GRE là một test khó
Sunday, December 10, 2006 4:33:36 AM
Phuocnguyen155@gmail.com
Khi bạn muốn đi học sau đại học đối với các chuyên ngành tự nhiên thì GRE gần như là kì thi bắt buộc để bạn có thể hoàn tất hồ sơ apply. Sáng chủ nhật hôm nay mình xin giới thiệu bài viết của bạn Nguyễn Hữu Phước Nguyên (du học sinh Malaysia) về chính kinh nghiệm học và thi GRE.
GRE là một test khó. Yêu cầu cao về khả năng ngôn ngữ cũng như kỹ năng làm bài thi.
Khả năng ngôn ngữ mà tôi muốn nói đến đây là số lượng từ vựng và sự cảm nhận về ngôn ngữ. GRE đòi hỏi một vốn từ khá lớn, xấp xỉ 5000 từ. Số từ này có thể không quá nhiều nếu như nó là những từ thông dụng, nhưng nó là những từ rất ít dùng trong giao tiếp hàng ngày, thậm chí trong các sách dùng để giảng dạy trong chương trình đại học của các nước những từ này cũng rất ít găp. chính vì điều này mà GRE trở nên khó hơn rất nhiều, không chỉ đối với các bạn học trong nước mà cả với những người du học, không chỉ đối với nhưng nước như Việt Nam, mà còn cả với những nước tiếng Anh được dùng rộng rãi. GRE không đơn thuần chỉ kiểm tra từ vựng, mà cái quan trọng và khó hơn, theo tôi nghĩ, là sự cảm nhận về ngôn ngữ. Chắc khi học tiếng Anh các bạn đều nhân ra sự khác biệt lớn trong cách diễn đạt giữa tiếng Anh và tiếng Việt. Sự khác biệt không chỉ thể hiện ở trong các cấu trúc ngữ pháp mà còn trong cách diễn đạt, cách hiểu ngôn ngữ. Nhiều lúc chúng ta biết hết nghĩa của từ trong câu nhưng hiểu nghĩa của câu vẫn rất lờ mờ. Nếu như các bạn đã từng học tiếng Trung thì sẽ thấy nó gần gũi và dễ hiểu hơn nhiều so với tiếng Anh, mặc dù về ngữ pháp tiếng Trung cũng có nhiều cái khác. Theo tôi nghĩ sự khác biệt này chính là rào cản lớn nhất trong việc học tiếng Anh, đặc biệt trong ngôn ngữ theo kiểu hàn lâm của GRE.
Bên cạnh đó, để đạt được điểm cao trong GRE, bạn phải có một kỹ năng làm bài hoàn hảo, và một khả năng tập trung cao độ trong áp lực rất lớn của thi cử. Không ngẫu nhiên mà GRE trở thành một trong nhưng tiêu chuẩn quan trọng khi xét hồ sơ vào các graduate school ở Mỹ. Không đơn thuần là những chỉ số đẹp về khả năng ngôn ngữ, tính toán,suy luận, thành công trong GRE còn có nghĩa là bạn có khả năng làm việc kiên trì bền bì trong một thời gian dài, khả năng tập trung cao độ cũng như chịu được áp lực cao. Những khả năng rất quan trọng cho thành công trong nghiên cứu.
Trên đây tôi đã trình bày về một số khó khăn đặc thù của GRE, vây thì nên học GRE như thế nào cho hiệu quả? Tôi xin được chia sẻ một số kinh nghiệm như sau:
1. Học từ vựng
Đây là phần mất nhiều thời gian nhất, nhàm chán nhất, và cũng là quan trọng nhất trong quá quá trình chuẩn bị cho thi GRE. Vì vậy phần này cần phải được quan tâm hơn hết.
i. Nên học bao nhiêu từ?
Không có một số liệu chính thức về số lượng từ GRE. Nhưng dựa vào các wordlist và các sách luyện phổ biến, 5000 là số từ của GRE.
