Trang hầu việc Chúa Jesus Christ

Quy's blog, email: holyquy@yahoo.com, Room Paltalk: Tin Lanh ve Nuoc Thien Dang

Subscribe to RSS feed

Anti-Christ có thể là Hồi giáo chăng?

Những gì chúng ta biết về Antichrist đều nằm trong kinh thánh. Đoạn kinh thánh gốc nằm trong sách Khải huyền, chương 13, từ câu 1-10. Trong cùng chương, câu 11-18 là một sự mô tả của tiên tri giả. Sách khải huyền, từ chương 4 đến kế tiếp đó, được thể hiện một cách tượng trưng.
Chúa Jesus Christ mang sự mặc khải của Ngài đến thánh Giăng ở đảo Bát-mô thuộc Hy Lạp khoảng năm 95 sau CN. Do đó, tác giả của sách là Đấng Christ và người chép là thánh Giăng.
Theo ý nghĩa tượng trưng, giải thích các biểu tượng để làm rõ cho đoạn kế. Do đó, con thú đầu tiên được hiểu là Antichrist. Con thú thứ hai được hiểu là tiên tri giả. Cả hai hoạt động từ thành phố của 7 ngọn đồi, ở La mã (Rome). Cả hai đều có quyền lực ma quái hiểm ác.
Antichrist là người dẫn đầu chính trị của thế giới. Tiên tri giả là người dẫn đầu tôn giáo của Tôn giáo từ cõi Âm phủ, sau đó được biểu tượng như là con điếm Babylon. Nói cách khác, tôn giáo giả là sự giả mạo lẽ thật được khải thị trong Kinh thánh.
Antichrist xuất hiện như là 1 người mà quyền lực của nó bao phủ toàn thế giới, mặc dù các cơ quan trụ sở của Antichrist là nằm trong thành phố của 7 ngọn đồi. Sự chết tràn ngập với Satan (con rồng), làm thích thú những lời nhạo báng quyền cai trị thánh khiết của Đức Chúa Trời.
Antichrist bị đe dọa bởi một kẻ thù, sau đó vượt qua một trong 7 ngọn đồi của La mã. Nhưng Antichrist xua đuổi kẻ thù để lấy lại toàn bộ quyền lực. Điều này gây ấn tượng mạnh mẽ, ghi dấu ấn vào những ai theo Antichrist.
Thế giới chống Thượng đế toàn năng thò phượng Antichrist cũng như Satan của Antichrist. Những người sùng đạo Antichrist tuyên bố rằng: “Ai giống như người này? Ai có thể làm chiến trận chống lại người?”
Khung thời gian đỉnh điểm của Antichrist cho quyền lực ma quái là 7 năm. Sau 3,5 năm đầu, Antichrist vào đền kế của Jerusalem mà được xây dựng. Ở đó, Antichrist báng bổ Thánh linh, tuyên bố rằng chỉ có Antichrsit là vị thần duy nhất, 1 chúa trời. Sau đó, dân sự của Antichrsit ban bằng đền và chiếm đoạt thành phố thánh. Antichrist quay lại La mã, tiếp tục chế độ ma quái cho 42 tháng tiếp theo.
Antichrist bắt bớ các Cơ đốc nhân trung thành. Tuy nhiên, sự chấm dứt của Antichrist đó là, sự tàn sát hung bạo với “lưỡi gươm phải bị giết với lưỡi gươm. Đây là sự nhẫn nại và lòng trung thành đức tin của các thánh.”
Lưỡi gươm với điều mà Antichrist sẽ bị bỏ qua là quyền cai trị của Đấng Christ về lần đến thứ hai của Đấng Christ (Khải huyền 19:15). Đấng Christ sẽ nói, Antichrist sẽ bị nắm lấy, và quăng xa khi đang sống vào hồ của lửa đang cháy với lưu huỳnh (Khải huyền 19:20). Tiên tri giả, cũng vậy, sẽ đi đến sự chấm dứt của hắn.
Đấng Christ, vua của các vua và chúa của các chúa, sau đó sẽ cai trị hành tinh từ thành phố thánh trong 1000 năm, 1 thiên niên kỷ.
Lưu ý rằng Antichrsit sử dụng thanh gươm một cách đặc biệt mà tàn sát những Cơ đốc nhân trung tín. Thanh gươm là biểu tượng của Hồi giáo.
Lưu ý rằng Khải huyền thể hiện lặp lại nhiều lần rằng các Cơ đốc nhân trung tín chém đầu. Sự chém đầu là một trong các biện pháp chính yếu của các người Hồi giáo thực thi trên người chống lại Hồi giáo.
Chú ý rằng Antichrist và tiên tri giả cung cáp bổn phận đến việc báng bổ Kinh thánh. Người Hồi giáo báng bổ dữ kiện kinh thánh bằng cách bao gồm một số điều trong Kinh Koran, nhưng có nhiều điều sai quấy, đặc biệt là xem Chúa Jesus chỉ là một tiên tri và không phải là Đức Chúa Trời.
Do đó, rất có thể Antichrsit là Hồi giáo?. Không có điều cụ thể xác định trong Kinh thánh. Tuy nhiên, đó là một khả năng do không không có trong kinh thánh mà thể hiện rằng Antichrist sẽ không phải là Hồi giáo.
Hơn nữa, khi chúng ta thấy quyền lực thế giới Hồi giáo hiện nay được tuyên bố bởi những người Hồi giáo, điều tương tự cho quyền cai trị toàn cầu Antichrist. Thêm vào đó, việc hiểu thanh gươm của Hồi giáo như là biểu tượng ban đầu, việc chém đầu như là các biện pháp chính của Hồi giáo tàn sát những người không theo họ, và việc sử dụng của họ đối với 1 quyển sách không thánh khiết, là kinh Koran, một Antichrist người Hồi giáo có thể sắp xảy ra.
Sự báng bổ chủ yếu là tiên tri ma quái Mohammed thực hiện khi viết Kinh Koran là hạ thấp Chúa Jesus thành 1 mức là tiên tri khi Chúa Jesus thực sự là Thượng Đế toàn năng, thể hiện chính Ngài là Thượng Đế trong các phúc âm Tân ước.
Dĩ nhiên, việc hạ thấp Chúa Jesus là chính xác những gì mà Satan muốn thế giới tin, rằng Chúa Jesus không phải là Thượng Đế toàn năng, do đó bác bỏ hiệu lực của sự hy sinh cho tội lỗi trên thập giá. Nếu Chúa Jesus không phải là Thượng Đế toàn năng thì không có sự chuộc lại các tội lỗi. Và vì vậy chúng ta tất cả là ghê tởm, được cứu khỏi nơi Âm phủ của Satan mãi mãi – là những gì mà Satan sẽ muốn thực hiện.


Thế giới ngày càng tội lỗi …sự giả dối


Có đôi khi bạn hỏi những kẻ giả dối, nịnh bợ gặp điều tốt đẹp hơn những người thẳng thắn, chân thật. Tâm lý loài người tạo vật (chưa suy nghiệm nhiều về Chúa hoặc chưa biết Chúa) luôn thích những người lời nói êm tại, ngọt. con người đã quên hẳn Chúa, không còn hướng thượng, thiếu suy nghĩ trong Chúa trước khi suy xét (Rô-ma 3:23). Nên buộc con người ta phải bán đi cái đạo đức của sanh vật cao nhất mà Chúa dựng nên. Con người là tốt lành (Sáng thế ký 1:26). Nhiều người phải ngậm đắng nuốt cay để thực hiện điều đó. Sự luyện tập đó ngày càng nhiều, sinh ra một phản xạ có điều kiện đầy tội lỗi – dối trá, con của sự giả dối. Điều này xảy ra hiện nay phải nói là thường xuyên và ngày càng nhiều, biến một xã hội vốn có thành xã hội giả dối! Cần nhớ rằng, trong giai đoạn trước, những vị quan thần vì muốn được vua ban cho các quyền thế, lợi ích nên nịnh bợ, giả dối, hãm hại những người chân thành, và chuyện đó ngày càng xuất hiện nhiều trong các lĩnh vực hiện nay của quốc gia, thế giới, trên toàn bộ các lĩnh vực: giáo dục, đào tạo, công sở, kinh doanh… vì tấm bằng mà đã dùng mọi thủ đoạn: lường thầy phản bạn, gian dối trong thi cử, hối lộ, …, nguyên tổng thống Singapore đã từng góp ý rằng việc thật thà, thực hiện tốt giáo dục là làm tốt kinh tế, có con người tốt, thanh liêm, thông sáng, thì mới mong xã hội phát triển, mang lại cuộc sống ấm no cho nhân loại, mà đó không phải là do con người mà là do ơn Chúa mà người dân dân gian gọi nôm na là ông Trời. nhiều người đã bán cả cái miệng, và cái lưỡi của mình để mua những điều giả dối, mang lại những ích lợi tạm thời, không chắc chắn, tại sao? Trong thâm tâm, họ luôn thấy cắn rứt, cảm thấy buồn, có tội khi bạn đồng nghiệp, những người như họ cách xa, quý vị có ai trong cuộc đời, mà không có lúc ở 1 mình không? Tôi chắc chắn là đã có. Mọi người hãy đến với Chúa, sống chân thật theo lời Chúa dạy, thì cảm giác sợ hãi sẽ tan biến, và Chúa đã hứa với chúng ta là Ngài không bỏ chúng ta. Đừng sợ sự chân thật sẽ làm chúng ta không còn tồn tại. hãy vững lòng bền chí. Hãy ở trong Ngài, thì Ngài ở trong chúng ta.
Tôi có biết thông tin rằng các nước phương Tây luôn tỏ những quan điểm chân thật, nói thẳng nói thật, và có đi kèm với việc làm, nên như mọi người thấy, họ tiến bộ như thế nào. Hãy như họ? Họ đa số biết Kinh thánh – lời Chúa dạy. nếu họ không có Chúa, thiết nghĩ họ cũng như chúng ta, cũng gian dối như ấy.
Vả lại, sự giả dối sẽ không tồn tại mãi trong con người giả dối ấy, nó sẽ bộc phát ra vào thời điểm nào đó mà ý muốn Chúa được nên, cho những người tin Chúa lẫn chưa biết về Chúa. Chúng ta hãy tin cậy nơi Ngài. Khi xảy ra rồi, thì thiết nghĩ người ấy sẽ đối diện ra làm sao, thật kinh khúng! Mặt khác, họ luôn bị dằn vặt trong đầu óc họ, không cảm thấy tự tin trong hoạt động hằng ngày. Chúa đã đặt loài người chúng ta như vậy. Bất luận ai cũng vậy, đã là con người thì khi mắc tội thì luôn cảm thấy vết cắt trong đầu óc con tim họ, dù cho họ có gian ác mấy đi nữa. gần đây, có vài vụ án mạng mà gây ra bởi giới thanh niên, có học thức, dù có dùng sự giả dối mà họ có được từ đầu óc, cái suy nghĩ của họ, nhưng khi sự thật phanh phui thì chúng ta thấy sự đau đớn trên họ là thể nào!
Chúng ta hãy thẳng thắn, chân thật, chất phác từ bỏ thói giả dối, những suy nghĩ ác tưởng gây hại cho người khác vì nó ngày càng phát triển, lan nhanh trong xã hội với tốc độ chóng mặt.
Thử tưởng tượng, một xã hội mà có những con người yêu thương, chân thật với nhau, yêu nhau bằng hết trái tim của mình, thì ôi thật hạnh phúc biết bao!

Thiên đàng thật sự giống như thế nào?


Thực sự không ai trong chúng ta, những người trên đất này từng thấy thiên đàng, Mặc dù có nhiều ý kiến từ nhân loại, nhưng chúng ta cần lắng nghe tiếng ĐỨC CHÚA TRỜI phán với cá nhân chúng ta.
Nếu bạn tin rằng Chúa Jesus được sinh ra như từ 1 trinh nữ, đã chết cho tội lỗi của nhân loại, và sống lại vào ngày thứ 3, chúng ta phải xác nhận chúng ta là người có tội, và bạn sẽ đến thiện đàng và có thể thừa hưởng tải sản của Ngài! Bạn sẽ giàu có như những giấc mơ của bạn. Thực sự, ĐỨC CHÚA TRỜI nói rằng nếu Ngài cho chúng ta biết những gì có trong kho sau khi chúng ta chết – thì đầu óc của chúng ta sẽ không thể quản lý được!
Lâu đài vinh quang đẹp nhất, giàu có nhất trên thế giới chỉ là không là chi cả so với 1 nơi mà Đấng Christ đang xây dựng cho bạn tại thiên đàng. Bạn sẽ đi qua các con đường bằng vàng và các thiên sứ sẽ phục vụ bạn. Bạn sẽ không bao giờ bị đói hoặc bệnh hoạn nữa và bạn sẽ không bị già nữa.
Bạn sẽ không còn khóc hay sợ hãi nữa. Bạn sẽ thấy Chúa Jesus, Đấng tạo hóa của vũ trụ mặt đ1ôi mặt và có thể ngồi và nói chuyện với Ngài. Mọi thứ mà Ngài sở hữu thì bạn cũng sẽ sở hữu.
Hiện nay tại sao 1 người nào đó trong đầu của họ cứ chọn mãi sống trong đau khổ, sợ hãi, tối tăm, kinh hãi, đau nhức và nghiến răng mà không chọn sự tồn tại hòa bình, an lành, tươi đẹp, thanh thản? Nếu một ai đó cầm lấy tay bạn và trao cho 1 ngọn lửa cho đến khi nó cháy vào da bạn – thì bạn sẽ chờ cho đến khi tay bạn được chữa lành
Ví dụ đơn giản này là tương tự như quyết định đơn giản là bạ n phải làm giữa ĐỨC CHÚA TRỜI và Satan. Và Nếu bạn là người vô thần (không tin ai cả) thì bạn sẽ chống lại ĐỨC CHÚA TRỜI.
Nhiều người không theo tôn giáo bởi vì họ nghĩ rằng cuồng tín. Nhiều hình ảnh tôn giáo đã dẫn dụ họ mất tiền. Bạn có thể thấy 1 người giảng mà không xin tiền trên truyền hình và săn mồi các giá trị tôn giáo cảm xúc của con người trên thế giới. Những người mà công bố là 1 cơ đốc nhân mà chỉ đi uống rượu, về nhà và đánh đập vợ họ.
Chúng ta đã làm hại môi trường của chúng ta, hủy diệt các phần của tầng ozone, tạo ra các nạn đói và giết lẫn nhau trong nhiều chiến tranh chỉ vì “SỰ THAM LAM”. Do đó, chúng ta nên can thiệp, và ra lời khuyên?
Hãy chỉ nhìn vào ĐỨC CHÚA TRỜI! Nếu bạn bắt đầu yêu mến Ngài, bạn sẽ thấy Ngài nói trong đầu óc bạn theo cách mà bạn có thể hiểu. Mặc dù, ĐỨC CHÚA TRỜI có thể làm bất cứ điều gì mà Ngài muốn làm, bất cứ khi nào Ngài muốn.
Hầu hết những người mà tin thực sự một mối quan hệ với Chúa là bình thưởng, sống tốt nhất mỗi ngày. Họ luôn luyện tập yêu Đấng tạo hóa của chúng ta, và học biết về Ngài nhiều hơn.
Chúng ta thật rất may mắn khi có Đấng tạo hóa và cần phải vui mừng khôn xiết rằng Ngài thực sự cho phép chúng ta còn sống như là một tạo vật mà Ngài cho chúng ta sống. chúng ta cần kinh nghiệm tình yêu chân thật trong cuộc sống hiện nay.
Nguồn: www.servantofjesuschrist.com


Cách tăng trưởng đức tin mạnh mẽ


Áp-ra-ham là 1 người đàn ông có gia đình. Vợ của ông là Sa-ra phải trải qua những năm tháng mang thai sanh đẻ. Trong những năm tháng còn trẻ, họ không bao giờ có thể có được 1 đứa con. Đây là những điều mà có thể tạo ra sự hoài nghi cho 1 người. Và Áp-ra-ham không phải là loại đàn ông mà trốn tránh các sự kiện đó. Ông đối mặt với chúng.
Trong những năm về sau, các học giả kinh thánh mà sao chép sự mô tả điều này của ông Phao-lô trong thư Rô-ma 4:19 đã bổ sung từ “không” vào câu đó. Họ đổi “người thấy than thể mình … [và] sự khó khăn trong sinh đẻ của Sa-ra thành “người không thấy”. Có lẽ không hiểu cách mà 1 người có thể nhìn vào sự thật chẳng hạn như những điều này và sẽ tin vào lời hứa của ĐỨC CHÚA TRỜI. Nhưng đức tin của Áp-ra-ham không bị mất đi, ông không phải là đức tin giả dối giống như con đà điểu mà thường giấu cái đầu của nó vào đất cát, hy vọng rằng các nan đề sẽ tan biến đi.
Bí quyết trong đức tin của Áp-ra-ham là ông đã không dừng lại như quan điểm thế gian, ông đối diện với các sự thật của thế giới này và ông cũng nhìn vào những gì mà ĐỨC CHÚA TRỜI làm cho ông. ĐỨC CHÚA TRỜI đã ban cho ông theo lời hứa của Ngài và Áp-ra-ham bị thuyết phục rằng “vì tin chắc rằng điều chi ĐỨC CHÚA TRỜI đã hứa, Ngài cũng có quyền làm trọn được.” (Rô-ma 4:21)
Hành động theo sự thuyết phục đó, Áp-ra-ham “mạnh mẽ trong đức tin, nhưng càng mạnh mẽ trong đức tin và ngợi khen ĐỨC CHÚA TRỜI” (Rô-ma 4:20). Đức tin của ông không phải là đức tin bí mật, ông đã ca ngợi ĐỨC CHÚA TRỜI vì lời hứa của Ngài và đức tin của ông đã lớn mạnh liên tục. Điều tươn tự có thể xảy ra cho chúng ta.
Chúng ta, hãy giống như Áp-ra-ham, có thể thấy đức tin của chúng ta lớn mạnh khi chúng ta dâng lên cho ĐỨC CHÚA TRỜI sự vinh hiển theo các lời hứa của Ngài. Chúng ta phải đối diện với các sự kiện, nan đề xảy ra cho chúng ta trong cái thế giới này, vì vậy chúng ta có thể đối diện với chúng nếu chúng ta tập trung vào Chúa Jesus.
Đối với nhiều người, ý kiến về sự sống lại từ trong cái chết là buồn cười. Cái chết vẫn còn trong trong mồ mả. Nhưng đối với ĐỨC CHÚA TRỜI, Đấng đã tạo dựng thế giới trong nơi đầu tiên, một sự sống lại là không phải là không thể xảy ra. Chúng ta có thể tin cậy, nắm chắc lời hứa của ĐỨC CHÚA TRỜI mà cái chết không phải là sự kết liễu cuộc sống của chúng ta không? Chúng ta hãy dâng lời ngợi khen Ngài và tăng trưởng đức tin chúng ta hơn nữa.
Nguyện xin ĐỨC CHÚA TRỜI toàn năng, là Cha Đức Chúa Jesus Christ, là Chúa chúng ta, ở cùng mọi người hết thảy, cùng ĐỨC CHÚA TRỜI giao thông để những ai còn yếu đuối, hãy như Áp-ra-ham, và tin chắc không dấu vết vào lời hứa của ĐỨC CHÚA TRỜI chúng ta. Vì thì giờ đã gần!
Nguồn: web.ovu.edu

Tại sao có đau khổ và điều ác?

