Thursday, 16. August 2007, 03:06:14
Thế là hết chẳng yêu nhau được nữa
Đàn chim bỏ đi mở quắp theo mùa
Dùng dằng gió giữa hai phiến lá
Trong mắt chiều ngấn ướt một cơn mưa
Thế là hết chẳng yêu nhau được nữa
Lời chia tay nghẹn nửa môi cười
Trái đất nghìn triệu năm xưa cũ
Cũng chưa hiểu hết mình có bao sự sinh sôi
Thế là hết chẳng yêu nhau được nữa
Một vệt sông tối sẫm bóng dài
Con thuyền ấy ko tài nào cập bến
Để rồi chìm trước một ban mai
Thế là hết chẳng yêu nhau được nữa
Cổ tích ngày xưa xin buộc cọng rơm vàng
Kỉ niệm gửi vầng trăng cất giữ
Trôi qua đời những bong bóng thời gian
ST
Friday, 13. July 2007, 02:59:54
TT - Nguyễn Bá Mưu được mọi người biết đến là vị “cha đẻ” của công nghệ làm hoa khô và tranh lá VN, vừa qua đã là một trong 16 người được UBND TP Hà Nội phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân”.
Năm 1992 khi đang sống ngoài biên chế nhà nước, ông Nguyễn Bá Mưu viết dự án “Phục hồi vườn ươm cây Phú Thượng” và được Ban quản lý lăng Hồ Chủ tịch mời vào làm giám đốc vườn ươm. Trong vòng hai năm ông đã hồi sinh cho vườn ươm xanh tốt trở lại.
Cũng trong thời gian này, khi tiếp xúc với các chuyên gia nước ngoài, nhờ gọi được tên Latin của một loại cỏ mỡ trồng ở các sân bóng mà ông vượt qua được bao “đối thủ” nhận được hợp đồng trồng cỏ cho sân vận động Từ Sơn, Bắc Ninh.
Bạc đầu cho lá mãi xanh
Năm 1973, khi đang phụ trách phòng hoa của Bộ Ngoại thương, một hôm ông Nguyễn Bá Mưu nhận được đơn đặt hàng rất lạ của các bạn Nhật Bản. Họ yêu cầu ông cung cấp cho họ toàn những thứ ở ta “bỏ đi” như lá dương xỉ, vỏ hạt điều, quả thông khô, những cánh hoa tàn úa…
Lúc ấy ông không hiểu họ mua thứ đó của VN về làm gì. Càng bất ngờ hơn khi một thời gian sau phía bạn mang tặng ông những lẵng hoa khô tuyệt đẹp được làm từ những vật liệu do chính ông cung cấp. Đó cũng là một cách tiếp thị rất Nhật Bản!
Lúc ấy phía Nhật Bản muốn chuyển giao cho VN một nhà máy sản xuất hoa khô, nhưng phía ta không chấp thuận. “Hoa khô có vẻ đẹp kiêu hãnh riêng của nó, thoạt nhìn có vẻ buồn tiêu điều đấy song nó cũng có sức sống, hồn vía tâm trạng, phong phú đâu kém! Thuyết phục mọi người không được, tôi quyết định xin nghỉ việc để dồn thời gian nghiên cứu nghệ thuật làm đẹp mới”.
Lúc ấy chỉ có trong tay một cuốn album do phía bạn tặng, ông mày mò “giải mã” được nhụy, cánh hoa, lá, thân kia làm bằng vật liệu gì, nhưng xử lý nó ra sao là cả một vấn đề hóc búa. Ròng rã gần 20 năm trời, đôi chân ông đã in dấu trên mọi miền đất nước, từ miền sình lầy hoang dại đầy những muỗi vắt đến nơi hải đảo xa xôi để tìm những cây, lá, hoa phục vụ ý tưởng sáng tạo của mình. Gia đình ông nhiều lúc phát hoảng vì thấy ban ngày ông đi biền biệt, đêm đến lại đóng cửa im ỉm, chong đèn làm việc đến sáng.
Đến bây giờ ông vẫn không quên cái cảm giác hồi hộp vui sướng khi mang mẻ hoa khô đầu tay ra chợ Đồng Xuân chào hàng. Mọi người xúm lại mua, trong nháy mắt đã bán hết veo cả trăm bó. Ông vừa sáng tạo những phong cách mới vừa tiếp tục nghiên cứu để hoa khô ngày càng đẹp, càng hợp với thị hiếu thẩm mỹ ngày một “khó tính” của người ngưỡng mộ cái đẹp.
Tấm thiệp mùa xuân và tranh lá VN
Trò chuyện với ông trong căn phòng chen chúc tranh, hoa rực rỡ sắc màu chào đón mùa xuân ở số 9 ngõ Gốc Đề, Minh Khai, Hà Nội. Người chủ niềm nở: “Dịp tết cách đây năm năm tôi nhận được một tấm thiệp chúc tết của một người bạn, tấm thiệp in hình lạ mắt ấy đã cuốn hút tôi nảy ra ý định ghép lá lên nó. Bức “phù điêu” nhỏ xíu ấy đã gợi mở cho tôi ý tưởng làm tranh bằng lá. Ngay từ ngày còn nhỏ tôi đã yêu thiên nhiên nên cứ tự tìm hiểu vì vậy có chút vốn liếng; sau đó lại được đào tạo bài bản ở Trường đại học Nông nghiệp và có thâm niên hàng chục năm gắn bó với nghề làm hoa khô nên tôi nghĩ ra cách bóc tách được từng lớp thời gian phủ màu trên từng chiếc lá nhỏ. Cứ một lớp thời gian phủ trên từng chiếc lá lại thấy nó có một màu sắc riêng tuyệt đẹp và thú vị!”.
Những lớp bóc tách mỏng dính mà thiên nhiên ban tặng đã cho người chủ cả một “kho bột màu” đủ để pha trộn, phết phẩy, nhấn nhá tung tẩy ngẫu hứng tạo ra sự phong phú độc đáo cho những tác phẩm hội họa.
Từ mẫu những bức tranh Ngôi nhà gỗ đơn côi phủ đầy tuyết trắng giữa mùa đông nước Nga, Mùa thu vàng rực rỡ đến các tác phẩm hội họa nổi tiếng của các trường phái trong nước, trên thế giới... đều được thì thầm kể lại bằng “giọng nói” của trăm ngàn chiếc lá khắp các nẻo đường, miền quê đất Việt. Nên nó có giá!
Xưởng của ông lúc nào cũng có khoảng 20 sinh viên các trường mỹ thuật miệt mài làm việc, phần vì đây là mảnh đất đắc địa cho họ dụng võ, phần vì họ mến cái tài, cái chí của người chủ.
Khách hàng của ông có đủ các thành phần. Nhiều khi họ mang đến yêu cầu ông ghép lá chỉ một tấm thiệp đã nhuốm màu thời gian hay một bức ký họa cất trong đáy balô suốt cả một thời trận mạc, chẳng còn được nguyên vẹn. Tất cả đều được ông nâng niu, vun đắp thành những tác phẩm “bất tử”.
Minh Thuy
Friday, 13. July 2007, 01:29:37
Bài thơ đầu anh viết tặng em
là bài thơ anh viết về đôi dép.
Khi nỗi nhớ trong lòng da diết,
những vật tầm thường cũng viết thành thơ.
Hai chiếc dép kia gặp gỡ từ bao giờ,
có yêu đâu mà chẳng rời nửa bước,
cùng gánh vác những nẻo đường xuôi ngược,
lên thảm nhung xuống cát bụi cùng nhau.
Cùng bước cùng mòn không kẻ thấp người cao,
cùng chia sẻ sức người chà đạp.
Dẫu vinh nhục không đi cùng người khác.
Số phận chiếc này phụ thuộc ở chiếc kia.
Nếu ngày nào một chiếc dép mất đi,
mọi thay thế sẽ trở thành khập khiễng,
giống nhau lắm nhưng người đi sẽ biết
hai chiếc này chẳng phải một đôi đâu.
Cũng như mình trong những phút vắng nhau,
bước hụt hẫng cứ nghiêng về một phía.
Dẫu bên cạnh đã có người thay thế,
mà trong lòng nỗi nhớ cứ chênh vênh.
Ðôi dép vô tư khắng khít bước song hành.
Chẳng thề nguyền mà không hề giả dốị
Chẳng hứa hẹn mà không hề phản bội.
Lối đi nào cũng có mặt có đôi.
Không thiếu nhau trên những bước đường đời.
Dẫu mỗi chiếc ở một bên phải trái,
nhưng anh yêu em bởi những điều ngược lại.
Gắn bó đời nhau bởi một bước đi chung.
Hai mảnh đời thầm lặng bước song song,
sẽ dừng lại khi chỉ còn một chiếc.
Chỉ còn một là không còn gì hết.
Nếu không tìm được chiếc thứ hai kia.
S.T
Tuesday, 10. July 2007, 02:04:04
(VietNamNet) - "Alô! Viện Giải phẫu Đại học Y Hà Nội? Mẹ tôi là Ng... ở... đã mất... Thực hiện nguyện vọng cuối đời của mẹ tôi... Vâng! chúng tôi sẽ đến ngay..." Chiếc xe tang xé màm đêm lao đi. Trên xe, hai nhân viên y tế đã sẵn sàng làm nhiệm vụ. Đó là một trong những ca tiếp nhận xác hiến tự nguyện cho y học ở Viện Giải phẫu - Đại học Y Hà Nội.
