My Opera is closing 3rd of March

Hồng Lâu Mộng

Subscribe to RSS feed

Hồng lâu hội quán 6

Tiêu Hạ Khách ra đề

Ái ố Hồng lâu

448 nhân vật của thế giới lầu son ắt hẳn đã để lại trong bạn nhiều cảm xúc. Đây chính là cơ hội tuyệt vời để bạn trút những cảm xúc chất chứa bấy lâu, nhất là những suy nghĩ có phần trái ngược với người đời mà bạn vẫn hằng ấp ủ và mong có dịp tỏ bày.

Hãy tận dụng cơ hội này để khẳng định vị trí của mình trong thế giới Hồng Lâu Mộng cũng như vị trí của Hồng Lâu Mộng trong cuộc sống của mình qua việc trình bày cảm nhận về ít nhất là 3 nhân vật trong Hồng Lâu Mộng, dưới mọi hình thức tùy thích.

Lập poll và bình luận là dịp để bạn bày tỏ đồng tình hay phản đối đối với những bài còn lại.

Nộp bài: 18 - 25/8
Lập poll: 26 - 31/8

Thời hạn nộp bài và lập poll có thể kéo dài tùy thuộc vào tình hình bài vở của mọi người.

Thu Sảng Trai kính mời.

Giả Mẫu

Thế giới người hầu phủ Giả

„Khai đàm bất thuyết Hồng Lâu Mộng
Độc tận thi thư diệc uổng nhiên“



Đó là nhận xét của người Trung Quốc về tác phẩm Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần (1716-1763), một trong Tứ đại kì thư của văn học cổ điển Trung Quốc. Tào Tuyết Cần mất mười năm để hoàn thành 80 chương của bộ tiểu thuyết này. Tác phẩm phản ánh sự mục nát, suy đồi của chế độ phong kiến mà điển hình là phủ Giả, lồng trong đó là câu chuyện tình giữa Giả Bảo Ngọc và Lâm Đại Ngọc. Theo thống kê hiện nay tác phẩm có hơn 900 nhân vật chính phụ, tạo nên hình ảnh sống động một xã hội phong kiến thu nhỏ. Nhân vật của Hồng Lâu Mộng nhiều vô số, nay xin mạn phép được bàn riêng về thế giới người hầu phủ Giả - tầng lớp bị trị trong xã hội phong kiến.

Thế giới người hầu phủ Giả mà tôi muốn bàn ở đây không chỉ riêng a hoàn (hầu gái) mà còn bao gồm cả gia nhân, đầy tớ trai, các bà vú, các bà già, các con hát... theo thống kê có khoảng 73 a hoàn, 266 gia nhân, đầy tớ trai 27 người, đào hát 30 người. Đó quả thật là hình ảnh một xã hội thu nhỏ, trong đó vừa có chân tình, ân tình, vừa có ganh ghét, đố kị, vừa có thù hằn... Trước hết hãy nói về thân phận người hầu của họ - những người hầu phủ Giả. Là tầng lớp bị trị trong xã hội phong kiến, họ không có quyền quyết định, định đoạt số phận của mình. Từ nhỏ, do gia cảnh nghèo khó, họ đã bị cha mẹ bán đi làm người hầu. Lớn lên trong nhà chủ, bị chủ sai khiến, chủ tốt thì họ được nhờ, chủ tệ bạc thì thân phận một con người của họ kể như là đồ bỏ đi, có oan ức cũng không dám kêu hoặc không biết kêu ai, chẳng hạn như những người hầu bị Phượng Thư đánh, hay những a hoàn bị Vương phu nhân đuổi về nhà... Khi lớn hơn nữa, họ bị trả về nhà hoặc bị chủ gả đi cho một gia nhân nào đó trong phủ „Hiện giờ còn mấy người ở lại đã lâu, vì duyên cớ gì không muốn về nhà thì nên cho nó ở lại để sai khiến, chờ khi lớn lên sẽ gả cho những người hầu ở trong nhà“ (hồi 58); „Bà hãy im đi. Tôi hỏi bà: không riêng chỗ chúng tôi ở đây, mà cả trong vườn này, bà xem có ai dám mắng mỏ con cái ở trong nhà chủ không? Dù là con đẻ của bà nữa, đã cho đi ở các phòng, phạm lỗi gì, đã có người chủ đánh mắng. Sau nữa có các cô, các chị lớn tuổi mới đánh mắng được thôi, ai cho phép bà ở ngoài đến sấn sổ vào những việc không đâu?“ (hồi 58);„Chi bằng nhân dịp này, thấy a hoàn nào lớn tuổi hoặc cứng đầu cứng cổ thì tìm cách cho nó đi lấy chồng, như thế một là khỏi xảy ra rắc rối; hai là số tiền chi tiêu cũng đỡ tốn“ (hồi 74). Đó là một trong những nhược điểm của xã hội phong kiến, khi mà thân phận, quyền làm người của một con người không được tôn trọng, bị chà đạp một cách không thương tiếc. Với thân phận người hầu, họ chăm chỉ phục dịch chủ, lo lắng cho chủ, nhất mực chỉ có một lòng trung thành như Bình Nhi, Uyên Ương, Tử Quyên, Tập Nhân, Tình Văn... Nhưng dẫu họ có đối tốt với chủ thế nào, người chủ biết bụng dạ của họ thế nào thì họ vẫn là người hầu, có khi chủ bực tức vẫn đánh mắng, đem ra trút giận (Bình Nhi bị Phượng Thư đánh khi bắt gặp Giả Liễn tằng tịu với vợ Bảo Nhị, Tiết Bàn tức giận đánh Hương Lăng...). Cũng có người tâm địa ác nghiệt, là thân phận người hầu, con ở nhưng lại lên mặt, không coi chủ ra gì, Tiều Đại lớn tiếng mắng mỏ ở phủ Ninh khi bị sai đưa Tần Chung về nhà, vú Lý ăn đồ ăn Bảo Ngọc để dành cho Tình Văn hay uống mất trà ngon của Bảo Ngọc...