Câu hỏi tại sao Đức Chúa Trời cho phép đau khổ và điều ác tồn tại là một trong những câu hỏi cấp thiết nhất của thời đại chúng ta. Vấn đề đau xót gây ấn tượng hơn cả câu hỏi về những phép lạ, hay khoa học và Kinh Thánh, là tại sao những con người vô tội phải chịu đau khổ, tại sao những em bé bị mù từ lúc sinh ra hay tại sao một đời sống đầy hứa hẹn bị dập tắt khi nó đang đi lên. Tại sao có những trận chiến tranh trong đó hàng ngàn người vô tội bị chết oan, trẻ em bị thiêu hủy đến nỗi không thể nhận dạng được và vô số những người khác bị tật nguyền suốt đời?
Hai khía cạnh nhỏ mang tính cổ điển tổng kết cho vấn đề nan giải này là:
Ø Đức Chúa Trời là Đấng toàn năng nhưng không phải là toàn thiện và do đó Ngài không muốn chấm dứt điều ác.
Ø Đức Chúa Trời là Đấng toàn thiện nhưng không có khả năng chấm dứt điều ác; vì vậy Ngài không phải là Đấng toàn năng.
Khuynh hướng chung là trách cứ Đức Chúa Trời về tất cả những điều ác và sự đau khổ hiện hữu và đổ hết trách nhiệm cho Ngài.
Không phải là những câu trả lời dễ
Không được xem nhẹ hay giải quyết vấn đề theo cách giáo điều câu hỏi vô cùng quan trọng nầy. Hãy quay lại và nhớ lại việc gì đã xảy ra khi Đức Chúa Trời tạo dựng A-đam và Ê-va; Ngài tạo dựng họ toàn hảo. Con người không hề được tạo dựng với tư cách kẻ ác.
Tuy nhiên, A-đam và Ê-va, cũng như tất cả loài người, có khả năng để vâng lời hay không vâng lời Đức Chúa Trời. Nếu họ đã vâng lời Đức Chúa Trời thì không bao giờ có vấn đề gì rồi. Họ chắc đã sống một cuộc đời vô tận trong mối quan hệ vô cùng hạnh phúc với Đức Chúa Trời và trong sự vui vẻ của Ngài và những tạo vật của Ngài. Đây là điều Đức Chúa Trời dự định cho họ khi Ngài tạo dựng nên họ. Tuy nhiên, trên thực tế, họ đã nổi loạn nghịch cùng Đức Chúa Trời qua việc chọn ăn trái cấm - sự nhận biết về điều thiện và điều ác.
Từ thời điểm đó, mỗi người trong chúng ta đều chuẩn y quyết định đó và giẫm lên cùng vết xe đổ. "Cho nên, như bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua trên hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội" (RoRm 5:12).
Chính con người chịu trách nhiệm về tội lỗi mình chứ không phải Đức Chúa Trời. Nhưng nhiều người hỏi: “Tại sao Đức Chúa Trời không tạo dựng chúng ta theo cách mà chúng ta không phạm tội được?" Chắc chắn rằng Ngài có thể làm được, nhưng nên nhớ rằng nếu Ngài làm như vậy thì chúng ta không còn là con người nữa mà chỉ là những cái máy thôi, chỉ như là những con rối treo trên sợi chỉ. Bạn thấy thế nào khi kết hôn với một con búp bê bằng máy? Mỗi sáng và mỗi tối bạn chỉ cần kéo sợi dây và được nghe những lời êm dịu, đẹp đẽ như: “Em yêu anh." Nhưng có ai muốn như vậy không? Nếu thế thì chẳng bao giờ có tình yêu nữa. Tình yêu là do tình nguyện. Những sự chọn lựa của chúng ta cũng là tự nguyện. Đức Chúa Trời có khả năng tạo dựng chúng ta như những người máy, nhưng nếu thế thì chúng ta sẽ không phải là người nữa. Bạn có muốn là một người máy không? Hiếm có ai trong chúng ta sẽ thành thật trả lời là có. Rõ ràng Đức Chúa Trời có nghĩ rằng thà tạo ra chúng ta như tình trạng hiện có, tuy hơi liều lĩnh, nhưng vẫn hơn, và Ngài đã làm ra chúng ta như vậy rồi, chúng ta cần phải đối diện với thực tế.
Đức Chúa Trời có thể dập tắt mọi điều ác
Giê-rê-mi nhắc nhở chúng ta: “Ấy là nhờ sự nhơn từ Đức Giê-hô-va mà chúng ta chưa tuyệt. Vì sự thương xót của Ngài chẳng dứt" (CaAc 3:22). Sẽ đến thời điểm khi Ngài dẹp tan mọi điều ác trong thế giới này. Ma quỷ và mọi công việc của nó sẽ ở dưới sự phán xét đời đời. Trong khi chờ đợi, tình yêu và ân điển không bao giờ thay đổi của Đức Chúa Trời đang chiếm ưu thế, cơ hội Ngài tỏ lòng nhơn từ và tha thứ vẫn còn rộng mở cho mọi người.
Nếu ngay hôm nay Đức Chúa Trời loại bỏ tội ác ngay thì Ngài đã hoàn tất một công tác. Nhưng chúng ta muốn Ngài chấm dứt chiến tranh mà tránh xa chúng ta. Nếu Đức Chúa Trời cần cất bỏ tất cả mọi điều ác khỏi thế gian nầy, hành động của Ngài phải là hoàn toàn. Ngài phải xóa luôn những sự gian dối, những việc làm ô uế, sự thiếu yêu thương và không chịu làm điều lành. Giả sử Đức Chúa Trời truyền lịnh rằng nửa đêm nay, tất cả mọi điều gian ác sẽ bị cất khỏi thế gian, thì ai trong chúng ta sẽ còn sống sót?
Kinh Thánh cho chúng ta biết về chân lý đúng đắn và giải thích rằng: tội lỗi đã di truyền lại cho tất cả loài người qua sự chọn lựa của A-đam và Ê-va, và mỗi người chúng ta chọn đi theo con đường ấy. Từ khi sinh ra chúng ta đã bắt đầu nói không. Tội lỗi của A-đam và Ê-va ngăn cách họ khỏi mối quan hệ gần gũi với Đức Chúa Trời và điều tương tự xảy ra cho chúng ta. Sự thánh khiết tuyệt đối của Đức Chúa Trời không thể chấp nhận điều gì khác hơn là sự ngăn cách. Đây là kết quả sự chọn lựa của chúng ta.
Giải pháp tối hậu của Đức Chúa Trời
Trong tình huống tuyệt vọng này, Đức Chúa Trời yêu thương đã làm một việc lạ lùng, tốn kém và hiệu quả nhất có thể được, tức là ban Con Một của Ngài để chịu chết thay cho những người gian ác. Loài người có thể thoát được cơn đoán phạt phải có đối với tội lỗi và điều ác. Loài người cũng có thể phá vỡ quyền lực của tội lỗi bằng cách bước vào mối quan hệ cá nhân với Chúa Giê-xu Christ. Ở mức độ cá nhân, giải pháp tối hậu cho nan đề tội ác, được tìm thấy trong sự hy sinh của Chúa Giê-xu Christ.
Suy đoán về nguồn gốc của điều ác thì vô tận. Không ai có được một câu trả lời đầy đủ. Nó thuộc loại "những điều bí mật thuộc về Đức Giê-hô-va, là Đức Chúa Trời chúng ta" (PhuDnl 29:29).
Hugh Evan Hopkins quan sát:
Vấn đề (về điều ác) được đặt ra phần lớn do niềm tin Đức Chúa Trời tốt lành sẽ thưởng cho từng người tùy theo công việc họ và Đức Chúa Trời toàn năng sẽ không gặp khó khăn gì thực hiện những điều này. Sự kiện thưởng và phạt, trong hình thức của hạnh phúc và tai họa, bị phân phối bừa bãi trong cuộc đời này đã khiến nhiều người nghi vấn hoặc về sự tốt lành của Đức Chúa Trời hay về quyền năng của Ngài. 1
Nhưng nếu Đức Chúa Trời phải đối xử với mỗi người đúng theo cách ăn nết ở của người ấy, thì Ngài có tốt lành không? Bạn cứ suy xét xem điều đó có ý nghĩa gì với bạn!
Toàn bộ Phúc Âm được trình bày trong Cựu Ước và được tuyên bố rộng rãi trong Tân Ước là sự tốt lành của Đức Chúa Trời không chỉ bao gồm trong công nghĩa của Ngài nhưng trong cả tình yêu, sự thương xót và sự nhân từ của Ngài nữa. Chúng ta và tất cả mọi người biết ơn Ngài biết bao vì "Ngài không đãi chúng tôi theo tội lỗi chúng tôi, cũng không đoán phạt chúng tôi tùy sự gian ác chúng tôi. Vì hễ các từng trời cao trên đất bao nhiêu thì sự nhân từ Ngài càng lớn cho kẻ nào kính sợ Ngài bấy nhiêu" (Thi Tv 103:10-11).
Một quan niệm như vậy về sự tốt lành của Đức Chúa Trời cũng dựa trên định kiến sai lầm rằng hạnh phúc là điều tốt nhất trong cuộc đời. Người ta thường cho rằng được sống yên vui, đầy đủ là hạnh phúc rồi. Tuy nhiên hạnh phúc thật sự, chân chính, sâu xa là một cái gì sâu nhiệm hơn những niềm vui phù du thoáng qua trong khoảnh khắc. Và đau khổ không hề ngăn trở hạnh phúc thật. Nhiều khi trong sự khôn ngoan vô hạn của Ngài, Đức Chúa Trời biết rằng chỉ có đau khổ mới tạo được điều hay trong cá tính của chúng ta. Bảo vệ chúng ta khỏi những sự đau khổ ấy, tức là tước đoạt của chúng ta những điều tốt đẹp nhất.
Quan niệm chính xác về sự ban thưởng
Sứ đồ Phi-e-rơ nhắc đến điều này khi ông nói: “Đức Chúa Trời ban mọi ơn đã gọi anh em đến sự vinh hiển đời đời của Ngài trong Đấng Christ, thì sau khi anh em tạm chịu khổ, chính Ngài sẽ làm cho anh em trọn vẹn, vững vàng và thêm sức cho" (IPhi 1Pr 5:10).
John Stuart Mill cho biết nếu muốn thấy kết quả hợp lý của quan niệm chính xác về việc ban thưởng chúng ta chỉ cần quay sang Ấn Độ giáo. Luật nghiệp báo (karma) dạy rằng mọi hành động trong đời này là hậu quả của những hành động trong kiếp trước. Mù lòa, nghèo khổ, đói khát, tàn tật, bỏ rơi và mọi khó khăn xã hội đều là những hình phạt thực tiễn cho những hành động gian ác trong kiếp trước.
Tiếp đó người ta cho rằng mọi cố gắng làm giảm bớt những đau khổ và hoạn nạn là can thiệp vào đường lối công chính của Đức Chúa Trời. Chính quan niệm này đã khiến cho những người theo Ấn Độ giáo từ lâu nay rất ít làm gì để giúp đỡ những người bất hạnh của họ. Một số người Ấn Độ giáo tiến bộ ngày nay đang bàn luận và tiến tới những thay đổi và cải tạo xã hội, nhưng họ vẫn chưa hòa giải được quan niệm mới này với giáo lý nghiệp báo rõ ràng từ cổ xưa, vốn là nền tảng cho tư tưởng và sinh hoạt của người theo Ấn Độ giáo.
Tuy nhiên, quan niệm nghiệp báo đó đã được dùng làm một lời giải thích gọn gàng, đơn giản và dễ hiểu về sự đau khổ: sự đau khổ là kết quả của những việc làm xấu xa lúc trước, tiền kiếp. Douglas Groothuis thực hiện một cuộc khảo sát sâu sắc: nếu một đứa trẻ chết vì bệnh bạch cầu chịu đau khổ vì trong kiếp trước cô bé giết những người vô tội, cô bé sẽ chẳng biết gì về nó. Và cũng sẽ chẳng học được gì từ tình trạng của cô cả.
Nhưng có phải Cơ Đốc nhân cũng cho rằng sự đau khổ là hình phạt từ Đức Chúa Trời? Tất nhiên là trong tâm trí nhiều người nghĩ như vậy. "Tôi đã làm gì đến nỗi phải chịu như thế này?" thường là câu hỏi đầu tiên trên môi một người đau khổ. Và bạn bè của họ, dù có nói ra hay không, vẫn thường có cùng một định kiến đó. Cách giải quyết cổ điển về vấn đề chịu khổ và điều ác trong sách Gióp chứng minh rằng các bạn bè của Gióp đã chấp nhận định kiến độc ác nầy như thế nào. Nó càng chất thêm đau khổ lên sự đau đớn vốn chồng chất trên Gióp.
Rõ ràng theo những lời dạy dỗ của Cựu Ước và Tân Ước, sự đau khổ có thể là hình phạt của Đức Chúa Trời, nhưng cũng có nhiều trường hợp khác hoàn toàn không liên quan gì đến những việc làm sai trái của cá nhân. Định kiến máy móc về tội lỗi và hậu quả hình phạt là hoàn toàn không xác đáng.
Đức Chúa Trời không phải là một người cha nhạy cảm ở trên trời với thái độ “Con cái thì vẫn là con cái”. "Ai gieo giống chi lại gặt giống ấy" (GaGl 6:7) là lời cảnh cáo nghiêm khắc đối với ai dám đùa giỡn với Đức Chúa Trời bằng thái độ ngạo mạn. "Một lý do làm cho tội lỗi và sự đau khổ phát triển là kết quả từ việc người ta đối xử với tội lỗi như cây kem ngọt thay vì những con rắn độc." 2
Hiển nhiên là có mối quan hệ giữa đau khổ và tội lỗi, nhưng rõ ràng là không phải lúc nào cũng vậy. Chúng ta đã có những lời chắc chắn của Đức Chúa Trời về vấn đề này. Những môn đệ rõ ràng là hậu thuẫn cho việc chịu đau khổ là do phải trả giá. Một ngày nọ khi họ thấy người đàn ông bị mù từ lúc sinh ra, họ muốn biết ai đã phạm tội để dẫn đến tình trạng mù loà này - của chính người ấy hay cha mẹ anh ta. Nhưng Chúa Giê-xu chỉ ra rõ ràng rằng không ai chịu trách nhiệm về tình trạng đó “nhưng ấy là để cho những việc Đức Chúa Trời được tỏ ra trong người" (GiGa 9:1-3).
Khi nghe tin có mấy người Ga-li-lê bị Phi-lát giết, Ngài đã vạch rõ rằng không phải chỉ vì số người đó có tội nặng hơn những người Ga-li-lê khác. Ngài bảo rằng 18 người đã chết vì bị tháp Si-lô-ê đổ xuống đè lên cũng không phải phạm tội nhiều hơn những người khác trong thành Giê-ru-sa-lem. Rồi từ hai biến cố bất ngờ đó, Ngài kết luận: “Nếu các ngươi chẳng ăn năn, thì hết thảy sẽ bị hư mất như vậy" (LuLc 13:1-3).
Nếu giải thích rằng bất cứ tai họa hay sự đau khổ nào ập đến là hình phạt của Đức Chúa Trời thì rõ ràng chúng ta đã quá hấp tấp khi kết luận một cách máy móc về trường hợp của chính mình hay của người khác. Hơn nữa, như Hopkins đã nhận định, dường như các ví dụ của Kinh Thánh đã cho chúng ta thấy rõ ràng là nếu sự hoạn nạn của một người là kết quả của việc làm sai trái, thì chắc chắn người chịu đau khổ nhận biết rằng sự hoạn nạn đó chính là hình phạt dành cho mình.
Hình phạt xảy đến sau lời cảnh cáo