Hành trình xác hiến
Sau khi thắp hương phúng viếng, xác được đưa lên xe về viện. Các bác sĩ tiêm ngay vào xác khoảng 2 - 3 lít hoá chất cho ngấm đều để chống phân huỷ. Sau đó theo dõi một tuần, xác căng, thuốc ngấm đều mới mang ngâm vào bồn cùng với dung dịch formol, acool, fenol, gluceril để bảo quản.
Bác sĩ Nguyễn Trần Quýnh, người kiêm việc nhận xác hiến của viện chỉ vào hai xác ướp như người đang nằm ngủ ở tầng 2, 108 Tăng Bạt Hổ bảo, các nhân viên y tế đi nhận xác hiến thường phải chạy đua với thời gian vì thân nhân người quá cố thường chần chừ rồi mới gọi điện báo mà việc xử lý xác phải tiến hành thật nhanh, sao cho trước 24 giờ tính từ khi người tự nguyện hiến xác qua đời. Những xác được xử lý kịp thời có thể lưu giữ lâu dài không bị biến dạng, đổi màu.
Tuỳ theo điều kiện, người thân của họ có thể vào thăm viếng gặp lại “người xưa” sau hàng chục năm! Xác ướp khi mang ra sử dụng thì chỉ được từ 1-2 năm. Sau thời gian này gia đình nào muốn nhận lại xác người thân có thể liên hệ làm thủ tục đem thiêu hoặc mai táng.
Ông Quýnh cũng khuyến cáo: nếu mai táng thì nên chôn vĩnh viễn vì xác đã ướp rất khó phân huỷ. Còn “giao phó” cho trường lo “hậu sự”, xác sẽ được hoả thiêu, tro sẽ được thờ tại viện và được ghi danh, phong tặng!
Hiện nay ở nước ta có ba trường Đại học: Y Hà Nội, Y Huế, Y TP.HCM có quyền được nhận xác hiến cho nghiên cứu khoa học.
Quà tặng cuộc sống
Lần theo địa chỉ trong những lá thư tình nguyện, chúng tôi tìm đến chùa Thọ Cầu, 19 Cầu Giấy, Hà Nội. Sư trụ trì, Đại đức Thích Đức Tiến, 33 tuổi, trong bộ đồ nâu sồng vui vẻ tiếp chuyện. Chẳng cần phải rào trước đón sau ông nói ngay: “Tất cả các thủ tục đã hoàn tất. Việc này tôi đã giao cho 4 đệ tử ruột. Họ đều tán thành nhưng tôi biết đó không phải là chuyện dễ dàng với họ. Khi phát nguyện, tôi cũng thăm dò bạn bè và các phật tử: 70% ủng hộ tâm nguyện của tôi, chỉ có 30% bảo sư phụ hiến xác cho khoa học, chúng con không có gì tiễn đưa lúc lâm chung thì buồn lắm. Tôi còn căn dặn mọi người: khi nào thấy mình hấp hối thì nên thuê ô tô chở đến thẳng Viện Giải phẫu 108 Tăng Bạt Hổ để xác tôi giúp ích cho việc nghiên cứu khoa học được càng nhiều càng tốt!” . Rồi ông cười hiền lành: biết đâu từ cái xác của tôi một người bệnh nào đấy sẽ được cứu sống!
Đại đức Thích Đức Tiến sinh ra trong một gia đình viên chức ở quận Ba Đình Hà Nội, là anh cả trong gia đình có ba anh em trai. Ông là người được người thân và mọi người quý trọng về sự hiểu biết cũng như đức độ từ nhỏ. Ông xuất gia từ năm 16 tuổi và được đào tạo bài bản về giáo lý nhà Phật. Quan niệm của ông về hậu sự: “Xây tháp, xây lăng to làm gì? Trăm năm trước ta chưa có. Trăm năm sau có cũng hoàn không. Cuộc đời sắc sắc không không. Chỉ còn lưu lại tấm lòng từ bi!”.
Ông bà Đàm Tiến, cán bộ nghỉ hưu ở quận Cầu Giấy, Hà Nội thì lại giản dị: “Có gì đâu, hai vợ chồng tội tự nguyện hiến xác cho khoa học cũng chỉ vì một lần vào bệnh viện thăm người thân đã chứng kiến cảnh ra đi của một cháu nhỏ. Hình ảnh đứa bé quằn quại đau đớn và tiếng kêu xé lòng của người mẹ mất con cứ ám ảnh vợ chồng tôi mãi... Nước mình còn nghèo, phương tiện y tế thiếu thốn đủ đường. Chúng tôi không có vật chất để giúp lúc còn sống thì khi chết mình có tâm nguyện như vậy... Hy vọng đất nước sẽ đào tạo được nhiều bác sĩ giỏi, cứu được người bệnh thoát khỏi những căn bệnh hiểm nghèo. Vậy thôi!”
Trong chồng đơn 120 lá gửi về Viện Giải phẫu 108 Tăng Bạt Hổ, Hà Nội có đủ các thành phần, lứa tuổi từ mọi miền đất nước. Có đơn dài hàng chục trang bày tỏ ngọn ngành tâm huyết nguyện vọng. Có đơn ngắn chưa đầy trang giấy nhưng cũng đủ ý, đủ lời. Có đơn còn kèm theo cả ảnh, chứng minh nhân dân phô tô. Đơn thì của những người già 70, 80 tuổi. Đơn thì của em học sinh mới học lớp 11! Có lá đơn còn ghi rõ cân nặng, chiều cao và cả... đôi mắt bị cận 3 đi ốp với lo lắng: "Viện có nhận xác cháu không?". Đó là N.M.H sinh viên Toán tin, Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội: “... Nhận được đơn này, nếu như không may cháu có bị đột tử, các cô các bác cứ thấy bộ phận nào trong cơ thể cháu còn dùng được thì lấy ghép cho bất kỳ người bệnh nào cần! Ở cõi vĩnh hằng cháu sẽ rất vui khi biết mình đã làm được một việc có ích...”. Mọi người ở Viện Giải phẫu bảo với chúng tôi rằng: chồng đơn được xếp trang trọng trong tủ kính, nơi đầu hành lang dẫn lên phòng thực hành của viện là nơi cất giữ hình bóng của những trái tim nhân hậu!
Quyền hiến xác thuộc về ai?
Những đơn thư tự nguyện hiến xác cho khoa học dù gửi đến bằng đường bưu điện hay email... đều được phúc đáp hướng dẫn cụ thể, đầy đủ về các thủ tục pháp lý cần thiết. Trong yêu cầu đều ghi rõ để thực hiện được nguyện vọng hiến xác cho khoa học người hiến xác ngoài đơn tình nguyện của mình còn phải thuyết phục bố, mẹ, vợ, chồng, con cái đủ tuổi thành niên ký đồng thuận thì mới thực hiện được.
Ngay vợ chồng ông Đàm Tiến cũng đã gặp không ít khó khăn. Ông bảo nó là vấn đề tình cảm, phong tục, rất nhạy cảm... không thể dùng quyền làm cha làm mẹ mà ép được. Cô con gái út của ông bà biết tin, phản đối: Bố mẹ người thế nào khi chết đi thì cứ để nguyên vẹn như thế đem chôn. Con không để cho người ta mổ xẻ vào thân xác cha mẹ đâu. Ông bà phải thuyết phục: “Khi chết đi rồi, xác thiêu thì thành tro, chôn thì cũng thối rữa ra hết có giữ mãi được đâu! Sao các con không để cho cha mẹ thoả nguyện khi qua đời còn làm được một việc có ích cuối cùng. Cái cốt yếu ở cuộc đời là đối xử tốt với nhau. Thế mới là có tình, có hiếu chứ!”
Hiện nay trong 2 lá đơn của ông bà, phần thủ tục dành cho bốn người con vẫn trống phần chữ ký! Ông bà Đàm Tiến thành thật: “Hơn một năm nay tuần nào chúng tôi cũng làm cơm mời con cháu về ăn uống vui vẻ để lựa lời thuyết phục. Tới nay mới chỉ hai đứa đồng ý nhưng chúng bảo cứ chờ đã, vội gì mà phải ký ngay!”
Không riêng gì ông bà Đàm Tiến mà hầu hết những trường hợp khác khi chúng tôi tiếp xúc cũng vậy. Cái “mắc” nhất của những người tự nguyện hiến xác cho khoa học là vấn đề thuyết phục người thân trong gia đình đồng thuận ký vào đơn và tự nguyện gọi điện báo ngay khi người hiến xác qua đời cho các trường Đại học nơi thân nhân họ đăng ký hiến xác.
Bác sĩ Quýnh cho biết, mặc dù một chồng đơn dày như thế nhưng trong vòng hơn chục năm nay Viện chỉ nhận được 6 xác hiến. Việc học tập của sinh viên trường Đại học Y Hà Nội là vô cùng khó khăn. Ở Mỹ 2-3 sinh viên được học trên một xác ướp còn ở ta thì tới 120 nên khó lòng đào tạo tốt được. Vừa rồi Viện phải mang xác từ thời Pháp ra cho sinh viên học. Việc nhận xác vô thừa nhận đã phức tạp về các thủ tục pháp lý, xử lý lại rất khó khăn vì đã để lưu ở môi trường không thuận lợi. Nhiều xác không còn nguyên vẹn, khi bơm hoá chất vào cứ bị xì ra...