Cũng kô có một mối liên hệ chính thức giữa số lượng giữa số từ và điểm. Điểm số còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố chủ quan và khách quan khác. Nhưng dựa vào kinh nghiệm mà tôi thu thập và đúc rút ra, thì với một vốn từ khoảng 1000- 2000 điểm verbal sẽ vào khoảng 300-400, 2000-3000 từ điểm sẽ vào khoảng 400-500, 3000-5000 từ điểm sẽ vào khoảng 500-700. Sự ước lượng trên dựa vào giả sử khả năng làm bài ở mức độ trung bình ở các phần mà vốn từ vựng có ít tác dụng, reading và sentence completion. Cũng xin nhắc lại, các ước lượng chỉ là chủ quan, tôi đưa ra với mục đích giúp bạn có một cảm nhận cụ thể hơn về vai trò của từ vựng.
ii. cần bao nhiêu thời gian cho phần này?
Tùy vào tốc độ và số lượng từ bạn học. tuy nhiên, từ vựng cần có thời gian để “ngấm”. 3 tháng là tối thiểu cho khoảng 5000 từ. Nếu bạn chỉ có khoảng 1-2 tháng, tốt nhất là học list những từ hay gặp, ví dụ như Princeton Review khoảng 450 từ ( recommended); Kaplan 200 từ gồm cả ví dụ và từ đồng âm, có thể lên đên 7-800 từ, Kaplan phần này khá hay, bạn nên xem qua; Nova 400 từ, chỉ nên dùng để đối chiếu, vì nghĩa của từ ko đây đủ lắm. Hãy học những từ này trước, nếu còn thời gian thì tiếp tục học các word list nhiều từ hơn.
iii. hoc tài liệu nào?
Hiện nay có nhiều wordlist để học, ví dụ như Kaplan, Taisha, Barron, Big book, Nova. Nhưng theo ý kiến của nhiều người Barron vẫn được tin cậy nhất. Từ ngữ ở các tài liệu hầu hết đều giống nhau, vì vậy chỉ nên học một tài liệu thôi, sau khi học xong có thể kiểm tra lại bằng các tài liệu khác.
Ngoài ra có một số phần mềm hỗ trợ học tập khá hay, điển hình là wordhacker, vocaboly, word flash. Các phần mềm này đều có thể tải miễn phí từ www.dowload.com , key để crạck bạn có thể vào các trang chuyên crack để tìm. Ưu điểm của các phần mềm là có phát âm, ví dụ và có thể tạo các bài test để kiểm tra nhưng từ đã học.
iv. học như thế nào?
Cách học từ phổ biến nhất, có lẽ cũng là hiệu quả nhất, là chia nhỏ số lượng từ ra để học.
Ví dụ bạn cần học 3000 từ trong 3 tháng. Có nghĩa là mỗi tháng bạn cần học 1000 từ, mỗi tuần 250 từ. Tuy nhiên có nên ngày nào cũng học từ ko? Theo tôi ko nên. Tốt nhất bạn nên dành ra mỗi tuần ít nhất 1 ngày để ôn lại từ đã học. trong ví dụ đưa ra, bạn có thể học mỗi ngày 42 từ, 6 ngày học xong 250 từ. ngày còn lại dành để ôn lại những từ đã học.
Một điều rất quan trọng trong học từ vựng là phải quản lý được số từ bạn đã học. từ rất dễ quên. Để nhớ được một từ suốt đời, khoa học đã chứng minh cần khỏang 15 lần recall/ repetition. Tuy nhiên với GRE ta chỉ cần nhớ đến khi ra khỏi phòng thi là ổn rồi , theo tôi chỉ cần 6-7 lần lặp lại là đủ.