Thật sự, một trong những chân lý sâu sắc trong toàn bộ Kinh Thánh là hình phạt của Đức Chúa Trời luôn xảy đến sau lời cảnh cáo. Xuyên suốt Cựu Ước, chúng ta thấy có những lời khẩn khoản của Đức Chúa Trời và lời cảnh cáo về sự đoán phạt được lặp đi lặp lại. Chỉ sau khi đương sự bỏ qua lời cảnh cáo và khinh thường nó thì hình phạt mới xảy đến. Những lời đầy cảm động của Đức Chúa Trời là ví dụ: “Ta chẳng lấy sự kẻ dữ chết làm vui... Các ngươi khá xây bỏ đường lối mình và được sống. Các ngươi khá xây bỏ, xây bỏ đường lối xấu của mình. Sao các ngươi muốn chết, hỡi nhà Y-sơ-ra-ên?" (Exe Ed 33:11).
Cùng chủ đề nầy vẫn tiếp tục trong Tân Ước. Còn hình ảnh nào mô tả về tình yêu thương và sự nhịn nhục của Đức Chúa Trời cảm động hơn là cảnh Chúa Giê-xu than khóc cho Giê-ru-sa-lem: “Hỡi Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem.... bao nhiêu lần ta muốn nhóm họp các con ngươi như gà mái túc con mình lại ấp trong cánh, mà các ngươi chẳng khứng!" (Mat Mt 23:37). Chúng ta có lời rõ ràng của Phi-e-rơ rằng Chúa không muốn cho "một người nào bị chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn" (IIPhi 2Pr 3:9).
Khi có ai hỏi: “ Tại sao một Đức Chúa Trời tốt lành lại có thể đẩy người ta xuống địa ngục?" chúng ta phải vạch rõ rằng, theo một ý nghĩa thì Đức Chúa Trời không đẩy bất kỳ ai xuống địa ngục hết. Chúng ta tự đẩy mình xuống đó. Đức Chúa Trời đã làm mọi thứ cần thiết để cho chúng ta được tha thứ, được cứu chuộc, được thanh tẩy và xứng đáng vào thiên đàng. Phần còn lại cho chúng ta là nhận lãnh món quà đó. Nếu chúng ta từ chối nó, Đức Chúa Trời không có chọn lựa nào khác hơn là cho chúng ta điều mình đã chọn lựa. Đối với người không muốn ở với Đức Chúa Trời, ngay cả thiên đàng cũng trở thành địa ngục.
Dầu lắm lúc chúng ta có thể lấy sự đoán phạt của Đức Chúa Trời để giải thích sự đau khổ, nhưng cũng có nhiều khả năng khác cần xem xét. Như chúng ta đã thấy trước đây, loài người phải chịu trách nhiệm về hậu quả của tội lỗi và sự chết vào trong thế gian nầy. Chúng ta đừng quên rằng những việc làm sai trái của con người cũng phải chịu phần lớn trách nhiệm đối với những hoạn nạn và đau khổ trong thế giới ngày nay. Cẩu thả trong việc xây dựng một tòa nhà đôi khi cũng đưa đến hậu quả là ngôi nhà bị sập trong cơn bão, gây ra sự thiệt mạng và bị thương cho nhiều người. Bao nhiêu mạng sống đã bị cướp đi do những người lái xe say rượu gây nên? Những tội gian lận, dối trá, trộm cắp và ích kỷ là những đặc điểm trong xã hội của chúng ta ngày nay đều gặt hái hoạn nạn đầy cay đắng. Chúng ta không thể trách Đức Chúa Trời về những việc này được! Cứ nghĩ xem có bao nhiêu hoạn nạn đau khổ đã phát sinh từ những việc làm sai trái của con người, thật kinh khủng khi người ta chịu bao nhiêu tai họa gây ra do cách này.
Có ma quỷ không?
Nhưng không phải chỉ có loài người sống đơn độc trên quả đất này. Nhờ sự mạc khải thiên thượng chúng ta biết có sự hiện diện của "kẻ thù", chính là ma quỷ. Chúng ta được biết là tùy cơ hội, nó xuất hiện dưới nhiều hình thức thích hợp với từng hoàn cảnh. Nó có thể hiện ra như một thiên sứ sáng láng hay như con sư tử rống, tùy theo từng hoàn cảnh và mục đích của nó. Tên nó là Sa-tan. Đức Chúa Trời đã từng cho phép nó hành hại Gióp (Giop G 1:6-12). Trong chuyện ngụ ngôn về hột giống tốt và cỏ lùng, Chúa Giê-xu đã giải thích việc phá hoại mùa màng của người nông dân như sau: “ấy là kẻ thù đã làm điều đó" (Mat Mt 13:28). Sa-tan rất vui khi được phá hoại công trình sáng tạo của Đức Chúa Trời và gây ra đau khổ, hoạn nạn cho dân sự Ngài. Đức Chúa Trời cho nó một số quyền lực giới hạn nhưng qua quyền năng của Chúa Giê-xu Christ, chúng ta có quyền trên Sa-tan. Chúng ta được bảo đảm “Hãy chống trả ma quỷ, thì nó sẽ lánh xa anh em" (Gia Gc 4:7). Tuy nhiên Sa-tan cũng gây ra một vài chứng bệnh và sự đau khổ trong thế giới ngày nay.
Để trả lời cho câu hỏi tại sao Đức Chúa Trời cho Sa-tan được quyền gieo rắc đau khổ, chúng ta có thể mượn lời của Robinsin Crusoe đáp lời người đầy tớ tên Friday của mình.
Friday hỏi: “Thưa ông chủ, ông nói rằng Đức Chúa Trời rất mạnh, rất vĩ đại; vậy Ngài có mạnh và quyền năng bằng ma quỷ không?"
"Có chứ, có chứ; Friday à, Đức Chúa Trời mạnh hơn ma quỷ rất nhiều."
"Nhưng nếu Đức Chúa Trời mạnh hơn và quyền năng hơn ma quỷ thì tại sao Ngài không tiêu diệt ma quỷ đi để nó không làm điều ác nữa?"
Crusoe trả lời sau khi suy nghĩ: “Vậy sao mày không hỏi tại sao Đức Chúa Trời không giết cả tao với mày đi khi chúng ta làm điều ác và xúc phạm đến Ngài?"
Đức Chúa Trời cảm nhận được những đau khổ của chúng ta
Khi khảo sát về vấn đề đau khổ và hoạn nạn, cho dù về mặt thể xác hay tinh thần, chúng ta cần nhớ một nhận xét quan trọng khác. Đức Chúa Trời không ở xa, đứng từ xa và không thấu rõ hay lánh mặt những người thuộc về Ngài trong cơn khốn khó của họ. Chẳng những Ngài ý thức được sự khốn khổ mà Ngài còn cảm biết được nó nữa.
Không hề có sự đau khổ hoạn nạn nào đến với chúng ta mà chưa đi qua tấm lòng và bàn tay của Đức Chúa Trời trước. Dầu chúng ta có thể chịu khốn khổ đến thế nào, thì cũng phải nhớ rằng Đức Chúa Trời là một thống khổ nhân vĩ đại. Những lời nhà tiên tri Ê-sai dự báo về sự thương khó của Đấng Christ yên ủi chúng ta nhiều lắm: “Người đã bị người ta khinh dễ và chán bỏ, từng trải sự buồn bực, biết sự đau ốm" (EsIs 53:3). Một trước giả khác nhắc nhở chúng ta: “Vì chính mình Ngài chịu khổ trong khi chịu cám dỗ, nên có thể cứu những kẻ bị cám dỗ vậy" (HeDt 2:18). Và "Vì chúng ta không hề có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ chịu thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội" (4:15). Chúng ta cũng được biết thêm: “Anh em chớ làm buồn cho Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời" (Eph Ep 4:30).
Vấn đề của tội ác và đau khổ là một trong những nan đề sâu sắc nhất của mọi thời đại. Đến thời đại chúng ta vấn đề càng trở nên nghiêm trọng hơn với sự đe dọa của chiến tranh hạt nhân và sinh hóa. Không dễ gì trả lời và chúng ta cũng chưa có câu trả lời dứt khoát. Tuy nhiên chúng ta vẫn có được những đầu mối.
Món quà nguy hiểm của tự do ý chí
Đầu tiên, điều ác là một phần tất nhiên của ý chí tự do. Như J. B. Philíps trình bày:
Điều ác vốn gắn liền trong món quà đầy rủi ro của sự tự do ý chí. Đức Chúa Trời có thể tạo ra chúng ta như những bộ máy, nhưng nếu Ngài làm như vậy, chúng ta sẽ bị tước đoạt mọi tự do lựa chọn quý báu của mình, và chúng ta không còn là con người nữa. Thi hành sự chọn lựa theo chiều hướng tội ác mà chúng ta gọi là sự sa ngã của loài người (tội lỗi của A-đam trong vườn Êđen) là lý do cơ bản của điều ác và đau khổ trong thế gian. Đó là trách nhiệm của loài người chớ không phải của Đức Chúa Trời. Ngài có thể hủy diệt tội ác và đau khổ, nhưng nếu làm như vậy, Ngài cũng sẽ tiêu diệt luôn tất cả chúng ta. Điều đáng ghi nhận là toàn bộ quan điểm của Cơ Đốc giáo chân chính không nằm trong việc xen vào vấn đề con người có quyền lựa chọn, nhưng ở việc tạo ra thái độ sẵn sàng chọn điều thiện chứ không phải điều ác. 3
Nếu mỗi cá nhân không ảnh hưởng gì đến người khác thì vũ trụ nầy sẽ trở nên vô nghĩa. Điều đó chẳng khác gì chơi một ván cờ mà cứ thay đổi luật chơi sau mỗi nước cờ. Không ai có thể sống như một ốc đảo, vì như thế đời sống sẽ trở nên vô nghĩa.
Thứ hai, phần lớn những sự đau khổ trong thế giớí có thể suy ra trực tiếp từ những chọn lựa xấu xa mà con người tự chọn. Sự đau khổ thường là hậu quả hợp lý của những sự lựa chọn này. Khi một tên cướp nhà băng giết một người nào đó thì chúng ta thấy rõ hành động gian ác, nhưng khi có một quyết định tai hại trong chính phủ hay trong kinh doanh có thể đem lại sự thiếu thốn và đau khổ cho nhiều người thì những người quyết định đó không hề biết đến. Ngay cả đến hậu quả của nhiều thiên tai đôi khi cũng do sự sơ xuất đáng trách của con người, vì họ khinh thường những lời cảnh cáo của việc sắp xảy đến.
Thứ ba, có vài sự đau khổ chứ không phải tất cả được Đức Chúa Trời cho phép xảy ra như là sự đoán xét hay trừng phạt. Đây là việc có thể xảy ra nhưng chúng ta phải luôn luôn để ý quan sát. Đức Chúa Trời đôi khi cho phép những sự hoạn nạn như vậy với mục đích phục hồi hay đào tạo cá tính con người, và những người chịu khổ vì việc làm của mình thường hiểu điều đó (HeDt 12:7-8, 11).
Thứ tư, Đức Chúa Trời có một kẻ thù luôn thù hận và căm giận khôn nguôi là Sa-tan, dù đã bị đánh bại tại thập giá nhưng nó vẫn tự do gieo rắc những điều ác cho đến kỳ phán xét cuối cùng. Cho nên căn cứ vào lời mạc khải của Đức Chúa Trời và vào kinh nghiệm, thì rõ ràng là trong thế giới tồn tại một quyền lực tội ác mạnh hơn con người.
Thứ năm, chính Đức Chúa Trời là thống khổ nhân vĩ đại và đã giải quyết dứt khoát vấn đề tội lỗi qua quà tặng là chính con Ngài, bằng một giá đắt và sự đau khổ của chính Ngài. Hậu quả của tội lỗi trong cõi đời đời đã vĩnh viễn được cất bỏ khi chúng ta tiếp nhận Chúa Giê-xu Christ. Tội lỗi chúng ta đã được tha, chúng ta tiếp nhận một cuộc đời mới và năng lực để chọn lựa điều tốt nhất Đức Chúa Trời dành cho chúng ta. Ngài hướng dẫn chúng ta và ban thêm năng lực cho chúng ta, tái tạo tính cách của chúng ta ngày càng trở nên giống với Chúa Giê-xu.
Cuộc thử nghiệm lớn nhất của đức tin
Có lẽ cuộc thử nghiệm lớn nhất của đức tin cho Cơ Đốc nhân ngày hôm nay là tin rằng Đức Chúa Trời là Đấng tốt lành. Có nhiều điều trong cuộc sống và nền văn hóa của chúng ta, nếu tách rời ra, chúng ta sẽ nghĩ ngược lại. Helmut Thielecke cho biết nếu dùng một kính hiển vi quan sát một tấm vải thì chúng ta sẽ thấy rất rõ ở chính giữa nhưng mờ ở ngoài bìa. Nhưng nhờ thấy rõ ở chính giữa, chúng ta biết chắc chắn rằng ngoài bìa cũng rõ như vậy. Rồi ông nói, chúng ta nhìn vào cuộc sống giống như nhìn một tấm vải.
Chung quanh bìa của cuộc sống chúng ta dường như mờ ảo, nhiều sự kiện và hoàn cảnh chúng ta không thể nào hiểu được. Nhưng chúng ta có thể giải thích đúng đắn những hoàn cảnh ấy nhờ sự rõ ràng chúng ta thấy ở phần trung tâm - chính là thập tự giá của Đấng Christ. Đừng nhìn vào những mảnh vụn thông tin rời rạc mà phán đoán sự tốt lành của Đức Chúa Trời. Ngài đã bày tỏ rõ ràng sự tốt lành của Ngài và chứng minh đầy ấn tượng cho chúng ta trên thập tự giá. "Ngài đã không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho, thì Ngài há chẳng cũng sẽ ban mọi sự luôn với con ấy cho chúng ta sao?" (RoRm 8:32). Đức Chúa Trời không bao giờ đòi hỏi chúng ta phải hiểu nhưng chỉ phải tin cậy nơi Ngài y như chúng ta đòi hỏi con cái chúng ta tin tưởng nơi tình yêu và sự chăm sóc khi chúng ta dắt chúng đến bác sĩ. Chúng ta sẽ được bình an khi nhận thức rằng trong cuộc đời nầy chúng ta không có bức tranh hoàn chỉnh. Nhưng thấy được ngoài bìa cũng đủ tốt đẹp cho chúng ta rồi.
Chúng ta có thể tin chắc, với niềm vui và sự bình an: "mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời” (8:28).
Đôi khi chính phản ứng của chúng ta đối với sự đau khổ sẽ quyết định từng trải chúng ta gặp là phước hạnh hay tai họa, hơn là chính bản thân sự đau khổ. Cùng sức nóng mặt trời làm chảy bơ nhưng cũng làm đất sét cứng thêm.
Khi nhờ ân điển của Đức Chúa Trời, chúng ta có thể nhìn đời qua ống kính đức tin vào tình yêu của Đức Chúa Trời, chúng ta có thể khẳng định như Ha-ba-cúc: “Vì dầu cây vả sẽ không nứt lộc nữa, và sẽ không có trái trên những cây nho, cây ô-li-ve không sanh sản, và chẳng có ruộng nào sanh ra đồ ăn; bầy chiên sẽ bị dứt khỏi ràn, và không có bầy bò trong chuồng nữa. Dầu vậy, tôi sẽ vui mừng trong Đức Giê-hô-va, tôi sẽ hớn hở trong Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi tôi" (HaKb 3:17-18).
Nguồn: vietlyso.com