Một nhược điểm khác của xã hội phong kiến là sự phân chia xã hội thành hai giai cấp, giai cấp thống trị và giai cấp bị trị. Mỗi giai cấp này lại được chia nhỏ thành nhiều cấp bậc khác nhau. Như đã nói, thế giới người hầu phủ Giả là một xã hội thu nhỏ, bởi vậy người hầu cũng được chia ra nhiều cấp bậc, tuỳ theo địa vị và tuổi tác; hầu lớn, hầu bé, hầu thân cận hầu trực tiếp chủ nhân, ở trong phòng của chủ nhân, hầu sai việc bên ngoài, hầu sai việc vặt, hầu lo việc cơm nước, hầu hạng nhất, hầu hạng bét... Mối quan hệ giữa các người hầu phủ Giả cũng phức tạp không kém với một xã hội ngoài đời thực là mấy.

Là một con người bằng xương bằng thịt, họ - những người hầu phủ Giả - yêu thương quí mến nhau, như Tình Văn, Xạ Nguyệt, Tập Nhân, Bình Nhi, Tử Quyên Tuyết Nhạn... hay những con hát như Phương Quan, Linh Quan, Nhuỵ Quan, Ngẫu Quan... Tập Nhân chia đồ cho các chị em người hầu, có ai hỏi mượn đồ đạc, quần áo cũng cho mượn hoặc biếu tặng luôn; Nhuỵ Quan gửi bột tường vi cho Phương Quan thoa mặt; Phương Quan cho con Năm rượu mai quế lộ; con Năm lại cho Phương Quan bột tường vi... hễ được chủ thưởng cho hay xin được ở đâu là họ đều chia cho người khác nếu biết họ cần hơn mình. Họ đối với nhau chân tình như người nhà, bởi nhiều người trong số họ không còn cha mẹ, người thân nữa. Nếu họ hàm ơn ai thì họ cũng dốc lòng báo đáp, thứ ân tình ấy thật là to lớn, không phải ai cũng có thể làm được. Khi một người bị nạn thì những người khác sát cánh bên nhau, bảo vệ nhau „Phương Quan bị người ta bắt nạt, chúng ta cũng bẽ mặt, phải đến làm toang hoang một trận mới hả giận được“ (hồi 60); khi một người đau ốm thì những người còn lại cũng lo lắng, thật đúng là „một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ“. Họ tuy không phải họ hàng thân thích, không phải là máu mủ ruột thịt nhưng đối với nhau như đối với người thân yêu, ta quí trọng cái chân tình, ân tình của họ.

Tuy nhiên, chính sự phân cấp hầu hạng nhất, hạng hai, hạng ba... trong chính tầng lớp bị trị này dẫn đến việc họ đố kị, ganh ghét, thù hằn, dèm pha lẫn nhau. „Bọn Văn Quan trước kia đứa thì tính nết kiêu ngạo, đứa thì cậy thế bắt nạt kẻ dưới, đứa thì thích ăn ngon mặc đẹp, đứa thì chanh chua chỏng lỏn, phần nhiều không biết yên phận. Vì thế bọn bà già đều oán ngầm, nhưng không dám cãi cọ với chúng. Bây giờ chúng thôi không học hát nữa, mọi người đều được hả dạ. Có người thì bỏ qua; có người bụng dạ ẹp hỏi vẫn nhớ thù xưa, nhưng vì chúng đã về các phòng, nên không ai dám động đến“ (hồi 58), „Những người đi theo dì Triệu đứng bên ngoài, nghe thấy thế trong bụng lấy làm hể hả, đều niệm Phật: “Ai ngờ lại có ngày hôm nay!” Bọn bà già xưa nay tức sẵn Phương Quan, thấy vậy cũng đều lấy làm thích thú“ (hồi 58). Lý ra, cùng là thân phận người ở với nhau, họ nên yêu thương nhau mới phải, đằng này, vì lợi ích cá nhân, mà nguyên do xâu xa chính là sự phân cấp thứ bậc, khiến họ thủ đoạn, hễ có cơ hội là chà đạp đối phương, để mình lên thế chỗ ấy, để mình có thể diện hơn trong mắt chủ, để được chủ tín nhiệm hơn... Nói cho cùng thì vẫn là xã hội phong kiến mục nát đã đẩy con người ta vào bước đường cùng quẫn, tha hoá như thế.

Tác phẩm Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần quả thật là một bức tranh hiện thực sống động và đầy màu sắc, mà thế giới người hầu phủ Giả đóng góp một phần không nhỏ cho bức tranh tả thực ấy. Hồng Lâu Mộng thật là không hổ danh là „kì thư“!

Thám Xuân

ĐỆ NHẤT THIÊN KIM _ TIẾT BẢO THOA

Đặt bút viết về Bảo Thoa, khó khăn nhất của tôi có lẽ là đã có quá nhiều bài viết về nàng. Đọc phải bài mình không đồng tình thì phải cố kiếm lí lẽ mà phản bác, việc này hiển nhiên k dễ. Nhưng đọc được những bài đúng ý mình thì cũng chưa hẳn là vui, vì họ đã lấy mất những lí lẽ hay mà tôi ao ước tôi mới là người nghĩ ra chứ không phải họ vì khi đến lượt tôi lên tiếng thì khó lòng mà nghĩ ra được cái gì mới mẻ nữa. Đúng thật là ích kỉ phải không? Bởi vậy nên tôi chỉ còn một cách là đi theo tiếng gọi của con tim, của tình cảm chân thật của mình mà thôi. Làm như vầy dù lời nói của mình có dở, có nông cạn hay non nớt thì bản thân cũng không thấy hối tiếc, mình đã cố hết sức rồi; mà người đọc chắc cũng dễ thông cảm vì ai trong chúng ta ắt hẳn cũng có một hay nhiều giấc mộng lầu son và ra sức nâng niu bảo vệ nó. Bảo Thoa chính là một phần lớn trong giấc mộng lầu son của tôi, vì thế không lí do gì tôi lại im hơi lặng tiếng nhìn nàng bị người đời căm ghét, trách móc.