Vấn đề “khó dễ” trong việc nhận xác hiến, theo ông Quýnh, ngay cả khi mọi người trong gia đình đã ký vào đơn hiến xác, họ chỉ... “quên” không gọi điện báo là xong! Có biết cũng không thể tự tìm đến được. Việc hiến xác sẽ không bao giờ thực hiện được nếu có một ai đó trong gia đình họ phản đối. Ông còn nhấn mạnh: trong lúc tang gia bối rối, cho dù có được pháp luật đồng ý, cho phép mà gia đình họ không đồng thuận thì cũng đành chịu thôi! Ai lại đi tranh giành, cưỡng chế được đây!?
Có một thực tế là ngay cả khi người chết họ không có di chúc tự nguyện hiến xác cho khoa học nhưng khi họ qua đời, gia đình họ có nguyện vọng hiến xác thì việc đó vẫn thực hiện được. Trường hợp của vận động viên Đỗ Xuân Tâm trong thời gian vừa qua là một ví dụ.
Vậy quyền hiến xác thuộc về ai?
Minh Thụy
Friday, 6. July 2007, 08:12:25
Vietnamnet-Câu chuyện về cái chết tập thể của sáu chiến sĩ dưới hầm ngầm ở Thành cổ Quảng Trị và bức thư tình ấm mãi trong lòng đất của một người con gái cách đây mấy chục năm đã hơn một lần được báo chí viết đến. Nhưng có thêm một chi tiết bất ngờ: Người lính ở ngách hầm bên cạnh ngày ấy thoát ra được là một trong những khách mời của Cầu Truyền hình trực tiếp " Một thời hoa lửa" diễn ra tối 30/10/2005. Những gì xung quanh câu chuyện của ông đã làm phong phú thêm huyền thoại về mảnh đất Quảng Trị.
Ông là Nguyễn Thanh Đao hiện là cựu chiến binh ở thôn Thịnh Đại, xã Yên Lợi, huyện Ý Yên, Nam Định.
Khi chúng tôi đưa cho ông Nguyễn Thanh Đao xem tờ báo An Ninh Thế Giới, nói trên ông Đao cầm tờ báo, rồi trên gò má nhăn nheo của ông xuất hiện hai hàng nước mắt... Phải một lúc lâu sau ông mới nói: Tôi là người sống sót ở ngay căn hầm bên cạnh, nơi anh Chủng hy sinh!
"Tôi là người sống sót trong căn hầm khai quật năm 1999 có bảy hài cốt bộ đội mà bài báo trên báo An Ninh Thế Giới nhắc tới với tiêu đề " Bí mật dưới Thành cổ Quảng Trị và lá thư của một người vợ liệt sĩ"". Ông kể.
Trong phần tít nhỏ tác giả bài báo viết: "... Trong Thành cổ có 1 căn hầm bê tông cốt thép rất kiên cố, sâu và dài, do địch xây dựng từ lâu... Nhưng một quả bom laser của địch vừa đánh trúng căn hầm ấy, làm hầm sập và bịt mất cửa hầm. Có 7 chiến sĩ ta còn đang bị kẹt dưới đó. Họ gồm: 1 cán bộ chính trị viên phó tiểu đoàn, 1 cán bộ Tham mưu tiểu đoàn, 3 chiến sĩ công binh, 2 liên lạc... Khi hầm sập, dù trên mặt đất nói to, bên dưới vẫn nghe thấy, nhưng vì có lớp bê tông bịt nắp hầm quá dày và kiên cố, nên không có cách nào cứu hộ được. Anh em chỉ biết gọi tên nhau, nhưng bất lực ứa nước mắt, đành chấp nhận hy sinh.
Điều kỳ lạ là 7 chiến sĩ của chúng ta vẫn sống tới 7 ngày và 7 đêm dưới hầm sâu tối tăm, thiếu dưỡng khí, không thức ăn, không nước uống. Họ vẫn điện ra ngoài bằng máy vô tuyến. Trong bức điện cuối cùng họ vẫn thông báo: " Địch đang tiến vào trận địa... Chúng tôi nghe rất rõ bước chân chúng... Nghe được bọn chúng nói chuyện... Xin gửi lời chào chiến thắng và vĩnh biệt"
27 năm sau cuộc chiến, khoảng giữa năm 1999, trong khi đào bới cống thoát nước công trình trùng tu di tích Thành cổ Quảng Trị bằng phương tiện cơ giới hiện đại, một số công nhân đã phát hiện ra một hầm ngầm rất kiên cố, với nắp bê tông cốt thép dày 30 cm, bị sập từ lâu. Khi các tấm bê tông được khoan cắt và cẩu lên, người ta phát hiện có 7 bộ hài cốt còn nguyên vẹn nằm rải rác bên dưới...
Đặc biệt, ở bộ hài cốt có tư thế nằm tựa vào thành hầm, người ta tìm thấy 1 chiếc sắc cốt quân đội do Liên Xô sản xuất. trong đó có những di vật và tài liệu vô cùng quý giá: Sổ công tác, vài bức ảnh. Và đặc biệt là 2 lá thư nhà, ký tên người viết là Biển Khơi. Nhờ những di vật đó, người ta xác định được chủ nhân của chiếc sắc cốt ấy chính là lệt sĩ Lê Binh Chủng, nguyên Chính trị viên phó tiểu đoàn...
Như vậy theo bài báo thì chưa biết danh tính của sáu liệt sĩ còn lại. Vậy sáu người còn lại là ai? Những phút cuối cùng của họ như thế nào? Câu chuyện của ông Đao đã làm giàu thêm huyền thoại về mảnh đất "thời hoa lửa" đó.
... Hôm ấy, không nhớ rõ ngày, chỉ biết vào khoảng 8 giờ sáng khi tôi đi cùng tiểu đoàn phó Lê Binh Chủng, lúc ấy cuộc chiến rất ác liệt. Khi tôi chạy vào hầm bên cạnh ngay hầm anh Chủng thì thấy mình bị hất lên cao rồi ngất đi, tai ù đặc. Tỉnh dậy, sờ tay cầm khẩu súng định đứng dậy thì thấy tối đen như mực và thấy chân trái bị kẹt chặt.
Tôi cố gượng đứng dậy thì đầu chạm vào thanh ray trên nóc hầm do quả bom dù nổ sập xuống. Nghe thấy tiếng kêu: "Cứu với! Cứu với !". Tôi đáp lại: Kẹt chặt không thể vào được! Lúc chạy vàocùng tôi còn có hai chiến sĩ thông tin mới xuống tăng cường cho mặt trận. Tôi cựa quậy thoạt kẹt rồi định hướng trong cái khoảng trống bằng cái giường.
Thấy các mảnh vỡ và cứ thế xếp dần ra sau lưng, tôi định thần lại để tìm ra cửa sau vì biết ở phía ấy có một cửa rộng chừng 30m dài chừng 60cm. Cứ xếp như thế để chui ra, khoảng 15 phút tôi thấy có một tia sáng to bằng hạt lạc. Tôi nghĩ đây là lối ra được nên hết sức bới cho thật nhanh. Cuối cùng, cũng tìm được một lỗ thoát ra.
Khi ra ngoài máy bay địch vẫn gầm rú bổ nhào. Tôi chạy ra đến báo với anh Mến Tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3: Hầm sập rồi. Anh Mến nói: Chúng nó đánh rát quá chưa thể lên cứu được. Rồi tôi được đưa ra tuyến sau...
- Thưa ông, lúc ông đang tìm cách thoát ra khỏi hầm ông có nghe thấy tiếng kêu ở hầm bên cạnh không?
- Tôi chỉ nghe thấy tiếng kêu: Các anh ơi cứu. " Bị kẹt đường ray không thể vào được" Tôi trả lời. Tiếng kêu cứ nhỏ dần rồi lịm đi... mươi phút sau thì thấy im ắng.
- Ông có xác định được tiếng kêu của ai không? Và vì sao?
- Tôi cho rằng đó là tiếng kêu của 2 chiến sĩ thông tin cùng hầm với tôi. Chiếc hầm của tôi rộnh chừng 25 m2. Trong đó còn có 2 cái giường bạt. Lúc ấy các thanh ray sụp xuống chắn hết không thể vào được vì cả một khối bê tong đất đá lớn chặn lại.
- Xin ông nói rõ ông có nghe thấy tiếng kêu hầm bên cạnh không?
- Không! Lúc đấy tai tôi cũng bị ù chỉ nghe thấy tiếng hai chiến sĩ thông tin kia kêu thôi. Vì hai căn hầm lô cốt cách nhau bức tường rất dày... Lúc ấy tôi nghĩ trong lô cốt của tôi có 4 người, về sau này tôi mới biết anh Biên trinh sát cũng thoát chết rất tình cờ vì lúc đó anh ra ngoài đi đồng ở một căn hầm bên cạnh khác.
- Lúc ông thoát ra ông có gặp ai không? Và khoảng mấy giờ?