Audio sách Khải huyền (giọng đọc miền Trung)

Đoạn 1 - 12: http://files.myopera.com/holyquy/files/1-12.mp3
Đoạn 13-hết sách Khải huyền (đoạn 22): http://files.myopera.com/holyquy/files/13-22.mp3

4 con sanh vật trước ngôi trong sách Khải huyền là gì?

Tương tự
4 vật sống (Exechien 1:5-6)
Exechien 1:10-11

4 cherubim (hoặc 4 tạo vật, Exechien 10:20-22)
Exechien 10:12,14

Các seraphim
E-sai 6:2-3

Để giúp hiểu 4 con sanh vật đó, chúng ta hãy nhìn những gì mà Moise cung cấp cho chúng ta về hòm giao ước. Chúa bảo Moise làm mẫu hòm giao ước theo mẫu mà Ngài chỉ trên núi (Heboro 8:5, Xuất 25:8,9,40, Công vụ 7:44). Như đã đề cập trong Xuất 25:17-19, và 37:6-9, Moise đã thực hiện cho mỗi lần chấm dứt ngôi khoan dung 2 cherubm. Theo Xuất 25:20, và 37:9, 2 cánh tràn ra ngôi cao sang. Trong 1 chi tiết khác, các cánh của cherubim, Solomon đã thực hiện chạm vào ngôi cao sang theo 1 Các vua 6:27,28, và đã tham dự theo 2 Sử ký 3:12-13. Trong Exechien 1:10-11, chúng ta thấy trong thực tại của thiên đàng, các cánh của cherubim tham gia. Các mục hòm giao ước khác mà được làm theo mẫu sau khi các cherubim thánh được đúc thành các bệ rửa tội.
1 Các vua 7:29-30
Con sư tử được dùng trong kinh thánh như là 1 biểu tượng của sự can đảm, đặc biệt là trong việc truy đuổi xét xử và công bằng (2 Samuen 17:10, CHâm ngôn 28:1). Vi vậy, sư tử thể hiện rõ ràng tính thánh khiết về tính công chính can đảm. (Phục truyền 32:4, Thi thiên 89:14). Sanh vật sống thứ hai giống với 1 con bò con. Tính chất mà 1 con bò mang vào tâm trí bạn là gì? Với những người Do thái, thì con bò là 1 sự sở hữu đáng giá bởi vì quyền lực của nó, (Châm ngôn 14:4, và Gióp 39:9-11). Con bò con, thể hiện sức mạnh, năng lượng dồi dào mà được cung cấp bởi Chúa – Thi thiên 62:11, E-sai 40:26.
Sanh vật thứ 3 có 1 gương mặt giống con người. Điều này phải thể hiện tình yêu thương giống Chúa, do trên đất con người được tạo theo hình ảnh Chúa, với tính chất yêu thương tột bậc. (Sáng 1:26-28, Mathio 22:36-40, 1 Giăng 4:8, 16)
Sanh vật thứ 4 là gì? Sanh vật này giống 1 con phương hoàng đang bay. Chính Chúa gọi sự quan tâm của Ngài với tầm nhìn lớn của con chim ưng: (Gióp 39:29). Vì thế, con chim phượng hoàng (chim ưng) mô tả tốt về sự khôn ngoan, tầm nhìn rất xa. Chúa là nguồn của sự khôn ngoan. Các thiên sứ của Ngài thực hành sự khôn ngoan siêu phàm khi họ tuân theo các lệ luật của Ngài – CHâm ngôn 2:6, Gia-cơ 3:17.

Chúng tương tự như trong Exechien

Biển trong ngần là gì? KH 4:6 , KH 15:2

Từ tiếng Hy lạp, được dịch là trong ngần (glass) là tính từ, mô tả cho nước biển, có nghĩa rằng biển trong mờ, như gương. Từ được dịch là thủy tinh “krustallos” được lấy từ kruos và có lẽ được chỉ là trong khiết như đá.
KH 22:1
Từ thalassa được dịch thành biển được dùng khoảng 22 lần trong Khải huyền, hầu như mang tính tượng trưng.
Trong trường hợp biển thủy tinh, từ biển có lẽ hầu như được hiểu là thể hiện những tội lỗi của nhân loại.
E-sai 57:20
Tôi tin rằng Chúa Jesus đi bộ trên biển Galile không chỉ vì Ngài có sức mạnh mà còn là một biểu tượng sự chiến thắng tội lỗi nhân loại.
Mathio 14:25
Bởi sự công chính của Ngài mà Ngài đã chiến thắng.
Giăng 16:33
Trong lời tiên tri được phán trên núi Olive, Chúa Jesus đã mô tả nỗi đau của các quốc gia như là biển và các con sóng ầm ĩ.
Lu-ca 21:25
Gia-cơ đã ví những người không tin như những cơn sóng biển
Gia-cơ 1:6
Giu-đe đã mô tả những người vô thần như cơn sóng biển
Giu-đe 1:13
Con thú mà được thấy lên từ biển. Đây tượng trưng cho 1 thế lực chính trị phát sinh từ các quốc gia vô thần.
KH 13:1
Vào cuối cùng của thời đại 1000 năm của Đấng Christ khi thiên đàng mới và thế giới mới được lập, không có biển. chúng ta không cho rằng thiên đàng và thế giới bị thay thế vật lý, nó mang tính tượng trưng của 1 chế độ chính quyền mới và được quản lý, nơi mà mọi thứ là bất tử và Chúa ngự giữa họ. trong cảm giác này, không có biển , có nghĩa là không có các quốc gia vô thần hoặc tội ác của nhân loại trên thế giới.
KH 21:1
Quay lại với các câu trong câu hỏi:
KH 4:6
Nếu biển thể hiện tội ác của nhân loại, thì biểu tượng trong suốt sẽ thể hiện rằng mọi thứ được biết cho một người mà ngồn trên ngôi và tương lai được tiết lộ khi cuộn sách được mở. tầm nhìn được tăng lên, do 4 sinh vật sống có đầy mắt trước và sau.
Heboro 4:13
Công vụ 15:18
Trong chương 15, chúng ta được thể hiện trong biểu tượng sự chiến thắng của đức tin.
KH 15:2
Ngọn lửa được dùng như là 1 biểu tượng cho các sự phán xét của Chúa đến các quốc gia.
Công vụ 17:31
Heboro 10:27
Những người mà đứng trên biển là những người mà bởi đức tin mà thầy của họ vượt qua được thế giới.
1 Giăng 5:4

7 ngọn đèn – 7 vị thần? KH 4:5

Một thảo luận của 7 vị thần được tìm thấy trong lời chào của Giăng. KH 1:4-6. nó bắt đầu với phần đầu của chào hôn thánh của Phaolo (phước và bình an cho bạn). sự khôn ngoan trong sạch đầu tiên từ Chúa đầu tiên là bình an của 7 điều mà ơn thánh khiết của Ngài nằm trong Gia-cơ 3:17
1. yêu hòa bình
2. hòa nhã
3. dễ khoan dung
4. đầy nhân từ
5. đầy trái tốt
6. không thiên vị
7. không giả hình

7 vị thần, nếu từ E-sai 11:2, đề nghị 1 sự kết thúc sợ hãi (của luật pháp), không bình an. Vì vậy chúng ta biết rằng Chúa là 1 vị thần, không phải là 7 vị thần. 7 vị thần nói đến tình trạng sau cùng của con người tệ hơn hay tốt hơn; và theo luật pháp, không phải theo ân điển. vì vậy chúng ta biết rằng yếu tố chung trong 7 vị thần tệ hơn (đáng nguyền rủa hơn) là luật pháp:
1. Luật khác (tham lam đời này)
2. Luật của thánh linh (luật sai lạc)
3. Luật thứ hai (gần giống ban đầu)
4. Luật của Chúa (mà Chúa của 2 luật)
5. Luật hoàng gia
6. Luật tự do (luật tội và chết)
7. Luật tự do hoàn toàn (tiêu diệt)

7 vị thần? 7 vị thần của Khải huyền? 7 vị thần của Chúa? 7 vị thần trong khải huyền được đề cập một cách quý trọng 4 lần trong đó, giống với 4 con ngựa (ngựa cái đêm Danien) được đề cập. và có lẽ khi người cỡi ngữa vào cuối cùng của 4 con ngựa cái đêm Danien được đặt tên: “sự chết”, sự đề cập thứ 4 trong 7 vị thần trong khải huyền cũng đề cập đến 1 con chiên bị giết. Nhưng điểm khác được thể hiện là những gì làm theo một cách quý trọng người cỡi này vào con ngựa cái đêm thứ 4 là địa ngục, không phải thiên đàng.

Cửa mở ra trên trời? KH 4:1

Cổng vào ngôi ở thiên đàng
Đường dẫn đến cửa mà mở đầu chương này là 1 sự chuyển tiếp từ thế giới đến thiên đàng, nơi mà Chúa chúng ta đồng trị với Cha. Cửa được mở cho Ngài ngồi với Cha Ngài là 1 câu quan trọng trong chương 3 có nhắc đến.KH 3:21
Tôi nhìn tốt hơn tôi thấy như trong KH 18:1, cách mô tả về 1 cảnh mới.
Một cánh cửa được mở ra.
Một số khái niệm thú vị trong câu này giúp chúng ta hiểu các cảnh đến. (1) Khi Giăng nhìn, cửa được mở ra. Điều này ngụ ý rằng việc mở không thể làm cho ông thấy nhưng có ý nghĩa đặc biệt cho chúng ta phát hiện. Việc thấy của ông không phải là 1 phần của hành động tiên tri. (2) Bởi vì chúng ta được thấy cái cửa được mở, chúng ta biết rằng nó được đóng trước đó. (3) Cần nhớ rằng, trong các chương trước đó, Chúa Jesus còn ở trên đất, đi trong số các chân đèn của các hội thánh. Hiện giờ, chúng ta đang đề cập đến Ngài ở thiên đàng. Điều này dường như lạ bởi vì các hội thánh đúng không tồn tại khi Ngài ở trên đất, và chúng ta nhận thấy Ngài ở thiên đàng trong suốt thời gian mà họ tồn tại và trong khi các kỷ nguyên lịch sử mà họ thể hiện thì tồn tại.
Sau khi Ngài đắc thắng trên thập tự, Đấng Christ đã lên thiên đàng. Vậy cái cửa đó được mở khi nào? Xem Công vụ 1:4-9,Công vụ 2:1-4
Cửa được mở ra để xác nhận sự đắc thắng của Đấng Christ chăng?
Có lẽ vậy, do Ngài di chuyển từ thế giới lên thiên đàng vào thời điểm này theo chủ nghĩa tương trưng, thiên đàng là ngôi hoạt động của Ngài cho hầu hết sự nghỉ ngơi của sách. Cuối cùng Ngài và Cha lập nhà cho chúng ta ở thế giới mới (KH 21:1-3, KH 21:22). Chúa Jesus đến thế giới ít nhất 1 lần trong thời gian chờ đợi (KH 10:1). (Thi thiên 24:7-10)
Sự thăng thiên
Với cựu ước phần Thi thiên 24, chúng ta có thể tự nghĩ rằng đoạn kinh thánh có thể áp dụng cho sự thăng thiên của Đấng Christ. Cần lưu ý rằng Chúa ở đây là mạnh dạn trong chiến trận và Ngài là vua vinh hiển. Sự đắc thắng của Đấng Christ trong vườn Ghetsemane và đã hy sinh trên thập tự là các chiến thắng vào những thời điểm khủng hoảng trong sự bất diệt. sự thăng thiên vào thiên đàng có thể được nhìn thấy theo chủ nghĩa tương trưng của 1 vị vua mạnh sức quay lại từ chiến trận. Đó là Đấng Christ được vinh hiển trong thiên đàng, đấng mà đã cho Giăng các thông điệp đến bảy hội thánh. 1 khung cảnh huy hoàng khi các cổng thiên đàng mở ra với 1 cách đặc biệt cho 1 người mà đến đã cứu bạn và tôi. Các thiên sứ thì rất vui vẻ, nhung Chúa Jesus chưa được thấy Cha và thấy có giá trị, như trong chương 5.
Và cổng của vua đắc thắng qua các cổng có nghĩa gì? Bởi vì Ngài vượt qua và tham dự với Cha Ngài trên ngôi, Ngài ban cho chúng ta sức mạnh để vượt qua và ngồi với Ngài. Nếu chúng ta đi bộ khi Ngài đi bộ trên đất (1 Giăng 2:6), cũng vậy, chúng ta có thể vào thông qua các cổng để vào thánh, (KH 22:14). Chúng ta có thể theo Ngài vào thiên đàng (KH 14:04, Heboro 10:19).

Tên mới? (KH 3:12)

Cần nhớ rằng những trận động đất của thành Philadenphia cổ, bạn có thể dễ dàng tưởng tượng các dân cư hoảng sợ mà nhốn nháo trong các đền thờ, mà những cột của nó được ghi khắc tên, sau mỗi cú sóc. So sánh với, Chúa chúng ta sẽ viết lên trên những người dân quý giá của thành Gierusalem mới, tên mới của Ngài chỉ quyền sở hữu của Ngài, bởi vì chúng ta được mua với 1 mức giá (1 Corinhto 6:20), biểu thị 1 chương mới trong cuộc đời chúng ta, bởi vì Ngài sẽ cai trị mãi mãi (KH 21:3). Và, những người cai trị trong thành Gierusalem mới sẽ không đi ra ngoài nữa. đây là sự an nghỉ trọn vẹn.
Esai 26:3 Người nào để trí mình nương dựa nơi Ngài, thì Ngài sẽ gìn giữ người trong sự bình yên trọn vẹn, vì người nhờ cậy Ngài.

Vậy có bao nhiêu tên cá nhân được viết lên trên những tín đồ chiến thắng?
Philip2:9 Cũng vì đó nên Ðức Chúa Trời đã đem Ngài lên rất cao, và ban cho Ngài danh trên hết mọi danh,
Giăng 17:11, 12 Con không ở thế gian nữa, nhưng họ còn ở thế gian, và Con về cùng Cha. Lạy Cha thánh, xin gìn giữ họ trong danh Cha, là danh Cha đã ban cho Con, để họ cũng hiệp làm một như chúng ta vậy. Ðang khi Con còn ở với họ, Con gìn giữ họ, trừ đứa con của sự hư mất ra, thì trong đám họ không một người nào bị thất lạc, hầu cho lời Kinh Thánh được ứng nghiệm.
Công vụ 4:12 Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu.
Sau đó, tên mới mà Chúa Jesus viết trên tín đồ chiến thắng?
Có bao nhiêu tên mà người chiến thắng viết lên?
Tên của DCT tôi… tên mới tôi, 1 tên hay 2 tên?
KH 14:1
Danh Ngài, và danh của Cha Ngài … 1 danh hay 2 danh?
KH22:3
Danh? Danh Cha, YHVH, Jehovah, Jehovah-Oshea, Jehoshua, Danh cha được cung cấp cho Jesus.
Mathio 28:19

Giê-sa-bên là ai (KH 2:20)

Giê-sa-bên được mô tả như là 1 người đàn bà gian dối, dùng chồng bà và sau này là các con trai mình để giành và nắm giữ quyền lực của Do thái. Ngoài ra, việc thiết lập thờ phượng thần bà trong Do thái và xây các đền thờ để tôn bà, Giê-sa-bên chịu trách nhiệm cho việc thực hiện của nhiều tiên tri của Đức Giê-hô-va, DCT của người Do thái mà bà ta tuân theo. Sau khi Giê-sa-bên gây ra cái chết của một người đàn ông là Naoth và các con trai bà do tội phản quốc, để mà Ahab có thể sở hữu vườn nho, tiên tri Elijah nói trước về cái chết thảm khốc của Giê-sa-bên.
Giê-sa-bên cứu cả Ahab và con trai lớn của bà, Ahaziah. Con trai nhỏ của bà, Joram, thành công trên ngôi, nhưng bị giết bởi Jehu, người mà sau đó trở thành vua của Do thái. Trong cuộc nổi dậy của Jehu, Giê-sa-bên cũng bị giết, hoàn thành lời tiên tri của Elijah. Bà ta bị quăng ra khỏi cửa sổ và xác chết của bà bị chó ăn. Danh tiếng của bà Giê-sa-bên trong 1 câu ở 1 Các Vua mô tả các mỹ phẩm sử dụng cho cái chết của bà.
Giê-sa-bên trong sách Khải huyền là 1 cô thầy cúng mà theo các hành động hồ đồ trong số những người theo tại Thiatiro, hiện nay thuộc Thỗ Nhĩ Kỳ. Một số học giả tin rằng đoạn này đề cập đến 1 hình ảnh đương thời mà những người đọc sẽ nhận thấy từ sự mô tả. Giê-sa-bên hầu như được dùng như là 1 nickname để chỉ sự độc ác của đàn bà và sự thờ phượng tà thần mà khác Yahweh, thình thoảng được dùng ngày nay.
Mặc dù từ Giê-sa-bên được dùng trong các thế kỷ như là một sự sỉ nhục đàn bà mà thấy như là dâm loạn và đồi bại. Hiện nay, Giê-sa-bên có thể đơn giản chỉ là 1 người đàn bà mạnh sức, thu hút sự dâm loạn của bà. Các tác giả Tom Robbin và Isaac Asimov đều cung cấp các quan điểm về Giê-sa-bên trong công việc của họ, đề nghị rằng câu chuyện Kinh thánh có thành kiến và Giê-sa-bên là 1 người đàn bà mạnh sức mà nâng cao sự thờ phượng tà thần và ủng hộ cho những người đàn ông cai trị trong gia đình bà.