Trong mười người đọc Hồng Lâu Mộng tôi tin chắc phải có đến tám chín người xem Lâm Đại Ngọc là tốt đẹp nhất trên đời, rồi vì cái chết của nàng mà chĩa mũi giáo vào Tiết Bảo Thoa. May ra chỉ còn một hai người dành chút tình thương cảm cho nàng Tiết. Về phần tôi, từ đầu chí cuối Hồng Lâu Mộng chưa từng căm ghét Tiết Bảo Thoa, cũng như chưa từng sùng bái Lâm Đại Ngọc. Có lẽ một phần do bản tính khác người cố hữu, nhưng trên hết đó là do trong mắt tôi một người con gái như vậy thật đáng để kính trọng và thương yêu.

Ấn tượng của Bảo Thoa trong tôi trước hết là một đứa con hiếu thuận, một người con gái biết quan tâm lo lắng. Người ngoài nhìn vào thì thấy nhà họ Tiết tư gia ức vạn, con gái nhà họ sống đời sung túc chẳng phải lo toan gì. Nhưng như người ta vẫn nói “không ở trong chăn làm sao biết chăn có rận”, trong nhà họ còn biết bao chuyện rắc rối mà chỉ người trong cuộc mới hiểu hết cái khổ. Trước hết đó là nhà họ Tiết đã mất đi người chủ gia đình, đồng thời là người chồng và người cha. Không có cái cột trụ, căn nhà dĩ nhiên sẽ xiêu vẹo, và đúng thế thật. Tiết Bàn đứng ra cáng đáng công việc. Anh này còn trẻ người, không hiểu việc đời, bản tính thì ham ăn chơi trác táng, ít lo học hành, thường gây chuyện tai quấy. Lúc cha còn sống đã thế, nay cha mất đi lại càng làm càn, làm gia nghiệp nhà họ Tiết bị hao hụt, Tiết phu nhân đã không còn chồng bên cạnh nay hằng ngày lại phải phiền lòng về cậu con hư hỏng. Trong tình cảnh đó, Bảo Thoa đã phải xếp sách vở sang một bên, bỏ kì tuyển cung nữ mà gia đình mong chờ bấy lâu để ở nhà chăm chú thêu thùa vá may, chăm lo công việc, đỡ đần mẹ, khuyên nhủ anh. Thật không dám nói đây là một hành động phi thường hiếu tử gì lắm, nhưng rõ ràng nó đã rèn luyện cho Bảo Thoa một tính cách theo tôi là rất tốt : biết quan tâm lo lắng đến những người xung quanh, biết suy xét trước sau, biết suy nghĩ thấu đáo, thực tế và hiệu quả. Đó chính là lí do để nàng biết làm vui lòng Giả Mẫu, Vương Phu Nhân, biết khuyên nhủ Tương Vân, Hương Lăng, Đại Ngọc. Vì nàng chu đáo và vững vàng cho nên người ta có thể yên tâm tin tưởng giao phó công việc cho nàng, và nàng đã luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, được dưới trên Giả phủ yêu mến

Thiết nghĩ một con người không thể chỉ biết sống cho mình mà còn phải biết sống cho người khác, biết hi sinh và đóng góp, biết đứng vững và vượt lên nghịch cảnh, đó mới là một thái độ sống tích cực và đáng trọng. Nói về điểm này, tôi nghĩ Bảo Thoa hơn hẳn Đại Ngọc. Có thể một phần là do nàng Lâm thể chất yếu đuối, lại hay bệnh tật, lo thân mình còn chưa xong nên không thể lo toan gì cho người khác, càng không thể lo việc nhà. Nhưng xét cho kĩ ra, bản chất nàng ấy là như vậy chứ không phải hoàn toàn vì yếu đuối bệnh tật. Nàng quan tâm và thương cái gì nhất nào? Chính là bản thân nàng. Đồng ý rằng hoàn cảnh của Đại Ngọc long đong hơn Bao Thoa rất nhiều: không cha mẹ, không tài sản, phải ăn nhờ ở đậu. Tuy nhiên, trên tất cả mọi thứ như mồ côi, bệnh tật hay lề thói phong kiến khắt khe, thứ làm cho cuộc đời nàng đau khổ nhiều nhất chính là thái độ sống tiêu cực bi quan của nàng. Chỉ biết thở vắn than dài, sầu thương khóc lóc thì sẽ cải thiện được gì? Rốt cuộc nàng không chỉ chuốc lấy cái khổ vào thân, mà còn dằn vặt và làm buồn lòng những người xung quanh nàng, trong đó có cả những người thật lòng quan tâm thương yêu nàng. Điều này Sử Tương Vân, một chị em tốt của nàng, cũng thừa nhận.

Chị là người hiểu đời, tại sao chị cứ hay chuốc lấy những điều khổ não vào người? Cảnh ngộ của em cũng như chị, nhưng em không có bụng dạ hẹp hòi.

So với Tương Vân, Đại Ngọc vẫn còn sướng chán. Cùng mồ côi cha mẹ, nhưng Đại Ngọc được sống an nhàn đúng nghĩa một tiểu thư, dù thiếu hụt to lớn về tinh thần nhưng về vật chất, nếu cha mẹ nàng còn sống ắt hẳn cũng không hơn là bao. Còn Tương Vân mang tiếng là con nhà công hầu nhưng qua lời kể của Bảo Thoa cũng đủ biết, nàng phải làm lụng cực nhọc không khác một a hoàn. Nếu ví xã hội phong kiến như tiết trời lạnh giá thì ai ở trong xã hội ấy cũng phải thấy lạnh, cả Đại Ngọc lẫn Bảo Thoa. Họ tuy tư tưởng lối sống có nhiều điểm khác nhau nhưng cùng là những thiếu nữ có da có thịt, biết yêu biết ghét, có cái khổ và hoàn cảnh riêng, nào phải gỗ đá vô cảm. Đại Ngọc giận dỗi Bảo Ngọc lấy Tây Sương trêu đùa mình, Bảo Thoa cũng biết giận Bảo Ngọc chọc mình giống Dương Quý Phi. Đại Ngọc chọc nghẹo Bảo Ngọc không có “noãn hương”, Bảo Thoa cũng bắt bướm ở đình Trích Thúy. Đại Ngọc cạnh khóe Bảo Ngọc chỉ biết nghe lời Bảo Thoa không uống rượu lạnh, Bảo Thoa cũng biết mượn chiếc quạt nạt ngầm cả hai đứa em. Về nước mắt, nàng Lâm chỉ rơi nước mắt vì bản thân là chủ yếu, trong khi nước mắt Bảo Thoa rơi vì biết bao nhiêu việc lớn nhỏ : giận anh hư hỏng, thương mẹ lận đận, khóc chồng ngây dại, khóc nhà suy vong. Ấy vậy mà nàng vẫn luôn đứng vững, không để ai phải phiền lòng lo lắng vì mình. Đúng như Giả Mẫu đã từng nhận xét về hai đứa cháu:

