THÀNH CÔNG VÀ THẤT BẠT
Sunday, July 5, 2009 12:25:28 PM
Những hồi mục trong “Hồng Lâu Mộng” có nét độc sáng rực rỡ, đặc sắc khác thường, xem mãi không hết, có giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ rất cao. Xưa nay, những tác gia cổ đại Trung Quốc có chú trọng đến truyền thống ưu mỹ của lối rèn luyện các dùng từ ngữ để diễn đạt tình ý, đặc biệt là những thi nhân đời Đường. Đỗ Phủ thì
Ngữ bất kinh nhân tử bát hưu”
(Vì người khó tính mê thơ đẹp
Chữ chẳng kinh người chết chẳng yêu)
(Ngoài lề một chút, Đỗ Phủ là thế đấy, tự nhiên một câu đang nhã, đang đẹp thế “Vi nhân tính địch đam giai cú”, tự nhiên phang vào 1 câu rất
chi phũ phàng vào “Ngữ bất kinh nhân tử bát hưu”… không ưng ông này nổi. Ông Lô Diên dưới đây cũng lại thế, uhm, những bài toàn vẹn quả hiếm )
Lô Diên thì:
Niêm đoạn số kinh tu”
(Ngâm lên một từ đẹp
Bứt đoạn mấy sợi râu)
Còn Giả Đảo thì khổ công nên chọn từ “thôi” (đẩy) hay “xao” (gõ) trong khi đang đi trên đường phố đã trở thành giai thoại văn chương, Lý Hạ đã phải làm thơ đến lao tâm khổ tứ cũng là một câu chuyện đẹp xưa nay. Những chuyện ấy hầu như ai cũng nghe, ai cũng hiểu. “Hồng Lâu Mộng” không phải là thơ, nhưng Tào Tuyết Cần lại tả nó giống như thơ “Tự tự khán lai giai thị huyết, Thập niên tận khổ bất tầm thường” (Chữ chữ xem ra đều máu huyết, mười năm gian khổ há tầm thường) . Ông rất chú trọng tôi luyện từng chữ, từng lời, điều này thể hiện một cách đầy đủ trong từng hồi mục của tiểu thuyết. Sự trau chuốt, chọn từ ngữ dùng trong mỗi hồi của “Hồng Lâu Mộng” biểu hiện ở nhiều phương diện, muốn bàn luận đầy đủ, một bài viết ngắn không thể nói hết được. Ở đây chỉ bàn đến việc tác giả chỉ dùng một từ để khái quát đặc điểm tính cách nhân vật trong mỗi hồi mục như thế nào mà thôi.
Tác giả Hồng Lâu Mộng rất thích dụng công tìm chọn một từ để biểu đạt một điểm nào đó tính cách của nhân vật mà mình muốn miêu tả trong hồi, cách làm này có lúc thành công, nhưng cũng có lúc thất bại.
Xét về mặt thành công, cách làm này đã thu được hiệu quả nghệ thuật khả quan, chú tâm tìm chọn ra một từ nào đó mà có thể khái quát và bộc lộ tương đối chính xác một đặc điểm nào đó của nhân vật cũng giống như vẽ rồng điểm nhãn, khéo léo độc đáo. Ở đây xin kể ra mấy ví dụ để dẫn chứng giúp chúng ta thấy được nét tinh xảo của nó.