Lỗi Balaam trong sách Khải huyền? (KH 2:14)

Trong một trong 7 bức thư được viết bởi Giăng đến 7 hội thánh ở Á châu, ông viết những lời của Chúa, trong Khải huyền 2:14.
Nó là 1 hội thánh ở Bẹc-găm mà lá thư này được gửi đến. (Kh 1:10-11)
Những lời được dùng chống lại hội thánh là rất kinh khủng, hội thánh bị khiển trách vì còn chứa đạo lý của Nicola, thuộc Balaam. Hội thánh Epheso được khen vì ghét những người theo Nicola, đảng Nicola lừa dối các cơ đốc nhân, nhưng tin vào sự tự do giả và sự dâm loạn trong những người thờ phượng, vì vậy chống lại đạo lý ơn phước của sứ đồ Phaolo (2 Phiero 2:15, 16 và 19). Chúa luôn dùng thanh gươm 2 lưỡi hoặc roi để trừng phạt tội lỗi, ghê tởm đối với Ngài. Nếu người tội lỗi phạm tội bởi những người mà không tin hắn hoặc/và đứng chống lại trẻ con mà Ngài chọn, thì Chúa trừng phạt họ với lưỡi gươm và nếu tội lỗi từ các trẻ được chọn bởi hắn, thì Chúa dùng roi để đánh họ.
Sự gài bẫy của Balaam
Balaam đã gài bẫy những người Do thái thực hiện 2 tội lỗi kinh tởm nhất mà ghê tởm đối với DCT (chương 25 dân số ký). Những ai theo tội lỗi này bị trừng phạt bởi DCT trong thời gian dài. DCT sẽ không cho phép bất cứ chế độ nào cho phép 2 tội này. Trong khải huyền chương 13, tội lỗi dâm loạn là rất rõ ràng. DCT gặp Babylon mẹ đại dâm phụ với các chuỗi tội lỗi kinh tởm. đây là chúng ta thấy trong khải huyền 2:!4, nơi mà đạo giáo Balaam được nói đến. Balaam làm vấp ngã các con cái Do thái, ăn những đồ ăn cúng thần tượng, và dâm loạn. DCT là thánh, và Ngài không tha thứ cho bất cứ tội nào, nhất là thần tượng và dâm loạn.
Những đứa con Do thái đi theo 2 tội này khi họ cắm trại tại Shittim, trong đồng bằng Moab, phía động Jordan, nơi mà họ làm điều dâm loạn với các con gái Moab. Các con cái của Do thái không chỉ cúi đầu thần của họ, mà còn thờ cúng chúng. Các con cái Do thái tham dự vào Baalpeor,quên mọi lợi ích và phước lành mà họ nhận từ DCT của Do thái. Đó là lý do tại sao cơn giận của DCT chống lại Do thái. (Dân số ký 25:4-6)
Đây là nơi mà Balaam và Balak tập trung. Chúng ta hiểu rõ rằng họ có tham vọng đạt các mục đích. Balak là vua Moab, giữ Ballam như là tiên tri giả để lừa gạt con cái Do thái. Việc giữ Balaam bởi Balak không phải là nhiệm vụ dễ dàng, nhưng dần dần ông đã đạt được mục đích có được Balaam vì quyền lợi của ông ta. Balaam đã gặp sự chết với gươm của Chúa (Giô-suê 13:22). Thật sự rất khó cho nhiều người hiểu tính chất của Balaam, bởi vì nó xuất hiện rằng ông ta đã tuân theo Chúa vào mỗi giai đoạn, nhưng cuối cùng ông ta làm theo lợi ích của ông ta.


An-ti-ba trong sách Khải huyền? (KH 2:13)

Antiba được ghi lại duy nhất 1 lần trong sách Khải huyền, và được mô tả như là ngời làm chứng trung thành cho Chúa, được mô tả là kẻ làm chứng trung thành của Chúa Jesus Christ; và được mô tả ở và làm mục sư nơi Satan ở tại Bẹc-găm.
Antiba là bạn đồng công của sứ đồ Giăng, người mà đã chép lại sách Khải huyền.
Trong khi Antiba bị tử đạo trễ trong cuộc đời của sứ đồ Giăng, dựa vào các nguồn tài liệu chính xác về Antiba.
Tuy nhiên, các truyền thống xuất phát từ hội thánh cơ đốc chính thống đông phương, khoảng 1000 CE, đã vẽ 1 bức tranh mà nhiều người tin là thật.
Antiba truyền thống (được hư cấu khá đúng) được xem là giám mục của hội thánh cơ đốc ở Bẹc-găm, và ông tử đạo vì đức tin bởi vì sự làm chứng trung thành kiên định của ông trước mặc các quỷ satan ở đó.
Khi Antiba được khuyên:
“Antiba, toàn thể thế giới chống lại ông
Antiba trả lời lại:
“Sau đó tôi chống lại toàn thế gian”
Antiba bị thiêu sống trong một con bò rỗng, mà có 1 đám lửa đốt rác dưới bụng, bởi vì Antiba đã từ chối, quyết không bỏ đức tin trong Chúa Jesus Christ.
Sự làm chứng trung thành và sự tử đạo trung thành cho đức tin không lay chuyển của ông trong Chúa Jesus Christ là những gì mà đề cập đến Antiba trong những trang Kinh thánh, và 1 nơi trong hành lang ngọn lửa đức tin của Đức Chúa Trời.

Bị hoạn nạn trong 10 ngày (KH 2:10)

Cần lưu ý rằng Chúa Jesus cũng nói họ rằng họ sẽ phải hứng chịu sự bắt bớ 10 ngày. Lời tiên tri chính xác này đã xảy ra không chút hoài nghi cho nhiều người tại Simiecno, nhưng như được thể hiện trước đó, kinh thánh là dùng cho mọi thời đại, và chúng ta thường thấy lịch sử được lặp lại dưới nhiều hình thức. Thực sự, kinh thánh trong một số nơi sử dụng suy nghĩ về các ngày dưới hình thức bao hàm nhiều hơn 1 ngày, nhưng hơn 1 năm, hoặc nhiều năm, hoặc thậm chí thể hiện trong suốt cuộc đời của 1 cá nhân chẳng hạn trong những ngày của vua, hoặc thể hiện một thời gian của 1 tình trạng trong ngày mà, …
Ví dụ trong
Dân số ký 14:34 Các ngươi đi do thám xứ bao nhiêu ngày, nghĩa là bốn mươi ngày, thì các ngươi cũng sẽ mang hình phạt vì tội gian ác mình bấy nhiêu năm, nghĩa là bốn mươi năm, một năm đền cho một ngày; bấy giờ các ngươi sẽ biết ta đã xây khỏi các ngươi.
Thi thiên 90:4 Vì một ngàn năm trước mắt Chúa Khác nào ngày hôm qua đã qua rồi, Giống như một canh của đêm.
Thi thiên 90:15 Xin Chúa làm cho chúng tôi được vui mừng tùy theo các ngày Chúa làm cho chúng tôi bị hoạn nạn, Và tùy theo những năm mà chúng tôi đã thấy sự tai họa.
Lu-ca 17:24 Vì như chớp nháng lòe từ dưới phương trời nầy đến dưới phương trời kia, thì Con người trong ngày Ngài cũng như vậy.
Khải huyền 9:15 Bốn vị thiên sứ bèn được cổi trói, đã chực sẵn đến giờ, ngày, tháng, và năm ấy, hầu cho tiêu diệt một phần ba loài người.

Trong giai đoạn Simiecno, các cơ đốc nhân thường bị bắt bớ bởi chế độ La mã, những người yêu cầu rằng họ ăn những đồ cúng thần tượng hoặc tham gia thờ phượng một thần tượng. Những tín đồ trung tín bị bắt bớ và thường mất mạng vì xác định chịu đựng các nhu cầu của chế độ La mã. Một hình thức cám dỗ tương tự được thi hành vào 4 đứa trẻ Do thái khi chúng bị bắt giữ bởi vua Baylon trong Cựu ước. Chúng cũng được chứng minh là 10 ngày, nhưng họ chọn không ăn theo thực đơn thịt của vua (mà không thánh và được dùng để tôn thờ thần tượng). Đa-ni-ên đã bảo với đầu bếp phục vụ của vua rằng:
Đa-ni-ên 1:12-15: Tôi xin ông hãy thử những kẻ tôi tớ ông trong mười ngày, cho chúng tôi chỉ ăn rau uống nước. Sau đó, sẽ nhìn nét mặt chúng tôi với nét mặt những kẻ trai trẻ ăn đồ ăn ngon của vua; rồi ông sẽ làm cho những kẻ tôi tớ ông theo như điều ông đã thấy. Ham-mên-xa nhậm lời họ xin, và thử họ trong mười ngày. Mười ngày ấy qua rồi, thấy mặt họ lại có vẻ xinh tươi đầy đặn hơn mọi kẻ trai trẻ khác đã ăn đồ ngon vua ăn.
Vì vậy, lần nữa chúng ta lặp lại lời cảnh báo mà Chúa Jesus cung cấp trong Khải huyền 2:10 “và các ngươi phải chịu thử thách trong 10 ngày”. Hiện giờ, người ta biết rằng nhiều bắt bớ phải chịu nhiều hơn 10 ngày trở lại thời điểm này vì vậy, người ta chấp nhận rộng rãi rằng 10 ngày này là một sự thể hiện tinh thần của một giai đoạn lâu dài hơn (10 ngày, 1 ngàn năm, …) hoặc họ có thể thể hiện luật 10 vua. Có 1 số khả năng tiềm ẩn mà đã liệt kê ở đây:
10 ngày thể hiện 10 năm cuối cùng của sự bắt bớ tàn khốc La mã đối với các cơ đốc nhân mà bắt đầu với chế độ của Diocletian vào năm 303 SCN, và kết thúc với sắc lệnh của Milan, được ban hành bởi 2 vua, Constantine và Licinius vào năm 313 SCN.
Hoặc nó có thể thể hiện các chế độ của 10 vua La mã mà bắt bớ các cơ đốc nhân: Nero, Domitian, Trajan, Marcus Aurelius, Septimius Severus, Maximinius, Decius, Valerian, Aurelian, và Diocletian.
Hoặc có thể thể hiện 10 vua kết hợp với 8 con thú của Khải huyền 17:12-14.
Hoặc có thể thể hiện 100 năm, trong một giai đoạn 1000 năm thể hiện giai đoạn đối chiếu với mô tả trong Khải huyền 20:1-4.
Dĩ nhiên, nó có thể thể hiện mọi điều này, bởi vì lời của Đức Chúa Trời là dành cho mọi người của mọi thời đại, và có thể được hoàn thành theo ý muốn của Chúa trong một số thời đại khác nhau, nhưng tương tự với các cách theo thuộc linh. Chúng ta cũng nhận thấy rằng các cảnh báo của mỗi giai đoạn hội thánh được hoàn thành trong giai đoạn hội thánh tiếp theo. Vì vậ, chúng ta được nhắc nhở rằng trong giai đoạn hội thánh tiếp theo, Bẹc-găm, các cơ đốc nhân chân thật sẽ chịu bắt bớ nữa, nhưng thời điểm này nằm trong bàn tay của những người được gọi là Cơ dốc nhân. Chúa chúng ta nói với chúng ta liên quan trong thư Bec-găm (Khải huyền 2:13)
Sự hoạn nạn 10 ngày có thể thể hiện thời điểm đến không? Thời điểm bắt bớ đã gần cho những người mà tuyên bố là hội thánh.


Ni-cô-la là ai trong sách Khải huyền

Trước hết, chúng ta hãy kiểm tra xem tên Nicola có nghĩa gì.
Từ Nicola xuất phát từ các từ trong Hy lạp, nikos có nghĩa là kẻ chiến thắng hoặc kẻ hủy diệt, và laos, có nghĩa là con người. Nicolas ban đầu – Nimrod (Sáng 10:8), là một kẻ hủy diệt loài người. Nicola chỉ là một từ Hy lạp nói về Nim-rốt. Trong vòng 2 thế kỷ sau Nạn nước lục, Nim-rốt chiến thắng loài người và đã sáng lập ra nền văn minh nhân tạo.
Khi còn sống, Nim-rốt đã kiểm soát các vấn đề của ông ta về việc thờ phượng hắn trong nơi Đức Chúa Trời. Thậm chí sau cái chết của ông ta, những người theo ông ta tiếp tục thờ phượng ông ta như là một người dẫn đầu anh hùng thiêng liêng. Ông ta được gọi là Ba-anh. Tên này có nghĩa là thầy và chúa, và được tìm thấy nhiều lần trong Cựu ước. Tên này mô tả các vị trí mà Nim-rốt đã có được –được xem là Chúa và thầy của tạo hóa.
Nhưng Ba-anh chỉ là 1 trong nhiều tên của Nim-rốt. 1 tên khác trong các tên của ông ta, được sử dụng phổ biến ở vùng tiểu Á châu, là Santa. Bộ sách bách khoa lịch sử thế giới của Langer giải thích nhiều về Santa Claus là một hình thức rút gọn của Nicola hay là Santa Nicola.
Trong Tân ước, những người theo Nicola được đề cập đế như là Đảng Nicola. Những người này-gọi một cách giả dối là các Cơ đốc nhân-đã tôn vinh Nim-rốt trong suốt thời gian của sứ đồ Giăng – ngày càng nhiều hiện nay!
Hầu hết mọi người tôn vinh Nicola vào ngày nào? Nhiều người tôn vinh không có ý thức Nim-rốt vào ngày 25 tháng 12! Christmas được tổ chức ban đầu và được gọi là Saturnalia – ngày sinh của Nim-rốt và Saturn. Các thói tục từ ngày nghỉ ngoại giáo sau đó được chuyển và được thực hiện để xuất hiện tốt và vô hại.
Người ta không biết rằng Christmas tôn vinh Nicola-Nim-rốt-kẻ độc tài và bạo chúa đầu tiên! Việc tuyên bố các cơ đốc nhân phục vụ và tôn vinh Nim-rốt trong ngày Christmas-không phải là tôn vinh Chúa Jesus Christ! (Xin xem thêm, trong quyển sách The True Origin of Christmas).


Anpha và Ô-mê-ga?

Anpha và Ô-mê-ga
Cụm từ Anpha và Omega trong câu kinh thánh “Ta là Anpha và Omega”, một tên gọi của Chúa Jesus trong sách Khải huyền.
Trong sách Khải huyền, nói rằng “Ta là Anpha và Omega, đầu tiên và cuối cùng”. Phần đầu của câu này “Ta là Anpha và Omega” được tìm thấy đầu tiên trong chương 1 câu 8, và được tìm thấy trong mỗi bản viết tay của sách Khải huyền và có câu đó. Một số bản chép tay sau đó lặp lại “Ta là Anpha và Omega” trong chương 1 câu 11, nhưng không nhận được sự ủng hộ từ hầu hết các bản chép tay cũ nhất, bao gồm Alexandrine, Sinaitic và Codex Ephraemi Rescriptus. Do đó, bị bỏ sót trong một số bản dịch hiện đại. Scholar Robert Young đã nói rằng, với các đánh giá câu “Ta là Anpha và Omega” trong chương 1 câu 11, mà MSS cũ nhất bị bỏ sót.

Nghĩa của nó được tìm thấy rằng Anpha và Omega là các ký tự đầu tiên và cuối cùng trong bảng chữ cái Hy lạp cổ. Tương tự trong tiếng Anh là A và Z, Vì vậy, 2 lần được xác nhận với sự bổ sung “ban đầu và kết thúc”.
Mặc dù nhiều bình luận và từ điền áp dụng tiêu đề này áp dụng cho cả Đức Chúa Trời và Đấng Christ, một số nguồn khác thì phản đối. Trong các lưu ý của barne về Tân ước (1974) nói rằng: Không thể hoàn toàn chắc chắn rằng người viết mà đề cập đến Chúa Jesus một cách cụ thể ở đây. Không có sự thích hợp thực sự trong việc giả thiết, cũng vậy người viết đề cập đến Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, hầu hết các cơ đốc nhân cho rằng nó áp dụng cho Chúa Jesus và Đức Chúa Trời mà là một, Khải huyền chương 22 Chúa Jesus nói những lời” Ta là Anpha và Omega, đầu và cuối cùng”.
Do đó các ký tự Anpha và Omega đứng kế nhau cũng thường được dùng như là ký tự trực quan của một Cơ đốc nhân (xem các ví dụ). Các ký tự cũng được thể hiện trong việc treo các cánh tay trên thập tự gái trong nghệ thuật Cơ đốc nhân ban đầu, và một số thập tự giá trong kim loại quý tạo ra các ký tự mà treo theo cách này. Thực sự, dù luôn nằm trong Hy lạp, nhưng các ký tự trở nên phổ biến hơn ở phương Tây hơn là nghệ thuật Cơ đốc nhân Eastern Orthodox. Chúng thường được thể hiện ở bên trái và phải của đầu Đấng Christ, thỉnh thoảng nằm trong vinh hiển của Ngài, nơi chúng thay thế biểu tượng Chúa mà dùng trong nghệ thuật chính thống.
Ký tự này được đề nghị bởi Aposalypse, nơi mà nhiều người tin rằng Đấng Christ, cũng là Cha, là đầu và là cuối; Anpha và Omega, đầu và cuối cùng, ban đầu và kết thúc. Clement của Alexandria (thế kỷ thứ 2, triết gia và bình luân về thông tin Cơ đốc giáo và ngoại giáo) nói về ngôi lời như là Anpha và Omega là nhân vật mà tận thế bắt đầu, và kết thúc vào ban đầu mà không có sự thất bại nào cả (Stromata, IV, 25), Tertullian (luật sư, nhà thần học) cũng ám chỉ đến Đấng Christ như là Anpha và Omega (De Monogamia, v), và từ Prudentius (Catherner, ix, 10), chúng ta biết rằng trong thế kỷ thứ 4, việc giải thích các ký tự khải huyền vẫn là tương tự. Tuy nhiên, trong các công trình kỷ niệm của Cơ đốc giáo đầu tiên ký tự tượng trưng Anpha và Omega là thịnh hành nhất.
Cụm từ này được giải thích bởi nhiều cơ đốc nhân rằng Chúa Jesus tồn tại từ trước vô cùng (như là nhân vật thứ 2 trong ba ngôi), và sẽ tồn tại mãi mãi. Anpha và Omega là các ký tự đầu tiên và cuối cùng trong bảng chữ cái Hy lạp, giải thích rằng Đức Chúa Trời là ban đầu và kết thúc hoặc mãi mãi. Các ký tự được dùng trong Cơ đốc giáo sơ khai và xuất hiện trong các hầm mộ La mã.
Trong văn chương Do thái, từ ernet (lẽ thật), được sáng tác bởi các ký tự đầu tiên và cuối cùng trong bảng chữ cái Heboro, là con dấu dấu ấn của Đức Chúa Trời, và trong truyền thống Do thái, nó mang một cái ý nghĩa gì đó tương tự như là Anpha và Omega.
Các ký tự Anpha và Omega thường được kết hợp với thập tự giá, chi rho, hoặc các ký tự Cơ đốc giáo khác.
Con quỷ Autothith, mà gây ra đố kỵ, tranh cãi, và đánh nhau giữa loài người, có thể bị trục xuất bởi ký tự Anpha và Omega trên một mẫu giấy.
Người Do thái
Ernet, nghĩa đen là lẽ thật, 1 trong các tên của Đức Chúa Trời tại Do thái, đã được giải thích như là bao gồm các ký tự ban đầu, giữa và cuối cùng của bảng chữ cái Do thái.
Hồi giáo
Kinh Quran cung cấp al-awwal, có nghĩa là đầu tiên và cuối cùng, có nghĩa là cuối cùng như là 2 tên của Đức Chúa Trời.