- Không! Lúc ấy khoảng hơn 9 giờ sáng.Tôi chạy khoảng 600m về hầm chỉ huy gặp anh Mến- Ông Đỗ Mến tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3. Tôi báo cáo: Hầm bị đánh sập rồi. Ông Mến nói: Tao biết hầm bị sập hơn một tiếng rồi nhưng chúng đánh rát quá chưa lên cứu được! Mày nằm đây một chút cho tỉnh, rồi tao viêt giấy cho ra. Khoảng 11 giờ tôi ra nhà "tỉnh trưởng". Đó là căn hầm bộ chỉ huy trung đoàn ở đó. Tôi ra khoảng 1 tiếng sau tôi gặp anh Phan An Biên trinh sát.
- Ông lúc đó có biết hầm bên cạnh có những ai ở đó không?
- Tôi chỉ biết là có anh Chủng vì hôm ấy không rõ là ngày nào nhưng tầm 7 giờ tôi là trinh sát nên đi theo anh ấy. Anh ấy đi trước tôi đi sau còn ôm chồng báo nặng khoảng 3kg.
- Vậy là ông không tham gia cứu hộ căn hầm bên cạnh?
- Đúng vậy. Tôi bị thương nên anh Mến cho chuyển ra ngoài. Anh Mến là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 khi đó. Có thông tin gì anh cứ hỏi anh ấy.
Ông Đỗ Mến nguyên là tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn 3 chỉ huy cứu hộ căn hầm có Chính trị viên tiểu đoàn Lê Binh Chủng bị sập khi ấy kể lại: Khi ngớt bom chúng tôi lên tìm , chúng tôi nghe thấy tiếng anh Thu kêu: Anh Mến ơi cứu em với! Tôi nghe thấy kêu 2 lần. Tôi lấy tay làm loa đáp lại: Chúng nó đánh rát lắm! Lúc ấy pháo địch rất dữ dội nên không thể làm gì được.
- Lúc ấy và về sau khoảng 7 ngày ông có liên lạc với những người kẹt ở trong căn hầm của chính trị viên phó tiểu đoàn Lê Binh Chủng bằng điện đàm không?
- Không!
-- Lúc ấy ông có xác định được ai đang kẹt ở trong hầm không?
- Anh Chủng và anh Thu vì anh Thu gọi tôi. Căn hầm ấy còn có một căn hầm đào ở trong nền làm theo hình chữ A chứa được khoảng 3 người.
- Trong thời gian đó ông có nhận được cuộc điện đàm nào từ trong căn hầm ra không?
- Không.
- Ông có chắc chắn là ông Nguyễn Thanh Đao là người sống sót ở căn hầm bên cạnh căn hầm có 5 liệt sỹ kia không?
- Chắc chắn! Vì anh ấy chạy về hầm của tôi báo cáo và lúc địch thả bom tôi cũng nhìn thấy.
Chúng tôi cũng đã gặp ông Nguyễn Văn Hợi nguyên là trợ lý quân lực tiểu đoàn 3 khi ấy. Điều đặc biệt nhất là ông cho biết: đến bây giờ các cựu chiến binh tiểu đoàn 3 đã có tên các chiến sĩ hy sinh trong căn hầm nói trên. VietNamNet xin đăng tải để bạn đọc tiện theo dõi:
1. Đồng chí Lê Binh Chủng - Trung uý , chính trị viên phó tiểu đoàn.
2. Đồng chí Nhiên, trung đội trưởng thông tin
3. Đồng chí Thu trợ lý tham mưu
4. Đồng chí Thanh, trinh sát tiểu đoàn. Quê ở Nghệ An bổ sung về ngày 7/5/1972
5. Đồng chí Sáu , anh nuôi đại đội 12 diều lên.
6. 2 đồng chí thông tin E 48 tăng cường.
Như vậy theo danh sách này có bẩy liệt sỹ.
Những thông tin tiếp sẽ được bổ sung thêm trong cầu truyền hình trực tiếp "Một thời hoa lửa" vào 20 giờ tối nay (30.10.2005).
Minh Thuỵ
Friday, 6. July 2007, 02:08:02
Trái đất như tô son
Cỏ cây đeo vàng ngọc
Nắng chan hoà mặt đất
Đời bỗng đẹp hẳn lên
Thursday, 5. July 2007, 08:33:03
(VietNamNet) - Mỗi lần nhà giáo Nguyễn Văn Thuận đẩy xe đi thu nhặt rác, cả làng Ngọc Động, Hoàng Đông, Duy Tiên, Hà Nam quê ông lại náo động bởi còi ú như... xe cảnh sát. Ông không chỉ là người tự nguyện dọn rác, đắp đường cho làng mà còn đi vay nặng lãi làm cầu cho dân đi lại trong hơn chục năm qua...
Gom rác vui như... trúng xổ số
Ông Thuận vận comple cà vạt, chân dận giầy da, miệng loa: Kính thưa dân làng Ngọc Động! Thực hiện vệ sinh môi trường, kính mong toàn thể nhân dân hưởng ứng... Giọng ông oang oang tiếp theo là hồi còi ú...
Tiếng loa vang đến đâu hàng đoàn trẻ con người lớn hào hứng mang rác ra đổ. Họ còn nán lại chờ xem hôm nay ông Thuận có chương trình văn nghệ gì không. Tay hót rác miệng thúc loa, lúc cao hứng ông Thuận còn đọc những chùm thơ về chủ đề "xanh sạch đẹp xóm làng" do mình "sản xuất" được. Dân làng vây quanh "gánh rác" đông như xem hội. Chẳng mấy chốc xe rác đầy ứ, đó cũng là lúc ông tắt loa, gò lưng tôm đẩy xe vượt con đường gồ ghề ra bãi rác đầu làng...
Ông Thuận đã làm việc này mấy năm rồi mà không đòi hỏi bất cứ điều gì. Ông làm việc không kể ngày đêm, không nề hà cực nhọc. Những nơi sặc mùi xú uế, ruồi nhặng, mọi người tìm cách tránh xa là nơi ông tìm đến.
Có lần say sưa quét đường móc cống tới tận 3 giờ sáng mà ông suýt bị cả một hòn gạch vào lưng vì người làng tưởng nhầm là... kẻ trộm!
Lại có lần, một mình một xe rác giữa đường trơn đêm vắng. Lúc lên dốc đuối sức, cứ kéo lên gần đến đỉnh, chiếc xe lại lôi ông xuống... mấy lần như vậy ông kiệt sức, ngất đi...
"Bà quờ chẳng thấy ông đâu"
Người dân Ngọc Động có thơ rằng: "Ngọc Động ông Thuận hay thơ/ Đêm nằm không ngủ chỉ lo làm cầu/ Bà sờ không thấy ông đâu/ Hoá ra ông đã ra cầu lội mương/ Chăm lo tu sửa lại đường/ Vui lòng quý khách ngày thường vãng lai/ Xuân nay ngày rộng tháng dài/ Chúc cho ông Thuận lộc tài nhiều thêm/ Chúc cho ông Thuận đêm đêm/ Bà quờ vẫn thấy ông bên cạnh bà/..." Chuyện làm cầu của ông đã trở thành giai thoại.
"Nếu không có ông Thuận thì không biết tới bao giờ chúng tôi mới có con đường đẹp đẽ và cây cầu để đi lại thuận tiện như thế này. Ngày xưa, cứ mưa xuống là phải lội bì bõm", anh Nguyễn Văn Thoan làm nghề mây tre xuất khẩu ở làng nói.
Cách đây hơn 30 năm, dân làng Ngọc Động muốn sang sông để đi lễ nhà thờ, chỉ còn cách cởi bỏ trang phục đội lên đầu mà lội qua con kênh A3 rộng 20m. Lần đầu "nối bờ vui" cho làng, ông Thuận ngả bụi tre nhà mình ra bắc cầu cho dân đi. Cây cầu tre theo năm tháng oằn mình xuống cấp ông lại tính đến cây cầu kiên cố hơn.
Ngày tiếp ngày, ông khuân đất về đổ ở hai bên bờ tạo mố cầu để xe cộ có thể tránh nhau được. Hàng trăm mét khối đất chỉ mình ông khuân vác với suy nghĩ kiến tha lâu cũng đầy tổ! Đêm 30 Tết trời rét như cắt da cắt thịt ông vẫn ngâm mình dưới nước chằng chống cho đất khỏi trôi. Vợ ông "la làng quyền": "Ối làng nước ơi! Người ta chăn ấm đệm êm, còn chồng tôi thì cứ ngâm mình dưới sông". Bà bảo, thế mà ông ấy đâu có chịu lên tắm rửa để đón giao thừa đâu. Đã thế, sáng mồng một, mắt trước mắt sau đã thấy ông ấy ngâm mình dưới sông rồi.
Nhiều đêm nằm ngủ giật mình tỉnh giấc bà quờ tay sang cạnh lại chẳng thấy chồng đâu. Nhưng khi nghe mấy câu vè của làng, bà vừa buồn cười, vừa ứa nước mắt.