Học bao nhiêu từ mỗi ngày tùy thuộc vào khả năng của mỗi người. Tuy nhiên mỗi ngày học 50 từ là hoàn toàn nằm trong khả năng của mọi người. Có thể bạn ko tin tôi, nhưng học từ vựng với trí nhớ cũng như chạy bộ với cơ thể mình vậy. Lúc mới bắt đầu học, 20 từ một ngày là cả một vấn đề, cũng như lúc mới bắt đầu tập chạy, 5km/ 1 lần chạy quả là một thách thức lớn. Nhưng nếu bạn bắt đầu bằng 2km/1lần, tập đều đặn, và tăng dần quãng đường, mỗi tuần 1 km, thì sau 1 tháng bạn sẽ thấy 5km/1 lần sẽ chẳng thành vấn đề. Cũng tương tự cho từ vựng. hãy bắt đầu với con số mà bạn đã bắt đầu cảm thấy khó khăn, 20 từ chẳng hạn. 4 ngày đầu bạn học với tốc độ 20 từ/ ngày. Sau đó cứ 2 ngày bạn tăng số từ lên 10, sau khoang 1 tuần bạn hoàn toàn có thể học 50 từ/ ngay. Thời gian đầu sẽ rất mệt, nhưng đừng có nản, đầu óc cần thời gian để thích nghi. Sau khoảng 1 tháng bạn sẽ thấy 50 từ / ngày sẽ không thành vấn đề. Thậm chí bạn có thể học hơn thế nữa, theo tôi được biết, có nhưng người học hơn 100 từ/ 1 ngày. Tùy vào khả năng của mỗi người, nhưng cho dù học với tốc độ như thế nào đi nữa, thì cũng phải đảm bảo rằng sau một tuần, 1 tháng, và trước khi thi bạn vấn nhớ được từ đã học. Hãy kiểm tra và tìm ra cho mình một tốc độ thích hợp. quan trọng là số lượng từ bạn nhớ chứ ko phải số lượng từ đã học.
Học từ vựng cần phải đều đặn. Kỵ nhất là việc bỏ giữa chừng một thời gian. Vì tuy đầu óc đã thích nghi với việc học, nhưng luôn có xu hướng “ lười biếng”, sẽ quay về trạng thái về ngay trạng thái ban đầu nếu đuợc nghi ngơi trong một thời gian đủ dài. Nếu bạn muốn nghỉ ngơi, không nên nghỉ quá 1 tuần lễ. trong những trường hợp ko tránh khỏi, cũng nên cố gắng mỗi ngày ôn lại khoảng 20 từ, để tránh trường hợp đầu óc trở nên trì trệ.
Về phương pháp học từ, theo tôi nghĩ cứ lặp lại từ càng nhiều càng tốt. tôi xin đưa ra một phương pháp để các bạn tham khảo:
Bước 1: Tra từ điển.
Bước này rất quan trọng, dùng để hiểu được từ. Theo kinh nghiêm, nếu bạn hiểu thấu đáo nghĩa của từ, biết dùng nó thì sẽ nhớ lâu hơn, và như tôi đã nói, cảm nhận ngôn ngữ , trong đó có hiểu và dùng đúng từ là một trong nhưng trở ngại của người VN khi học tiếng anh. Vì vậy nên dành thời gian cho phần này, từ 2-3 phút/ 1 từ. Tôi đã dùng 3 từ điển cùng một lúc: Oxford, lacviet và wordhacker, trong đó chủ yếu là oxford và wordhacker. Oxford giúp tôi hiểu nghĩa của từ theo đúng nghĩa gốc nó, cảm nhận từ ngữ chính xác hơn, ko bị quá trình dịch sang tiếng Việt bóp méo. Ngoài ra Oxford có phần từ đồng nghĩa-Thesaurus rất hay. Còn wordhacker thì có các ví dụ hay, lấy từ chính các đề GRE cũ. Lacviet chỉ dùng khi không hiểu được nghĩa của từ.
Bước 2: Ghi chép.
Các bạn có thể dùng sổ ghi chép cá nhân, loại bé bằng bàn tay, có thể gấp được, để làm flash card. Từ mới ghi vào một mặt, nghĩa ghi vào măt kia. Nghĩa của từ nên ghi bằng tiếng Anh, và ghi bằng các từ đồng nghĩa. Mỗi trang 5-6 từ, và đều được đánh dấu. Mỗi tuần hết khoảng một sổ, khoảng 250 từ. luôn mang theo những quyển sổ này, lúc nào có thời gian rảnh thì sẽ ôn lại. Ngoài ra, các bạn có thể copy hết tất cả các từ đồng nghĩa từ từ điển oxford và những ví dụ từ wordhacker vào một file. File này sẽ là tài liệu để ôn tập sau này. Cách ôn từ theo nhóm khá hiệu quả, vì đầu óc có thể tiếp thu nhưng cái tương đồng dễ và nhanh hơn là những cái khác biệt.
Bước 3: ôn tập lần 1.
sáng học từ xong, chiều hoăc tối trước lúc đi ngủ ôn lại từ. Ôn từ ko mất thời gian. Dùng flash card có thể tranh thủ ôn được rất nhiều.