7 hội thánh trong sách Khải huyền

7 hội thánh trong sách Khải huyền, cũng được biết đến như là các hội thánh của Á Châu (đề cập đến tỉnh La mã của Á châu, không phải toàn bộ lục địa), là 7 hội thánh chính của Cơ đốc giáo ban đầu, như được đề cập trong sách Khải huyền của Tân ước và được viết bởi Ignatius của Antiot. Tất cả 7 vị trí hiện nay ở Thổ Nhĩ Kỳ và không có nhiều Cơ đốc nhân nữa kể từ lúc chúng bị lấy đi bởi hiệp ước Lausanne. Trong sách Khải huyền, ở đảo Patmos, Hy lạp, Chúa Jesus Christ hướng dẫn tôi tớ Giăng viết Khải huyền 1:11.
Các hội thánh trong bối cảnh này đề cập đến cộng đồng các Cơ đốc nhân sống trong mỗi thành phố, và không chỉ là tòa nhà hoặc các tòa nhà mà trong đó chúng tụ tập lại để thờ phượng.
7 hội thánh được xác định tại:
Epheso (xem thêm hội thánh Mary)
Simiecno
Becgam
Thyatiro
Sacde (xem Sacde
Philadenphi
và Laodixe, gần Denizli (xem hội thánh Laodixe)

7 bức thơ
Chương 2 và 3 của sách Khải huyền chỉ rõ những lời nhắn gửi cho mỗi hội thánh trong 7 hội thánh. Lời nhắn cho mỗi hội thánh được gửi trực tiếp đến thiên sứ của hội thánh đó như được đề cập. Từ thiên sư trong đoạn này có thể chỉ về người lãnh đạo hội thánh địa phương, hoặc có thể đề cập đến thiên sứ bảo vệ linh hồn của hội thánh đó. Tất nhiên, việc ứng dụng từ thích hợp ở chỗ khác trong sách không đúng lắm với quan điểm sau đó.
Các bức thư đều theo 1 mẫu: Chúa làm đầu gửi mỗi hội thánh và xác nhận chính Ngài, sau đó xác nhận mọi điều mà Ngài biết về hội thánh. Theo sau sự thử thách hoặc lời chỉ trích, thì kèm theo 1 lời hứa. Trong tất cả 7 trường hợp, lời cảnh cáo đều có, mặc dù đôi lúc lời đó đến trước lời hứa.
Mặc dù các bức thư khác nhau về độ dài theo các nhu cầu của mỗi cộng đồng, nhưng tất cả kếu kết thúc với 1 quyết định đến nhanh và lắng nghe những gì mà Thánh linh nói cho các hội thánh. Mỗi hội thánh được hứa rằng mọi người mà thắng sẽ được phần thưởng của Chúa Jesus Christ.

Các thiên sứ của các hội thánh
Giăng thấy 1 hình ảnh của Con người, mà đi giữa 7 chân đèn và có 7 ngôi sai trong tay phải của Ngài. KH 1:20 nói rằng 7 ngôi sao là các thiên sứ của 7 hội thánh, và 7 chân đèn là 7 hội thánh.
Origen giải thích rằng các thiên sứ này là các thiên sứ bảo vệ của các hội thánh, một quan điểm được ủng hộ bởi henry Alford. Nhưng Epiphanius đã từ chối dứt khoát quan điểm này, và theo hình ảnh của đoạn Kinh thánh, giải thích nó là các giám mục. Sự so sánh của 1 giáo viên với 1 ngôi sao là phù hợp với Kinh thánh. Lý do của Augustine của Hippo mà giải thích các thiên sứ của các hội thánh như là các giáo sĩ của hội thánh là Thánh Giăng nói chuyên với họ khi thất bại trong việc từ thiện của họ mà không thực của các thiên sứ.
Giải thích
Những người theo quan điểm tương lai giải thích điển hình 7 hội thánh là thể hiện 7 giai đoạn khác nhau trong lịch sử hội thánh.

Hình ảnh Chúa Jesus trong sách Khải huyền (KH 1:12-16)

Chân đèn: Hình ảnh Chúa là ánh sáng ngọn đèn đề cập đến hội thánh như là thân thể của các tín đồ và những người có trách nhiệm là ánh sáng và chứng nhân cho Đấng Christ. Hình ảnh ánh sáng của Ngài mà chúng ta đi theo và công bố. Đấng Christ là thấy tế lễ, làm đầu, Chúa, và người chăn đầu của hội thánh. Ngài là đối tượng và lý do tại sao chúng ta gặp và hoạt động. Điều này liên quan đến mô tả trong Cựu ước mà sự vinh hiển của Chúa giáng xuống như thế nào vào hòm giao ước. Hiện nay, mục đích của chúng ta là chỉ ra vinh hiển của Chúa, bởi vì hội thánh là ánh sáng của thế giới. Đấng Christ là vận mệnh và kiểu mẫu mà chúng ta làm theo và tranh đua. Việc nói hội thánh là một chân đèn cho thấy hội thánh có ý nghĩa như là 1 nơi tôn kính thực sự với Chúa, và Cơ đốc giáo là sự thực hiện đúng của Do thái giáo (Sáng 1:3, Xuất 25:31-40, 1 Các Vua 7:49, Xachari 4:2, Mat 5:14-16; 18:20; 28:20, Giăng 1:4-5; 8:12; 14:18, Công vụ 26:13; Epheso 1:10; 5:8-13, Philip 2:15; 1 Giăng 1:4-5; KH 2:9; 3:9).
Giống như con người liên quan đến uy quyền và vai trò của Ngài như là Đấng cai trị và tình yêu cho các tín đồ (Danien 7:9-13; 10:5-6; Exechien 1:25-28; Mác 8:31; Colose 1:16-17).
Áo dài có nghĩa là nổi bật. Đấng Christ xuất hiện trong trí khôn vượt trội và vinh hiển mà thật khó khăn khi nói thành lời, vì thế giới không thể chứa nổi. Bản chất của Ngài. Thấy tế lễ thượng phẩm được mặc các đai và áo dài đẹp, mắc tiền. Điều này liên quan đến sách Exechien và Danien và thể hiện Đấng Christ là Đấng xét xử và cai trị cho mọi người thế giới, đặc biệt là hội thánh mà trong đó chúng ta nghĩ rằng chúng ta cai trị (Xuất 28:4; 29:5; Exechien 1:13, 25-28; Danien 7:9-10, 10:5-6, KH 2:27, 3:21).
Đai vàng là một vật được dệt mà các thầy tế lễ mang. Nó liên quan đến vinh hiển và thấn tánh của Ngài, và sự chiến thắng và chinh phục tội lỗi, và sự đảm bảo chiến thắng cuối cùng trong những ngày cuối cùng. Nó cũng đề cập đến Đấng Christ như là thầy tế lễ thượng phẩm. Trong bối cảnh này, nó cũng là hình ảnh ba ngôi mạnh mẽ (Xuất 29:29; KH 1:17-18; 15:6; 17:14; 19:11-16).
Giống như lông chiên đề cập đến tuổi, sự khôn ngoan, tôn kính, đáng tôn trọng, và phẩm cách (Levi 19:32: Châm 16:31, Danien 7:9, Esai 1:18).
Ngọn lửa có nghĩa là sức mạnh và sự thông hiểu trọn vẹn của ĐỨC CHÚA TRỜI, quyền năng của Ngài như là 1 vị tướng chiến binh, và vai trò của Ngài như là Đấng chiến thắng trong trận chiến cuối cùng sẽ đến. Nó cũng đề cập đến các chiến thắng lớn trong Cựu ước. Điều này chỉ ra sự biến hình (Xuất 15:3, Phục 32:41-42, Các quan xét 5:31, Esai 59:17-18, Xachari 14:3, Danien 10:6, Mathio 13:43, 17:2, KH 4:6, 19:11-21).
Đồng , bàn chân có nghĩa là người mang ngôi vinh hiển của ĐỨC CHÚA TRỜI, và ĐỨC CHÚA TRỜI là mạnh mẽ và vững chắc (Exechien 1:7, Danien 10:6).
7 ngôi sao: các đoạn văn của Người Do thái thường thể hiện các thiên sứ như là ngôi sao. Trái lại, kẻ ngoại giáo nhìn các ngôi sao như là các vật cai trị số mệnh, thực sự, ĐỨC CHÚA TRỜI là Chúa và là Đấng cai trị.
Thanh gươm 2 lưỡi đề cập thanh gươm Thracian mà một con dao găm nhỏ 2 lưỡi được dùng như là một vũ khí tấn công, nó cũng đề cập đến quyền năng của lời Chúa và chứng cớ của Chúa. Nó tượng trưng cho sự xét xử hoàn toàn và hoạt động mang tính quyết định của Ngài (Esai 4:12; 11:4, 49:2; Epheso 6:17, Heboro 4:12, KH 4:12, 16; 6:8; 19:15, 21).
Mặt trời. Các thiên sứ thỉnh thoảng được mô tả như là ánh nắng chiếu sáng như mặt trời (Esai 60:1-3; 19-20, Danien 10:6, KH 21:22).

Phước từ Chúa là gì trong sách Khải huyền?

Phước này không chỉ bao gồm chỉ đọc những sự kiện sắp đến, mà còn làm theo những điều đã ché ptroong đó một cách cụ thể. Có những kết quả. Nếu bạn không làm theo và không giữ lời nhịn nhục của Chúa (KH3:10), bạn sẽ không thoát khỏi giờ thử thách mà sẽ đến trên khắp thế giới. Vì vậy, bạn sẽ không thấy vui sướng trong trạng thái vui sướng lúc đầu. Nếu bạn là một Cơ đốc nhân, bạn sẽ trải qua nỗi khổ. Nếu bạn không phải là Cơ đốc nhân, bạn sẽ trải qua nỗi khổ và kiện cáo các anh em chúng ta trong Chúa (KH12:10),, là những người nhận được sự vui mừng ban đầu.
KH 14:1-5, 12:5, và ấn thứ 5 chỉ rõ ràng các sự vui mừng mà sẽ đến trước khi nỗi khổ bắt đầu. Sự vui mừng ban đầu hoàn toàn được chỉ ra trong KH7:9
Điều kiện nhận sự vui mừng ban đầu là gì? KH3:10. Lưu ý rằng đây là giờ thử thách, không phải là sự thử thách. DCT sẽ cho phép sự thống khổ, tử đạo cho người tin nhận Chúa mà trải qua nỗi thống khổ.
Sự vui mừng xảy ra khi nào? Khi họ đứng trước Chiên Con và mặc áo dài trắng (KH7:9), và trước các tiếng loa của sự khốn khổ thổi lên (KH8)
Có sự khác biệt chỉ ra trong Kinh thánh giữa lúa mì và cỏ lùng, nhưng không có sự khác biệt giữa lúa mì và lúa mì; như vậy, mọi lúa mì phải nhận được vui mừng. Và, cần lưu ý rằng số lần chín của các lúa mì là không giống nhau. Vì vậy, có những mùa vụ đầu tiên và mùa vụ sau đó. Có những thành phần và dấu hiệu mới trong mỗi phạm vi cuộc sống. Không có ngoại lệ ở đây.
Hội thánh sẽ mất hy vọng nếu không có cơ hội nhận sự vui mừng đầu tiên – Tít 2:13, bởi vì trong hy vọng này thì phước hạnh là thoát khỏi đại nạn.
Tất cả những Cơ đốc nhân nhận được phước sau khi trải qua đại nạn lớn, khi đó sự chờ đợi của chúng tôi sẽ không phải là một sự chờ đợi Đấng Christ, chứ không phải chờ AntiChrist, mà hắn sẽ đến trước.
Toàn bộ thân thể của người tin nhận Chúa nhận phước hạnh sau cơn đại nạn, chúng ta sẽ không cần xem, chờ đợi và chuẩn bị lần thứ hai. Cần biết rằng Chúa sẽ không đến trước khi kết thúc 3 năm rưỡi đại nạn, chúng ta có thể sống, chúng ta có thể sống tội lỗi cho đến 3 năm 5 tháng và 29 ngày. Ý kiến đó vi phạm rất cơ bản trong Kinh thánh.
Nhóm người trong giai đoạn đầu xem 12 môn đồ chỉ là các Cơ đốc nhân, ngược với quan điểm của nhóm ban đầu mà xem 12 môn đồ này chỉ là người Do thái. Tuy nhiên, thực sư, 12 môn đồ này là các Cơ đốc nhân cũng như đại diện cho số người Do thái còn sót lại. Chẳng hạn, trong Mathio 10:5,6 và 23:3, chúng ta thấy rằng mọi người đều có một nền Do thái, nhưng thực sự thì bác bỏ những Cơ đốc nhân.
Nhóm người trong giai đoạn đầu không chấp nhận ý kiến về phước hạnh kín nhiệm, những người môn đệ quên lời phán trong KH 16:15, Hãy giữ, vì Ngài sẽ đến như kẻ trộm. Một kẻ trộm đến rất bí mật, không thể hiện rõ ràng, và luôn lấy đi những gì tốt nhất.
Sự tái lâm của Chúa Jesus không phải là sự đến cá nhân. Bắt đầu xảy ra vào giai đoạn khởi sự đại nạn trong những đám mây, sau đó Ngài gặp các thánh trong không trung, sau đó Ngài quay lại với những người tin nhận Chún mà đã đắc thắng.
Có một sự thất bại trong quan điểm của những người trong giai đoạn đầu khi phân biệt giữa sự vui mừng và sự xuất hiện của Chúa. Có một khác biệt giữa việc tái lâm của Đấng Christ cho các thánh và với các thánh. Mà Henoc đã nói tiên tri, như được chép trong sách Giude, chỉ ra việc đến của Chúa, (Giude 14-15), khi bàn chân Ngài đặt tại núi Olive. Vì vậy tiên tri được cung cấp trong sách Khải huyền (KH1:7). Theo quan điểm lịch sử thì các ý kiến của những người theo lịch sử cho rằng một phần sách Khải huyền đến chương 17 đã được hoàn thành, còn phần còn lại từ chương 17 trở đi chờ được hoàn thành. (Điều này ngược với quan điểm tương lai từ những người theo quan điểm tương lai cho rằng chỉ từ chương 1-3 đã được hoàn thành). Cả hai quan điểm đều quá hẹp. Nếu sách Khải huyền chỉ ghi lại những điều quan trọng trong quá khứ, thì đứa con trung bình của DCT có thể hiểu như thế nào? Nó yêu cầu các tiến sĩ triết học và các sử gia nhận thức rõ. Hơn nữa, nó sẽ không còn là sự mặc khải nữa!

Nước thiên đàng: dành cho những người luôn tha thứ cho anh em mình trong Chúa như Chúa tha thứ mình

21 Tháng 12 năm 2012. Ngày Tận Thế (?)



» Tác giả: Nhất Hướng
» Dịch giả:
» Thể lọai: Biên khảo


1. 21 Tháng 12 năm 2012. Ngày Tận Thế (?)

Ngân Hà còn được gọi là Ouroboros (nguồn: www.wordpress.com)

21 tháng 12 năm 2012 là ngày Đông Chí năm Nhâm Thìn. Ngày Đông Chí là ngày Mặt Trời từ Nam bắt đầu đi về Bắc. Trên thực tế Mặt Trời không đi về Bắc vì nó là một định tinh mà trục Bắc Nam của Trái Đất nghiêng về phía Mặt Trời ở phần trên (Bắc)... làm bề mặt của Trái Đất phía hướng ra Mặt Trời chuyển xuống Nam. Chúng ta ở trên mặt đất đang chuyển hằng ngày về Nam nhìn lên Mặt Trời nằm chỗ cố định nên tưởng mặt trời đi về Bắc.

Theo những dấu tích và những tài liệu khảo cỗ như Cây Thiêng và Mật Mã Desden của nền văn minh Maya, một nền văn minh cỗ tại miền nam Mexico nổi tiếng đã phát triển vượt bực về thiên văn học và toán học vào 4000 năm trước, cho biết ngày 21 tháng 12 năm 2012 là ngày mặt phẳng Mặt Trời, mặt phẳng Trái Đất và mặt phẳng Ngân Hà giao nhau tại 8 điểm nên sẽ có một biến chuyển lớn ảnh hưởng đến Mặt Trời hay Trái Đất. Biến chuyển này gây ra chết chóc rất nhiều và làm tiêu diệt nền văn minh của chúng ta hiện nay nên ngày đó gọi là Ngày Tận Thế.