_ Chị Bảo cháu từ khi nhỏ đến giờ là người có độ lượng rộng rãi. Trước kia nhà nó khá như thế, nó cũng không hề có chút gì kiêu căng, về sau nhà nó bị suy sút, nó vẫn bình thản ung dung. Bây giờ tới nhà chúng ta đây, Bảo Ngọc đối đãi với nó tử tế, nó cũng vui vẻ như thường, có lúc đối đãi nó không được tử tế, nó cũng không có gì là buồn rầu. Ta xem con bé ấy thật là người có phúc. Chị Lâm nhà cháu, tính khí rất là nhỏ nhen, lại hay nghi ngờ, vì thế mà không thọ.

Thế mới thấy, trong tiết trời lạnh giá ấy, thay vì kêu lạnh, khóc than vì lạnh rồi để cho cái lạnh giết chết mình như Đại Ngọc thì Bảo Thoa lại biết đi tìm áo khoác, lò sưởi, an ủi mọi người, để rồi không chỉ nàng mà những người xung quanh nàng cũng được ấm hơn. Thế nên ở nàng người ta cảm thấy muốn gần gũi, chia sẻ và tin cậy phó thác. Điều này Tương Vân cũng là một minh chứng.

_ Không ai tốt bằng Cô Bảo. Tiếc rằng chúng tôi không phải là chị em ruột. Nếu tôi được một người chị ruột như thế, thì có mồ côi cha mẹ cũng không lo.

Có thể nói, phải lấy Bảo Ngọc chính là bi kịch lớn nhất trong cuộc đời Bảo Thoa. Có người bảo rằng đó là do nàng tự chuốc lấy do nàng có tình cảm với Bảo Ngọc, muốn được nên đôi lứa cùng chàng và lăm le địa vị mợ ba Giả Phủ. Nếu thật sự như vậy thì xem như bao nhiêu tính tốt, tính khéo của nàng đều bị quy kết là “giả tạo”, là “đánh lừa” để lấy lòng kẻ trên người dưới nhằm đạt được mục đích cuối cùng hết. Nhưng theo nhận định chủ quan của cá nhân tôi thì Bảo Thoa không yêu Bảo Ngọc, hoặc giả có yêu đi nữa nàng cũng chẳng bao giờ muốn thành đôi với anh chàng ấy, bên cạnh đó nàng cũng chẳng cần gì địa vị mợ ba Giả phủ.

Lí do để Bảo Thoa không yêu Bảo Ngọc đơn giản vì họ chẳng có điểm nào hợp nhau. Một người thì phong lưu tình tứ chẳng xem lề thói ra gì, chỉ thích vui vầy cùng chị em; trong khi một người lại quy củ đức hạnh đúng mẫu tiêu chuẩn phong kiến. Sự quan tâm của Bảo Thoa đến Bảo Ngọc cũng không khác mấy nàng quan tâm đến các chị em khác. Huống hồ chi, là một người thông minh, nàng thừa biết trong lòng anh chàng si ngốc chỉ có mỗi Lâm muội. Bảo Thoa chẳng dại gì lại xông vào cướp đoạt thứ vốn không phải của mình mà bản thân cũng không thích. Lí do còn lại để nàng giành lấy Bảo Ngọc là vì nàng lăm le cái địa vị mợ ba theo tôi cũng không thỏa đáng. Nhà họ Tiết của nàng tuy đã sa sút nhiều nhưng vẫn là một trong tứ đại thế gia đất Kim Lăng, nàng về làm dâu nhà họ giả sẽ chẳng được cái gì nhiều hơn thế. Khoan nói đến việc Bảo Ngọc bỏ nàng với đứa con trong bụng để đi tu, chỉ riêng việc phải gắn đời với một anh chàng ngây ngây dại dại, nằm ngay bên cạnh mình cứ luôn mồm “em Lâm”, thì thà ở nhà phụng dưỡng mẹ già, chờ đợi một lương duyên đích thực chẳng phải hạnh phúc hơn sao?