Bước 4: ôn tập lần 2. sáng hôm sau ôn lại nhưng từ đã học hôm trước.
Bước 5: cuối tuần ôn lại một lần
Bước 6: ôn lại file từ đồng âm và ví dụ ( sau khi học hết các từ )
Bước 7: trước khi thi ôn lại lần nữa.
Theo tôi nghĩ khi học một từ nên học cả từ đồng nghĩa, và nên học bằng tiếng Anh. Như thế sẽ tiết kiệm được thời gian tra từ, và cũng học được nhiều từ hơn. Vì khi bạn đã hiểu được nghĩa của từ, bạn chỉ cần nhớ từ đồng nghĩa mà ko cần nhớ nghĩa của chúng nữa. Như vậy, chỉ học một từ mà bạn biết đến 3-4 từ. hiệu quả hơn nhiều. Nên học nghĩa bằng tiếng anh, vì tiếng việt nhiều lúc thể hiện ko đúng sắc thái của từ; với lại, đấy cũng là một cách hiệu quả để nâng cao vốn từ. Bạn cứ thử rồi sẽ thấy, nhớ bằng tiếng Anh không khó hơn nhớ bằng tiếng Việt đâu.
Ngoài ra, đọc cũng là một cách nâng vốn từ rất hiệu quả và cũng là cách để bạn quen hơn với cách diễn đạt trong tiếng Anh, quan trọng cho phần reading và sentence completion. Có một số trang web hay, dùng nhiều từ GRE như The times, US news. Một cách tôi hay dùng là vào các trang web đó ( tôi hay đọc US news ) search các từ mà nghĩa bạn cảm thấy còn rất mơ hồ. Sẽ có rất nhiều kết quả hiện ra, bạn có thể chọn đọc những bài tùy thích. Những bài này thường là về politic hoặc science, rất hợp cho văn phong của GRE. Nếu bạn ko có thời gian, bạn có thể chỉ đọc câu có chứa key word thôi, khi từ nằm trong văn cảnh, dễ hiểu hơn rất nhiều. Ngoài ra BBC là một trang rất dễ dùng, văn phong đơn giản, dễ hiểu. Có đủ các loại tin tức, bạn có thể đọc nó hàng ngày, vừa để cập nhật thông tin, vừa là một cách học tiếng Anh hiệu quả.
2. Làm bài tập verbal
Hiện nay có rất nhiều tài liệu để bạn làm, bạn có thể tìm kiếm trên mạng. Nhưng theo tôi bạn cần có những tài liệu sau: big book, powerprep. Big book gồm 27 đề GRE cũ, rất sát với thi PBT, powerprep là phần mềm của ETS, gồm 2 đề, và nhiều câu hỏi để luyện, sát với thi CBT. Ngoài ra còn có bộ 19 đề thi thật, và tài liệu của 800gre, bạn có thể tham khảo.
Trước khi làm bài hãy xem qua các tài liệu hướng dẫn ôn tập như powerprep, Princeton review, Nova, Kaplan. Đọc strategies và technique của họ để bạn làm quen với kiểu ra đề của ETS. Khi được khoảng 800 từ hãy bắt đầu làm bài, thời gian đầu làm ít thôi, vì một điều rằng, càng biết nhiều từ thì tác dụng của làm bài càng lớn. Mỗi ngày có thể làm ½-1 đề trong big book. Xác định cho mình một chiến thuật làm bài, làm xong đối chiếu kết quá, tìm ra các lỗi sai, nghiên cứu các lỗi sai, ghi chép lại các phát hiện của mình. Sau một thời gian bạn có thể xem lại sổ ghi chép của mình và đúc rút kinh nghiệm, sửa lài chiến thuật làm bài. Vì có rất nhiều lỗi sai trong GRE không phải do từ vựng, làm bài nhiều và đâu tư thời gian nghiên cứu bài làm sẽ khắc phục được các lỗi này.Qua đó bạn sẽ quen với kiểu tư duy của ETS, làm bài sẽ nhanh hơn nhiều. Ngoài ra trao đổi với bạn bè cũng là một cách luyện bài rất hiệu quả.
