong một khoản đầu tư. Khoản lãi này được tính toán dựa trên so sánh giá thị trường hiện tại với chi phí của nhà đầu tư.

Poison pill – Chiến thuật thuốc độc.
Một thủ thuật để chống trả việc mua lại quyền kiểm soát công ty, được đưa ra để làm cho việc mua lại công ty trở nên quá tốn kém.

Price-earnings ratio – Tỷ suất thị giá-doanh lợi.
Giá của một cổ phiếu chia cho lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu trong thời gian 12 tháng. Ví dụ một cổ phiếu bán với giá 60$/cổ phiếu và lợi nhuận 6$/cổ phiếu sẽ được bán với tỷ suất thị giá-doanh lợi 10/1. Tỷ suất thị giá-doanh lợi cao khiến các nhà đầu tư tin tưởng rằng lợi nhuận của công ty trong tương lai sẽ cao hơn nhiều.

Prime rate – Lãi suất ưu đãi.
Lãi suất cơ bản mà các ngân hàng thương mại áp dụng cho một loạt khoản cho vay lớn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cũng như cho cá nhân.

Privatization – Tư nhân hóa.
Nói chung nghĩa là việc chuyển sở hữu công ty từ các nhà đầu tư công cộng sang các nhà đầu tư tư nhân. Tư nhân hóa thường gắn liền với tái cơ cấu kinh tế trong đó các doanh nghiệp nhà nước được bán cho khu vực tư nhân.

Revenue – Thu nhập.
Toàn bộ số tiền mà một doanh nghiệp hoặc chính quyền thu được trong một khoảng thời gian nhất định.

Short sale – Bán khống.
Bán một lượng cổ phiếu tạm vay, không thuộc quyền sở hữu của mình với hy vọng kiếm lời bằng cách mua một lượng cổ phiếu tương đương sau đó với giá thấp hơn để thay thế.

Stock (shares) – Cổ phiếu.
Các đơn vị của một công ty đại diện cho một phần sở hữu. Mua các phần này sẽ có quyền như các chủ sở hữu và có thể có thu nhập thông qua cổ tức. Có thể mua hoặc bán cổ phiếu mà không ảnh hưởng đến hoạt động của một công ty. Tại thị trường chứng khoán, giá cổ phiếu do người mua và người bán cổ phiếu đó ấn định.

Stock exchange – Thị trường chứng khoán.
Nơi giá cổ phiếu được người mua và người bán cổ phiếu ấn định.

Underground economy – Nền kinh tế ngầm.
Một bộ phận không được tính đến của nền kinh tế bao gồm cả hoạt động hợp pháp và bất hợp pháp. Hầu hết các giao dịch là bằng cách chuyển đổi hàng hóa hoặc thanh toán tiền mặt để tránh thuế hoặc tránh bị các cơ quan thi hành pháp luật phát hiện.

Venture capital – Vốn mạo hiểm.
Khoản tài chính cần thiết để bắt đầu một doanh nghiệp, thông thường là các doanh nghiệp mới nhiều rủi ro. Đổi lại vốn, nhà đầu tư được sở hữu một phần doanh nghiệp này. Vốn mạo hiểm càng rủi ro thì càng có khả năng thu lợi lớn.

White knight – Hiệp sĩ trắng.
Người cứu một công ty đang bị nguy cơ mua quyền kiểm soát bởi một công ty khác.


CAC THUAT NGU KINH TE THUONG DUNG (A-B)







Nhiều thuật ngữ dưới đây dựa trên tài liệu chuẩn nội bộ và danh mục các định nghĩa của tờ Wall Street Journal. Các định nghĩa khác được chọn từ cuốn Hướng dẫn viết tin kinh tế Columbia Knight-Bagehot, do Pamela Hollie Kluge biên soạn.

Nhiều thuật ngữ cần được điều chỉnh cho phù hợp với các nền kinh tế và thông lệ tại các quốc gia khác nhau.

Accounts payable – Nợ phải trả.
Khoản nợ của một doanh nghiệp cần phải thanh toán sớm, thường là trong vòng 1 năm.

Accounts receivable – Khoản thu.
Khoản doanh nghiệp được nhận từ khách hàng cho hàng hóa bán ra hoặc dịch vụ cung cấp.

Antitrust laws – Luật chống độc quyền.
Luật bảo vệ cạnh tranh bằng cách không cho phép các thông lệ độc quyền hoặc chống cạnh tranh.

Appreciation – Tăng giá trị của tài sản.
Các nhà đầu tư, ví dụ như những người sở hữu nhà, đầu tư để chờ tăng giá, và điều này có thể làm cho giá ngang bằng với mức lạm phát, làm tăng nhu cầu nhà cửa hoặc thiếu nhà cửa.

Arbitrage, arbitrager (risk arbitrager) – Kinh doanh chênh lệch giá hoặc tỷ giá.
Một thủ thuật mua và bán chứng khoán để tranh thủ mức chênh lệch nhỏ về giá – chẳng hạn mua một cổ phiếu với giá 50$ trên thị trường chứng khoán và đồng thời bán nó hoặc một cổ phiếu tương đương với giá 51$ cho người khác. Thuật ngữ kinh doanh chênh lệch rủi ro xuất hiện để áp dụng cho những người kinh doanh đầu cơ mua cổ phiếu của các công ty có tin đồn là mục tiêu bị mua lại, với hy vọng kiếm lợi khi việc chuyển nhượng hoàn tất.

Balance of trade – Cán cân thương mại.
Chênh lệch giữa hàng hóa-dịch vụ xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong khoảng thời gian nhất định. Có thể áp dụng cho thương mại giữa hai quốc gia hoặc giữa một quốc gia và những nước khác trên thế giới. Nếu xuất khẩu thấp hơn nhậu khẩu thì có nghĩa là thâm hụt mậu dịch. Nếu xuất khẩu cao hơn nhập khẩu có nghĩa là thặng dư mậu dịch.

Balance of payments – Cán cân thanh toán.
Thống kê giao dịch kinh tế giữa một quốc gia và các nước khác trên thế giới. Về cơ bản, nó là toàn bộ nguồn tiền vào-ra của một đất nước.

Bank reserves – Dự trữ ngân hàng.
Khoản tiền mặt của các ngân hàng để bảo đảm cho số tiền gửi của khách hàng.