Sau mấy "phi vụ" ầm ĩ, sợ vợ con ngăn cản "đánh phá" không cho "vác tù và hàng tổng", ông Thuận rút vào thi công cầu... bí mật. Các khâu chuẩn bị sắt thép, tấm đan... cho cây cầu mới ông đều thi công ở một địa điểm bí mật ở làng bên cạnh rồi cấp tập chở đến lắp ghép như bắc cầu thời chiến!
Người cha của những học sinh nghèo
Ông Thuận mồ côi cha từ nhỏ. 16 tuổi đã đứng lớp dạy bình dân học vụ. Vừa dạy vừa học dần lên để có bằng tốt nghiệp lớp 10 Bổ túc văn hoá. Nhà 10 miệng ăn chỉ trông vào đồng lương ấy, vậy mà ông vẫn chắt bóp để có tiền đóng học phí cho 15 em học sinh nghèo của lớp. "Nhìn cảnh các em không có tiền đóng học không dám bước vào lớp, tôi không thể cầm lòng được!" - Nhà giáo Nguyễn Văn Thuận xúc động nhớ lại. Ngày đó, sáng lên lớp, chiều tăng gia sản xuất, đêm đến soạn giáo án xong là ông mang đèn xách giỏ đi bắt ếch để vợ đi bán. Hôm nào ông cũng phải phấn đấu bắt đầy giỏ cho dù phải thức đến sáng.
Đến bây giờ người làng thấy ông làm cầu làm đường rầm rộ vẫn tưởng là nhà có của chìm của nổi. Thật ra bắt ếch không đủ tiền thì ông đi vay lãi. Căn nhà của hai vợ chồng già nay vẫn lụp xụp, rách nát. Bữa cơm quanh đi quẩn lại cũng chỉ có rau muống luộc với lạc rang mặn!
Tài sản lớn nhất của họ là chiếc xe môi trường mua bằng tiền vay và chiếc loa lúc nào ông cũng kè kè bên mình trên hành trình "xanh sạch đẹp xóm làng".
"Cái ông trời đánh"
Bà Thuận vừa nói vừa gạt nước mắt. Bà bảo, đã bao lần mấy mẹ con bà to tiếng ngăn cản không cho ông ấy đi hót rác, khiến ông ấy phật ý, thật không phải. Nhưng ai là người trông đến ông ấy đây!? Thuận vợ thuận chồng gắn bó chia sẻ với nhau bao năm, mà nay ra nông nỗi, tôi cũng buồn lắm! Nhưng 70 tuổi rồi người khác thì đã an phận tuổi già còn ông nhà tôi thì cứ như thế! Dọn rác cho làng đã mệt ông ấy lại còn nhận làm cho cả làng Chuông, làng Trịnh nữa. Sức nào mà chịu nổi cơ chứ! Vừa rồi cả nhà tôi lại phải kéo nhau lên "đánh tháo" nhưng chính quyền ở đấy lại bảo: "Chúng tôi đã tìm mọi cách từ chối nhưng đưa ra bất cứ điều kiện gì ông nhà cũng chấp nhận hết. Ông ấy còn xắn quần đắp cả một con đường dài 500m để đổ rác".
Có lần ông Thuận còn mở rộng "vùng giải phóng", lên cả thị trấn Đồng Văn thu gom rác. Vừa làm ông vừa loa loa: "Ai qua thị trấn Đồng Văn, môi trường ô nhiễm băn khoăn lạ đời. Vệ đường cống rãnh eo ơi! Chỗ này đống rác kia thời lọ chai...". Đận ấy, ông bị công an huyện lập biên bản thu hết cả đồ nghề.
Ông Thuận là người theo đạo Thiên Chúa còn vợ ông là người theo đạo Phật. Ngày xưa khi hai ông bà tìm hiểu nhau hai gia đình biết chuyện đều ra sức ngăn cấm. "Tôi bảo với ông ấy là bố mẹ không đồng ý thì không gặp nhau nữa thì hơn. Mặt ông đấy đờ ra như trúng gió rồi đột nhiên đanh lại: "Đằng ấy" mà không đồng ý lấy tôi là tôi sẽ sống một mình đến già".
Kể lại câu chuyện này bà tự hào kết luận: Tính ông từ xưa đến nay vẫn chẳng thay đổi, đã muốn làm điều gì thì không ai có thể lay chuyển nổi. Thế mới xứng mặt đàn ông! Rồi bà cười: Đúng là cái ông trời đánh!
Bây giờ những kẻ xấu bụng trong làng không còn nhổ bọt khi thấy ông trống dong cờ mở đi hót rác, bà cũng mừng và ngộ ra nhiều điều. Tiền ông vay nặng lãi, bà bảo, rồi sẽ tính trả dần, làm gì mà phải lo cho nó mất vui! Rồi bà tươi như hoa: "Thôi thì, trời không chịu đất đất phải chịu trời. Mấy ngày nay thấy tôi thuận tình cho ông ấy làm môi trường, sắp xuống lỗ đến nơi rồi mà ông ấy còn "vẽ chuyện" làm cả thơ tình tặng tôi!".
Dạo này ông làm việc nhiều, người đã gầy lại càng rộc đi. Mấy hôm nay ông cứ ho húng hắng... Bát thuốc bắc để cạnh đầu giường vẫn còn nguyên, bà càng rối ruột. Ban ngày dù có mệnh hệ gì thì vẫn còn có người này người khác, chứ ban đêm giữa đồng không mông quạnh biết trông cậy vào đâu?
Chờ đến gần sáng mà vẫn không thấy ông về. Lòng bà lại như có lửa đốt, bà tất tưởi chạy ra sông tìm chồng... Thấy ông vẫn lặn ngụp be bờ đắp đường. Mắt bà nhoè lệ...
Bà đưa hai tay lên làm loa gọi: Ông Thuận ơi về thôi trời sắp sáng rồi!
Minh Thụy
Thursday, 5. July 2007, 08:29:53
(VietNamNet) - Ông Phạm Duy Thiệu ở phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, Hà Nội nổi tiếng không chỉ vì từ hai bàn tay trắng trở nên giàu có, thành "vua" bãi nổi, người đã từng được đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (AHLLVTND), ông còn nổi tiếng là người "kiện đổ" nhiều cán bộ tham nhũng, sai trái...
17kg đơn tố cáo
"Hơn 30 năm nay số đơn khiếu nại và tố cáo tôi gửi các cơ quan Nhà nước lên tới hàng ngàn tờ. Phần lưu giữ nặng tới 17kg. Tôi vẫn tiếp tục làm việc này nếu thấy cán bộ công quyền sai phạm, tham nhũng" - ông nói.
"Sự nghiệp" kiện tụng của ông Thiệu bắt đầu từ tháng 3/1970. Lần đó ông tố cáo một số cán bộ ở địa phương lấy đất công mang bán lấy tiền chia nhau bằng... bài "hịch thơ" có tên: Kêu cứu. Bài "hịch" được gửi đến các cơ quan chức năng nhưng bặt vô âm tín!?
Sau đó, ông đến cơ quan tiếp dân vừa đưa đơn vừa tố cáo bằng... mồm. "Đơn gửi lâu không có hồi âm, tôi lại gửi tiếp và không ít lần chích tay lấy máu đỏ ký tên". Chạy như đèn cù, đơn tố cáo của ông mới tới được tay nhà chức trách. Kết quả hàng loạt sai phạm của các các bộ biến chất phải "về vườn". "Sau vụ này người ta quy cho tôi 5 tội (vớt gỗ, ăn cắp gỗ trên sông; bắt ximăng buôn lậu để ăn tiền hối lộ; bắt rượu lậu để ăn tiền hối lộ; chửi cán bộ (chủ tịch xã); chống đối lại chính quyền; sau đó ông đã được minh oan - NV) nhưng không có bằng chứng và "bẫy" tôi ra khỏi Đảng" - ông nói.
"Chứng nào vẫn tật ấy" cách kiện của ông vẫn không thay đổi: "Tổ chức, cá nhân nào sai phạm đến góp ý thẳng nếu không sửa là tôi tố cáo" - Ông khảng khái - "Nói rằng tôi vu khống, kiện tụng lung tung thì không phải bởi những gì tôi tố cáo đều đúng. Khi cấp trên thanh, kiểm tra những người sai phạm đã phải hầu toà, bị khai trừ khỏi Đảng, bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Bằng chứng là: Xã Tứ Liên 4 chủ tịch xã mất chức, 3 bí thư đảng uỷ xã phải về vườn, gần 30 đảng viên kém phẩm chất bị khai trừ khỏi Đảng!". Ông kể tiếp: "Ngay sáng nay thôi, tôi vừa nhắc "một chỗ". Nếu họ không sửa tôi sẽ kiện đấy. Tính mạng hàng trăm cháu học sinh nằm đó. Không thể làm ẩu, bớt xén được!".
"Ông không sợ họ thù hằn sao? - tôi hỏi. "Nếu ai cũng sợ mang thù rước oán vào thân mà không dám nói lên sự thật, thì còn gì là kỷ cương xã hội. Bảo vệ lẽ phải và sự công bằng thì dù có phải chết tôi cũng không ân hận!"
Suýt chết vì kiện!