Mặt đất không phải là nơi bình yên như ta tưởng. Nó là bề mặt của một vật quay (Trái Đất ), vật quay này có nhiều chuyển động mà ta chưa hiểu hết được. Vật quay này đang tự quay quanh nó 1 vòng là 24 giờ 1 phút, nó đồng thời quay quanh Mặt Trời một vòng là 365 ngày 6 giờ, nó đồng thời cùng với Mặt Trời quay qua độ dày dĩa mặt phẳng Ngân Hà (Milky Way) một vòng là 26.000 năm, nó đồng thời cùng Mặt Trời và Thái Dương Hệ còn quay theo vòng quay của dĩa Ngân Hà một vòng là 220 triệu năm.

Trong những năm gần đây giới thiên văn Phương Tây đêm đêm nhìn Ngân Hà như nằm bên cạnh (Sideline) Trái Đất mà không sao giải thích được. Họ đã làm nhiều thí nghiệm để đưa đến thuyết cho rằng Ngân Hà không phải là quê cha đất tổ của chúng ta. Ngân Hà đang nuốt gần hết những ngôi sao của thiên hà lùn Sagittarius trong vòng 2 tỷ năm nay, thiên hà này nhỏ hơn Ngân Hà 10.000 lần trong đó có Thái Dương Hệ là nơi chúng ta sinh ra. Nếu thuyết này đúng thì sự chuyển động của vật quay Trái Đất hiện nay đang còn trong vòng ảnh hưởng thiên hà lùn Sagitarious hay do ảnh hưởng Ngân Hà là điều mà chúng ta chưa được biết. Tất cả những chuyển động quay này xảy ra trên trục Bắc Nam của Trái Đất trục này lại xệ dịch 66 độ hàng năm. Ngày 21-12-20012 là Ngày Tận Thế đến với loài người cũng có thể là do cái trục Bắc Nam này bị thay đổi.

Khi nghiên cứu nền văn minh Maya các nhà khảo cỗ cho biết nền văn minh Maya có một cuốn lịch tên là lịch Tzolkin. Lịch này tính một tháng chỉ 20 ngày và một năm chỉ 260 ngày. Họ gọi 360 ngày là 1 Tun, 20 Tun là 1 Katun, 20 Katun là 1 Baktun (khoảng 400 năm), 13 Baktun là 1 Chu Kỳ Lớn khoảng 1.872.000 ngày (5200 Tun hay 5125năm). Cuốn lịch này chỉ tính đến hết Chu Kỳ Lớn này là ngày 21 tháng 12 năm 2012 là chấm dứt và gọi ngày chấm dứt lịch là Ngày Tận Thế.

Đầu thế kỷ XX các nhà thiên văn Phương Tây đã tìm ra sự liên hệ mật thiết giữa lịch Tzolkin và lịch Gregorian của Phương Tây khi tính thời gian dài vì 1 Chu Kỳ Lớn là 5125 năm thì 5 Chu Kỳ Lớn là 1 Năm Lớn là 26.000 năm là thời gian Trái Đất và Mặt Trời quay qua độ dày dĩa mặt phẳng Ngân Hà một vòng. Theo nhà thiên văn John Major Jenkins thời gian Mặt Trời đi qua hết độ dày của dĩa mặt phẳng Ngân Hà là 36 năm kể từ năm 1998. Ngày 21 tháng 12 năm 2012 là ngày được các nhà Thiên Văn Phương Tây tính là ngày cuối cùng của Chu Kỳ Lớn là ngày Mặt Trời đi qua tâm độ dày của dĩa mặt phẳng Ngân Hà (chỉ xảy ra một lần trong 26.000 năm) tại phía nam Rãnh Đen nhưng họ không biết sẽ có một lực gì đó hay một cái gì đó có ảnh hưởng đến Mặt Trời và Trái Đất hay không và ngày đó có phải là ngày cuối cùng của loài người hay Ngày Tận Thế, như nền văn minh cổ Maya tiên đoán.

Nhà thiên văn Philip Plait lập lại rất rõ ràng rằng ngày cuối cùng của Chu Kỳ Lớn, cũng giống như hộp chỉ dặm trong chiếc xe hơi khi con số lên tới 9 thì sẽ trở lại số 0 và bắt đầu lại từ 1,2,3 khi tất cả các con số đều chỉ 0 thì sẽ bắt đầu lại các con số từ 1 đến 2,3,4 mà thôi, là ngày 21 tháng 12 năm 2012 đi qua thì sẽ bắt đầu lại một Chu Kỳ Lớn khác chứ không phải Ngày Tận Thế.

Trái Đất có hình khối cầu như hòn bi. Nó tự quay quanh nó trên một trục Bắc Nam. Có thuyết cho rằng trục Bắc Nam này hình thành là do hai cục băng đóng ở 2 đầu cực của Trái Đất. Trong những năm tháng gần đây các nhà thiên văn Phương Tây nghiên cứu những bức hình do cơ quan NASA chụp về ở hai đầu cực của Trái Đất cho thấy chỉ trong vòng vài năm nữa thì Bắc Băng Dương và Nam Băng Dương sẽ không còn băng vì tình trạng tan rã của những tảng băng xảy ra quá nhanh.

David Hathaway, nhà Thiên Văn chuyên về Mặt Trời ở đài thiên văn Alabama cho biết : Ngày 31 tháng 6 năm 2006 một vụ nổ trên Mặt Trời xảy ra, vụ nổ này tạo ra những chấm đen đi từ Nam lên Bắc trong vài giờ đã bắt đầu Chu Kỳ Mặt Trời thứ 24. Chu Kỳ Mặt Trời, xảy ra khoảng vài chục năm 1 lần, lúc lên cao điểm thường tạo những biến đổi khí hậu to lớn trên bề mặt Trái Đất.

Chúng ta thường nói về sự biến đổi khí hậu trên Trái Đất hiện nay do khí thải, do hiệu ứng nhà kính, do tầng Ozone mỏng mà quên rằng chúng ta đang đi gần đến Chu Kỳ Mặt Trời thứ 24, đang đi gần đến những ngày cuối cùng của Chu Kỳ Lớn, ngày Trái Đất và Mặt Trời đi qua tâm độ dày dĩa mặt phẳng Ngân Hà, đi qua cái Rãnh Đen của Ngân Hà, trong trình trạng hai cực của Trái Đất không còn băng nên có thể bị ảnh hưởng bởi những lực khác từ dĩa mặt phẳng Ngân Hà. Khoa khảo cỗ đã cho chúng ta biết trước đây Trái Đất đã có những thời kỳ băng tụ thời kỳ băng tan những vùng đất trước kia là rừng xanh nay là sa mạc trước kia là biển nay là núi cao thì chuyện Trái Đất có thay đổi trục quay trong quá khứ đã có xảy ra và chuyện Trái Đất có thay đổi trục quay trong ngày 21 tháng 12 năm 2012 là chuyện có thể xảy ra nếu xảy ra thì ngày đó là có thể là Ngày Tận Thế.

Khi quan sát những Thiên Hà trong vũ trụ các nhà thiên văn Phương Tây thấy đó là hình một cái dĩa dày với hàng trăm ngàn khối tinh vân hay hành tinh quay chung quanh. Ngân Hà là một Thiên Hà trong vũ trụ thì hình thể cũng giống hình thể các Thiên Hà nhưng muốn biết nơi nào dày nơi nào mỏng bao nhiêu của cái dĩa Ngân Hà thì các nhà thiên văn đành bó tay vì không đủ khả năng đi ra ngoài Ngân Hà nhìn vào được. Họ chỉ phỏng đoán được Ngân Hà có chừng 200.000 đến 400.000 tinh vân hay hành tinh quay chung quanh, mỗi tinh vân có thể là những đám mây bụi hay đá dày đặc.

Khoa thiên văn Phương Tây có một bức hình chỉ hình thể Ngân Hà gọi là Ouroboros, đó là hình con rắn đang cắn cái đuôi của nó, nơi miệng con rắn cắn đuôi có một khoảng trống gọi là Rãnh Đen, tại đó có hình Mặt Trời đang rọi sáng. Rãnh Đen này nằm gần Thiên Hà lùn Sagittarius và cũng được gọi là Kênh Sanh. Tại sao gọi nói là Kênh Sanh và nó sanh ra cái gì thì chúng ta không biết chỉ thấy trong hình ảnh có hình Mặt Trời sáng rực tại vị trí Rãnh Đen. Có thể Mặt Trời nổ lớn hay được sanh ra tại Rãnh Đen. Văn minh cỗ Hy Lạp gọi Ngày Tận Thế là Aion Suntalia, hình ảnh Aion Suntalia cũng gần giống với hình ảnh Ouroboros, chữ Aion Suntalia cũng có nghĩa về Mặt Trời. Trong chuyện thần thoại Việt Nam có chuyện Hậu Nghệ đã bắn rơi 7 cái Mặt Trời.

Trong những hình tròn kỳ lạ xuất hiện trên những đám lúa đám cỏ trong một đêm trên 70 quốc gia nhiều nhất là ở nước Anh cũng có những hình tròn chỉ hình thể Ngân Hà như hình Ouroboros, cũng có những hình tròn kỳ lạ chỉ những Chu Kỳ với những Mặt Trời khác nhau (nếu bạn muốn xem hỉnh ảnh Ouroboros, hình Aion suntalia và những hình tròn xuất hiện trên những đám cỏ kỳ lạ này xin lên mạng ở địa chỉ http://www.geatdreams.com/2012.htm ). Như thế từ Đông sang Tây đều có những chuyện thần thoại những hình ảnh nói đến Mặt Trời đang chiếu ánh sáng xuống chúng ta hiện nay không phải là Mặt Trời duy nhất mà nó có thể là Mặt Trời thứ 5 hay thứ 6 vì nó có thể được sanh ra hay bùng sáng lên khi nó đi qua Rãnh Đen hay Kênh Sanh trong dĩa Ngân Hà.

Ngày 21 tháng 12 năm 2012 là ngày Trái Đất và Mặt Trời đi qua tâm độ dày dĩa mặt phẳng Ngân Hà trong cái Rãnh Đen hay Kênh Sanh đó nên chuyện Trái Đất và Mặt Trời bị ảnh hưởng bởi những lực khác là chuyện có thể có xảy ra. Những lực đó có thể là lực hút của Lỗ Đen từ tâm Ngân Hà, lực hấp dẫn của các thiên thể trong dĩa mặt phẳng Ngân Hà, lực quay của dĩa Ngân Hà, lực của những năng lượng tối trong Rãnh Đen và nhất là sự va chạm giữa Trái Đất hay Mặt Trời với những đám tinh vân hoặc những thiên thể trong dĩa Ngân Hà v.v... Khoa thiên văn Phương Tây không thể xác nhận và tiên đoán được sự ảnh hưởng hay sự va chạm này vì chúng ta chưa từng trải qua hay đã trải qua từ thời quá xa xưa nên nay chỉ còn là huyền thoại. Nếu một trong các lực đó có tác động lên Mặt Trời hay Trái Đất hoặc có sự va chạm giữa Mặt Trời và Trái Đất với những tinh vân hay những thiên thể trong dĩa Ngân Hà thì ngày tàn của thế giới chúng ta là chuyện có thật.

Có một trường hợp khác rất dễ xảy ra là có một đám tinh vân hay một thiên thể trong số 400.000 vật thể của dĩa Ngân Hà nằm giữa đường đi của Mặt Trời và Trái Đất che ánh sáng của Mặt Trời làm cho Trái Đất tối tăm trong vài ngày. Nếu trường hợp này xảy ra thì chuyện huyền thoại Hậu Nghệ bắn rơi bảy cái Mặt Trời và chữ Kênh Sanh để chỉ cho cái Rãnh Đen trong bức hình Ouroboros và chuyện Aion Suntalia của thần thoại Hy Lạp được giải đáp : cách đây 26.000 năm khi Mặt Trời đi qua tâm độ dày dĩa mặt phẳng Ngân Hà đã từng bị một đám tinh vân che khuất làm cho Trái Đất bị tăm tối vài ngày nhưng người xưa không hiểu tại sao nên mới tạo ra huyền thoại Mặt Trời bị Hậu Nghệ bắn rơi hay Mặt Trời được sanh ra từ Kênh Sanh.

Trong 10 tập trăm đoạn 4 câu thơ của nhà tiên tri nổi danh Nostradamus có đến hàng chục câu thơ đề cập đến nhân vật AntiChrist tức là quỉ Satan xuất hiện và sẽ đưa nhân loại vào thế chiến thứ III ( nếu bạn muốn xem hình quỷ Satan ra mắt tại tháp đôi ở New York thì lên mạng ở địa chỉ http://www.snopes2.com/rumors/wtcface.htm ). Sau đó nhân vật này sẽ bị thiên thần bắt đi vào 3 ngày Trái Đất không có ánh nắng Mặt Trời. Trong Thánh Kinh ở sách Khải Huyền 20 : 1-5 , theo Jean Charles de Fontbrune, có đề cập đến chuyện quỷ vương bị các thiên thần bắt đi trong 3 ngày không ánh Mặt Trời, trong các sấm truyền của các tôn giáo Phương Đông cũng có đề cập đến 3 ngày tăm tối không ánh sáng Mặt Trời.

Trong tình hình hiện nay Hoa Kỳ đang trên đà suy thoái trên mọi lãnh vực, Iran sẽ có bom nguyên tử trong nay mai, Taliban đang mạnh dần thì thế chiến thứ III, như lời nhà tiên tri Notradamus, có thể sẽ xảy và chuyện Trái Đất có 3 ngày không có ánh nắng Mặt Trời là chuyện có thể có. Những lời tiên tri hay sấm truyền không có thể xem là những dự báo có khoa học nhưng nếu có xảy ra lại là tin vui cho những nhà đấu tranh dân chủ tại Việt Nam và Trung Cọng vì sư phụ đi đâu thì đệ tử phải theo hầu. Quỉ Satan bị các thiên thần bắt đi thì ma vương và ma con cọng sản phải đi theo hầu. Đúng là bất chiến tự nhiên thành.

21 tháng 12 năm 2012 Ngày Tận Thế, không phải là một chuyện giật gân hay chuyện động trời thường ngày trên báo chí để câu độc giả mà là chuyện Động Trời thứ thiệt, chuyện của các nhà khoa học của nền văn minh Maya tính toán biết được thời gian Mặt Trời đi qua tâm độ dày mặt phẳng Ngân Hà và truyền lại hậu thế phù hợp với sự hiểu biết của nền thiên văn học hiện đại. Các nhà làm phim của Hollywood cũng sản xuất phim " 2012 Ngày Tận Thế " không hiểu con người có biết được chúng ta đang đứng trước một nguy cơ to lớn trong thời gian 3 năm tới hay không ?

Nếu ngày ấy đi qua mà chẳng có gì xảy ra thì Ông Trời vẫn còn thương loài người muốn cho loài người một cơ hội xây dựng lại thế giới loài người tốt đẹp hơn. Một Thiên Niên Kỷ mới đã bắt đầu. Một Chu Kỳ Lớn mới một Năm Lớn mới sắp bắt đầu sau ngày đó. Mặt Trời và Trái Đất đi qua độ dày dĩa mặt phẳng Ngân Hà để qua một vùng trời mới sau ngày đó. Những người đã lỡ lầm theo cọng sản mà không muốn theo hầu sư phụ sau ngày 21 tháng 12 năm 2012 vẫn còn thời gian trả lại thẻ cho đảng cọng sản. Chúng ta quá nhỏ bé trước vũ trụ quá bao la không nên dùng bạo lực để độc quyền lừa phĩnh cướp bóc giết nhau mãi mà cần đùm bọc giúp đỡ lẫn nhau mới mong tồn tại được.
Nguồn: http://quanvan.net/index.php?view=story&subjectid=26856

Nước thiên đàng: tiếp nhận những người xưng tội, mặc lấy Chúa Jesus Christ

Nước thiên đàng: người giàu, khỏe mạnh= phải hầu việc Chúa nhiều, người nghèo, yếu = hầu việc Chúa theo sức họ

Nước thiên đàng chỉ dành cho những người ham thích lời Chúa, thăm viếng kẻ mồ côi và người góa bụa, các hoàn cảnh bất hạnh

Nước thiên đàng chỉ dành cho những ai hết lòng hết sức yêu thích Tin lành, hết lòng tìm kiếm Tin lành

Nước thiên đàng dành cho những thành phần nghèo khổ, chẳng ra gì nhưng nghe TIn lành sẽ lớn hơn hết thảy

Nước thiên đàng dành cho những con cái Chúa trung thành, chịu nổi thử thách trong thế gian nhưng giữ được đức tin đến cuối cùng

Nước thiên đàng là hình ảnh rao giảng Tin lành khắp thế gian (ví dụ gieo giống)

Tại sao Chúa Jesus vẫn chưa đến???