Bank reserves requirement – Yêu cầu dự trữ ngân hàng.
Tỷ lệ tiền gửi của khách hàng mà các ngân hàng thương mại phải giữ bằng tiền mặt để bảo đảm số tiền gửi, theo quy định của chính phủ. Tăng yêu cầu dự trữ sẽ làm giảm lượng tiền gửi mà một ngân hàng có thể cho vay hoặc đầu tư; còn giảm yêu cầu dự trữ có tác động ngược lại.

Barter – Chuyển đổi hàng hóa.
Buôn bán hàng hóa không cần dùng tiền. Đây là một trong những thông lệ buôn bán sớm nhất, nhưng vẫn được sử dụng tại các nền kinh tế mà người dân không tin hoặc ít tin tưởng vào hệ thống ngân hàng hoặc giá trị của đồng tiền. Trong buôn bán quốc tế, chuyển đổi hàng hóa là thông lệ phổ biến giữa các nước có đồng tiền không hấp dẫn.

Bear market – Thị trường đầu cơ hạ giá.
Giai đoạn giá cổ phiếu giảm kéo dài, thông thường là hậu quả của việc hoạt động kinh tế giảm sút hoặc dự đoán kinh tế sẽ đi xuống.

Blue-chip stocks – Cổ phiếu thượng hạng.
Cổ phiếu của các công ty nổi tiếng là luôn đạt lợi nhuận cao và luôn thanh toán cổ tức đúng hạn.

Bond – Trái phiếu.
Chứng nhận do một công ty hoặc một chính phủ phát hành cho người nào đó mà công ty hoặc chính phủ đó vay tiền. Trái phiếu ghi rõ số tiền vay, lãi suất phải trả, thời hạn thanh toán và thế chấp nếu không thanh toán được. Thời hạn thanh toán thường lâu, khoảng 7 năm trở lên.

Book value – Giá trị trên sổ sách.
Trong các công ty, giá trị trên sổ sách của cổ phiếu là chênh lệch giữa các tài sản của công ty và các khoản nợ. Nó có thể không liên quan đến giá bán của cổ phiếu.

Bottom line – Lợi nhuận hoặc khoản lỗ tịnh của một giao dịch hoặc hoạt động kinh doanh của một công ty. Nó thường đề cập đến thông báo thu nhập của các công ty và có nghĩa là thu nhập tịnh, hoặc lợi nhuận sau thuế, chi phí và các khoản chi bất thường.

Broker – Người môi giới.
Một đại lý chuyên xử lý các lệnh phát hành công khai để mua và bán chứng khoán, hàng hóa, bất động sản hoặc các tài sản tài chính hoặc hữu hình khác. Người môi giới thường hoạt động theo kiểu hưởng hoa hồng.

Bull market – Thị trường đầu cơ tăng giá.
Giai đoạn giá cổ phiếu tăng kéo dài, thông thường do hoạt động kinh tế tăng mạnh hoặc dự đoán kinh tế sẽ đi lên.

CAC THUAT NGU CHUNG LIEN QUAN DEN WTO






Trong quá trình đọc các tài liệu về WTO, bạn sẽ bắt gặp nhiều thuật ngữ xung quanh các quy định, nguyên tắc, hiệp định của tổ chức này. Tuổi Trẻ Online hệ thống lại các thuật ngữ đó như sau:


Hội nghị Bộ trưởng: Cơ quan quyết định tối cao của WTO, bao gồm các Bộ trưởng của tất cả các thành viên, nhóm họp ít nhất 2 năm 1 lần.

Đại hội đồng: Cơ quan quyết định tối cao của WTO trong thời gian giữa các khoá họp của Hội nghị Bộ trưởng; bao gồm các đại diện của các thành viên WTO, thường là các nhà ngoại giao thường trú tại Giơnevơ.

Vòng đàm phán Uruguay: Vòng đàm phán thương mại đa phương bắt đầu từ tháng 9 - 1986 tại thành phố Punta del Esta ở Uruguay, và kết thúc tại Giơnevơ vào tháng 12 - 1993. Các Bộ trưởng đã ký Biên bản cuối cùng ghi nhận các kết quả đạt được tại vòng đàm phán này tại hội nghị Bộ trưởng ở Marrakesh (Marốc) tháng 4 năm 1994.

GATT: Hiệp định chung về thuế quan và thương mại, là tiền thân của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Phiên bản mới của hiệp định này từ nay là một phần trong các Hiệp định của WTO.

GATT 1947: Phiên bản cũ của Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (trước phiên bản GATT 1994).

GATT 1994: Phiên bản mới của GATT và là một phần của Hiệp định về WTO, điều chỉnh các vấn đề về thương mại hàng hoá.

MFN - Quy chế tối huệ quốc (được ghi trong điều 1 của GATT 1994, điều 2 của GATS và điều 4 của Hiệp định TRIPS): là nguyên tắc bắt buộc một nước không được có sự phân biệt đối xử giữa các nước đối tác trong thương mại.

TPRB, TPRM - Cơ quan kiểm điểm chính sách thương mại - khi Đại hội đồng nhóm họp theo những trình tự bất thường nhằm kiểm điểm chính sách và hoạt động thương mại của các thành viên WTO trong khuôn khổ một Cơ chế kiểm điểm chính sách thương mại.

Chương trình tiếp nối: Các công việc phải tiến hành sau năm 1995 được xác định trong các Hiệp định của WTO.

Chế độ đối xử quốc gia: Nguyên tắc bắt buộc một quốc gia phải dành cho đối tác nước ngoài cùng một chế độ đãi ngộ như đối với các thể nhân và pháp nhân trong nước. Điều III của GATT 1994 qui định các hàng hoá nhập khẩu sau khi hoàn thành thủ tục hải quan phải được đối xử giống như đối với hàng hoá cùng loại trong nước. Điều XVII của GATS và điều 3 của Hiệp định TRIPS cũng đề cập đến những qui định về nguyên tắc đối xử quốc gia trong thương mại dịch vụ và quyền sở hữu trí tuệ.

Minh bạch: Sự đánh giá về tính công khai và dễ dự đoán của các chính sách và tập quán thương mại cũng như quá trình triển khai chúng.

ITA - Hiệp định về công nghệ thông tin - còn gọi là Tuyên bố của các Bộ trưởng về thương mại sản phẩm công nghệ thông tin; theo hiệp định này đến năm 2000 các nước tham gia sẽ phải dỡ bỏ thuế quan đối với loại sản phẩm này.