Bộ Tư lệnh Quân khu 5 từng có công văn số 283 ngày 5/10/1995 đề nghị phong tặng Phạm Duy Thiệu danh hiệu (AHLLVTND) vì thành tích: "Bắn rơi 10 máy bay và bắn bị thương 4 cái khác". (Công văn này còn xác minh thêm: đặc biệt trong trận chiến đấu ngày 6/11/1967 tại điểm cao Bản Thùng (xã Sơn Long, Quế Sơn, Quảng Nam) đồng chí đã bắn rơi 6 máy bay trong đó có 1 máy bay phản lực. Đã được tặng thưởng huân chương chiến công số 421/TH-TĐ ngày 01/7/1975). Lúc đó ông Thiệu là chiến sĩ thuộc Đại đội 1, Tiểu đoàn 14, Sư đoàn 2, Quân khu 5.
Thế nhưng đến năm 1995 Quân khu 5 mới làm công văn đề nghị lên Cục Chính sách - Tổng Cục Chính trị đề nghị phong anh hùng LLVTND cho chiến sĩ Phạm Duy Thiệu là nhờ có chỉ thị 35/CT-TW ngày 18/13 của Ban Bí thư trung ương Đảng cộng sản Việt Nam và Thông tư số 456/QP-TT của Bộ Quốc phòng về việc xét khen thưởng thành tích trong chiến đấu chống Mỹ cho các đồng chí còn sót nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.
Cho tới nay danh hiệu anh hùng LLVTND chưa thấy đâu nhưng ông đã mấy lần bị đe dọa và một lần bị chém gần chết!? Chỗ "mắc" để danh hiệu cao quý này không tới tay ông là tờ xác nhận của phường Tứ Liên, Tây Hồ, Hà Nội về phẩm chất của ông. Thật nực cười, cùng một vị chủ tịch phường mà chỉ trong một thời gian ngắn lại ký hai quyết định trái ngược nhau nhận xét về phẩm chất tư cách của Phạm Duy Thiệu!? Việc này cũng đã được thanh tra cấp trên làm rõ trả lại danh dự cho Phạm Duy Thiệu.
52 tuổi, thi ĐH ngành luật để... đi kiện
"Tôi nộp hồ sơ đúng hạn chót. Chỉ còn 20 ngày là thi tuyển đại học, cầm 3 quyển sách dày cộp về vừa chăn bò vừa học. Kết quả: Môn sử 9,5 điểm. Môn địa 9,5 điểm. Môn văn 7,5 điểm. Cầm giấy báo mà tôi nhảy cẫng lên như thằng bé con thấy mẹ về chợ quên mất cả mình đã 52 tuổi!" - ông tâm sự.
Thấy ông đi học kẻ đố kị tung tin "Thằng Thiệu dở người, khùng, học gì nó, mua bằng đại học để loè thiên hạ thôi!?" Vậy mà ông học thật và có bằng thật. Còn việc sử dụng kiến thức ấy thì như ông nói: "Học để có trình độ hiểu biết, sống cho đúng pháp luật, để con cháu nhìn gương bố mà học; 5 đứa con tôi 4 đứa học qua đại học, 1 đứa học trung cấp đều có công việc đàng hoàng và thu nhập ổn định". Rồi ông cười: "Tôi chọn khoa Luật Trường Đại KHXH&NV học là cũng để có kiến thức về luật pháp để đi... kiện đấy!"
"Vua bãi nổi" và chuyện về hai chú chó trong cơn bão
Năm 1988, sau bao ngày đóng gạch, cắt tóc, sửa xe đạp, mà vẫn không thoát khỏi cái nghèo, một hôm ông cõng hai đứa con sang bãi giữa chơi. Thấy bọn trẻ con nghịch đất, ông cúi xuống vốc một nắm đất lên xem rồi kêu lên: "Vàng đây rồi!". Hai đứa trẻ ngơ ngác hỏi lại: ở đâu hở bố? Ngày hôm sau ông xách cặp lồng cơm, vác cuốc vượt sông sang khai khẩn.
"Năm năm liền, tôi nằm trông hoa màu, bò, lợn, gà... trong túp lều tranh rộng 4m2. Chỉ một mình. Ban ngày phát hoang mở đất. Đêm đến, nhờ ánh điện sáng bên kia sông hắt sang, ông tỉa ngô, cứ đi hết một hàng lại quay lại đi tiếp từ đầu để tận dụng ánh sáng, có hôm làm mải tới sáng. Đến bây giờ tôi cũng không hiểu nổi tại sao mình có thể làm được như vậy" - ông nói.
Khi ấy bãi giữa hoang hoá chỉ có lau sậy um tùm, chẳng ai nghĩ nó lại màu mỡ xanh tốt như bây giờ.
"Đêm 28/5/1989, tôi lên cơn sốt vào đúng lúc cơn bão ập đến. Gió tốc bay căn lều tạm. Người run bần bật, những mảnh đạn ở đầu, ở phổi, ở tim hành hạ. Tôi chỉ kịp cắt dây thừng cho đàn bò chạy tìm nơi trú ẩn, rồi ôm hai con chó nằm sấp ngất đi dưới trời mưa lúc nào không biết. Đến lúc thấy như có ai đang hôn vào mặt mình mới tỉnh lại... Mở mắt thấy mình mình ôm hai con chó giữa trời nước mênh mông... ". Mắt ông đỏ hoe.
Thấy ông Thiệu làm ăn phát đạt, không chỉ những người ở địa phương mà cả gần 100 hộ ở Hải Dương thiếu đất canh tác cũng chèo thuyền lên đây thuê đất trồng hoa màu, cây thuốc... Bãi giữa đã cho người cựu chiến binh ấy xây được căn nhà 3 tầng khang trang trên cái ao sâu 10m, sự giàu có và danh hiệu "Vua bãi nổi". Đã 2 lần ông được mời đi dự hội nghị nông dân sản xuất giỏi.
Năm nay, đã 63 tuổi, ông Phạm Duy Thiệu vẫn xăm xăm ra bãi. Vẫn "cái tật" chết không chừa: "Ăn cơm nhà vác tù và"... đi kiện!
Ông bảo: "Bây giờ có ngày tôi vẫn viết tới chục lá đơn và không ít lá đơn buộc tôi có ý định ký tên mình bằng máu!"
Minh Thụy
Thursday, 5. July 2007, 08:26:54
(VietNamNet) - Sau 50 năm, tình cờ, bà Vương Thị Hiếu gặp lại mình trong bức ảnh chụp đoàn quân giải phóng đang tiến vào tiếp quản Thủ đô Hà Nội, ngày 10/10/1954, ở triển lãm ảnh "Ngày tiếp quản thủ đô qua ống kính người dân Hà Nội". Ngày ấy bà là cô nữ sinh Hà Nội mới 19 tuổi...
Hà Nội ngày trở về
"Tôi đấy, trông có diện không? Áo sơ mi, váy ka ki, đi giày vải, đội mũ cối đi sau anh bộ đội Điện Biên đang tiến vào Phố Hàng Khay!". Vừa nói bà Hiếu vừa mở tủ đưa ra tấm ảnh chụp toàn đội của bà trước khi xuất phát: "Lúc ấy chúng tôi đi tới đâu là hai bên đường rừng cờ hoa mở ra đón mừng. Cứ trôi theo dòng người, chẳng còn nhớ tới thời gian nữa... Người người, nhà nhà đều đổ ra đường. Có cả nụ cười và nước mắt. Người khóc vì niềm vui gặp mặt, người khóc vì đã thực hiện được lời thề năm xưa khi rút ra khỏi cầu Long Biên "Ra đi hẹn một ngày về, Ba Đình còn đó người thề còn đây!"
Bà Hiếu xúc động kể: hôm gặp ông Thân Trọng Ninh (người chụp bức ảnh nói trên - NV) ở triển lãm, ông ấy cười bảo, bà chẳng khác gì ngày xưa cả, chỉ tội là già đi thôi. Ông ấy còn đùa: "Các bà ăn mặc quê chết, ai lại mặc váy, đi giày ba-ta mà tất cứ cuộn tròn một búi to đùng thế!". Ông Ninh cho biết, khi chụp bức ảnh đó, ông đang là sinh viên, thấy không khí háo hức, hào hùng là vác máy đi chụp chứ không hề nghĩ rằng 50 năm sau đó, những tấm ảnh ấy lại trở thành những tư liệu quý giá. "Ngày vui ấy ai có máy ảnh trong tay cũng sẽ làm như tôi thôi" - ông ấy nói.
Vương Thị Hiếu theo cha đi kháng chiến từ khi mới 10 tuổi. Tháng Tám năm 1954, đang là học sinh lớp 9 trường Hùng Vương (Phú Thọ), thì được chọn đi học hai tháng về điều lệ quân quản, múa hát và những điều cần thiết khác để chuẩn bị trở về tiếp quản Thủ đô Hà Nội. 300 học sinh của các trường: Hùng Vương (Phú Thọ), Lương Ngọc Quyến (Thái Nguyên), Tân Trào (Tuyên Quang), Hàn Thuyên (Bắc Giang), Lam Sơn, Huỳnh Thúc Kháng (Thanh Hoá) rời trường về tề tựu tại Thái Nguyên học tập. Sau hai tháng "rèn giũa”, đầu tháng 10 đoàn quân "tiền trạm" lên mô-tô-ba về tập kết tại Quân Y viện 108.