Trước khi thi khoảng 3 tuần bắt đầu làm bài nhiều, mỗi ngày có thể làm 2 đề của big book, làm bài như thi thật, tâp trung suy nghĩ cao độ, và sau khi làm bài nhớ phân tích bài làm để hoàn thiện kỹ năng. Tuy nhiên vẫn không quên học từ vựng, cố gắng học từ vựng càng nhiều càng tốt, tự vựng vẫn là đầu tư hiệu quả nhất để tăng điểm verbal.
i. Antonym & analogy
Đây là 2 phần từ vựng đóng vai trò quan trọng nhất. Riêng phần antonym, nếu bạn biết từ thì 99% bạn sẽ trả lời được, 1% còn lại dành cho nhưng câu khó, các từ nghĩa rất khó phân biệt. Phần này Princeton review và Nova viết khá hay, bạn có thể tham khảo. Technique mà tôi tâm đắc nhất là dựa vào phát âm, root của từ để phân loại từ thành negative hay positive. Tôi đã đoán đúng khá nhiều mà ko hề biết nghĩa của từ. Làm bài nhiều thì bạn sẽ dần quen vói cách này. Còn Analogy nếu bạn để ý sẽ thấy, hầu hết các câu hỏi bạn có thể lọai chỉ còn 2 answer choice. Các phương pháp loại bạn có thể tham khảo từ Princeton review và Nova. Lúc mới làm thì phần đặt câu rất quan trọng, giúp bạn hiểu được cách nghĩ của ETS. Nhưng sau khi đã quen với cách ra đề, thì nên làm phần này thật nhanh, tiết kiệm thời gian. Cách đặt câu của tôi rất đơn giản, xin đưa ra cho các bạn tham khảo:
A = B: từ A đồng nghĩa vói B
A <> B : A trái nghĩa với B
A > B: A higher degree than B
A ( B: A là một phần của B
A -> B: A gây ra B, hoặc A là tính chất của B, chức năng của B.
A~C = B ~ D: Mối quan hệ giữa A và C = giữa B và D
Khi làm bài nên dùng A, B để ký hiệu từ, cũng ko cần viết ra để tiếp kiệm thời gian.
Nói chung, để được điểm cao trong phần này, tự vựng quan trọng nhất. Sau đó là kỹ năng làm bài ( kỹ năng “đoán mò” thì đúng hơn), cái này chỉ có làm nhiều và đúc rút kinh nghiệm mới được.
ii. Sentence completion
Phần này bạn có thể tham khảo Princeton và Nova.
Phần này nói chung 4/7 câu có thể trả lời đúng. 3 câu còn lại khá khó, đòi hỏi thời gian.
Phần này theo tôi cứ làm bài tập thật nhiều vào. Lúc làm chú ý các cấu trúc câu, những câu khó thương có cấu trúc phức tạp và hint được dẫu kỹ, gặp loại này thì nên phân tích cấu trúc trước tiên, sau đó lắp các answer choice vào. Nhưng chú ý, các answer choice của các câu khó thường có vẻ rất hợp lý, rất khó phân biệt nếu chỉ dựa vào ý nghĩa của câu. Gặp trường hợp này các key words rất quan trọng, nó cho biết mối quan hệ giữa 2 từ trả lời, đồng hay khác nghĩa; hoặc mối quan hệ giữa key word và 1 trong 2 từ, từ đó gợi ý nghĩa của 1 trong 2 từ. Khi biết các mối quan hệ này, thì câu trở nên dễ dàng.
iii. Reading comprehension
Thực ra cái tên này ko đúng, sửa thành Reading technique thì đúng hơn. Bởi vì nếu test comprehension thì bạn phải đọc và hiểu toàn bộ mới trả lời được, nhưng thực tế cho thấy, không cần đọc và cũng ko cần hiểu tất cả những gì có trong passage vẫn có thể trả lời được. Lúc chưa có kinh nghiệm, đã có lúc tôi dành 20 phút để đọc và cố hiểu passage, nhưng thực tế là sau 20 phút tôi cũng không thể hiểu hết cả đoạn và trả lời thì vẫn sai như bình thường! trong phần này, phân tích câu hỏi và câu trả lời mới là điều quan trọng nhất, chứ ko fải là reading và comprehension. Tôi xin đưa ra một phương pháp mà tôi thấy khá hiệu quả.