ITA II: các cuộc đàm phán nhằm mở rộng danh mục các sản phẩm trong Hiệp định ITA.

Thương mai điện tử: các hình thức sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm thông qua các mạng lưới viễn thông.

Cố định mức thuế trần: cam kết không được tăng thuế quan lên cao hơn mức đã thoả thuận. Trong trường hợp một mức thuế quan trần được ấn định, sẽ không được phép nâng thuế quan lên cao hơn mức này nếu không có hình thức bù lỗ cho bên bị thiệt hại.

Mức thuế đỉnh: mức thuế quan tương đối cao, thường được áp dụng đối với các sản phẩm "nhạy cảm" trong khi mặt bằng thuế quan chung lại thấp. Đối với các nước công nghiệp phát triển, mức thuế trần15% thường được coi là "mức thuế đỉnh".

Thuế quan: loại thuế áp dụng cho các mặt hàng nhập khẩu. Được tính theo giá trị hàng hoá (theo tỷ lệ phần trăm của giá trị hàng hoá) hoặc theo một cơ sở cố định (ví dụ 7 đô la trên 100 kg). Thuế quan sẽ tạo lợi thế về giá cho các sản phẩm nội địa cùng loại và là một nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Mức thuế hại: mức thuế quan thấp đến mức chi phí cho việc thu thuế còn cao hơn số tiền thu được.

Free-rider - hay quốc gia được hưởng lợi mà không cần phải có đi có lại - Đây là thuật ngữ được sử dụng để chỉ một nước không đưa ra các cam kết nhượng bộ trong thương mại nhưng lại được giảm thuế quan và có được sự nhượng bộ của các nước thông qua đàm phán trên cơ sở nguyên tắc tối huệ quốc.

CAC THUAT NGU KINH TE THUONG DUNG (C-D)



Nhiều thuật ngữ dưới đây dựa trên tài liệu chuẩn nội bộ và danh mục các định nghĩa của tờ Wall Street Journal. Các định nghĩa khác được chọn từ cuốn Hướng dẫn viết tin kinh tế Columbia Knight-Bagehot, do Pamela Hollie Kluge biên soạn.

Capital gain – Lợi nhuận vốn.
Chênh lệch giữa giá mua và giá bán một cái gì đó được mua như là khoản đầu tư – ví dụ như bất động sản hoặc cổ phiếu.

Capital flight – Di chuyển vốn.
Sự di chuyển của một khoản tiền lớn từ quốc gia này sang quốc gia khác để tránh biến động chính trị hoặc kinh tế hoặc để kiếm lợi từ các khoản đầu tư với lợi nhuận cao.

Capitalism – Kinh tế thị trường tự do/Chủ nghĩa tư bản.
Một hệ thống kinh tế dựa trên giả định rằng thị trường quyết định lượng hàng hóa sản xuất ra cũng như giá của các hàng hóa này. Trung tâm của nền kinh tế thị trường tự do là sở hữu cá nhân về tư liệu sản xuất và tài sản, và sự tham gia tối thiểu của chính phủ. Một nền kinh tế thị trường tự do hoàn toàn không tồn tại mà nói chung được pha trộn, với sự can dự đến chừng mực nào đó của chính phủ.

Cartel – Cácten.
Một nhóm các doanh nghiệp hoặc các quốc gia thỏa thuận gây tác động đến giá cả bằng cách tác động đến sản xuất và việc đưa một loại sản phẩm ra thị trường. Tổ chức các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) là cácten đương đại nổi tiếng nhất.

Cash cow – “Bò cái” tiền mặt.
Một doanh nghiệp tạo được nguồn tiền vào ổn định và có thể dự đoán trước được. Một doanh nghiệp như vậy thường có tên hiệu lâu đời và được người tiêu dùng thừa nhận. Cổ phiếu của những doanh nghiệp này có mức cổ tức đáng tin cậy.

Cash flow – Lưu kim (Nguồn tiền vào).
Đối với hầu hết các công ty nghĩa là khoản thu nhập tịnh sau thuế nhưng trước khi khấu hao.

Central bank – Ngân hàng trung ương.
Cơ quan giám sát hoạt động ngân hàng của một quốc gia và được phép ban hành tiền tệ.

Centrally planned economy – Nền kinh tế kế hoạch tập trung.
Ngược lại với nền kinh tế thị trường tự do vì không phải thị trường mà chính quyền trung ương mới chịu trách nhiệm về nền kinh tế, kể cả việc sản xuất cái gì với khối lượng bao nhiêu và bán cho người tiêu dùng với giá nào.

Closely held – Đề cập đến những công ty mà cổ phiếu và quyền kiểm soát bỏ phiếu tập trung trong tay một vài nhà đầu tư, nhưng cổ phiếu vẫn được giao dịch tới một mức độ hạn chế.

Collateral – Thế chấp.
Cổ phiếu hoặc tài sản mà người vay phải trao cho người cho vay nên không có khả năng thanh toán một khoản vay.

Commercial paper – Thương phiếu.
Những trách nhiệm ngắn hạn mà các công ty công nghiệp hoặc tài chính sử dụng để có tiền mặt. Người vay đồng ý thanh toán một lượng tiền cụ thể vào một thời hạn định rõ.

Commodity – Hàng hóa.
Xét theo ý nghĩa chung, đó là bất cứ thứ thì được mua và bán. Xét ý nghĩa trên thị trường tài chính, đó là một sản phẩm khai mỏ hoặc nông nghiệp trước khi chế biến.

Commodity option – Quyền, nhưng không phải trách nhiệm, mua hoặc bán hợp đồng hàng hóa giao sau tại một thời điểm cụ thể trong khoảng thời gian cụ thể.

Commodity futures – Hợp đồng hàng hóa kỳ hạn.
Hợp đồng mua hoặc bán một lượng hàng hóa nhất định với giá thỏa thuận trong một khoảng thời gian cụ thể.

Convertible bond – Trái phiếu có thể chuyển đổi.
Một trái phiếu mang giả định rằng có thể được đổi lấy một lượng cổ phiếu cụ thể trong công ty phát hành trái phiếu đó.

Coupon – Phiếu trả lãi.
Mẩu giấy gắn vào trái phiếu mà người nắm cổ phiếu tập hợp lại vào các thời điểm cụ thể và giao cho bên phát hành trái phiếu để được thanh toán lãi suất.