"Những đêm tháng 10 ấy chúng tôi thao thức đến sáng. Hết mặc bộ này lại diện bộ khác. Thấp thỏm! Bồn chồn! Đến khi ngồi trên xe phủ bạt để giữ bí mật chỉ có mấy chỗ hở nhỏ bằng đầu đũa mà vẫn cứ tranh nhau nhìn ra ngoài. Hà Nội ngày 9/10 đang trong lệnh giới nghiêm, nhà nào cũng đóng kín cửa thao thức chờ trời sáng. Phố như xa thêm, dài thêm..."
Im lặng một hồi lâu, rồi bà mới quay sang hỏi tôi: "Anh có biết vì sao mà chúng tôi "diện" như Tết không?" Tôi chưa kịp trả lời bà đã nói ngay: "Ngày ấy bọn địch tuyên truyền nhảm nhí rằng: "Bộ đội ta ba người đu một cành đu đủ không gãy. Bộ đội mà về tiếp quản Thủ đô bao giờ cũng mang theo vạc phẩm gụ, ai mặc quần áo màu sáng là bắt cởi ra nhúng luôn!?". Công việc của bà lúc ấy là tuyên truyền vận động cho mọi người hiểu về chủ trương chính sách của Đảng và Chính phủ "Chúng tôi là đội quân vận động tuyên truyền nên mỗi người có tới bốn bộ trang phục, được may từ mấy tháng trước. Lúc đầu, chúng tôi định may áo dài song thấy nó không được khoẻ mạnh nên chọn may bốn bộ trang phục khác, mặc vào trông khoẻ khoắn, lịch sự!".
Ban ngày bà đi tận các hang cùng ngỏ hẻm, nhà ga bến tàu, nhà thờ để vận động những người công giáo ở lại xây dựng thủ đô không nên di cư vào Nam. Tối đến bà lại tụ họp mọi người dạy múa hát tới tận khuya.
Trồng cây hẹn ngày trở lại
"Một ngày trước khi lên chiến khu trường kỳ kháng chiến bố tôi bảo: "Con hãy trồng cây bưởi để hẹn ngày gặp lại". Tôi trồng xong cây bưởi trước cửa căn nhà ở phố Phùng Khắc Khoan xong, bố tôi xách chiếc xe đạp ra đèo hai chị em tôi đi ngay. "Đường xa lại phải đi vòng vèo nên cứ phải "tăng bo" từng đoạn, lúc chở chị thì em đi bộ và ngược lại".
Đi qua Quảng Oai, Hà Tây chợt bị máy bay địch phát hiện bổ nhào, gầm rú nhả đạn bà hốt hoảng nằm sấp xuống lấy nón... úp lên lưng!? Đạn găm ngay cạnh mình. Nghĩ bị địch phát hiện thì đàng nào thì cũng chết, sao lại không chọn cho mình cái chết đàng hoàng... "sau phút hốt hoảng tôi duỗi thẳng chân tay ra... thách thức!" May mắn cho bà, lần ấy viên đạn găm gần nhất cũng cách 1m. Đến bây giờ kể lại câu chuyện này, bà cũng không nín được cười vì... nón còn trắng hơn cả áo!
Học ở trường Hùng Vương, cứ thứ hai hàng tuần, 3 giờ sáng bà đã đeo một bao tượng lương ăn đi bộ 20km từ Hà Hoà (Phú Thọ) ra đò qua sông sang trường để kịp giờ học. "Ngày ấy cả lớp đều phải ăn ngô, khoai, sắn, chuối xanh thay cơm. Vậy mà ai cũng học giỏi. Tôi lúc nào cũng đứng nhất lớp! "Thép đã tôi thế đấy" là quyển sách gối đầu giường. Nhiều lần tôi còn nhịn đói mấy ngày liền tiết kiệm tiền mua công trái ủng hộ kháng chiến" - bà tâm sự.
Về Hà Nội từ ngày mồng Tám nhưng mãi tới ngày 15/10 bà mới trốn về thăm lại mái nhà xưa, cảnh cũ mà người xưa đâu? Bố thì đang công tác không biết ở đâu, mẹ thì chưa thấy tin tức. Nhà bà lúc ấy đã có chủ khác ở. "Tôi đứng lặng ngắm căn nhà gắn bó với tuổi thơ. Sau 9 năm xa cách vẫn giàn ti gôn trước cửa, cây bưởi ngày nào nay đã cao quá đầu người... xúc động trẻ thơ trào dâng nhưng tôi đã kịp kìm nén vì ý thức được rằng mình đang là cán bộ kháng chiến..."
Kỷ niệm về những lần gặp Bác...
"Tôi được ngồi gần Bác trong lần Bác tới thăm và nói chuyện với lưu học sinh tại trường Đại học tổng hợp Lomonosov. Bác còn đưa cho tôi chiếc áo Pantô bảo mắc lên giá. Rồi Bác bảo: Các cháu ở Việt Nam mình có câu châm ngôn nào nói về công ơn của người thầy? Tôi xin phép Bác phát biểu: "Muốn sang thì bắc cầu Kiều/ Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy". "Không thầy đố mày làm nên". Bác khen giỏi lắm rồi bảo cho Bác gửi lời cám ơn tới các thầy cô giáo ở trường. "Đó là lần bà Hiếu được gặp Bác sang dự lễ kỷ niệm 40 năm Cách mạng tháng 10 Nga, năm 1957. Bà Hiếu bảo, hôm sau bà chuyển lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh tới các nhà giáo người Nga. Họ cảm động lắm!
"Niềm tự hào là người Việt Nam lúc ấy thôi thúc tôi học tập. Lúc đầu tôi chẳng biết gì về tiếng Nga, ngồi nghe giảng mà cứ như "vịt nghe sấm" nhưng chỉ sau một năm là sinh viên nước ngoài còn phải mựơn sách của tôi để chép bài giảng! "Ngày ấy các giáo sư ở trường cũng thấy thật lạ, tại sao một sinh viên Việt Nam luôn yêu cầu thầy cô cho bài tập khó nhất? Hỏi sao phải làm thế? thì đều nhận được câu trả lời: "Sau này em về nước em sẽ không có điều kiện để học hỏi thầy nữa!"
Năm năm học, các môn thi của bà đều được điểm 5 (thang điểm cao nhất của Liên Xô). Với tấm bằng đỏ, bà được mời tiếp tục làm nghiên cứu sinh. "Tôi chỉ muốn về nước làm việc. Vì một lần Bác đến huấn thị khi thấy sinh viên kêu ca với Đại sứ quán đòi tăng học bổng. Lần ấy Bác bảo: Các cô các chú sang đây học tập là được ưu tiên lắm rồi. Cố gắng học tập tu dưỡng. Dân mình còn nghèo lắm. Các chú có biết bộ quần áo ka ki này Bác mặc bao nhiêu năm rồi không? Mọi ngưòi nhao nhao người thì bảo: 1 năm, người thì bảo là ba năm. Bác nói: "Mười năm rồi đấy!" Cả hội trường im lặng!".
Với chuyên ngành thiết kế kho tàng để dự trữ và bảo quản nông sản thực phẩm, bà luôn là bạn của đồng bào dân tộc vùng cao. Lúc thì giúp họ cách sấy chè cà phê, khi thì hướng dẫn cách họ cách trồng trọt. Những năm giặc Mỹ leo thang bắn phá miền Bắc, bà trèo đèo lội suối tìm nơi chuyển lò sấy nông sản vào trong hang để tránh máy bay địch phát hiện. Cán bộ và công nhân ở các nông trường nơi bà đã từng làm việc thấy bà "chân thoăn thoắt mắt tinh tường" như một "thổ dân", không ai nghĩ rằng bà là con gái Hà Nội gốc có tiếng khuê các, lại là con vị Chủ tịch Hội Truyền bá Quốc ngữ Vương Kim Toàn, vì tính giản dị, thân thiện. Với những cống hiến trên bà được chính phủ trao tặng Huy chương Bác Hồ.
Ngay sau khi được đề bạt chức giám đốc Viện thiết kế Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cơ quan bà cũng là cơ quan tiên phong thực hiện ngay cơ chế hạch toán kinh doanh ngay từ những năm 1978.
Năm 1981, bà đứng thứ nhì trong hàng trăm người trong cuộc sát hạch tiếng Nga để học cao học quản lý kinh tế ở Liên Xô. Trong khi những người khác tập trung học ôn 6 tháng ở trường Đại học Ngoại ngữ, và đều là những người mới học ở Liên Xô về nước thì bà đang lặn lội ở tận Mộc Châu cùng công nhân nông trường và tiếng Nga bà học cách đó đã... 20năm!
Cô nữ sinh trong đoàn quân chiến thắng tiến về tiếp quản Thủ đô 10/10/1954 nay đã lên chức bà, sống giản dị cùng chồng và con cháu tại phố Lương Định Của, Hà Nội. Năm nào cũng thế, cứ đến gần ngày 10/10, các đội viên thanh niên xung phong tiếp quản Thủ đô lại cùng nhau ôn lại những ngày trở về năm ấy. Bao giờ họ cũng có chung một cảm xúc ngày 10/10/1954 như chỉ mới diễn ra ngay hôm qua thôi! Bởi nó đã là một phần hành trang không thể thiếu của họ!