Tuy nhiên, việc Bảo Thoa vào làm dâu Giả Phủ là một hệ lụy không thể tránh được. Mặc dù luôn ủng hộ mối tình mộc thạch nhưng tôi phải thừa nhận rằng, nếu tôi ở địa vị Giả Mẫu vào thời điểm ấy, tôi cũng sẽ không lấy Đại Ngọc cho Bảo Ngọc. Chúng ta có thể yêu với tất cả trái tim, nhưng khi chọn vợ chọn chồng thì phải chọn bằng cái đầu. Chọn vợ đâu chỉ đơn giản là chọn người con gái mình yêu về làm bạn đời, mà còn là chọn mẹ cho những đứa con của mình, chọn con dâu cho mẹ mình, chọn người quán xuyến lo lắng việc nhà cửa. Đại Ngọc dù diễm lệ và thông tuệ nhưng với thể chất yếu đuối bệnh tật, tính khí kiêu kì nhỏ nhen không làm vừa lòng ai, không coi trọng lễ giáo tuyệt đối không phải là sự lựa chọn tốt cho địa vị mợ ba. Có người bảo Bảo Thoa “nặng kí “ hơn Đại Ngọc là vì môn đăng hộ đối, thực chất không đúng. Người đầu tiên được Giả Mẫu nhắm cho Bảo Ngọc là Tiết Bảo Cầm. Dù cũng là con cháu họ Tiết danh giá nhưng cuộc sống của nàng lại bấp bênh chẳng kém gì ai: lúc trước thường theo cha lưu lạc đây đó, hiện tại cũng đã mồ côi cả cha lẫn mẹ. So ra nàng cũng không lợi thế gì hơn Đại Ngọc. Ấy vậy mà nàng lại rất hợp nhãn Giả Mẫu vì tính khí ôn hòa trong sáng. Hãy thử đặt mình vào địa vị của Giả Mẫu hay Vương phu nhân lúc bấy giờ, bạn có muốn giao “bảo bối” của mình vào tay một cô gái như Đại Ngọc không? Mặc dù đó là người cháu mình yêu tha thiết, nhưng để rước cô ấy vào nhà và mang một danh phận trong nhà họ Giả thì không phù hợp chút nào. Đại Ngọc là một mẫu người yêu lí tưởng: một người con gái dạt dào cảm xúc, mong manh yếu đuối tạo cảm giác cần sự che chở, lại thêm sắc đẹp diễm ảo buồn lãng mạn làm khơi dậy trong ta bao niềm thương cảm. Nàng là một viên ngọc quý đáng trân trọng, một tri âm tri kỉ vạn kiếp nan phùng. Bản thân tôi cũng sẽ rất vui sướng nếu có một người bạn như nàng để bàn luận chuyện đời, chuyện thơ văn, để thanh lọc tâm hồn mình sau những rắc rối bề bộn của cuộc sống thường nhật. Nhưng để tiến lên một bước nữa, gắn cuộc đời mình với một người như nàng thì tôi tin, ngoài một kẻ “khác thường “ thiên bẩm như Bảo Ngọc ra, chẳng ai muốn cả, đơn giản vì với tính tình và thể chất như vậy, nàng sẽ không bao giờ hoàn thành tốt vai trò một người vợ, một người mẹ, một người con dâu, một người cháu dâu trong một gia đình bình thường chứ khoan nói đến một đại gia tộc như nhà họ Giả. Bảo Thoa với thể chất khỏe mạnh, tính tình ôn hòa điềm tĩnh, đức hạnh trung dung, biết chăm lo quán xuyến trước sau, vẹn toàn trên dưới mới là mẫu một người vợ lí tưởng. Không chỉ là riêng đối với tiêu chuẩn phong kiến, mà là ngay cả với thời nay, theo tôi, nàng cũng vẫn là một hiền thê lương mẫu đích thực. Phải thừa nhận có lúc nàng quá lí tính, quá thực dụng, hoặc giả lãnh đạm thờ ơ đối với những việc rắc rối, không muốn nó dây vào mình. Tuy nhiên chớ vội rùng mình trước những điều đó khi chúng ta nhìn nhận lại cuộc sống và chợt nhận ra: đó chính là một trong những những phẩm chất cần thiết để một con người có thể tồn tại, và đôi khi, chính chúng ta cũng đã như thế.

Nếu bảo rằng vì yêu Bảo Ngọc mà Bảo Thoa đã rắp tâm làm mọi chuyện để đạt được mục đích, thì cái kết cục bi thảm của nàng quả thực là do nàng tự chuốc lấy. Tuy nhiên, là một người kính nể và thương yêu nàng, tôi chỉ biết đổ tội cho cái tục “xông hỷ” nhảm nhí mà từ xưa đến nay tôi vẫn căm ghét. Câu “ ép dầu ép mỡ ai nỡ ép duyên” không phải vô cớ ra đời giữa một xã hội còn nặng “ quyền huynh thế phụ” , “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Những luật lệ phong kiến đã cho những bậc trưởng bối quá nhiều đặc quyền đến nỗi họ bị chúng che mất cả lý trí lẫn tình cảm. Giả Mẫu, Vương phu nhân biết rõ nguồn cơn căn bệnh của Bảo Ngọc và tâm bệnh của Đại Ngọc, vậy mà họ đủ can đảm để ngang nhiên phủ nhận sự thật, tự bịt mắt mình bằng một niềm mê tín quái đản. Nào phải họ không yêu thương bọn con cháu, nhưng chính tình yêu thương ấy bây giờ lại trở thành thứ vô tình giết chết ba cuộc đời son trẻ. Bi kịch của chuyện ép uổng hôn nhân từ ngàn xưa đã đánh động tâm can con người, không phải chờ đến thời hiện đại nó mới bị lôi ra ánh sáng và phê phán nặng nề. Một cuộc hôn nhân không có tình yêu lại bị ràng buộc giữa muôn trùng lễ giáo thì không có chức năng gì hơn một cái mồ chôn hai cuộc đời. Đối với Bảo Thoa, cái bi kịch ấy càng đau đớn vì nàng đã cố sức cải thiện tình hình chứ không buông xuôi. Nàng nào phải không hiểu chồng mình. Những khi anh chàng như ngây dại làm cả nhà phát hoảng thì nàng chính là người hiểu thấu được những suy nghĩ của Bảo Ngọc.

Bảo Ngọc cố liều khóc oà lên. Anh ta nghĩ bụng :
- Chị Uyên ương. Người như thế mà lại chết một cách lạ nhỉ ? Thật là khí thiêng trong trời đất, chỉ vun đúc riêng vào những người con gái ! Chị ta như thế là chết đúng chỗ rồi đấy. Bọn mình rốt cuộc chỉ là những đồ dơ đục, trong số con cháu bà, ai mà theo kịp chị ta ?” .
Nghĩ đến đó, anh ta lại đâm ra vui mừng. Lúc đó Bảo Thoa nghe Bảo Ngọc khóc ầm lên, liền đi ra. Khi đến nơi thì thấy anh ta lại cười.
Bọn Tập Nhân hoảng sợ nói :
- Nguy to ? Cậu lại muốn điên rồi !
Bảo Thoa nói :
- Không can gì đâu. Cậu ấy đang nghĩ gì đấy thôi.
Bảo Ngọc nghe nói, càng thích thú với lời nói của BảoThoa, nghĩ bụng : “Rốt cuộc chỉ có chị ta là hiểu bụng mình, người khác làm gì mà biết”.


Không như Đại Ngọc ủng hộ và hòa điệu cùng Bảo Ngọc với những ý nghĩa khác thường của Bảo Ngọc, nàng đã đấu tranh quyết liệt với chúng để tìm cách kéo Bảo Ngọc về phía mình, biến chàng thành một đấng nam nhi quyết chí học hành lấy công danh với đời chứ không phải là một cái xác không hồn lởn vởn theo bóng hình em Lâm hay là một gã chán đời tìm đường tu hành thoát tục.