Currency controls – Các biện pháp kiểm soát tiền tệ.
Khi sử dụng các biện pháp kiểm soát tiền tệ, tiền tệ không thể chuyển đổi được nữa vì mọi hoạt động mua-bán ngoại tệ được tiến hành thông qua một cơ quan do chính phủ chỉ định nhằm quy định tỷ giá có lợi cho các sản phẩm và hoạt động kinh doanh mà chính phủ muốn bảo hộ.

Currency devaluation – Phá giá tiền tệ
Tiền tệ của một quốc gia bị phá giá khi chính phủ nước này cố tình giảm giá so với tiền tệ của các nước khác. Khi một quốc gia phá giá tiền tệ của mình, hàng nhập khẩu sẽ đắt hơn trong khi hàng xuất khẩu rẻ đi ở nước ngoài và nhờ đó mang tính cạnh tranh hơn.

Currency depreciation – Giảm giá tiền tệ
Tiền tệ của một quốc gia bị giảm giá khi giá trị của nó bị xuống giá so với tiền của các nước khác hoặc so với giá trị trước đó.

Debtor nation – Nước thiếu nợ.
Một quốc gia có các khoản nợ các chủ nợ nước ngoài nhiều hơn số mà các nước khác nợ họ. Ngược lại gọi là “creditor nation” - nước chủ nợ.

Default – Vỡ nợ.
Một người, công ty hay chính phủ bị coi là vỡ nợ nếu không đáp ứng được các điều khoản thanh toán.

Deficit financing – Tài trợ bằng thâm hụt ngân sách.
Chủ trương chấp nhận thâm hụt ngân sách của chính phủ để tăng thêm chi tiêu cho các công trình công cộng. Nó kích thích kinh tế trong một thời gian nhưng cuối cùng trở thành trở ngại kinh tế vì đẩy lãi suất lên.

Deficits – Thâm thủng.
Thâm thủng hoạt động là khoản tiền mà tổng chi phí và chi tiêu vượt tổng thu nhập. Trong tài chính công, thâm thủng là khoản mà mức chi của chính quyền vượt quá thu nhập.

Depreciation – Khấu hao.
Mức giảm giá trị tư liệu sản xuất do sử dụng làm cũ đi, hỏng hoặc lỗi thời. Khoản khấu hao dự tính có thể được khấu trừ từ thu nhập hàng năm như là chi phí để tiến hành hoạt động kinh doanh. Theo cách phương pháp tính toán khấu hao dần, chi phí máy móc và thiết bị được trừ những khoản đều nhau trong mỗi năm sử dụng tài sản đó đã được quy định trước. Theo phương pháp khấu hao nhanh, chi phí máy móc thiết bị được trừ trong vài năm đầu sử dụng.

Dividend – Cổ tức.
Khoản tiền chi cho mỗi cổ phần sau mỗi năm cho người giữ cổ phiếu thông thường. Cổ tức là một phần của thu nhập trên mỗi cổ phần. Tuy nhiên, nếu một công ty cho thấy không có lãi trong một khoảng thời gian nhất định thì có thể dùng khoản lãi từ các khoảng thời gian có lãi để thanh toán cổ tức theo đúng kế hoạch.

Dumping – Phá giá.
Việc xuất khẩu hàng hóa của một công ty với mức giá thấp quá mức, thường để đánh vào doanh số của các công ty cạnh tranh tại nước nhập khẩu.

Durable goods – Hàng bền.
Hàng hóa như máy móc và đồ dùng gia đình được coi là có thể sử dụng tốt trong ít nhất 3 năm.





TOI DANG LA MOT NHA DAU TU CHUNG KHOAN !!!

Sai lầm của các nhà đầu tư chứng khoán Việt Nam





Trong không khí nóng bỏng của TTCK Việt Nam, xin mạn phép trình bày một số sai lầm của các nhà đầu tư chứng khoán. Cái này đúc kết từ kinh nghiệm và quan sát. Nhưng sự thật là sự thật, vì một thị trường lành mạnh và bền vững, bài viết sẽ rất trung thực.

1. Nghe hơi nồi chõ.
Thông tin rất quan trọng trên thị trường, nhưng vì thiếu hiểu biết, nhiều nhà đầu tư có xu hướng nghe ngóng. Tin thì đủ loại, trên trời, dưới biển, vận hành, tài chính, tổ chức... Có điều chẳng mấy ai có khả năng kiểm định. Vì vậy, cái sự nghe trở nên láng máng, truyền tai nhau hết sức nguy hiểm.
Thông thường, họ tìm một số nhân vật có khả năng "hót hay như khướu" hoặc tìm một vài cán bộ môi giới-tư vấn của chính các công ty chứng khoán. Cái này có mấy điểm hại sau:

* Không khách quan vì bản chất là xung đột lợi ích.

* Không đảm bảo chính xác vì có khi người nói cũng không biết mình đang nói gì.

* Không có bộ lọc vì thế không thể biết cái vừa nhận được là vàng hay thực tế là rác.

* Luôn luôn muộn, vì khi nghe được thì cũng rất nhiều người khác đã nghe được.

2. Không có kỳ vọng đầu tư riêng.
Nói giản dị là không biết mình muốn gì, ngoài một nguyện vọng ngất trời cao là Lợi Nhuận. Không như các nhà đầu tư nước ngoài,họ biết rất chính xác điều họ muốn, và vì phần lớn là các quỹ dạng Mutual Fund, nên các chính sách của họ tương đối nhất quán, ổn định. Họ không nhảy ra nhảy vào thị trường liên hồi, gây ra các chi phí giao dịch lớn trong khi chưa rõ hiệu quả .

Việc không đặt kỳ vọng đầu tư cho mình cũng có nghĩa là để thị trường thao túng ước vọng. Ví dụ, lãi 20% trong vòng 3 tháng đã là tốt, nhưng vì ước muốn 40% trong vòng 4 tháng nên kết cục không những không bán được cả "hàng" mà còn chết tắc với số tiền đầu tư. Không có kỳ vọng còn liên quan tới một hiện tượng nữa là kỳ vọng bị bóp méo hoặc chèn ép.

3. Tâm lý bầy đàn.
Chứng minh bằng số liệu và mô hình thống kê toán cho thấy Hiệu ứng bầy đàn rất mạnh ở Việt Nam, và theo số liệu của chúng tôi là mạnh nhất thế giới. Hiệu ứng này đặc biệt mạnh khi giá thị trường tăng trong một khoảng thời gian liên tiếp khá dài.