Bước 1: Đọc qua đoạn văn
Sau khi đọc qua câu hỏi 1, dành 1-2 phút cho đoạn ngắn, 2-3 phút cho đoạn dài, đọc qua passage một lượt. Mục đích là để có một khai niệm chung về nội dung của toàn đoạn và đoạn nhỏ. Đọc kỹ những câu đầu tiên của đoạn cho đến lúc hiểu được nội dung chính của đoan thì thôi. Lúc đọc luôn đặt ra và trả lời câu hỏi “đoạn này nói về cái gì?”, lướt qua nhưng đoạn về miêu tả tính chất, process..nói chung lướt qua nhưng gì minh họa cho nôi dung mình đã nắm. Khi đọc lướt, chú ý các turning terms như however, although… các từ này thường đánh dấu sang một ý mới, cần phải tập trung hơn. Ngoài ra cũng cần chú ý các từ mang ý nghĩa chủ quan kiểu như supprisingly, marvellous… bởi ETS có thể hỏi về thái độ của author. khi đọc không cần phải nhớ. Lướt qua các chi tiết cụ thể, nhưng cần phải rất tập trung, để ít nhất biết rằng có những chi tiết này trong đoạn và nằm ở khoảng nào, đỡ mất thời gian tìm kiếm lại nếu các chi tiết ấy được hỏi sau này.
Nếu tìm thấy đoạn mà câu 1 hỏi, thì hãy ghi nhớ lấy vị trí, đọc xong toàn bài rồi quay lại trả lời.
Bước 2: phân tích câu hỏi và tìm thông tin
Tôi xin chia câu hỏi ra làm 3 loại: direct, indirect và tổng hợp.
Direct là loại câu hỏi mà refer trực tiếp tới đoạn văn. Ví dụ như hỏi về tính chất của một hiện tượng, cái này bao gồm những gì… nói chung hỏi về nhưng detail ơ trong đoạn văn. Với loai này bạn chỉ cần xác đinh các key word hay là detail mà câu hỏi đề cập tới, tìm ở trong đoạn văn detail đó, lưu ý có thể có nhiều đoạn nói về detail đó nhưng chỉ có một đoạn duy nhất là câu trả lời mà thôi. Thường ETS sẽ cho bạn biết câu trả lời nằm ở line nào, nếu kô bạn cũng có thể dễ dàng tìm ra đoạn duy nhất này. Khi tìm được câu chứa key word, nên đọc cả câu trước và sau nó, nếu vẫn cảm thấy chưa đủ thì có thể đọc thêm 2 câu trươc và sau.Thông thường đọc theo kiểu 2 câu trước-câu chứa key word- 2 câu sau là đủ.
Indirect là loại câu hỏi mà phải qua một bước suy luận mới trả lời được. Vi dụ như what can be inffered, according to the passage… Tuy gọi là suy luân, nhưng loại này cũng như tất cả nhưng loại câu hỏi khác, đều có câu trả lời từ những câu cụ thể trong đoạn văn. Tuyệt đối không dựa vào những điều ko đề cập tới trong đoạn văn để trả lời. Các câu trả lời đều là bắt đầu từ những “ giấy trắng mực đen” ở trong đoạn và chỉ qua một bươc suy luận duy nhất. Cái khó ở trong loại này là tìm ra chi tiết liên quan trong đoạn văn, vì không giống như ở loại direct, ETS không cho bạn biết câu trả lời nằm ở đoạn nào và thông tin để trả lời thường nằm ở một câu rất khó tìm. Đọc qua answer choice cũng là một cách hay để hình dung được câu trả lời nằm ở đoạn nào. Ngoài ra những câu trả lời loại này thường là những khẳng định mang tính đúng sai, một đặc tính riêng nào đó, lời nhận định của tác giả… chứ ko fải miêu tả, số liệu, tính chất như ở loại direct.
Câu hỏi tổng hợp hỏi về cấu trúc của đoạn, ý của đoạn. Với loại này chỉ cần nắm được nội dung chính là trả lời được. Chú ý đọc các câu đầu và cuối của mỗi đoạn để nắm nội dung nhanh hơn.