- Mợ sao thế ?
- Tôi nghĩ cậu cùng tôi đã kết nghĩa vợ chồng, thì cậu là người tôi nương tựa suốt đời, vốn không phải chỉ vì lòng tình dục. Chuyện vinh hoa phú quý, chẳng qua cũng thoáng qua như mây khói mà thôi. Nhưng các bậc thánh hiền đời xưa, vẫn xem phẩm cách con người là chính.
Bảo Ngọc chưa nghe hết, đã đặt quyển sách xuống mỉm cười :
- Nghe mợ nói về phẩm cách con người, lại nhắc đến thánh hiền đời xưa gì đó. Mợ biết thánh hiền đời xưa có nói câu “chớ làm sai tấm lòng đứa trẻ mới sinh” hay không ? Đứa trẻ mới sinh có gì đáng quý ? Chẳng qua chỉ vì nó không hiểu, không biết, không tham, không ghét mà thôi. Chúng ta sinh ra đã đắm đuối trong vòng tham, giận, ngây, yêu. Chẳng khác gì bùn lầy. Làm thế nào thoát khỏi cái lưới ấy của cõi trần. Cho hay người xưa tuy đã nói qua bốn chữ “tụ tán phù sinh” (3). Nhưng chưa làm cho một ai tỉnh ngộ cả. Đã muốn nói về nhân phẩm thì thử hỏi ai là kẻ đạt được cái trình độ sơ sinh ?
- Cậu đã nói đến “tấm lòng đứa trẻ”, thì nên biết thánh hiền đời xưa cho rằng trung hiếu chính là tấm lòng đứa trẻ, chứ không phải tránh đời xa người, không chỉ vương vấn vào cái gì mới là tấm lòng đứa trẻ. Các bậc thánh hiền như Nghiêu, Thuấn, vua Thang, Chu Công, Khổng Tử, lúc nào cũng nghĩ đến cứu dân giúp đời. Gọi là tấm lòng đứa trẻ. Không qua tóm tắt trong hai chữ “bất nhẫn” mà thôi. Còn theo lời cậu vừa nói, thì là nỡ lòng bỏ cả thiên luân, còn ra đạo lý gì ?
Bảo Ngọc gật đầu cười :
- Nghiêu, Thuấn cũng không ép được Sào Phủ, Hứa Do. Võ Vương, Chu Công cũng không ép được Bá Di Thúc Tề
Bảo Thoa không đợi nghe hết câu, liền nói :
- Những câu nói ấy của cậu lại càng không đúng. Ai cũng là Sào, Hứa, Di, Tề cả, thì sao đến nay người ta lại khen Nghiêu, Thuấn, Chu, Khổng là bậc thánh biền ? Vả lại cậu ví mình như Di, Tề thì thật không đúng. Di, Tề vì sinh vào cuối đời nhà Thương, gặp phải nhiều việc khó xử, nên mới có cớ để trốn tránh. Chứ bây giờ gặp đời vua thánh, nhà ta mấy đời đội ơn triều đình, cha ông được hưởng biết bao điều sung sướng... Vả lại, cậu từ khi lọt lòng đến giờ, bà trước kia và cha mẹ đều xem như một hòn ngọc quý. Cậu vừa nói những câu ấy, thử nghĩ lại xem có đúng hay không .
Bảo Ngọc nghe xong, không trả lời, cứ ngẩng đầu lên mỉm cười. Bảo Thoa lại khuyên :
- Cậu đã đuối lý thì tôi khuyên cậu từ sau nên hồi tâm lại. Cố sức học hành, nếu mà thi đậu, sau đó mà thôi, cũng không đến nổi uổng phí ơn trời đức tổ ?
Bảo Ngọc gật đầu, than thở rồi nói :
- Thi đậu à, kể ra thì cũng không phải là việc gì khó đâu. Nhưng những câu mợ nói “sau đó mà thôi” và “không uổng ơn trời đức tổ”, thì xem ra cũng đúng đấy.


Và nàng đã thua, thua một cách đau đớn: Bảo Ngọc sau khi thi đậu đã bỏ nhà đi tu, để lại cho nàng một đứa con còn trong thai và một quãng đời dài dằng dặc lạnh lẽo cô đơn trước mặt. Tôi vốn chẳng mong gì nàng thành công, vì tôi hiểu Bảo Ngọc đã không giờ và sẽ không bao giờ trở thành người chồng nàng mong muốn, dù anh ta ngây hay tỉnh. Anh ta cùng Đại Ngọc vốn có phải người thường đâu, Bảo Thoa muốn thay đổi họ chỉ tốn công vô ích mà thôi. Và rồi tôi nhận ra nàng cũng chính là một con người “mê”, cũng ấp ủ một giấc một lầu son của riêng mình chứ không hoàn toàn tỉnh táo và thực tế như tôi vẫn thường nghĩ về nàng. Từ đó tôi thêm yêu Hồng Lâu Mộng, nhưng ước gì nó đừng phải trả giá bằng cả cuộc đời nàng Tiết thì hay biết bao.