Hệ quả trực tiếp là người đầu tư từ bỏ cả kỳ vọng cá nhân, để theo đuổi mức kỳ vọng của đám đông trên thị trường, khiến cho khoảng cách chiến lược đầu tư tiến dần tới epsilon bé tí. Trong khi đó, tính thanh khoản tạo ra do các Delta >> epsilon, và con người có các xu hướng giao dịch trái chiều.

Hệ quả thứ hai, cũng trực tiếp, là tính thanh khoản giảm dần. Mà tính thanh khoản chính là giá trị lớn nhất, duy nhất của TTCK (chứ không phải theo quan niệm sai lầm chung là tính năng huy động vốn) Khi tính thanh khoản trở nên mờ nhạt không còn mang tính quyết định thì thị trường biến thành Casino. Thực sự là Casino vì mọi người cho rằng nó là cỗ máy kiếm tiền, xay ra tiền, nhào ra tiền, và đâu cũng là tiền... Chúng ta bằng sự nhìn nhận bình thường sẽ hiểu rằng điều này quá sai lầm và hoàn toàn tự huyễn hoặc.

4. Quan tâm tới lợi nhuận nhưng không quan tâm tới bổ sung kiến thức.
Phần lớn nhà đầu tư chỉ quan tâm tới lợi nhuận, và chỉ nhăm nhăm tới những thông tin không xác thực ngoài luồng. Điều này thật sai lầm. Kiến thức khác thông tin. Kiến thức là một bộ lọc thông tin có phương hướng, có chủ đích và có phương pháp.

Việc chỉ chăm chắm đào bới các thông tin ngoài luồng không làm các nhà đầu tư khôn ngoan hơn, có khi còn làm “loạn hết óc” trong thời buổi thông tin bùng nổ. Chính vì không bổ sung kiến thức, nên thị trường hỗn loạn trong các dòng chảy thông tin. Mệt mỏi với thông tin càng khiến cho người ta dễ từ bỏ các kỳ vọng cá nhân, để hào hứng đi theo sự vẫy gọi của "hiệu ứng bầy đàn".

5. Tin rằng "mình khôn ngoan nhất".
Họ cho rằng chỉ có họ mới là khôn ngoan nhất, đó là biểu hiện của thiếu kiến thức. Chính vì thiếu kiến thức, nhà đầu tư cũng không mấy khi quan tâm thực sự tới các cách thức tính toán, quản trị và phân tán rủi ro ngân quỹ tài sản của mình.

Ôi cái sự đời mới trớ trêu làm sao. Tôi sẽ xin lược trích một số ý kiến sau này của GS Farber một trong những chuyên gia tài chính hàng đầu thế giới về hiện trạng mà 5 năm qua hầu như chưa thay đổi gì: “Chúng tôi cũng đầu tư, cũng hoạt động, cũng cung cấp dịch vụ tài chính... với cả một đội ngũ cộng sự dày công chăm chỉ rèn luyện... chứ không ầm ờ, bát nháo đâu. Và vì thế, chúng tôi hiểu thị trường nó không như phần lớn các nhà đầu tư nghĩ”.


Bí quyết đầu tư của 5 ông trùm chứng khoán

Qua các hồ sơ và tư liệu lưu giữ, các nhà phân tích nhận thấy một điểm khá thú vị cả 5 nhà giao dịch cổ phiếu vĩ đại nhất những năm 1890 là Jesse Livermore, Bernard Baruch, Gernal M.Loeb, Nicolas Darvas và William J.O'Neil đều áp dụng chiến lược và các nguyên tắc kinh doanh khá giống nhau.

Cuốn sách "Giàu từ chứng khoán".

Những nhà kinh doanh này không nhất thiết phải có số vốn lớn khi bắt đầu sự nghiệp kinh doanh và để tăng số vốn này lên thành khoản tiền kếch xù. Livermore bắt đầu sự nghiệp của mình với vẻn vẹn chỉ một vài đôla (đó là vào năm 1892), còn O'Neil cũng chỉ có 500 đôla làm vốn kinh doanh ban đầu.

Thế nhưng, thua lỗ trong những năm đầu kinh doanh đã giúp họ ra nguyên nhân cho những thất bại ấy. Họ nhận ra rằng với sự quyết tâm và thái độ đúng đắn, tự tạo dựng những nguyên tắc cho riêng mình thì mọi người đều có thể kiếm được số tiền đáng mơ ước khi bắt đầu tham gia vào thế giới giao dịch cổ phiếu. Họ nhận ra rằng giao dịch cổ phiếu không phải là công việc dễ dàng và quan niệm của rất nhiều người cho rằng có thể làm giàu nhanh chóng mà không cần cố gắng là hoàn toàn sai lầm.

Điều thú vị là, cả 5 nhà giao dịch vĩ đại này đều áp dụng những nguyên tắc và kỷ luật giao dịch giống nhau. Xin giới thiệu cùng đông đảo bạn đọc.

Kỹ năng quan trọng số một mà tất cả các nhà giao dịch đều biết đó là tinh thần làm việc kiên cường. Bởi công việc giao dịch cổ phiếu cũng không có gì khác biệt so với những công việc khác. Phần thưởng xứng đáng sẽ giành cho những ai biết cố gắng nỗ lực để giành được nó.

Ngoài Darvas ra thì hầu hết các nhà giao dịch đều kết luận rằng do giao dịch cổ phiếu yêu cầu phải luôn luôn cố gắng nỗ lực không ngừng nên mọi người phải dành toàn bộ thời gian vào công việc này. Darvas là người duy nhất không dành toàn bộ thời gian của mình vào thị trường chứng khoán cũng như giao dịch cổ phiếu. Mỗi ngày, ông chỉ dành khoảng 8 tiếng để nghiên cứu thị trường và cho rằng thế là quá đủ.

Các nhà giao dịch chứng khoán cho rằng muốn kiếm được nhiều lợi nhuận thì họ phải làm việc chăm chỉ vì thành công không thể đến một sớm một chiều được. Yếu tố thời gian đã chứng minh được rằng cũng giống như hầu hết những nỗ lực đem lại kết quả, thành công bất ngờ không thường xuyên xuất hiện trên thị trường cổ phiếu. Nếu điều này trở thành hiện thực thì nó cũng sẽ không kéo dài lâu nếu nhà giao dịch không tập trung chú ý, không nỗ lực kinh doanh và không áp dụng những nguyên tắc giao dịch hợp lý.