Bước 3: Phân tích những câu trả lời
Đọc thật kỹ các câu trả lời. Câu trả lời đúng thường là những câu viết theo kiểu của ETS, nhiều cụm danh từ, khó đọc khó hiểu, phần nội dung trả lời thường được đưa ra sau phía sau cùng và được danh từ hóa. Chú ý văn phong của ETS rất quan trọng. câu trả lời phải được viết chuyên nghiệp, nếu câu nào đó thiếu tinh formal thì chắc chắn là ko phải câu trả lời. Ngoài ra các câu quá extreme thường cũng không phải. câu trả lời thường có dạng somtimes, most of, many… rất ít khi never, totally, all.. Thông thường có thể loại 2-3 câu một cách dễ dàng.
Đây là một phần khó, nhưng nếu làm bài tập nhiều thì sẽ quen với cách hỏi và trả lời của ETS rất nhanh. Cái khó nhất có lẽ không phải là tìm ra câu trả lời mà là làm đúng thời gian.
3. Toán
Toán tuy không khó nhưng cần phải làm bài tập để quen dạng và để căn thời gian cho chuẩn. Chú ý một số phần dễ quên như standard derivation, probability & statistic ( mấy công thức về probability của tập hợp ) Nhiều lúc chỉ một khái niệm đơn giản nhưng ko nhớ thì chịu. Và phải đọc đề cho kỹ, vì ETS rất hay có các “tiểu xảo” để đánh lừa, ví dụ như trong câu hỏi thì x, nhưng câu trả lời thì lại bảo so sánh x + 1; hoặc là so sánh về số lượng: số lượng cụ thể hay là percentage, vì nhiều lúc percentage bằng nhau nhưng số lượng cụ thể không bằng nhau, nếu không để ý rất dễ bị lừa.
4. Writing
Quyển Princeton review viết phần này khá hay. Ngoài ra, powerprep có 3 set các bài làm mẫu, kèm theo điểm và nhận xét, có thể học được từ đó rất nhiều.
Với phần này nên chuẩn bị sẵn cho mình một format trước, lúc vào phòng thi chỉ có tập trung vào brainstorming ý thôi, đỡ mất thời gian. Có một số format sẵn ở trong quyển Princeton, các bạn có thể tham khảo.
Nên phát huy tối đa giấy và bút chì ETS cấp trong phần này. Gạch đầu dòng các ý và các ví dụ. Trong phần issue essay, câu trả lời có thể bất kỳ: đúng, sai, nửa đúng nứa sai. bạn nên tham khảo powerprep để thấy rõ sự đa dạng trong cách trả lời ở phần này. Ở phần này quan trong là văn viết phải mạch lạc, chặt chẽ : Mỗi đoạn nhỏ chỉ nói về một ý, ý của các đoạn nhỏ tập trung minh họa cho ý lớn nêu ra ở mở bài, phần kết luận tông kết lại các ý. Trong bài nên có 1 đến 2 ví dụ minh họa, mỗi bài nên có ít nhất 3 ý. Cố gắng viết càng dài càng tốt, nhưng yếu tố mạch lạc, chặt chẽ vẫn là ưu tiên hàng đầu.
Phần argument essay nói chung không khó, các argument mà ETS đưa ra thường có rất nhiều ( nhiều hơn 3 ) chỗ hở trong logic, vì vậy không thiếu ý để viết. Bạn có thể xem qua Princeton để học cách phát hiện các lỗi logic này. Phần này có thể không cần phải dùng bút chì và giấy, đọc qua argument một lượt rồi tìm lỗi, sau đó cứ phân tích argument từ trên xuống, sử dụng argument cho sẵn như một dàn ý của mình. Phần này bạn có thể mở rộng argument ra, ví dụ như giới thiệu mộ số cách để strengthen argument. Tham khảo powerprep để xem sự đa dạng về vấn đề này.