Hồi thứ năm mươi hai, với tiêu đề “Bình Nhi xinh đẹp cố tình giấu việc mất vòng ngọc, Tình Văn dũng cảm đương ốm, vùng dậy vá áo cừu” (Tiêu Bình Nhi tình yếm hà tu trọc, dũng Tình Văn bệnh bổ tước kim cừu), tác giả dùng chữ “tiêu” (xinh đẹp) để hình dung vẻ xinh đẹp đoan trang của Bình Nhi, chữ “dũng”(mạnh dạn) để biểu thị tính cách dám nghĩ dám làm của Tình Văn, tất cả đều rất chính xác. Về dáng mạo Bình Nhi, tiểu thuyết có lần trình bày, như khi Giả Liễn thông dâm với vợ của Bào Nhị bị Phượng Thư bắt gặp, sau đó Giả Mẫu trách mắng Giả Liễn, bà nói: “Con Phượng và con Bình không xinh đẹp à? Mày còn chưa thấy đủ sao?” Hai chữ “xinh đẹp” nói từ miệng Giả mẫu chẳng phải đã nói rõ dung mạo của Bình Nhi đó sao? Cũng trong hồi ấy (hồi thứ 44), tiểu thuyết có đoạn tả: “Bình Nhi là cô gái thông minh, xinh đẹp vào bậc nhất, chứ không như những bọn tục tằn, ngu xuẩn. Thế mà xưa nay Bảo Ngọc không được gần gũi săn sóc, nên rất lấy làm ân hận.” Mấy chữ “xinh đẹp vào bậc nhất” ấy chẳng dùng để chỉ dung mạo phi phàm của Bình Nhi đó sao? Như vậy có thể thấy trong hồi này, tác giả dùng chữ “tiêu” để miêu tả Bình Nhi khiến người ta dễ nghĩ ngay đến dung nhan mỹ lệ tuấn nhã của nàng. Còn cái “dũng” (mạnh dạn) của Tình Văn thì tiểu thuyết lại thể hiện một cách rất xuất sắc. Cô gái hầu Tình Văn có “cái tâm tựa trời cao mà cái thân ở nơi thấp hèn” ấy không chỉ có dung nhan kiều diễm mà còn có cốt cách không xu phụ, không dễ sai bảo. Đặc biệt là chuyện vá áo cừu của Bảo Ngọc, tác giả đã tả nàng sáng chói rực rỡ, thỏa thuê thích chí, thần khí bừng bừng. Số là nàng bị cảm sốt đã ba ngày qua, thế mà với sự cố gắng vượt bực và với kỹ năng nữ công tuyệt diệu, đồng hồ đã điểm bốn giờ sáng, bên ngoài bình minh sắp ló dạng, cuối cùng nàng đã vá xong chiếc áo kim cừu quý giá, khiến Bảo Ngọc vô cùng cảm kích, khen ngợi. Chàng nói: “Thật giống như hệt!” Xem thế đủ thấy tác giả trân trọng tặng nàng một chữ “dũng”, thật đáng giá lắm thay!
Hoặc như hồi thứ năm mươi lăm với tiêu đề “Mắng con gái mình, dì Triệu tức nhảm, khinh cô chủ bé, mụ Ngô ác ngầm”. (nhục thân nữ ngu thiếp tranh nhàn khí, khi ấu chúa điêu nô súc hiểm tâm), trong đó hai từ “ngu” và “điêu” được dùng rất đắt, nhất là tác giả dùng chữ “ngu” và “điêu” được dùng rất đắt, nhất là tác giả dùng chữ “ngu” để chỉ dì Triệu thì thấy là sít sao. Anh của dì Triệu là Triệu Quốc Cơ chết, lúc ấy con gái ruột của mình là Thám Xuân đang ở trong nhóm ba người quản lý gia vụ, thế là dì Triệu nhân cơ hội này kiếm ít tiền, nhưng bà không ngờ Thám Xuân cứ theo lệ cũ cấp tiền chôn cất cho thân nhân, không thêm một đồng nào, dì Triệu không tơ hào được đâm ra bẽ mặt, xấu hổ, bà bèn nổi giận sanh sự với con cái mình. Thật ra, Thám Xuân vì hận mình là con vợ lẽ có thân phận thấp kém nên mọi chuyện đều kề cận, dựa dẫm Vương Phu nhân, thậm chí nàng còn không ưa thích người mẹ này nữa. Vì thế nên chuyện cấp tiền chôn cất Triệu Quốc Cơ nàng không có ý châm chước. Chính vì dì Triệu không biết tâm ý của con gái mình nên tác giả hạ chữ “ngu” cho bà rất là hợp.