Thỉnh thoảng, sau một sự kiện lớn làm thức tỉnh sự quan tâm đến lời tiên tri, người ta rất thích thú về việc trở lại của Chúa Jesus để đem con cái Ngài ra khỏi thế gian. Nó đã xảy ra trong những năm 50 sau khi Israel trở thành một quốc gia bất chấp mọi xung đột, và hoàn thành trực tiếp lời tiên tri trong sách Exechien đoạn 36,37.
Nó đã xảy ra lần nữa trong những năm 70 khi Calvary Chapel đưa ra cách thức trong phong trào Jesus People từ văn hóa hip-pi đến cho Cơ đốc giáo trưởng thành. Chúng ta nên nhớ rằng những kẻ chống nghịch mạnh mẽ của kỷ nguyên đó đã nói rằng “ Trong trạng thái say mê sung sướng, chiếc xe này sẽ tự động lái”
Lần nữa, sự quan tâm lớn đã xảy ra từ lúc bắt đầu thời đại mới cho đến một vài tháng sau cuộc tấn công ngày 11/9 tại New York và Washington D.C.
Không may mắn là, khi thời gian tiếp tục trôi qua, và Chúa Jesus vẫn chưa quay lại, nhiều người mất niềm tin vào lời tiên tri. Họ thường hỏi nhau rằng, “Tại sao Chúa Jesus chưa trở lại?”
Sứ đồ Phiero cũng đã thắc mắc câu hỏi tương tự này trong thế kỷ đầu tiên. Các Cơ đốc nhân từ mọi độ tuổi có sự trông cậy hạnh phước (Tít 2:13), và một số trở nên nghi ngờ, hoài nghi. Sứ đồ đã viết:
“Trước hết phải biết rằng, trong những ngày sau rốt, sẽ có mấy kẻ hay gièm chê, dùng lời giễu cợt, ở theo tình dục riêng của mình, đến mà nói rằng: Chớ nào lời hứa về sự Chúa đến ở đâu? Vì từ khi tổ phụ chúng ta qua đời rồi, muôn vật vẫn còn nguyên như lúc bắt đầu sáng thế.” (2 Phiero 3:3-4)

Sứ đồ Phiero đã nhắc những độc giả của ông về tình trạng tương tự cách đây hàng ngàn năm, vào những năm thời ông Nô-ê.
“Chúng nó có ý quên lững đi rằng buổi xưa bởi lời Đức Chúa Trời có các từng trời và trái đất, đất ra từ Nước và làm nên ở giữa nước, thế gian bấy giờ cũng bị hủy phá như vậy, là bị chìm đắm bởi nước lụt. Nhưng trời đất thời bây giờ cũng là bởi lời ấy mà còn lại, và để dành cho lửa; lửa sẽ đốt nó đi trong ngày phán xét và hủy phá kẻ ác.” (2 Phiero 3:5-7)

Ông Nô-ê đã trải qua khoảng gần 100 năm để thực hiện chiếc tàu, và suốt thời gian đó ông là một thầy giảng đạo công bình, kêu gọi thế hệ của ông ta ăn năn (2 Phiero 2:5). Nhưng kế hoạch này càng kéo dài thì đức tin nhiều người càng trở nên nguội lạnh và không thèm quan tâm đến sự kiện này nữa.
Sau đó. sứ đồ Phiero đã giải thích rằng chúng ta có thể không bao giờ biết thời kỳ của Chúa, nhưng chúng ta có thể chắc chắn rằng Chúa Jesus sẽ giữ lời hứa của Ngài bởi vì Ngài luôn hiện diện! Tóm lại, Chúa đang chỉ cho chúng ta biết sự tốt nhất, lòng tốt của Ngài, Ngài muốn chờ đợi những con cái hoang đàng của Ngài quay lại với Chúa.
“Hỡi kẻ rất yêu dấu, chớ nên quên rằng ở trước mặt Chúa một ngày như ngàn năm, ngàn năm như một ngày. 9 Chúa không chậm trễ về lời hứa của Ngài như mấy người kia tưởng đâu, nhưng Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn.” (2 Phiero 3:8-9)

Chúng ta không thể biết ngày giờ Chúa đến, nhưng điều Chúa đến là chắc chắn bởi vì Chúa thành tín, Chúa đã hứa như vậy. Vậy những người đã, đang, và sẽ nguội lạnh, hãy quay lại ăn năn và trở lại với Chúa, đừng để Ngài chờ đợi nữa, để rồi mỗi một người trong chúng ta nhận được sự Chúa đến trong sự vinh hiển, và mang tin mừng đến cho chúng ta. AMEN!!!

MY SITUATION

My beloved Jesus, I thank you for saving me from my sinful life.
I am a person born in a normal family, my family’s economy is not very comfortable, enough for everyday. As a child, like other children, preferring pleasures, mischievous, I was sent into a catholic church school when studying in a nursery school. My whole family also worshiped like other families: money god, soil god, so on., on Buddhism holidays, or Tet holidays, or other holidays of Buddhism, I usually went to the pagodas to eat the vegetarian foods, was granted the Tet presents by the monks. Gradually, my family economy also decreased, apart from my father’s decreased health, my family must move into another place for living, and also part of myself, when I was a child, I joined gambling, on many days, I stole my father’s money for gambling, so on. And it can also lead my calamity in next time, on a day that I visited my uncle for the birthday of my uncle’s son, I was cut by a ceiling fan’s blades via top of my head, luckily, I was not died, and I must stay in the hospital for 2 months, of course off school. At that time, there was only my friend in the same class to visit me, then, I have not given up my intentions for gambling, and when ending it, I returned. It made my parents not pleased, and at that time my family moved into another place, part of my family place taken back by the owner. When I moved into a new place, new environment, I continued my sins: joining with the bad friends, carousing, pleasures, and the accidents occurred me: in a football match, I was cut into my heel by the chimney pieces, and must be sewn, off about more 2 months. But when reaching 3rd grade, I gradually avoided these things, and in 11 class, my eyes were myopic due to much reading, and my rude words have not left from my mouths, because my father is an irritable person, grouchy, and he encountered a disease (ulcers on his face), and my family was also confuse. And not right yet, my family moved into another place. And after misfortunes coming me, and then it occurred my elder sister (in love story), and she was relentlessly scolded by my father, greatly dishonored. Thus, my family must move to a hiring house, 2 months after, my family moved into a silent place. After stabilizing my family place for 2 years, on a travel chance, my mother was guided by Ms. Sang to go into a Protestant church, and my mother was also studious in studying the Bible, and she became one of the excellent members of that church, and my mother guided me and my family to go into that church. I and my younger brother also went into the church to listen the pastors to preach the bible, but we cannot understand at all. After a stable time, perhaps part of my mother having God’s words, on a day, there were 2 Korean women to come my family and feign ask their connections but in fact, they enticed for their religion (they made many ways to entice my mother), my mother was enticed by covers on their bible and their sweet words, they spoke Vietnamese language, and after a time, my mother followed them, without a word for her old church. Similarly, my mother also joined their community, and called my family to come into, and I was also one of them. I joined that group, and studied the bible, and from that time, I can read, listen and understand in general the bible, I listened them to preach, and matched in the bible, studious in learning the bible, and I was praised by them. Firstly, I like very much that group, but more deeply, I recognized many artful, dishonest points, due to sermon, audios, that I read, listened on the websites, I also thanked pastors Tim Huynh, Duong Quang Thoai, helping me from those hideous things. Although there have the painful words, scomful words from my relatives, (they only studied words that that group preached, that they did not match and find out more to match those words), I was very sad and sinewy but not effective, now, day by day, I have only prayed Lord Jesus, asked Him to turn over their spirits. I have felt facts when joining that group, in fact, I got drunk from them, (saying nothingless words, stupid, not firm access, making something but heedless), and in early time, they gave me graces but things that I must negotiate are very expensive. My brain whirled and stuck my remaining subjects and cannot graduate. And in fact, I have felt the exist of the evil spirits and God’s words are very supermatural, and the earth eyes of people that do not know are very difficult to understand. I abandoned, and decided not to join with them, although up to now, I still sustained many miseries when my remaining persons in my family still liked to join with them, I more heart-broke, I did not want to do anything, I was very hopeless! After departing that group, I witnessed them more glassy, to say nothingless words, lack of wise, (like me before), and I also dissuaded but they did not take notice, even though they opposed me very drastically, and I was only silent, and prayed Lord Jesus and asked Him to take pity me and accept my words to help me and them. They worshiped Ahnsagnhong – a Korean believer, is considered as Christ second coming in this final period and followed him, and after his death, they believed Chung Zil Cha – his old ex-lover, that people follow her, call her New Jerusalem Mother, ridiculous! They follow those words from them, and my mother was offered a ticket for visiting Korea and her – Chung Zil Cha, and considered that they met God and received graces forever! Capricious! So, she has been faithful to that group, I have been ridiculous and broken-hearted for my whole family in this time! My mental and physical do not want to do anything! Because in all actions and works, I must encounter the contradictions in belief, so it is difficult to live together. In many times, I also want to go to another place to live, but nobody in the same belief so that I can come, so now, in current situation, and I also try and am patient to pray Lord Jesus to ask Him to help my family, pave my way from my current situation! Not ending yet, after I exited, to find a real church of God, it is very difficult, breaking God’s words and rules from people have encountered the churches very much! Amen, worshiping God to receive graces is very difficult! I have written these words, prayed for you, who read, pray for me – my name is Quy, to help my family to overcome these evil spirits and return to accept the only name – Jesus- Nazareth, the only name that all people accept and follow Jesus, they will be saved. AMEN

Tình trạng

Chúa Jesus kính yêu của con ơi, con cảm tạ ơn Ngài đã cứu con trong vũng lầy tội lỗi.
Con là 1 người được sinh ra trong 1 gia đình bình thường, kinh tế cũng không dư dật lắm, đủ sống qua ngày. Từ nhỏ, cũng như bao đứa trẻ khác, cũng ham chơi, nghịch ngợm, được gửi vào nhà thờ giáo xứ khi còn học mẫu giáo. Cả gia đình cũng thờ cúng như bao gia đình khác: thần tài, thổ địa, …, đến những dịp VU Lan, hay tết, những dịp lễ bên Phật giáo, thường đi chùa ăn cơm chay miễn phí, được các ông thầy sư tặng tiền lì xì tết. Rồi thời gian dần qua, kinh tế gia đình cũng đi xuống, một phần vì sức khỏe của ba giảm sút, phải di chuyển đến vị trí khác để sinh sống, và cũng 1 phần là do bản thân tôi, khi còn nhỏ đã tham gia vào cờ bạc, nhiều hôm trộm tiền ba đi chơi đua ngựa, đánh bát, …. Và cũng có thể nó đã dẫn đến tai họa cho tôi sau này: vào 1 lần đi thăm chú vào dịp sinh nhật của con trai chú ấy, tôi bị quạt chém sượt trên đầu, may là chưa thiệt mạng, và phải nằm viện hơn 2 tháng, phải nghỉ học. Trong thời gian này, chỉ có 1 người bạn cùng lớp đến thăm tôi, và sau này, tôi vẫn chưa từ bỏ ý định chơi trò cờ bạc đó, và khi hết, tôi lại quay lại. Điều này làm cho ba mẹ tôi không vui, và lúc đó gia đình chuyển đến ở 1 nơi khác, cũng do nơi ở của chúng tôi bị lấy lại. Khi đến 1 nơi ở mới, môi trường mới, tôi vẫn tiếp tục với những điều tội lỗi: tham gia với các nhóm bạn xấu, nhậu nhẹt, ham chơi, để rồi tai nạn tiếp tục xảy ra: trong 1 trận đấu bóng, tôi bị mảnh vụn bóng đèn cắt vào gót chân, và phải đi khâu, nghỉ học khoảng hơn 2 tháng. Nhưng khi bước vào cấp 3, tôi đã dần tránh được những điều này và đến năm lớp 11, mắt bị cận thị do đọc sách nhiều, và những lời hổn hào vẫn chưa dứt nơi miệng tôi bởi vì có lẻ ba tôi là 1 người nóng tính, dể gắt gỏng, và chính ông cũng bị 1 chứng bệnh (bị nổi ung nhọt ghẻ chốc trên mặt), và gia đình cũng lộn xộn. Và cũng chưa ổn, cả gia đình lại chuyển đến ở chỗ khác. Và sau những cơn hành hạ trên tôi, và sau đó xảy ra đến cho chị tôi (trong chuyện tình cảm), và bị ba tôi lên án chửi thậm tệ, sỉ nhục rất lớn. Thế là cả gia đình lại chuyển tiếp ở nhà thuê, rồi 2 tháng sau, chuyển đến 1 nơi yên tĩnh, sống. Sau khi ổn định chỗ ở đó gần 2 năm, thì trong 1 dịp đi chơi, mẹ tôi được cô Sáng hướng dẫn vào hội thánh Tin lành, và mẹ tôi cũng chăm chỉ học Kinh Thánh, và trở thành 1 trong những cá nhân xuất sắc trong hội thánh, và mẹ tôi cũng hướng dẫn tôi và cả gia đình vào. Tôi và em trai cũng đã vào hội thánh nghe mục sư giảng, nhưng chẳng hiểu gì. Trải qua 1 thời gian tạm yên ổn, chắc có lẽ một phần mẹ tôi có lời Chúa, vào 1 hôm, có 2 người nữ Hàn quốc đến làm bộ hỏi han người quen nhưng thực chất là dụ đạo (họ làm đủ cách để quyến dụ mẹ tôi), mẹ tôi đã bị hắn dụ bởi những nét mực bôi và lời nói ngon ngọt, nói được tiếng Việt, và sau 1 hồi mẹ tôi đã đi theo bên ấy, mà không 1 lời nói cho hội thánh cũ. Và tương tự lần trước, mẹ tôi cũng đi vào hội của những người ấy, và kêu cả nhà cùng vào, và tôi cũng là 1 trong số ấy. Tôi tham gia hội ấy, và được học kinh thánh, và cũng kể từ lúc ấy, tôi mới được đọc nghe và hiểu khái quát về kinh thánh. Tôi nghe lời họ dạy, và về đối chiếu, sốt sắng học kinh thánh, và cũng được mọi người trong hội đó khen ngợi. Ban đầu tôi cũng thích thú, và mộ đạo, nhưng càng đi vào sâu tôi càng nhận thấy những điểm xảo trá gian ác của chúng nó nhờ những bài giảng, các đoạn kinh thánh mà tôi đọc được trên website, cũng cảm ơn các vị mục sư, pastor Tim Huỳnh, Dương Quang Thoại, đã giúp tôi thoát khỏi những điều ghê tởm đó. Mặc dù có sự nói hành, dèm pha từ phía những người còn lại trong gia đình, (họ chỉ học những gì họ dạy, mà không tự tìm hiểu dò xem đối chiếu lại), tôi thật buồn và ban đầu nói rất mạnh mẽ nhưng không hiệu quả, giờ đây từng hồi từng lúc, tôi chỉ biết cầu nguyện với Chúa Jesus, xin Ngài hoán cải linh hồn của những người còn lại trong gia đình. Tôi cảm nhận thực sự khi gia nhập hội đó, thực sự đã bị uống rượu say của chúng nó, (nói những lời hư không, ngu dốt, đi đứng không vững, làm chuyện gì cũng lơ là), và ban đầu thì chúng nó cho tôi những phước nhưng những gì trả giá thì rất đắt. Đầu óc tôi đã quay cuồng và bị vướng môn và không thể ra trường được. Và thực sự tôi cảm nhận được thế lực tà linh là có thật, và lời Chúa thật là siêu nhiên, và mắt thường của những ai chưa biết là rất khó hiểu cho họ. Tôi đã bỏ, và quyết định không gia nhập gì với họ nữa, mặc dù đến bây giờ vẫn còn chịu nhiều đau khổ khi người thân vẫn còn ham mê gia nhập với họ, tôi càng ngày càng đau lòng, không muốn làm gì nữa, thật tuyệt vọng! Sau khi ra khỏi hội đó, tôi chứng kiến họ ngày càng ngu muội hơn, nói những lời hư không, thiếu sự khôn ngoan, (thật giống với tôi lúc trước cũng như vậy), và tôi cũng khuyên can nhưng họ bác bỏ không để ý, thậm chí chống trả lại tôi quyết liệt, và tôi chỉ biết làm thinh và cầu nguyện Chúa Jesus xin Ngài thương xót con mà nhậm lời giúp họ. Họ tin theo ông Ahnsahnhong người Hàn quốc – nhận là Đấng Christ thời đại cuối cùng này và đi theo ông ta, và sau khi ông ta chết thì lại tin vào bà Chung Zil Cha, người vợ cũ của ông ta, mà mọi người chạy theo gọi bà ta là Jerusalem mới, thật buồn cười! Họ vẫn cứ theo lời dạy bên đó, và mẹ tôi được họ cho 1 tấm vé sang Hàn để gặp bà ta, và cho rằng được gặp Đức chúa trời! Thật trớ trêu thay! Thế là bà ta trung thành với hội đó, tôi vừa buồn cười vừa đau lòng cho cả gia đình giờ phút này! Tâm thần thể xác chẳng muốn làm gì nữa! Bởi vì trong mọi hành động việc làm đều có sự mâu thuẫn trong đức tin nên khó mà sống được với nhau. Nhiều lúc tôi cũng muốn đi 1 nơi khác để sống, nhưng cũng chẳng có ai để mình tìm đến, thế là giờ vẫn sống trong cảnh trạng như vậy, và tôi cũng kiên trì cố gắng cầu nguyện Chúa Jesus xin Ngài giúp gia đình tôi, mở đường cho tôi ra khỏi! Chưa hết, sau khi ra khỏi, để tìm được hội thánh thật hiện nay quả là khó, sự bội đạo và những phép tắc loài người đặt ra lan vào hội thánh và các giáo hội quá nhiều! Quả thật việc thờ phượng Chúa sao cho được ơn quả là khó khăn!
Tôi viết những lời này, nguyện xin quý vị những ai đọc, xin cầu nguyện cho tôi – tên là Quý, giúp đỡ gia đình vượt ra khỏi thế lực ma quái này, và trở lại tiếp nhận 1 mình Chúa Jesus người Na xa rét, là Chúa danh duy nhất mà mọi người tin vào sẽ được cứu. AMEN!
February 2012
M T W T F S S
January 2012March 2012
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29