Bắt đầu từ cái đêm đám cưới, bi kịch đã thật sự xảy đến cho ba hạt nhân của Hồng Lâu Mộng. Từ đó giấc mộng lầu son cũng phai tàn dần. Đại Ngọc chết đi nhưng có lẽ nàng là người may mắn nhất bởi vì tôi thấy cái chết đối với nàng thật sự là một sự giải thoát. Giả Phủ cùng với xã hội phong kiến lúc bấy giờ hoàn toàn không phải là nơi lí tưởng để cây tiên Giáng Châu ấy sinh sống. Nơi của nàng là Thái Hư Ảo Cảnh, nơi nàng không phải “một ngày mấy bận hoen nước mắt”, không phải chịu sự giày vò cả về thể xác lẫn tinh thần. Bảo Ngọc, thành trì cuối cùng của giấc mộng lầu son, cuối cùng cũng sụp đổ. Anh ta đã bước ra khỏi giấc mộng của đời mình để tu hành giác ngộ trần thế, cuồi cùng trở về với núi Thanh Ngạnh. Hết kiếp người tiên trở về làm tiên, đá trở về làm đá, chỉ có Bảo Thoa của tôi là phải tiếp tục sống với những vết thương sâu hoắm trong tim, tiếp tục chịu đọa đày nơi trần thế. Tôi buồn và khóc cho nàng cũng như tôi buồn và khóc cho giấc mộng lầu son của chính tôi. Nhưng, trong một ý nghĩ mơ hồ nhưng thật mãnh liệt, tôi đã vạch ra một tương lai, con đường sắp tới tươi sáng hơn cho Bảo Thoa. Nàng sẽ giống như Lý Hoàn, một mình an phận chăm sóc dạy dỗ đứa con, lẽ sống duy nhất còn lại. Đứa con ấy sẽ giống như Giả Lan, hiếu thuận ngoan ngoãn, chăm chỉ học hành và hơn hết, nó ý thức được nỗi đau khổ mà mẹ nó đã phải gánh chịu để rồi báo hiếu cho nàng bằng một gia đình ấm áp hạnh phúc với người dâu hiền thục thuận thảo và những đứa cháu kháu khỉnh thông minh. Bảo Thoa sẽ có được một chỗ dựa vững chắc đề nương tựa, không phải lo lắng phiền muộn gì nữa. Giả Phủ vẫn còn nhưng hơn khi nào hết tôi nhận ra nó đã chết, những tinh hoa của nó đã mất cả rồi, giống như lầu son không có bụi hồng thì chỉ còn là một tòa gạch mà thôi. Không cần gì quyền thế cao sang nữa, một mái nhà bình thường cũng được, miễn là nơi đó nàng Tiết được thanh thản hạnh phúc thì đó chính là nơi giấc mộng lầu son sẽ được xây lại từ đầu. Tôi vẫn tin như thế, không chỉ cho nàng mà còn cho chính bản thân tôi.

ĐỆ NHẤT A HOÀN _ BÌNH NHI

Bình Nhi là nhân vật duy nhất trong truyện không có một tình tiết nào khiến tôi ghét, cũng là nhân vật không mắc phải một lỗi lầm hay tính xấu nào. Theo tôi nàng chính là người tử tế và hoàn hảo nhất trong Giả Phủ.

Ở Bình Nhi tính dễ thấy nhất là cái khéo. Chỉ riêng việc trụ lại được và ăn ở với vợ chồng Phượng Thư - Giả Liễn cũng đã đòi hỏi một sự khéo léo vô cùng. Ở giữa một hũ dấm chua như Phượng Thư, một gã háo sắc như Giả Liễn, nàng vẫn làm vừa lòng được cả hai và giữ được phẩm chất tốt đẹp, không bị biến thành một bản sao của Phượng Thư hè nhau đè đầu cưỡi cổ Giả Liễn hay một Thu Đồng đanh đá ôm chân Giả Liễn đấu đá với Phượng Thư.

_ Cô Bình cũng tốt, tuy cùng một bè với mợ ấy, nhưng khi vắng mặt lại làm được nhiều việc hay. Chúng cháu có điều gì lầm lỗi, mợ ấy không tha, chỉ nhờ cô Bình là xong.

_ Cô Bình vốn là a hoàn của mợ ấy từ lúc bé. Khi mợ ấy đi lấy chồng, có bốn người theo hầu, về sau người thì chết, người thì đi lấy chồng, chỉ còn lại một mình cô ấy là được tin cậy nhất, nên nhận làm nàng hầu. Một là để tỏ ra mợ ấy là người hiền lành, hai là để buộc cẳng cậu Hai, không cho ra ngoài làm bừa. Lại còn một nguyên do nữa: Theo khuôn phép nhà chúng cháu, các cậu lớn rồi, trước khi lấy vợ, đều được đưa đến hai người hầu hạ. Cậu Hai cũng có hai người hầu. Ngờ đầu mợ ấy về chưa đầy nửa năm, đã bới lông tìm vết, đuổi đi sạch. Người ngoài tuy không nói gì, nhưng mợ ấy cũng thấy trẽn mặt, liền bắt ép cô Bình làm nàng hầu. Cô Bình vốn người đứng đắn, không hề để tâm đến việc đó, và cũng không hay xoi mói chuyện nọ chuyện kia, chỉ hết lòng hầu hạ mợ ấy. Vì thế mới còn ở lại được đến giờ.

Cái khéo của Bình Nhi rất chân thật và tế nhị. Nàng không lấy lòng các vị trưởng bối mà ngược lại thường rất quan tâm đến những người ngang hàng hoặc người dưới. Nàng không dùng tiền bạc lấy lòng suông, mà là dùng ân nghĩa và sự tử tế đối đãi với họ. Nàng lấy lại công bằng cho mẹ con Ngũ Nhi khi xét thấy việc oan uổng nhưng cũng đồng thời nhắc nhở răn đe bọn bà già họ khi họ coi khinh Thám Xuân.

Bình Nhi nghiêng mình cầm lấy, rồi trỏ vào bọn đàn bà khẽ nói:
- Các người chẳng ra cái gì cả! Cô ấy là cô gái con nhà đại gia, không muốn ra oai nổi giận, đó là người biết giữ giá. Thế mà các bà lại khinh nhờn cô ấy. Nếu để cô ấy phải cáu lên, dù mang tiếng là người lỗ mãng, nhưng các bà lại bị thiệt rất nhiều! Cô ấy làm nũng, bà Hai cũng phải chiều một phần nào, mợ Hai cũng chẳng dám làm gì. Thế mà các bà lại cả gan không coi cô ấy ra gì, khác nào trứng chọi với đá?
- Chúng tôi khi nào dám cả gan thế? Đó đều tự dì Triệu gây ra!
- Thôi! Các bà ơi, “giậu đổ bìm leo”, dì Triệu vốn hay nông nổi, không biết nghĩ xa nghĩ gần, nên việc gì cũng chỉ đổ riệt cho dì ấy. Ngày thường các bà bụng dạ ghê gớm, chẳng coi ai ra gì, tôi đã biết từ mấy năm nay rồi. Ngay mợ Hai có tý gì sơ suất là các bà đã nghĩ cách định đè bẹp xuống. Đã thế, hễ sểnh ra là y rằng các bà tìm cách làm khó dễ. Đã nhiều lần mợ ấy chưa hỏi tội các bà đấy. Ai cũng cho là mợ ấy ghê gớm, các bà đều sợ cả nhưng chỉ có tôi biết là trong bụng mợ ấy cũng không phải là không gờm các bà. Hôm nọ chúng tôi đã bàn đến việc này. Nếu không trên thuận dưới hòa, rồi thế nào cũng sẽ sinh chuyện. Cô Ba hãy còn trẻ, các bà đều coi thường. Nhưng trong các cô lớn, cô bé ở đây, mợ Hai cũng phải nể dăm phần. Thế mà các bà lại không coi cô ấy ra gì à?