Điểm chung thứ hai là các nhà giao dịch cổ phiếu này đều cho rằng kinh nghiệm đóng vai trò rất quan trọng. Họ học hỏi từ chính những sai lầm của mình rút ra những bài học để đi tới thành công con đường sự nghiệp. Theo họ, các nhà đầu tư cần phải ghi nhớ những kinh nghiệm mình đã tích lũy được khi đối mặt với khó khăn để khi gặp những tình huống tương tự có thể nhanh chóng giải quyết. Điều này đặc biệt đúng trên thị trường chứng khoán vì mô hình cổ phiếu và xu hướng thị trường thường lặp đi lặp lại từ năm này sang năm khác và từ chu kỳ này sang chu kỳ khác.

Bên cạnh đó, một kỹ năng bắt buộc đối với một nhà giao dịch cổ phiếu đó là phải có khả năng kiểm soát cảm xúc. Để làm được điều này, nhà giao phải lập ra những nguyên tắc hợp lý giúp họ kiểm soát cảm xúc. Cân bằng cảm xúc, trong khi vẫn tích cực hoạt động trên thị trường, là khả năng mà một người giao dịch tốt phải có. Để làm được điều này, chỉ những người đã từng ở giữa ranh giới giữa thành công và thất bại mới hiểu ra những nguy hiểm mà cảm xúc có thể gây ra.

Loeb và Darvas đã phát hiện ra một số đặc điểm nhất định của một số loại cổ phiếu. Loeb đã miêu tả đúng nhất khi cho rằng cổ phiếu cũng có những giai đoạn giống như con người. Đó là giai đoạn phôi thai, phát triển, trưởng thành và suy thoái. Giai đoạn đầu tư đem lại nguồn lợi nhuận lớn nhất đó là giai đoạn phát triển. Còn O'Neil phát hiện thấy cổ phiếu tuân theo một số dạng nhất định và những dạng này sẽ tiếp tục còn lặp đi lặp lại và những cổ phiếu tốt nhất thường có những dạng hình thái giống nhau. Khả năng xác định dạng cổ phiếu và cổ phiếu đó đang ở giai đoạn nào sẽ là yếu tố đóng góp vào sự thành công của mỗi nhà giao dịch.

Những nhà giao dịch cổ phiếu vĩ đại này đều có một đặc điểm chung là họ có động cơ để đạt được mục tiêu to lớn đã đề ra và để thành công trên thị trường chứng khoán. Đặc biệt, Loeb và Darvas đều cho rằng đối với họ việc đặt ra mục tiêu chiến lược giành được lợi nhuận cao nhất có thể là vô cùng quan trọng. Livermore, Baruch và O'Neil rõ ràng là có động lực, sự bền bỉ và kiên trì - những yếu tố này đã thúc đẩy họ đạt được mục tiêu đã đề ra của mình.

Có khả năng phán đoán và tư duy tốt, có vốn hiểu biết chung và có tính khiêm nhường cũng là một trong những kỹ năng quan trọng mà các nhà giao dịch phải học nếu muốn thành công trong bối cảnh thị trường luôn chứa đựng nhiều thách thức. Sự thông minh chắc chắn sẽ giúp quá trình giao dịch diễn ra suôn sẻ hơn và đây cũng là một yếu tố cần phải có chứ không phải là điều kiện tiên quyết. Trên thực tế, thông minh hơn người đôi khi khiến con người rơi vào tình trạng quá tự tin và họ sẽ phải trả giá đắt cho sự tự tin thái quá của mình trên thị trường chứng khoán.

Các nhà giao dịch này đều coi trọng kỹ năng phản ứng nhanh và khả năng thay đổi để phù hợp với sự thay đổi của thị trường. Mặc dù Livermore đã từng phát biểu rằng thị trường không bao giờ thay đổi do bản tính con người không thay đổi. Thị trường chỉ thực sự thay đổi theo hướng với các công ty mới, thích nghi với những phát triển trong lĩnh vực kinh doanh, trong nền kinh tế và trong phạm vi toàn thế giới.

Phát biểu của ông đề cập việc mọi người phản ứng như thế nào trước một sự kiện xảy ra, phản ứng của mọi người cũng không thay đổi nhiều do bản tính của con người. Một nhà giao dịch giỏi phải có khả năng phản ứng với những biến động của chu kỳ thị trường. Những nhà giao dịch cổ phiếu không có khả năng thay đổi và phản ứng với thị trường sẽ phải trả một giá đắt.

Tất cả những nhà giao dịch cổ phiếu vĩ đại này đều phát hiện ra những kỹ năng được liệt kê ở trên trên con đường tìm kiếm thành công cho mình. Đây là những kỹ năng cơ bản và hợp lý, vấn đề khó khăn đó là họ phải áp dụng và hoàn thiện những kỹ năng này bằng cách chăm chỉ làm việc, tự mò mẫm học tập và phải cố gắng nỗ lực trong nhiều năm liền.

Cả 5 nhà đầu tư này đều có chung một quan điểm cho rằng giao dịch dựa trên việc nghe theo những lời khuyên từ người khác là một sai lầm. Có vẻ như mọi người đều có một ý kiến riêng về loại cổ phiếu nào đó và biết một số thông tin nóng. Bạn nên nghi ngờ những thông tin này. Rất nhiều nhà giao dịch vĩ đại đã học được bài học đắt giá khi nghe theo người khác. Livermore đã mất rất nhiều tiền khi nghe theo lời khuyên của Vua Cotton, Percy Thomas. Baruch cũng đã mất toàn bộ số vốn đầu tiên của mình và phần lớn số tiền của cha ông khi nghe theo lời khuyên đầu tư từ một người ngoài cuộc.

Những kinh nghiệm này đã khiến tất cả các nhà giao dịch tin rằng có lẽ nguyên tắc quan trọng nhất khi đầu tư cổ phiếu đó là hãy tự mình nghiên cứu thị trường và không nghe theo lời khuyên hay quan điểm của người khác. Từ việc tự mình nghiên cứu thị trường, lịch sử cổ phiếu, biểu đồ cổ phiếu… và việc không ngừng học hỏi, rút ra từ những kinh nghiệm thực tế, mỗi người đều tự hoàn thiện khả năng đưa ra quyết định phiên giao dịch và tự mình đưa ra những quyết định giao dịch. Họ đều tin rằng không ai có thể kiểm soát được thị trường nhưng các nhà giao dịch vẫn có thể thành công nếu họ làm việc chăm chỉ, không ngừng học tập và tự mình tiến hành nghiên cứu thị trường.