5. Kinh nghiệm thi
Thi CBT những câu đầu quan trọng hơn những câu sau, có thông tin từ US study guide như sau:
- nếu sai 1 trong 5 câu đầu, điểm rất khó vượt 500
- nếu sai 1 trong 10 câu đầu, điểm rất khó vượt 700
- chỉ đúng 15 câu đầu trong 35 câu analytical, điểm đã là 730. ( phần analytical đã được thay bằng phần writing)
ETS không có thông tin cụ thể về điều này nhưng các sách luyện và thực tế làm bài trong powerprep và thi cử cũng chứng minh điều này. Vì vậy khi làm bài nên dành thời gian nhiều hơn cho 10 câu đầu tiên, có thể là 12-15 phút chẳng hạn. Tuy nhiên chỉ danh thời gian cho nhưng chỗ có hiệu quả như sentence completion, reading và math còn những câu antonym, analogy nếu bạn không biết nghĩa thì hãy đoán càng nhanh càng tốt. Phân bố thời gian là điều quan trong nhất. Theo tôi phần analogy và antonym khoảng 16 câu, mỗi câu chỉ nên làm trong khoang 30s; vì những phần này nếu bạn biết từ thì chắc chỉ mất 20s, nếu không biết thì có dành thời gian cũng không có tác dụng mấy, vì vậy đoán ( nhưng phải có phương pháp ) càng nhanh càng tốt, trung bình 2 phần này 30s/1câu là có thể. Như vậy bạn đã tiết kiệm được khoảng 8 phút (thi CBT) cho phần RC và SC, 2 phần rất mất thời gian, nhưng lại là nơi kiếm điểm theo tôi nghĩ. RC có vẻ là nơi mọi người ít quan tâm nhất, nhưng tôi thì nghĩ khác. RC mới là nơi bạn có thể làm chủ được, nơi kỹ năng và tư duy phát huy nhiều nhất, chứ không như antonym và analogy, nếu chẳng may gặp từ mà bạn không biết, một khả năng rất dễ xảy ra cho dù bạn đã thuộc 5000 từ như cháo, thì lúc đó chỉ trông chờ vào may mắn mà thôi. Vì vậy hãy đầu tư nhiều cho RC . Nếu bạn chuẩn bị tốt, dành cho RC khoảng 2 phút/ câu, 6/8 câu đúng là hoàn toàn có thể. Như vậy phần SC sẽ mất 16 phút. Còn lại 6 phút cho 6 câu SC. Một thời gian đủ để bạn hoàn thành tốt.
Để làm tốt trong RC cần thời gian, RC không thể đoán như Analogy và Antonym được. Nếu bạn làm sai nhiều câu RC liên tục, điểm sẽ tụt thảm hại, và nhiều khả năng bạn sẽ được cho một đoạn RC thứ 3 ( chứ ko phải 2 như thông thường ). Đây là một sự “tử tế” hoàn toàn có thật của ETS ( thi bằng CBT ), trong trường hợp này thì chắc phải đánh bừa thôi.
Các kinh nghiệm trên là dành cho CBT, thi PBT chắc cũng tương tự, duy chỉ có cách phân bố thời gian có thể khác.
Tâm lý thi cử cũng rất quan trọng. Nên làm bài nhiều và căn thời gian như thi thật để tránh vào phong thi hồi hộp. Xác định cho mình một cách phân bố thời gian, luyện tập thuần thục cách này. vào phòng thi thực hiện cách này một cách nghiêm túc, bạn sẽ chủ động về thời gian.
Điều cuối cùng, GRE test dài đến 4h cho CBT và 5h cho PBT, rất căng thẳng và mệt! Vì vậy bạn cần phải chuẩn bị rất kỹ về sức khỏe cũng như tinh thần. Nhớ giữ gìn sức khỏe, trước lúc thi một tuần và trong ngày thi nên uống các loại thuốc tăng lực như Homtamin, Gingsen Tea. Các loại này có tác dụng chỉ sau 1-2 tiếng, và khá hiệu quả. Trong hôm thi nhớ ăn no và mang theo một ít đồ ăn nhẹ, giải lao 10 phút có thể tranh thủ ăn. Nhớ mang theo áo khoác vì các testing center thường rất lạnh. Trước lúc thi khoảng 3 ngày chỉ nên ôn lại một ít từ, làm một số bài tập nhỏ, mỗi ngày khoảng 2 tiếng, tránh tình trạng đâu óc mệt mỏi. Bình tĩnh, tự tin, thực hiện đúng các chiến thuật đề ra, bạn sẽ phát huy được hết khả năng của mình!
Chúc các bạn thành công!
April 28, 2006
Nguyễn Hữu Phước Nguyên.
Phuocnguyen155@gmail.com