Minh Thụy
Thursday, 5. July 2007, 08:15:00
(VietNamNet) - Từ chân cầu Long Biên chúng tôi lội ra chỗ con thuyền đậu cách bờ gần chục mét mà nước mới ngập quá gối. Trong vòng gần 50 năm nay, chưa bao giờ sông Hồng lại cạn thê thảm như bây giờ...
Chống hạn giữa... sông Hồng!
Mới 5 giờ sáng, tiếng xình xịch của máy bơm nước chạy bằng đầu nổ Trung Quốc đã rền vang khắp bãi giữa sông Hồng. Người dân ở đây đang cấp tập chống hạn cho hàng trăm hecta hoa màu đang vào độ sắp thu hoạch bằng cách khoan giếng bơm nước ngầm lên tưới cây.
Bà Lê Thị Trúc vừa nối ống cút to như bắp tay, chẳng buồn nhìn mặt kẻ “đổ bộ” từ sông lên, nói oang oang: “Lấy thêm đoạn ống nữa, phải 400m mới tới được!” Chỉ trong nháy mắt, người đàn ông với một ôm to ống nhựa trên vai, xuất hiện đầu luống ngô cao ngút đầu người. Rất nhanh chóng, cả một đường ống dài được nối dọc theo luống cây ngưu tất mới cao được gang tay đang héo khô chờ nước. Bà Trúc, tay vừa lia cái vòi sen to bằng miệng rá vo gạo phun phì phì, vừa nói: “Phải tranh thủ tưới nhanh còn chuyển ống cho hộ khác họ bơm không thì cây chết hết".
Sông Hồng cạn, bãi giữa nổi lên như quả núi mọc giữa lòng sông. Nước sông đã rời xa ruộng rau bãi ngô tới nửa km. “Bây giờ có đồng nào là chúng tôi cóp nhặt mua ống, mua thêm bơm, mua dầu hết. Mỗi ngày tiêu tốn gần chục cân dầu để chống hạn. Trời không mưa mà sông cứ ngày một cạn thế này thì biết trông vào đâu bây giờ" - người đàn ông tên Đạt vừa than thở, vừa chỉ vào cái máy bơm chạy quá tải đang bốc khói ngùn ngụt...
Trong vòng gần 50 năm nay, đây là lần nước sông Hồng cạn thê thảm nhất. Những hộ dân ở Hải Dương thuê đất trồng trọt trên bãi giữa đang lao đao thay trời làm mưa, mất ăn mất ngủ lo bảo vệ hoa màu khỏi chết cháy. Ông Hải bảo, cứ đến mục bản tin dự báo thời tiết là ông lại ra hiệu cả nhà im lặng, để chờ nghe đài báo có mưa!
Đứng ở đầu mũi bãi giữa thuộc phường Tứ Liên, Tây Hồ, Hà Nội, phóng tầm mắt chỉ thấy bãi cát: nơi đây, sông Hồng chia làm hai nhánh chỉ nhìn thấy còn như hai dòng kênh nhỏ! Bãi cát lan ra ngày một rộng. Có chỗ rộng tới cả kilomet vuông. Những con “rồng đá” kè bờ khi xưa thỉnh thoảng lại cựa mình vì đất dưới chân sạt lở. Đá từ bụng rồng lăn ra cồng cộc, khô khốc như đá mồ côi lăn trên núi vùng cao... Những ngày này tàu thuyền qua lại trên sông gặp rất nhiều khó khăn. Nhất là những tàu trọng tải lớn. Anh Tám, người chở đò ngang sang bãi cắm cây sào giữa lòng sông đo nước ở giữa dòng bên phía Tứ Liên chỉ còn chưa đầy 5m. Lòng sông hẹp tới mức hai người đứng hai bên có thể nói chuyện với nhau một cách dễ dàng mà không cần bắc tay làm loa...
“Đảo cò” sắp thành... sa mạc
Từ chân cầu Long Biên “lội” ngược sông Hồng về phía thượng nguồn khoảng 30km là đến đảo cò. Cái tên gọi của một đảo cát nổi giữa sông Hồng rộng hàng trăm hecta, thuộc địa bàn huyện Đan Phượng Hà Tây. Bao năm nay phù sa bồi đắp, cây cối xanh tốt chim chóc kéo về làm tổ tạo ra một khung cảnh nên thơ, đầm ấm, thanh bình hiếm có ở vùng Bắc bộ. Hàng triệu con chim cứ chiều về chao liệng đen kịt cả bầu trời, náo nhiệt cả dòng sông rồi đáp xuống đảo... Cái tên đảo cò cũng từ đó mà có!
Cụ Nguyễn Văn Hải gắn với đảo cò từ nhỏ vừa đẩy lồng nuôi cá ra xa bờ cho thuyền chúng tôi cập bến vừa bảo: "Các chú lên đảo đừng hút thuốc nhé kẻo xảy ra hoả hoạn đấy". Nhìn từ xa cây trên đảo chỉ còn màu bạc trắng. Lội hơn cây số đất rạn chân chim, tiếp tục vượt qua bãi cát nóng bỏng từ sông mới lên được đảo. Trước mắt chúng tôi là một rừng lau sậy cao tới 2-3m khô quắt queo dưới ánh nắng mặt trời. Chỉ cần sơ ý đánh rơi một tàn lửa nhỏ là có thể thiêu rụi cả đảo. Đàn chim ngày xưa có phải vì thế mà buồn bã bay tìm nơi ở mới?
Đảo hoang vu như chưa có dấu chân người. Anh Nguyễn Văn Hoa “hướng dẫn viên du lịch” kiêm lái thuyền cho biết: “Mấy năm trước dân quanh vùng còn lên đảo khai hoang trồng trọt nhưng hai năm nay sông ngày một cạn hơn, thiếu nước, đảo ngày một phình ra, gần lấp kín sông. Chẳng hiểu sao phù sa đi đâu hết chỉ còn lại toàn cát là cát! Mọi người phải bỏ lại cả những khu đất đã khai phá. Đảo vốn vắng vẻ lại càng hoang vắng hơn...”
Nước là lộc trời!
Theo kỹ sư Ngô Bá Trác, Phó phòng Dự báo thuỷ văn Trung tâm Dự báo Khí tượng thuỷ văn trung ương cho biết: Năm nay, nước sông Hồng cạn thê thảm là do mùa lũ năm 2003 kết thúc sớm hơn gần một tháng so với thường lệ. Lượng mưa lại thiếu hụt nghiêm trọng dẫn đến lượng nước từ các sông suối đổ vào sông Hồng cũng nhỏ hơn mức trung bình mọi năm. Đã thế, Nhiệt độ trong mấy tháng vừa qua cao hơn so với mọi năm nên lượng nuớc sông bốc hơi nhiều hơn. Ngay mực nước ở Hồ Thuỷ điện Hoà Bình cũng tụt so với năm ngoái tới gần 1m mà nước sông Hồng thì phụ thuộc vào lượng nước xả ra từ đập Hoà Bình. Ông Trác còn cho biết thêm, mực nước sông Hồng sẽ còn tụt vì vừa rồi hi vọng vào đợt không khí lạnh sẽ có mưa nhưng lượng mưa cũng không đáng kể trong khi đó mấy hôm nay trời vẫn nắng.
Chưa đầy 30km từ cầu Long biên đến “đảo cò” sơ sơ đã có hàng trăm gia đình lấy “thuyền là nhà, sông là quê hương”. Vào những ngày này cuộc sống của họ càng thêm nhọc nhằn vất vả. Những nhà ở xóm bụi chân cầu Long Biên khốn khổ vì “nhà” mắc cạn chổng chơ xiêu vẹo mọi sinh hoạt đều bị xáo trộn. Những người nuôi cá lồng dọc sông thì nơm nớp lo xúc cá ra chợ... bán chạy. Những người làm nghề chài lưới thì kêu, cá mú dạo này đi đâu hết “cạn ao bèo xuống đất”...
“Tiếng sông Hồng thở than” không còn thi vị như lời bài hát “Hà Nội và tôi”... khi sông Hồng đã và đang tiếp tục cạn... Những người “sống dựa vào sông, thác gửi vào nước” chỉ còn biết cầu trời khấn phật!
Đâu còn những ngày tháng yên bình, những đêm trăng sáng như dát vàng khắp mặt sông. Trai gái làng chài thanh thản, hồn nhiên, nhi nhiên gõ nhè nhè lên mạn thuyền đuổi cá, như đùa giỡn cùng trăng đấy, mà lại là đang kiếm sống...
Đến bây giờ chúng tôi cứ bị ám ảnh mãi ánh mắt lo âu, mờ đục nhìn ra dòng sông thao thiết chảy và giọng nói run rẩy của bà Nguyễn Thị Đệ - người mà chúng tôi gặp ở làng chài Hồng Hà, Đan Phượng, Hà Tây: “Mẹ tôi sinh ra tôi ở đoạn sông này, cũng vào mùa nước cạn cách đây 75 năm. Ngày mẹ tôi còn sống, cứ gần đến giao thừa, mẹ tôi lại bảo: con ra sông gánh nước đổ đầy vào hai cái vại đi! để mẹ cúng tổ tiên trời phật. Nước là lộc trời đấy con ạ!”
Minh Thụy
1 2 3 4 5 Next »
Showing posts 1 -
10 of 43.