Ngay cả Gerald Loeb, năm 1965, cũng đã cập nhật thêm những chiến lược ông đã học được trong vòng 30 năm cho cuốn sách kinh điển của ông Cuộc chiến để tồn tại trong đầu tư cổ phiếu (The Battle for Investment Survival) được xuất bản lần đầu tiên năm 1935. William O'Neil rất tin tưởng vào nguyên tắc tự mình nghiên cứu thị trường nên ông đã sáng lập ra tờ Nhật báo Kinh doanh của Nhà đầu tư (Investor’s Business Daily) và nhờ vậy những nhà đầu tư cá nhân độc lập có một nguồn tham khảo để tự mình tiến hành nghiên cứu thị trường dựa trên thông tin có thực và không lệch lạc.

Một nguyên tắc giống nhau nữa của năm ông trùm cổ phiếu này là họ đều nghiên cứu rất kỹ lưỡng mỗi lần giao dịch của mình. Khi những nhà giao dịch này thua lỗ, họ không đổ lỗi cho thị trường hay cho cổ phiếu của họ. Họ quan sát những hành động của mình và quyết định phân tích nguyên nhân khiến cho họ thua lỗ. Hành động này rất quan trọng. Bạn phải tự chịu trách nhiệm với tất cả những lần giao dịch của mình, không được coi thị trường là nguyên nhân khiến mình bị thua lỗ. Bạn không nên tức giận với thị thường.

Thay vào đó, những nhà giao dịch này học được rằng chìa khóa để giảm thua lỗ và tiến bước trên con đường tìm kiếm lợi nhuận là liên tục phân tích những lần giao dịch và sau đó rút ra bài học từ những sai lầm này. Họ nắm rõ những lần giao dịch thành công của mình, do vậy, họ có thể loại bỏ những quyết định khiến họ bị thua lỗ và tận dụng những phiên giao dịch có thể kiếm được tiền lãi lớn. Tất cả họ đều ghi lại những lần giao dịch của mình và sau đó họ sẽ kiểm tra lại đặc biệt là xem lại những lần giao dịch thua lỗ. Thừa nhận và luôn xem xét những sai lầm của mình như một sự nhắc nhở là điều không hề dễ dàng, nhưng nó sẽ giúp rất nhiều trong quá trình học tập không ngừng và các nhà giao dịch vĩ đại này đã chứng minh rằng nó hoàn toàn đúng.

Trong quá trình tự mình nghiên cứu, họ đều giữ bí mật về những lần giao dịch của mình. Livermore và Darvas thậm chí đề cập việc họ sử dụng nhiều nhà môi giới tiến hành việc giao dịch giúp mình bởi vì họ không muốn mọi người biết những hành động của họ. Loeb cũng giữ im lặng về những lần giao dịch của mình, ông thậm chí không đề cập cụ thể những lần giao dịch đó trong những ấn phẩm của mình. O'Neil không tiết lộ thông tin giao dịch của mình cho tờ báo IBD hoặc không công bố những cổ phiếu ông đang nắm giữ.

Có được một cổ phiếu ăn khách, đang tạo ra nguồn lợi nhuận thực sự trên thị trường chứng khoán là một chuyện nhưng giữ cổ phiếu đó lại là một chuyện khác. Tạo ra một tài khoản tiền mặt là một đặc điểm chung nữa của những nhà giao dịch vĩ đại này. Baruch, Loeb và Darvas đều đã ngừng một số lần giao dịch để dự trữ. O'Neil chuyển lợi nhuận ban đầu sang cách thức đầu tư chiến lược khác, như là mua một ghế trong Thị trường Chứng khoán New York, thành lập công ty nghiên cứu đầu tư riêng và sau đó sáng lập nên tờ Nhật báo Kinh doanh của Nhà đầu tư. Livermore áp dụng phương pháp này nhiều hơn bất kỳ nhà kinh doanh nào khác, nhưng người ta đồn rằng ông đã để dành một quỹ rất lớn để tránh như trước kia khi bị mất hết số tiền lãi khổng lồ của mình.

Cả 5 nhà buôn tiền này đều cho rằng lúc nào cũng giao dịch trên thị trường không phải là chiến lược khôn ngoan. Đơn giản vì thị trường không phải lúc nào cũng mang lại cơ hội tốt nhất. Loeb và Darvas không tin tưởng vào việc tiếp tục giao dịch khi thị trường giảm giá hoặc có hiện tượng đầu cơ chờ giảm giá O'Neil cũng đồng tình với quan điểm trên. Livermore không cho rằng ông có khả năng kiếm được lợi nhuận khi chưa xác định được rõ ràng xu hướng của thị trường, ông luôn tìm kiếm cơ hội giao dịch khi thị trường lên giá hoặc xuống giá. Rút khỏi thị trường nghĩa là nhà giao dịch đứng ngoài thị trường, họ sẽ giao dịch trở lại khi có cơ hội tốt hơn. Thời gian yên tĩnh khi rút lui khỏi thị trường sẽ giúp họ có thêm cơ hội phân tích thị trường và xu hướng giá.

Nguyên tắc phân tích không ngừng trong khi rút lui khỏi thị trường cũng giống như việc luyện tập của những vận động viên hàng đầu trong những kỳ nghỉ. Bạn vẫn đạt phong độ đỉnh cao và chắc chắn rằng mình sẵn sàng chuẩn bị khi thời cơ giao dịch đến.

Nhiều nhà đầu tư được khuyên là nên giao dịch đa dạng các loại cổ phiếu để có thể giảm được rủi ro. Tất cả năm nhà giao dịch này đều không đồng tình với quan điểm trên. Trên thực tế, họ đều tin rằng việc kiếm được nhiều lợi nhuận nhất lại phụ thuộc việc bạn càng giao dịch càng ít cổ phiếu càng tốt và họ đã chứng minh được quan điểm của mình là đúng khi kiếm được nhiều triệu đôla.