Đối với bọn người hầu, không ai khác chính Bình Nhi mới là người có uy nhất. Nếu cái uy của Phượng Thư làm người ta cảm thấy bị ức chế buộc phải tuân lệnh, thì cái uy của Bình Nhi lại khiến người ta nể nang, hiểu ra việc rồi vui vẻ mà nghe theo. Bởi vậy nên cái uy của Phượng Thư chỉ dùng được khi đắc thế, còn khi thất thế thì thê thảm, chẳng ai thèm nghe lời nữa. Còn với Bình Nhi, dẫu có đang khó chịu bất mãn, người ta cũng thông cảm. Khi nàng gặp khó khăn, họ cũng sẵn sàng giúp đỡ lại. Phượng Thư thường không xem trọng việc lấy lòng người dưới, chỉ lo hầu hạ người trên, nhưng nàng có biết đâu, đó là một sai lầm mà nàng phải trả giá đã đành, suýt nữa đứa con gái duy nhất của nàng cũng phải chịu chung số phận.

- Mày đi gọi chị Bình đến đây, nếu chị ấy bận thì gọi già Lâm.
Đứa hầu nhỏ vâng lời đi ngay. Bọn đàn bà đều cười nói:
- Bà nên xin ngay với các cô cho gọi em bé lại. Cô Bình mà đến thì không hay đấy!
Bà già nói:
- Dù cô nào đến chăng nữa cũng phải có lý có lẽ, không khi nào mẹ dạy con mà người khác lại cấm đoán được.
Mọi người cười nói:
- Bà có biết cô Bình nào không? Chính cô Bình ở nhà mợ Hai đấy! Tử tế ra cô ấy chỉ mắng mấy câu thôi, nếu cô ấy đã đổi nét mặt thì bà liệu cuốn gói sớm.


Phượng Thư trong bụng uất ức càng nghĩ càng tức. Mãi đến khi trời sáng lại phải dậy trông nom. Chị ta định răn bảo bọn người ở các nhà. lại sợ Hình phu nhân đâm giận ; muốn nói với Vương phu nhân thì khốn nổi lại bị Hình phu nhân ton hót, xui giục. Bọn a hoàn thấy Hình phu nhân không bênh vực Phượng Thư, nên càng giày vò chị ta. May có Bình Nhi bày tỏ hộ cho Phượng thư. Chị ta nói :
- Mợ Hai cũng chỉ cốt trông nom lo liệu cho tử tế. nhưng vì ông lớn và các bà dặn bảo bên ngoài không được xa phí, cho nên mợ Hai cũng không thể lo liệu cho đến nơi đến chốn được.
Bình Nhi nói đi nói lại mấy lần. nên họ mới hơi yên.


Số là gần đây cửa sau phủ Giả tuy mở, nhưng nhà rộng, đầy tớ ít, nên chỉ một vài người canh, trông nom không xuể, rất là trống trải. Vả lại Hình phu nhân là người không biết thương kẻ dưới. Người trong nhà tuy biết việc ấy không hay, nhưng họ lại nhớ ơn Bình Nhi ăn ở tử tế, nên thông đồng với nhau, để mặc cho Xảo Thư đi.

Phải nói Giả Liễn là người đàn ông may mắn nhất trong truyện. Những người đàn bà của anh ta, trừ Thu Đồng ra, đều tốt cả. Anh ta có được một Phượng Thư đảm đang tháo vát, một Bình Nhi khéo léo hiểu chuyện, lại thêm một dì hai Vưu dịu dàng hiền thục, quả là quá có phước. Đáng tiếc thay, dì hai đã vì anh ta mà phải chết thảm dưới tay Phượng Thư. Phượng Thư sống chuốc oán với người quá nhiều, sức tàn lực kiệt cũng không thể cùng anh răng long đầu bạc. Thu Đồng vốn là hạng không ra gì, bỏ đi còn nhẹ gánh. Chỉ còn lại đúng mỗi Bình Nhi là ở bên anh từ đầu chí cuối. Nếu Bình Nhi làm vợ chính Giả Liễn, tôi tin anh chàng sẽ không đi trêu hoa nghẹo nguyệt nữa. Phượng Thư già néo đứt dây, chèn ép thái quá để chồng thèm của lạ, rồi lại bày mưu hại chết dì hai. Giữ chồng như nàng chỉ làm chồng thêm xa mình. Dì hai Vưu quá đơn thuần và yếu đuối, không thể chịu nổi sự đấu đá khốc liệt trong Giả Phủ. Còn Bình Nhi, nàng là người biết nhu biết cương, mềm nắn rắn buông, vừa tinh tường khôn khéo lại vừa dịu dàng mềm mỏng. Giả Liễn dù háo sắc nhưng trước cái ân của Bình Nhi đối với Xảo Thư cùng với sự tinh tế ân cần của nàng, anh ta sẽ không nỡ phản bội lại lòng thủy chung tin cẩn của vợ. Giả phủ đã suy sút nhiều, tôi không chắc và cũng không muốn địa vị của Bình Nhi sẽ huy hoàng như Phượng Thư. Tuy nhiên có một điều tôi luôn biết rằng: nếu Giả Liễn và Bình Nhi sát cánh bên nhau thì họ sẽ đứng vững dù Giả Phủ có sập xuống.

February 2014
M T W T F S S
January 2014March 2014
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28