Hoặc như hồi thứ 56 với tiêu đề “Thám Xuân bén nhạy, tìm mối lợi bỏ hẳn lệ xưa, Bảo Thoa thức thời, ra ơn nhỏ giữ gìn thể thống” (Mẫn Thám Xuân hưng lợi trừ túc tệ, Thời Bảo Thoa tiểu huệ toàn đại thể) , tác giả dùng chữ “Mẫn” (bén nhạy, nhanh nhạy) và chữ “thời” (thức thời, đúng thời vụ) để tương ứng hình dung Thám Xuân và Bảo Thoa cùng có nét giống nhau là điều đáng suy nghĩ. Trong số bốn cô Xuân (Nguyên Xuân, Thám Xuân, Tích Xuân, Nghênh Xuân) thì chỉ có Thám Xuân mới xứng hợp với chữ “Mẫn”. Lần đầu tiên nàng tham gia quản lý gia vụ, ắt phải có cái nhìn minh mẫn sắc bén mới phát hiện ra những “lệ xưa” của Phượng Thư, ví như Giả Hoàn, giả Lan đều có lương tháng phát riêng cho mỗi phòng, nay lại còn đòi lĩnh thêm tám lạng bạc dùng để “ăn điểm tâm hoặc mua giấy bút”, việc này tạo ra sự chi xuất chồng chéo. Các cô đều có lương tháng mà bọn “mãi biện” bên ngoài còn lấy thêm tiền chi cho các thứ như dầu thơm phấn sáp, việc này hóa ra “phải tiêu phí hai lần tiền mà đồ dùng vẫn phải vứt đi một nữa”. Do đó nàng ra lệnh bỏ hẳn cái khỏan đưa bọn mãi biện đi mua đồ dùng. Nàng lấy gương kinh nghiệm quản lý vườn của nhà Lại Đại bằng cách cho người thuê bao lợi tức của vườn để cùng bàn bạc với Phượng Thư, Bảo Thoa rồi áp dụng cho Đại Quan Viên cũng bằng kiểu thực hiện “chế độ trách nhiệm bao thầu”. Ngay như chuyện Giả Xá muốn cưới Uyên Ương làm thiếp, Thám Xuân cũng biểu hiện đặc điểm bén nhạy của mình. Giả Xá muốn cưới cô a hoàn thân tín của Giả Mẫu về làm thiếp, Giả Mẫu nghe được bà nổi cơn thịnh nộ, nhân có Vương Phu Nhân bên cạnh, bà không phân biệt phải trái trắng đen bèn trách Vương phu nhân một thôi. Vương phu nhân tuy có nỗi oan khuất , nhưng không dám lên tiếng. Lúc ấy trong nhà có nhiều người, nhưng không ai mở miệng nói gì cả. Tiết phu nhân vì cùng là chị em với Vương Phu Nhân, tự nhiên không có lý gì để biện hộ cho bà. Bảo Thoa xưa nay vốn thận trọng, hiền hòa cũng có mặt nhưng nếu đứng ra biện giải cho dì mình cũng không hợp thời cho lắm. Còn Lý Hoàn, Phượng Thư và Bảo Ngọc cũng đều không dám tranh biện với lão tổ tông. Lúc ấy, Thám Xuân đứng ngoài cửa sổ, cô nhìn tình ấy với một vẻ linh mẫn , cô bước vào nhà tươi cười nói với Giả Mẫu: “- Việc này có liên can gì đến mẹ cháu đâu? Bà nghĩ lại xem: ông anh Cả muốn lấy người trong nhà, thì em dâu biết làm sao được? Mà dù có biết cũng phải chịu thôi.Thám Xuân chưa nói dứt lời, Giả mẫu cười nói:- Thật ta già lẫn rồi! Bà dì đừng cười tôi nhé? Chị bà là người rất hiếu thuận, không như chị dâu cả của tôi, một tí gì cũng sợ chồng, trước mặt mẹ chồng chẳng qua cũng chỉ dựa dẫm cho xuôi chuyện thôi. Thật là tôi nói oan cho chị ấy. Tất cả đó đều nói rõ tính mẫn tiệp của Thám Xuân trong việc nhìn nhận vấn đề. Không chỉ có thế, cô còn có cái nhìn thấu suốt bằng nét mẫn cảm đặc biệt của cô về những mâu thuẩn và tranh chấp ngấm ngầm trong nội bộ của phủ họ Giả, do đó cô nói một câu nổi tiếng như sau: “Mỗi người trong nhà này đều giống như gà, có mắt của chim, hận là không mổ nhau được”. Không những thế, công cũng còn nhận ra xu thế phát triển theo đà suy bại của cái gia thế đồ sộ này nữa. Đối mặt với chuyện xấu xa của sự khám xét Đại Quan viên, cô luyến tiếc mà rơi lệ, cô vô cùng đau đớn nói: “Các chị đừng vội, thế nào sau này các chị cũng có ngày bị khám xét đấy! Sáng nay các chị đã bàn tán việc nhà họ Chân đấy à, chỉ mong được khám nhà, quả nhiên bây giờ được khám thực. Dần dần rồi cũng đến lượt chúng ta thôi. Thế mới biết những nhà đại gia thế này, chỉ người ngoài đến thì một lúc không thể giết chết được, giống như người xưa từng nói “con sâu trăm chân chết vẫn không ngả”, tất phải do người trong nhà giết lẫn nhau mới tan nát, mới tàn lụi. Trong lời nói đau đớn ấy hàm ẩn một triết lý sâu sắc! Theo cách nhận biết ấy, cô đã tát một bạt tai vào mặt vợ Vương Thiện Bảo với một lời mắng đanh thép: “ Mày là chó cậy chủ nhà, càng ngày càng làm bậy, dám lên mặt với tao à?” Do đó đủ thấy, cô tiểu thư Thám Xuân ấy đúng là một người đầu óc tỉnh táo, ảnh mắt sắc sảo, vừa hiểu đời hiểu người, vừa dám làm dám chịu, Tào Tuyết Cần tặng cô một chữ “mẫn thì cũng không có gì quá đáng cả. Rất tiếc,
Gặp lúc nhà suy vận cũng suy
Nhớ tiếc thanh xuân ra bến khóc
Gió đông nghìn dặm mộng xa đi”
nhưng vì xã hội, thời đại của cô đầy chất bi kịch nên cũng tạo ra bi kịch cho cô Thám Xuân “mẫn tuệ” ấy.
Còn dùng chữ “thức thời” để chỉ Bảo Thoa cũng rất là xác đáng. Tục ngữ nói “Thức thời vụ là người tuấn kiệt”. Bảo Thoa là người giỏi về hiểu thời biết thế, gặp việc lại giỏi về phân tích, suy nghĩ chu đáo, đâu ra đấy, khó có chỗ sai chậy. Nói Bảo Thoa hiểu thời, tức nhiên là nói rõ cô có đặc điểm xử sự linh hoạt, tùy lúc, tùy người mà biến hóa. Bản “Thạch đầu ký” xuất bản năm Canh thìn có lời phê: “Về bản chất, Bảo Thoa rất khác Phượng Thư, người này thì tùy lúc mà cúi xuống hay ngẫng lên, người kia thì tài giỏi mà hành xử hơn người” Đó là muốn chỉ đặc trưng tính cách của Bảo Thoa. Tiểu thuyết đề cập nhiều lần đến nét tính cách này, như hồi thứ năm, lần đầu tiên Bảo Thoa đến Giả phủ, tác giả đã giới thiệu Bảo Thoa là người “có hành vi khoát đạt, biết phận biết người, không như Đại Ngọc tự cao tự đại, mục hạ vô nhân, nên so với Đại Ngọc thì Bảo thoa có tấm lòng quảng bác, đại lượng”. Hoặc ở hồi thứ 8, Tiểu tuyết cũng đánh giá Bảo Thoa như thế “điềm đạm ít nói, có người cho là giả dại, tùy thời đối xử, tự mình chỉ biết phânạ mình”. Đến hồi thứ 79, tác giả cũng nói: Bảo Thoa biết rõ tính khí ngang ngược của Hạ kim quế, thường tùy cơ đối phó, dùng những lời kín đáo để đe nẹt chị ta”. Tất cả điều đó chứng tỏ Bảo Thoa là người “thức thời”. Rồi rất nhiều hành động, cử chỉ của Bảo Thoa ở Giả phủ được nói đến cũng tập trung vào điều đó. Ví như hồi thứ 56, với tiêu đề “ra ơn nhỏ giữ gìn thể thống” (tiểu huệ toàn đại thể) lại thể hiện một cách nổi bật. Nàng được Vương phu nhân ủy thác cùng với Lý Hoàn, Thám Xuân quản lý việc nhà, nàng có thể hóa giải những mâu thuẫn mà không cần phải phô trương thanh thế, dương cung bạt kiếm, thu được kết quả tốt đẹp, điều đó bộc lộ tài năng, trí tuệ và sự thức thời của Bảo Thoa. Nàng đã dùng kế sách “ra ơn nhỏ giữ gìn thể thống: vừa có công hiệi “được lợi mà tiết kiệm lại vừa được lòng mọi người. Trong quá trình quản lý gia vụ, nàng đặc biệt khoan thai nhàn nhã, cử chỉ khinh khoái, dáng vẻ phong độ của con nhà đại gia. Dùng chữ “thời” để chỉ một đặc điểm tính cách của Bảo Thoa thật là sít sao, nhưng người xưa lại không hiểu ý của tác giả, hoặc cho là dùng chữ ấy không chuẩn xác nên đã đổi ra chữ “thời” (tức thời” thành chữ “hiền” (hiền thục), ví như bản “Trình giáp” bản “Trình ất” đều đổi lại như vậy. Còn “Bản chéo tay Hồng lâu mộng 120 hồi thời Càn Long thì đổi “thời” thành “Thức” thì cũng chưa thấy hết cái chỗ cao diệu của nó. Chúng tôi cho dùng chữ “thời” là hợp nhất vì nó khái quát tương đối chuẩn xác đặc trưng tính cách của Bảo Thoa.
Hoặc như hồi thứ 57 với tiêu đề “Tử Quyên khôn ngoan đặt chuyện thử lòng cậu Bảo, Tiết Di hiền hậu đem lời an ủi cô Lâm” (Tuệ Tử Quyên tính từ thí mang Ngọc, Từ Di má ái ngữ ủy si Tần) , tác giả chọn dùng bốn chữ “tuệ”, “mang”, “từ”, “si” để hình dung đặc trưng tính cách của 4 nhân vật Tử Quyên, Bảo Ngọc, Tiết phu nhân và Lâm Đại Ngọc. Trong một hồi mà sử dụng liên tiếp 4 từ như vậy đủ thấy khi thảo ra hồi mục này ắt hẳn tác giả tốn khá nhiều thời gian. Với 4 chữ này thì hai chữ “mang” (bận rộn) và chữ “si” (si mê) là tinh xảo nhất. Du Bình Bá trong “Đọc Hồng Lâu Mộng tùy bút” còn phân tích một cách rất cụ thể chữ “mang” để nêu ra chỗ tinh tế trong tính cách của Giả Bảo Ngọc, khiến chúng ta vỡ vạc nhiều điều. Ông nói: : “Tại sao nói tại sao nói Bảo Ngọc bận? Thật là kỳ lạ phải không? E nói sai chăng? Tôi baỏ không những không sai mà còn rất đạt. Chữ ấy có lai lịch của nó, xem hồi thứ 37, Bảo Thoa đặt biệt hiệu cho Bảo Ngọc là “vô sự mang”. Ba chữ ấy thật là xác đáng, Bảo Ngọc phú quý nhàn hạ ấy đúng là một người không có việc gì mà vẫn bận, vì mấy cô gái “bận tíu tít” trong Đại Quan Viên, e có lẽ vì “yêu rộng mà lao tâm” chăng? Như thế có thể thấy dùng chữ “mang” (bận rộn” để hình dung Bảo Ngọc là ý vị nhất, thế mà có bản sửa “mang Ngọc” (Bảo Ngọc bận rộn)” thành “mảng Ngọc” (Bảo Ngọc thô lỗ) nghe qua có vẻ rất hình tượng nhưng kỳ thực không thể sánh với cụm từ “mang Ngọc”. Một từ “mang” hàm chứa một nội dung thật sâu rộng. Còn Đại Ngọc đối với Bảo Ngọc, giao vãng tình thâm, chọn làm tri kỷ, lại gọi là “si Tần” (Cô Tần si mê) thì còn gì tuyệt xảo hơn! ”.
Ngoài ra, như hồi 39 với tiêu đề “già nhà quê hay nói huênh hoang, cậu có tình cứ tìm ngành ngọn” (Thôn mẫu mẫu thị tín khẩu khai hợp, Tình ca ca thiên tầm căn cứu để), tác giả dùng chữ “thôn” (quê mùa) để hình dung già Lưu, dùng chữ “tình” (tình cảm) để hình dung Bảo Ngọc, hoặc hồi thứ 62 với tiêu đề “Tương Vân ngây thơ ngủ trên hoa thược dược, Hương lăng trơ trẽn cởi tấm quần hồng lăng”(Hàm Tương Vân túy miên thược dược nhân, Ngai Hương Lăng tình giải thạch lựu quần), dùng chữ “hàm” (ngây thơ) để chỉ Tương Vân, chữ “ngai” (trơ trẽn) để nói Hương Lăng. Hồi thứ 68 với tiêu đề “Dì Vưu khổ sở, bị lừa vào vườn Đại Quan, Phượng Thư ghen tuông làm nhộn phủ Vinh Quốc” (khổ Vưu nương hiềm nhập Đại Quan Viên, Toan Phượng Thư đại náo Ninh quốc phủ) tác giả dùng chữ “khổ” khổ sở để hình dung chị Hai Vưu và chữ “toan” (ghen tuông) để hình dung Phượng Thư, hồi thú 73 với tiêu đề “ A hoàn ngớ ngẫn nhặt nhầm túi xuân tình, Tiểu thư ươn hèn bỏ thơ dây kim phượng” (Si a đầu ngộ thập tú xuân nan, Nọa tiểu thư bất vấn lụy kim phượng) tác giả dùng chử “si” (si ngốc) để chỉ Xọa đại thư, dùng chữ “nọa” (nhút nhát, ươn hèn) để hình dung Ngênh Xuân v.v… Tất cả đều được lựa chọn rất phù hợp, đều biểu thị một số đặc điểm về vài phương diện trong tính cách của nhân vật cần nói tới khiến người đọc khó quên.
Nhưng cách làm trên không tránh khỏi thiếu sót, đôi khi không thể cho qua được.
Thứ nhất, đôi lúc sự khen chê ấy không được thỏa đáng cho lắm. Ví như hồi thứ 21 với tiêu đề “Tập nhân hiền hậu giả giận khuyên Bảo Ngọc, Bình Nhi xinh đẹp khéo lời cứu Giả Liễn” (Hiền Tập Nhân kiều sân châm Bảo Ngọc, Tiêu Bình Nhi nhuyễn ngữ cứu Giả Liễn) và hồi thứ 57 với tiêu đề “Tử Quyên khôn ngoan đặt chuyện thử lòng cậu Bảo, Tiết Di hiền hậu đem lời an ủi cô Lâm” (Tuệ Tử Quyên tính từ thí mang Ngọc, Từ Di má ái ngữ ủy si Tần), tác giả dùng chữ “hiền" (hiền hậu, hiền thục) để hình dung Tập Nhân và từ “từ” (hiền từ, yêu thương) để hình dung Tiết phu nhân. Có một người Mãn Thanh là Trần Kỳ Thái cho là không chuẩn xác. Đối với Tập Nhân, ông nói: “Bảo Tập Nhân là hiền thì dối người quá mức.” Ông đổi chữ hiền thành chữ “điêu” (gian dối), đối với Tiết phu nhân, ông chỉ rõ : “Có vẻ nói láo quá nhỉ! Yêu thương thế nào? Bà Tiết há có lòng yêu thương Đại Ngọc chăng?” Rồi ông dứt khoát đổi tiêu đề của hồi mục này thành “Hiệt Di má hí ngữ ủy si Tần” (Tiết Di má xảo trá dùng lời hí lộng cô Tần) Nhưng điều ông Trần phê, những chữ ông Trần đổi đều có vẻ thái quá, nhưng không phải là không có lý. Mãi đến ngày nay, cái “hiền” của Tập Nhân, cái “từ” của Tiết phu nhân còn khiến chúng ta phải tranh luận.
Thứ hai, đôi khi dùng một từ để phân biệt, hình dung cho mấy nhân vật, điều này hầu như có chỗ không thỏa đáng. Vì như hồi thứ 24 với tiêu đề “Kim Cương say rượu, tính hào hiệp tiền bach coi khinh, Cô gái si tình, rơi khăn lụa mơ màng nhớ bạn” (Túy Kim Cương khinh tài thượng nghĩa nghiệp, Si nữ nhi di phách nhạ tương tư)”, hồi thứ 29 với tiêu đề “Người hưởng phúc, phúc nhiều còn cầu xin phúc, Gái si tình, tình nặng, càng luẩn quẩn vì tình” (Hưởng phúc nhân phúc thâm hoàn đảo phúc, Si tình nữ tình trọng dũ châm tình) hồi thứ 73 với tiêu đề “ A hoàn ngớ ngẫn nhặt nhầm túi xuân tình, Tiểu thư ươn hèn bỏ thơ dây kim phượng” (Si a đầu ngộ thập tú xuân nan, Nọa tiểu thư bất vấn lụy kim phượng), hồi thứ 78 với tiêu đề “Họa sĩ già ra bài từ Quỷ hoạch, công tử ngốc làm văn tế phù dung”. Lão học sĩ nhàn chinh Quỷ hoạch từ, Si công tử đõ soạn phù dung mạt) và một hồi đã kể trên với Tiêu đề “Tử Quyên khôn ngoan đặt chuyện thử lòng cậu Bảo, Tiết Di hiền hậu đem lời an ủi cô Lâm” (Tuệ Tử Quyên tính từ thí mang Ngọc, Từ Di má ái ngữ ủy si Tần), cộng tất cả 5 hồi đều có dùng từ “si” để chỉ Hồng Ngọc, Đại Ngọc, Xọa Đại Thư và Bảo Ngọc, trong đó nói Đại Ngọc si có đến 2 lần. Nếu chúng ta chỉ xem mỗi một hồi mà dùng chữ “si” để hình dung một người nào đó trong mấy người kia, điều đó còn khả dĩ, không có gì gọi là chuyện bới lông tìm vết. Nhưng nếu ta đưa những hồi mục ấy về một chỗ để xem xét, nghiền ngẫm thì ngay cả tác giả vĩ đại Tào Tuyết Cần, một bậc thầy về ngôn ngữ cũng cảm thấy khó tìm cho ra được một từ phù hợp để hình dung một lúc mấy nhân vật kia, điều này khiến người đọc cảm thấy có cái gì đó làm đáng tiêc. Một từ lại được dùng đi dùng lại làm ngừơi đọc có cảm giác đơn điệu , cứng nhắc và không đem lại điều gì mới cho người đọc cả. Huống nữa ở đây cùng một chữ “si” nội hàm của nó rất khác nhau, không thể áp dụng cho đồng loạt được. Cái si của Xọa đại thư khác với cái si của Lâm Đại Ngọc. Trong khi đó, cái “si” của Bảo Ngọc và của Đại Ngọc cũng hoàn toàn khác nhau. Đại Ngọc Si tương đối đơn thuần, nàng hầu như chỉ có mỗi tấm tình si đối với Bảo Ngọc, còn cái si của Bảo Ngọc thể hiện ở nhiều mặt khác nữa và, như chàng không những là kẻ “si tình” Đại Ngọc đến độ điên cuồng, ngây dại, tâm thần say đắm mà chàng còn “si tình” đối với cả Tình Văn, bởi vì chàng vốn là công tử đa tình “yêu nhiều đến nhọc lòng”. (Cái nì là sao đây??? Nói vậy thì cũng ko đúng. Cái tình với Đại Ngọc là tình yêu, tình thương, tình Tri âm tri kỷ. Còn cái tình với Tình Văn là cái tình tao ngộ với 1 mỹ nhân mệnh bạc, cảm mến tính cách, không thể nói Bảo Ngọc “đa tình , yêu nhiều người đến nhọc lòng” đc) Còn “Linh Quan vạch chữ Tường làm ngây người ngoài cuộc” thì đấy là lấy “si” đối “si”, cũng là một loại “si”, Bảo Ngọc còn đạt đến nhiều chuyện si mê khác nữa, ví như câu chuyện bịa đặt của già Lưu về “cô gái rút củi trong tuyết lạnh” kể cho Giả Mẫu giải trí mà chàng ta tưởng là thật đến phải sai người đi “tìm cho ra ngọn ngành”. Như thế có thể thấy cái “si” của Bảo Ngọc thể hiện ở nhiều phương diện, chứ ko chỉ “si tình” mà thôi..
Thế mà trong các hồi mục trên tác giả chỉ dùng một chữ “si” gán cho mấy nhân vật khiến người đọc cảm thấy quá chung chung, không thể phân biệt cá tính, đặc sắc của từng người. Tương tự như vậy, ở hồi thứ 47 với tiêu đề. “Tiết Bàn trơ trẽ đa tình bị đánh, Tương Liên im lặng sợ tội trốn đi (Ngai bá vương điệu tình tào khổ dả, Lãnh lang quân cụ hạt tẩu tha hương), hồi thứ 62 với tiêu đề “Tương Vân ngây thơ ngủ trên hoa thược dược, Hương lăng trơ trẽn cởi tấm quần hồng lăng”(Hàm Tương Vân túy miên thược dược nhân, Ngai Hương Lăng tình giải thạch lựu quần), tác giả dùng chữ “ngai” (trơ trẽn) để nói Hương Lăng và Tiết Bàn, xem riêng từng hồi hầu như đã khó lọt tai, còn đọc hai hồi ấy một lần thì lại càng có vẻ khôi hài, bởi vì cái “trẽn” của hai người hoàn toàn khác xa.
Tóm lại, trong các hồi mục của tiểu thuyết chú tâm chọn lựa một từ để hình dung một đặc trưng trong tính cách của một nhân vật nào đó thì đấy chính là kết quả của sự vất vả miệt mài, vật lộn khó khăn của tác giả Tào Tuyết Cần mà sức hấp dẫn nghệ thuật của chúng rất cao diệu, trong tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc, những tác giả khác không mấy ai theo kịp. Nhưng cách này cứ làm mãi, vận dụng mãi, số lần cứ tăng thêm thì e lâu dần sẽ làm người xem nhàm chán, không đem lại cảm giác mới lạ. Do đó, chúng tôi không vì tôn sùng ngưỡng mộ Tào Tuyết Cần và Hồng Lâu Mộng mà kỵ húy không dám lạm bàn.
Nguồn: www.tvbvnfc.net