Với những trải nghiệm và những sai lầm khi mua và nắm giữ số ít loại cổ phiếu của các công ty có trụ sở tại New York được giao dịch trên thị trường chính thức, họ đều phát hiện ra rằng nếu mua đúng loại cổ phiếu trong đúng bối cảnh thị trường và sau đó bán đúng thời điểm thì có thể kiếm được nhiều lợi nhuận. Nguyên tắc này nghĩa là tập trung giao dịch một số loại cổ phiếu hàng đầu - những cổ phiếu có nhu cầu lớn nhất tại thời điểm đó và không đầu tư vào những loại cổ phiếu mà bạn không hiểu nhiều về lĩnh vực đó, nguyên tắc này đã giúp họ trở thành người cực kỳ giàu có. Gerald Loeb đã từng nói rằng: “An toàn nhất là để tất cả số trứng của bạn vào một cái rổ và quan sát rổ đó”.

Khi nói đến việc đa dạng hóa cổ phiếu, những nhà giao dịch này cho rằng điều quan trọng là phải hiểu về lĩnh vực đang định đầu tư. Baruch rất tin tưởng việc nghiên cứu các thông tin về công ty càng nhiều càng tốt. Ông cũng cho biết việc thiếu hiểu biết về công ty định mua cổ phiếu là một trong những nguyên nhân chính khiến ông thua lỗ. Tự mình tuân theo nguyên tắc để xác định cổ phiếu nào đang là cổ phiếu hàng đầu và hiểu bối cảnh thị trường là những yếu tố cơ bản dẫn đến việc giao dịch cổ phiếu thành công.

Rõ ràng trong lĩnh vực cổ phiếu, rất nhiều nguyên tắc đã mang lại thành công cho những nhà giao dịch cổ phiếu vĩ đại lại ngược với quan điểm phổ biến từ trước tới nay. Giao dịch cổ phiếu cũng giống như một số việc trong cuộc sống, đôi khi tốt nhất là hãy lựa chọn đi trên con đường có ít người qua hơn. Qua những nhà giao dịch này, ta thấy rõ những nguyên tắc chung này rất có tác dụng. Do vậy ngày càng nhiều các lượng nhà đầu tư cổ phiếu áp dụng theo những nguyên tắc này với mục tiêu tạo ra được nhiều lợi nhuận trên thị trường.

HAY HANH DONG NHU WARREN BUFFET !!!




Đầu tư theo nguyên lý Warren Buffett

"Tôi muốn có những thương vụ tốt đến mức thậm chí một kẻ ngốc cũng có thể kiếm được tiền. Khi đầu tư, chúng tôi coi bản thân mình là những nhà phân tích kinh doanh chứ không phải là nhà phân tích thị trường", nhà buôn tiền lừng danh Warren Buffet bật mí bí quyết kinh doanh của mình.
Kiếm tiền theo cách của tỷ phú Warren Buffett

Warren Buffet chia nguyên tắc đầu tư của mình thành 4 nhóm, gồm nguyên lý kinh doanh với những đặc điểm cơ bản của bản thân doanh nghiệp; nguyên tắc quản lý với những phẩm chất quan trọng mà các nhà quản lý cấp cao phải thể hiện; nguyên lý tài chính gồm 4 quyết định tài chính then chốt mà một công ty phải duy trì. Cuối cùng là nguyên lý giá trị với hai hướng dẫn có quan hệ mật thiết với nhau về giá mua.

Xin giới thiệu cùng độc giả nguyên tắc thứ nhất trong nguyên lý đầu tư của Warren Buffett.

Buffett không coi chứng khoán là một thứ gì đó rất trừu tượng. Ông cũng không nghĩ theo khía cạnh các lý thuyết thị trường, khái niệm vĩ mô, hay xu hướng của ngành. Thay vào đó, ông đưa ra quyết định đầu tư chỉ dựa trên việc doanh nghiệp đó hoạt động như thế nào. Ông tin rằng nếu lựa chọn một vụ đầu tư chỉ vì bề ngoài chứ không dựa trên nền tảng cơ bản của hoạt động kinh doanh, thì khả năng gặp thất bại là rất lớn. Do vậy, Buffett tập trung vào nghiên cứu thận trọng tất cả những gì ông biết về công ty, tập trung vào ba vấn đề chính:

1. Công việc kinh doanh của công ty có đơn giản và dễ hiểu không?

2. Công ty có lịch sử hoạt động hợp lý không?

3. Công ty có triển vọng kinh doanh trong dài hạn không?

Theo quan điểm của Buffett, thành công tài chính của các nhà đầu tư có mối quan hệ mật thiết với trình độ hiểu biết công việc của họ. Do vậy, cần phân biệt những nhà đầu tư có định hướng kinh doanh với những nhà đầu tư “kinh doanh kiểu chộp giật”. Một quyết định mua hay không mua là rất quan trọng bởi xét cho cùng, sau khi nghiên cứu, các nhà đầu tư phải cảm thấy thuyết phục rằng công ty mà họ mua sẽ hoạt động tốt trong tương lai. Họ phải tin tưởng vào khả năng dự đoán lợi nhuận trong tương lai của mình. Họ hiểu sâu như thế nào về các nền tảng kinh doanh của công ty đó. Dự đoán tương lai luôn luôn đòi hỏi phải tinh tế. Mọi việc sẽ càng trở nên khó khăn hơn trên một thương trường mà bạn không hiểu gì về nó cả.

Qua nhiều năm, Buffett sở hữu nhiều loại hình công ty: Nhà ga, nông trại, công ty dệt may, nhà bán lẻ quan trọng, ngân hàng, công ty bảo hiểm, hãng quảng cáo, công ty xi măng, báo chí, đồ uống và thực phẩm, công ty truyền hình và truyền hình cáp... Ông kiểm soát một số công ty trong số này và một số khác ông đã hoặc đang là một cổ đông. Nhưng trong tất cả các trường hợp, ông đã hoặc đang nhận ra chính xác những công ty đó hoạt động như thế nào. Ông hiểu rõ doanh thu, chi phí, lưu lượng tiền mặt, mối quan hệ nhân công, sự linh hoạt của giá, và nhu cầu phân bổ nguồn vốn của mỗi công ty cổ phần đơn vị của Berkshire.

Buffett duy trì mức độ hiểu biết cao về các ngành kinh doanh của tập đoàn Berkshire vì ông chỉ lựa chọn các công ty trong phạm vi hiểu biết tài chính và trí tuệ của mình. Ông gọi đó là “vòng tròn khả năng”: