My Opera is closing 3rd of March

Hồng Lâu Mộng

Subscribe to RSS feed

THI HÀNH TỬU LỆNH VÀ KHẮC HỌA TÍNH CÁCH NHÂN VẬT

HLM lấy chất liệu từ cuộc sống đời thường của gia đình đại quý tộc phong kiến, trong đó tác giả hay miêu tả cảnh tiệc tùng yến ẩm, và cũng tự nhiên miêu tả đến những tửu lệnh, một sinh hoạt thường thấy trong các tiệc rượu của người Trung Quốc.

Trong HLM, tả cảnh uống rượu và thi hành tửu lệnh, kể cả bốn mươi hồi sau, cộng tất cả ba mươi bảy lần, trong đó có 9 lần thi hành tửu lệnh bao gồm khoảng một trăm người tham dự, đó là điều hiếm thấy trong những tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc.
Hình thức tửu lệnh trong HLM rất đa dạng, nhiều màu, nhiều vẻ. Bao gồm thơ lien vận, thơ có đề, đoán vật, đánh toan, gieo súc sắc, đánh trống chuyền hoa, đối quân bài, kể chuyện cười… có thể nói là muôn màu muôn vẻ, muốn cách gì có cách ấy, kể không hết.

Tửu lệnh trong HLM cũng là thủ pháp quan trọng để khắc họa nhân vật, thông qua tửu lệnh, tác phẩm cũng phản ánh trình độ, thân phận, gặp gỡ, tiên đoán số phận, kết cục của nhân vật, biểu hiện đặc trưng tính cách của nhân vật, đấy là điểm đáng chú ý nhất của chúng ta.

Hồi thứ 40, tiểu thuyết đặc biệt tả cảnh thi hành tửu lệnh trong tiệc rượu bằng cách đáp quân bài. Lệnh đáp quân bài tức là lệnh dung con bài bằng ngà hay bằng xương trên đó ghi những chi tiết sẵn có dùng cho tửu lệnh. Trong tửu lệnh này có 7 người phải thi hành, đó là Giả mẫu, Tiết phu nhân, Sử Tương vân, Tiết Bảo Thoa, Lâm Đại Ngọc, Giả Nghênh Xuân và già Lưu. Những tửu lệnh trên đều do tác giả muốn thể hiện nhân vật của mình mà chú tâm tạo ra. Lời đối tửu lệnh của Sử Tương Vân và Tiết Bảo Thoa là thơ Đường tỏ ra đặc biệt tao nhã, điều này cho thấy việc trau dồi học tập văn chương cổ giữa hai người khó phân định ai hơn ai kém. Như lời đối tửu lệnh của Tiết Bảo Thoa là:

- Bên trái là quân trường tam.

- Một đôi chim yến kêu ran trên xà.

- Bên phải là quân tam trường.

- Gió đưa thủy hạnh thòng lòng dây xanh.

- Giữa là tam lục chín khuyên.

- Núi Tam Sơn ngả ngoài miền trời xanh.

- Thuyền neo dây sắt chơi vơi.

- Nơi nào sóng gió là nơi buồn rầu.

Đây là một phu bài do hai quân “trường tam” và một quân “tam mục” tổ thành. Quân “trường tam” là quân bài trên dưới có ba điểm màu xanh, xếp song song chếch nhau. “tam trường” là cách nói ngược của “trường tam” để gieo vần. Tiết Bảo Thoa đã lấy hai câu “ Song song yến tử ngử lương gian” (Một đôi chim yến kêu ran trên xà.) và “Thủy hạnh khiên phong thúy đái trường” (Gió đưa thủy hạnh thòng lòng dây xanh.) để hình dung quân “tam trường”, vừa chỉ hình tượng như thật, vừa mang nét nhã thú của cách hình dung. Câu “Song song yến tử ngử lương gian” là đổi câu “Ni nam yến tử ngữ lương gian” trong bài “Đề Nhiêu Châu tửu vụ sảnh bình” ( Vịnh bình phong khách sảnh ở Nhiêu Châu) của Lưu Quý Tôn mà thành. Bảo Thoa dùng “Song song yến tử” (hai con chim yến song song) để sánh với quân “trường tam” phân làm hai hàng song song chếch nhau gồm sáu điểm màu xanh. Câu “Thủy hạnh khiên phong thúy đái trường” dẫn từ thơ của Đỗ Phủ trong bài “Khúc Giang đối vũ” (mưa ở Khúc Giang) dùng cây hoa sung có đài hoa màu xanh để nói hình dáng và màu sắc của quân “trường tam”. Quân “tam lục” gồm trên ba, dưới sáu, cộng thành chính điểm, đều là màu xanh, nên Tiết Bảo Thoa dùng câu “Tam sơn bán lạc thanh thiên ngoại” (Núi Tam Sơn ngả ngoài miền trời xanh) để hình dung. Câu “Tam sơn bán lạc thanh thiên ngoại” trích từ bài “Đăng Kim Lăng Phượng hoàng đài” (Lên đài Phượng hoàng ở Kim Lăng) của Lý Bạch, dùng “Tam sơn” để chỉ quân “tam lục”. Phía trên gồm ba điểm xếp nghiêng, dùng “thanh thiên” cũng chỉ quân bài ấy ở nữa phía dưới gồm 6 điểm, so sánh thật là khéo léo, tinh tế. Vì phu bài ấy cộng tất cả có năm dãy ba điểm, một dãy sáu điểm, tức giống như một vòng xích sắt và một chiếc thuyền nhỏ nên Uyên ương nói tiếp: “Tấu thành thiết hỏa luyện cô chu” (Thuyền neo dây sắt chơi vơi) Do đó mà Tiết Bảo Thoa liên tưởng nói tiếp: “Xứ xứ phong ba xứ xứ sầu” (Nơi nào sóng gió là nơi buồn rầu). Câu này Tiết Bảo Thoa đổi từ câu “Yên ba xứ xứ sầu” (khói sóng nơi nơi nhuốm cảnh sầu) của Tiết Huỳnh trong bài “Thu nhật hồ thượng” (Mùa thu trên hồ) mà thành. Nhân đấy cũng dễ khiến người ta nghĩ đến câu “Yên ba giang thượng sử nhân sầu.” (trên sông khói sóng cho buồn lòng ai) của Thôi Hiệu trong bài Hoàng hạc lâu và chính điều này lại làm cho chúng ta nghĩ đến những gì ảm đạm, buồn rầu hàm chứa trong tửu lệnh này. Toàn bộ tửu lệnh có lối miêu tả hình tượng, dùng từ tao nhã, phong cách trang trọng, xép ra hoàn toàn phù hợp với đặc điểm tính cách tài hoa , uyên bác của Tiết bảo Thoa, đồng thời cũng phản ánh đặc trưng tính cách đứng đắn, ôn hòa, phúc hậu của nàng.

Cùng dùng văn chương hay đẹp làm sở trường, cùng biểu hiện cốt cách thi tài của nhân vật, lệnh phu bài của Lâm Đại Ngọc khác với lệnh của Tiết Bảo Thoa, hàm chứa cá tính rất rõ ràng. Uyên Ương xướng:

- Quân thiên bên trái đây rồi.

- Ngày vui cánh đẹp tự trời biết sao.

- Giữa bình gấm đẹp lạ lùng.

- Song the nào thấy ả Hồng báo tin.

- Nhị lục tám điểm đều nhau.

- Trước sân ngọc điện sắp chầu hai bên.

- Họp thành lẵng hái hoa rừng.

- Gánh hoa thược dược thơm lừng gậy tiên.

Phu bài mà Đại Ngọc đối đáp là do các quân “trường lục”, “tứ lục” và “nhị lục” tổ thành. Trường lục còn gọi là quân “thiên bài” trên dưới 6 điểm, gồm nửa đỏ, nửa xanh. Đại Ngọc khéo đối lại: “Lương thần mỹ cảnh nại hà thiên” (Ngày vui cánh đẹp tự trời biết sao). Quân tứ lục trên đỏ, dưới xanh, cũng gọi là quân “cẩm bình” (bình phong gấm), Đại Ngọc bèn dùng “Sa song dã một hồng nương báo” (Song the nào thấy ả Hồng báo tin.) để đối, “Sa song” (song the) để ví với 6 điểm màu xanh, còn “hồng nương” để đối với 4 điểm đỏ. Quân nhị lục xếp trên hai dưới 6, hai hàng ngay ngắn thì Đại Ngọc dùng câu “Song chiêm ngọc tọa dẫn triều nghi”. (Trước sân ngọc diện sắp chầu hai bên) để đối lại. Câu này lấy từ câu “Hộ bạ Chiêu Dung tử tụ thùy, Song Chiêm ngự tọa dẫn triều nghi” trong bài “tử thần điện thối triều khẩu hiệu” (lời hô bãi trào ở điện Tử Thần) của Đỗ Phủ. Đại Ngọc dẫn ra hai điểm ở phía trên sánh với Chiêu Dung, sáu điểm ở dưới sánh với hai hàng quan viên đứng ngay ngắn để triều kiến nhà vua. Theo đó, ta thấy Đại Ngọc rất thuộc thơ Đỗ Phủ, có thể nói là tùy miệng nói ra, áp dụng rất sít sao, đúng chỗ. Điều này cũng khiến người ta liên tưởng đến chuyện Đại Ngọc dạy Hương Lăng làm thơ trước tiên phải đọc thơ thất ngôn bát cú của Đỗ Phủ. Ba quân bài ấy tạo thành một cái lẳng hoa, nên Uyên Ương nói: “Tấu thành lam tử hảo thái hoa” thì Đại Ngọc liền đáp: “Tiên trượng hương đào thược dược hoa”. Thế là hình ảnh ba quân bài được miêu tả rất hay, rất đẹp, điều này chứng tỏ Đại Ngọc có biệt tài về thơ phú văn chương. Đứng trên góc độ khắc họa nhân vật mà xét thì trong tửu lệnh này có hai chỗ Đại Ngọc lấy ý từ “Mẫu đan đình “ và “tây sương ký”, chi tiết này biểu hiện một nét tính cách của nàng: không bị trói buộc bởi lễ giáo phong kiến, trong sạch, ngay thẳng, hoạt bát. Và chuyện nàng và Bảo Ngọc cùng đọc Tây Sương ký là hoàn toàn phù hợp. Nhưng dưới con mắt của nhiều người nhìn vào, Đại Ngọc đương nhiên bị coi là không đứng đắn, đã lấy thi từ lãng mạn từ “mẫu đan đình”, từ “Tây sương ký” ra để đối đáp tửu lệnh. Việc này, theo con mắt của nàng thục nữ tôn sùng lễ giáo phong kiến như tiết Bảo Thoa, chắc chắn Lâm Đại Ngọc rất đáng phê bình và Bảo Thoa đã chú ý theo dõi thật. Tiểu thuyết tả: “Bảo Thoa nghe thấy câu ấy, quay lại nhìn. Đại Ngọc chỉ sợ bị phạt, nên không để ý.” Sau chuyện này, Bảo Thoa gọi Đại Ngọc lại nói một tràng thuyết giáo về người thục nữ. Như vậy ta có thể nhận ra tư tưởng của Bảo Thoa và Đại Ngọc rất khác nhau.

Giả mẫu và Già Lưu là những người đã có tuổi, tửu lệnh của họ mang chất thông tục nhưng do thành phần xuất thân, địa vị, sự trải đời, lối tu dưỡng nên tửu lệnh cũng có nhiều điểm khác nhau. Già Lưu từng nói Giả mẫu sinh ra để hưởng phúc còn bà sinh ra để chịu khổ. Tửu lệnh của họ phần nào nói lên điều đó. Uyên ương cầm phu bài và xướng:

- Bên trái là quân thiên.

- Trời xanh đứng ở bên trên.

- Ngũ lục đứng ở trung gian.

- Lục kiều mai nở hương tràn thấu xương.

- Một quân lục hợp yêu.

- Một vành đỏ chói đương treo giữa trời.

- Hợp thành con quỷ bù đầu.

- Quỷ này ôm chặt đùi sau Chung Quỳ.

Đấy là tửu lệnh của vị “Thái thượng hoàng” Giả mẫu của phủ họ Giả. Phu bài này do quân trường lục, quân ngũ yêu, và quân yêu lục tổ thành. Quân trường lục cũng gọi là quân thiên bài, nên Giả mẫu đối câu: “Đầu thượng hữu thanh thiên” (Trời xanh đứng ở bên trên.), bà dùng một câu tục ngữ mang ý nghĩa là ông trời ở trên cao, mọi thiện ác cuối cùng đều có báo ứng. “Ngũ lục” là quân bài có mười một điểm, các điểm đều mang màu xanh, Giả mẫu đối đáp lại: “Lục kiều mai hoa hương thiết cốt: (Lục kiều mai nở hương tràn thấu xương.) từ “mai hoa” chỉ năm điểm phía trên quân bài. Câu “Nhất luân hồng nhật xuất vân tiêu” (Một vành đỏ chói đương treo giữa trời.) để chỉ quân lục yêu gồm bảy điểm, lấy “nhật hồng” để chỉ màu đỏ của con yêu (số một) lấy “vân” chỉ màu xanh của con sáu. Ba quân bài này tạo thành một con quỉ đàu tóc bù xù, nên Giả mẫu liền đáp: “Giá quỷ bảo trú Chung Quỳ thối”. Theo tửu lênh này , ta có thể thấy Giả mẫu có lối nói khôi hài rất thú vị, bà giỏi vận dụng tục ngữ ca dao phù hợp với tính cách thích vui vẻ, ưa náo nhiệt của bà, và những hình ảnh trong tửu lệnh này cũng mang vẻ đại gia quý tộc.

Đến lượt bà Lưu, Uyên Ương xướng:

- Bên trái đại tứ là “người”.

- Là người nhà quê chăng?

- Giữa quân tam tứ đỏ xanh.

- Sâu trên đống lửa cháy thành ra tro.

- Bên phải yêu tứ đẹp thay.

- Bó kia củ cải, bó này tỏi tươi.

- Hợp vào thành một cành hoa.

- Đến khi hoa rụng lại là quả dưa.

Đấy là tửu lệnh của bà già nhà quê họ Lưu, giống như tửu lệnh của Giả mẫu tửu lệnh của bà Lưu cũng rất thông tục nhưng có phần sinh động hơn. Bà dùng toàn lời lẽ mang bản sắc nông thôn để đối đáp từng quân bài, nó không những sinh động mà còn hoạt kê, gây cười. Quân “tứ tứ” trên dưới đều 4 điểm, cộng thành 8 điểm đều màu đỏ, cũng gọi là quân trường tứ, nhân bài. Già Lưu thoạt nghe lời xướng “Thị cá nhân” (là một người) bà nghĩ mãi rồi nói : “Thị nhất cá trưng gia nhân bãi” (Là người nhà quê chăng?) Vừa nói ra mọi người đều cười ồ, vì trong bữa tiệc của nhà họ Giả đại gia như thế này, lại có người nói ra “một người nhà quê” gì gì đấy, mà chính “người nhà quê ấy” đang nghe nói “thị cá nhân” (là một người) liền nghĩ đến “trang gia nhân” (người nhà quê), điều này làm cơ sở cho việc tạo ra những câu khôi hài, ứng đối mau lẹ cho lời đối sau này. Và được Giả mẫu chấp nhận và khích lệ, bà Lưu đối đáp trôi chảy, nhanh nhẹn hơn. Khi nghe Uyên Ương xướng câu : “Giữa quân tam tứ đỏ xanh.”, bà liền đáp ngay “Sâu trên đống lửa cháy thành ra tro.” (Đại hỏa thiêu liễu mao mao trùng) Bà dùng “đại hỏa” để chỉ quân “tam tứ”, gồm 4 điểm, màu đỏ ở phía dưới, và “mao mao trùng” chỉ ba điểm màu xanh xếp nghiêng nghiêng ở phía trên, rõ ràng bà có cảm giác về hình ảnh rấy nhanh và lối ví ấy làm mọi người bật cười. Uyên Ương lại nói: “bên phải yêu tứ đẹp thay” Bà đáp “Bó kia củ cải, bó này tỏi tươi.” Quân tứ yêu trên 4 dưới 1 cộng lại là 5 điểm đều là màu đỏ. Củ cải màu đỏ, tỏi tươi nhiều bẹn màu tía là những thứ rau quả thường thấy ở cuộc sống nông thôn, chúng không chỉ là những hình ảnh rất thật mà hâu như còn làm người ra ngửi thấy cả mùi vị đất đai trồng ra chúng, cũng có thể cảm nhận được niềm vui của mùa màng bội thu và hầu như trông thấy cảnh lao động của nhà nông. Do sự phung phí xa xỉ trong những buổi yến tiệc ở Giả phủ, do cuộc sống hưởng lạc xưa nay của họ, tự nhiên mọi người liên tưởng đến cuộc sống giản dị chất phác và đầy gian khổ của “những người nông dân” như Già Lưu. Cuối cùng Uyên Ương nói “Hợp vào thành một cành hoa”, già Lưu xoa tay nói: “Đến khi hoa rụng lại là quả dưa.” (Hoa nhi lạc liễu kết cá đại oải qua). Nghe xong mọi người đều cười ầm lên. Câu sau cũng thật là xảo diệu làm ầm lên cái không khí hài hước một cách chí lí thấu đáo, đọc lên chúng ta có cảm giác như đang ở trong cuộc, mắt như thấy cảnh ấy, tai như nghe lời ấy. Lối đặc tả cận cảnh ấy có lẽ để mãi dấu ấn sâu đậm trong lòng mọi người.

Đầu những năm Dân Quốc, Dã hạc trong “Độc Hồng Lâu Mộng trác ký” (Ghi chép khi đọc Hồng Lâu Mộng) đã từng đem cảnh bà Lưu hành tửu lệnh ở hồi thứ 40 và cảnh Tiết bàn hành tửu lệnh ở hồi thứ 28 ra so sánh với nhau, ông viết “Tiết Bàn hành tửu lệnh và Già Lưu đối dáp quân bài coi như trước sau chiếu rọi cho nhau”. Thực ra Dã Hạc chỉ nhìn bề ngoài giống nhau của hai người hành tửu lệnh mà chưa thấy sự khác nhau về bản chất bên trong của hai người. Tửu lệnh có tên là “nhi nữ” mà Tiết Bàn thi hành là một tửu lệnh thô tục hạ cấp, tầm thường, khó chịu, nó không chỉ khắc họa tính cách u mê đần độn thô tục lỗ mãng của chàng ta mà còn bộc lộ bộ mặt xấu xa của con nhà quyền quý, hạ lưu vô sỉ, thấp hèn ngang ngược nữa. Cho nên khi mọi người nghe câu tửu lệnh của hắn nói ra đều bảo “đáng chết! đáng chết!” Thái độ phê phán của tác giả hoàn toàn có thể nhận ra trong lời nói ấy. Còn tửu lệnh của Già Lưu đều lấy từ cuộc sống nông thôn, nội dung đều từ miệng một người nông dân thật thà chất phác, ngôn ngữ mang đậm bản sắc dân dã, tuy thô tục như không thô lậu, nó mang hơi hám của đất đai , quê mùa, đọc lên vẫn có cái thú của nó, khiến người ta không thể nín cười mà cười hả hê, cười vui vẻ. Đến phủ Vinh Quốc lần ấy, bà Lưu mang theo những thứ rau quả tươi ngon để làm quà, khiến cho những người trong phủ chuyên ăn những món sơn hào hải vị, nay được thưởng thức món hoa quả tươi non này thật là khoái khẩu! Vả lại, những gì bà nói trong tửu lệnh và những thứ bà mang đến đều là nhữg cái mới mẻ, sinh động trong ngôn ngữ mang bản sắc làng quê. Cho nên Giả mẫu, một người có nhãn quang nghệ thuật và có khiếu thẩm mỹ nói với Già Lưu: “Nói hay lắm! Nói như thế mới ra nói!” Chừng ấy đủ thấy tác giả coi trọng lời nói dân dã, tự nhiên ấy.

Tửu lệnh “nhi nữ” ở hồi thứ hai mươi tám cũng giống như Tửu lệnh “đối bài” ở hồi thứ 40, cả hai đều thông qua tửu lệnh để phản ánh cá tính của nhân vật một cách chuẩn xác như trên đã nói qua tửu lệnh của Tiết Bàn cùng tính cách của y. Ngoài ra tửu lệnh của Bảo Ngọc hàm chứa tâm sự lo nghĩ của chàng đối với Đại Ngọc, biểu lộ sự đồng tình của mình đối với “người con gái” (bất kỳ người con gái nào). Tửu lệnh của Phùng Tử Anh thể hiện phong cách của con nhà võ tướng, lời lẽ thô nhưng không ác. Còn tửu lệnh của Vân Nhi thì phù hợp với thân phận kỹ nữ của cô, nói lên nỗi đau khổ của chính mình.

Hồi thứ 62, tại vườn Hồng Hương trong Đại Quan Viên, chị em mở tiệc mừng sinh nhật Bảo Ngọc và ba cô khác, họ uống rượu, thi hành tửu lệnh , trong đó, tửu lệnh của Sử Tương Vân và Lâm Đại Ngọc để lại ấn tượng sâu sắc nhất. Đặc biệt là Tửu lệnh của Sử Tương Vân thể hiện rõ tính cách của nàng:

”- Vùn vụt mông mênh, trên sông sóng cuộn ngập trời xanh; phải dùng dây sắt, gò lại chiếc thuyền lênh đênh; gặp khi sóng gió, không nên xuất hành. Đầu vịt không phải là “a đầu” Trên đầu làm gì có dầu quế?”

Theo đó đủ thấy đặc điểm tính cách của nàng là phóng khoáng buông thả, vui vẻ hướng ngoại, lanh lẹ thẳng thán, thông minh hoạt bát. Đặc biệt là khi thấy trên chiếu tiệc có cái đầu vịt, nàng liên tưởng đến mấy cô a đầu chung quanh, buộc miệng nói câu “đầu vịt không phải là a đầu” trong lối chơi chữ hài âm rất thú vị, tức là tác giả đã biểu hiện đầy đủ sự liên tưởng phong phú , lời lẽ khoái hoạt, giỏi dùng lối hài hước văn nhã trong sự trêu đùa. Thậm chí, khi say nằm ngủ cũng mơ nói tửu lệnh: “Suối thơm đầy rượu, chén ngọc đầy màu hổ phách, uống cho đến lúc trăng lên đọt mai say khướt phải dìu về….tức nên gặp lại bạn bè…” Đặc điểm tính cách hào sảng đa tài, dí dỏm khôi hài, ngây thơ bộc trực của nàng đều xuyên suốt tác qua trang giấy làm cho hình tượng nghệ thuật của nàng sống động như thật. Cũng trong hồi này còn tả nàng không thích chơi tửu lệng xạ phúc” trong khi bọn họ đang chơi tửu lệnh xạ phúc thì nàng cùng Bảo Ngọc chơi trò đánh toan, nàng hét tam , hét ngũ ầm lên, khua chân múa tay, đấy cũng là một nét tính cách của nàng, khiến người ta liên tưởng tính tình của nàng trong câu “anh hào được tính hiên ngang”.

Hồi thứ 63, tiểu thuyết còn dùng tửu lệnh rút thăm có tên hoa để khắc họa tính cách nhân vật , lấy những câu thơ hay đời Đường, Tống để nêu rõ tính cách nhân vật. Ví dụ , như lấy hoa mẫu đơn để so với Tiết Bảo Thoa trong câu: “Dù không tình gì người cũng cảm” (Nhậm thị vô tình dã động nhân), lấy hoa hạnh để sánh với Thám Xuân trong câu “Tựa mây hồng hạnh trồng bên mặt trời” (nhật biên hồng hạnh vân tài) , hoặc lấy hoa hải đường sánh với Sử Tương Vân trong câu : “Chỉ sợ đêm khuya hoa ngủ mất” (Chỉ khủng dạ thâm hoa thụy khứ), lấy hoa đồ mi để sánh với Xạ Nguyệt trong câu “Hoa đồ mi nở là ngày xuân đi” (Khai đào đồ mi hoa sự liễu) lấy hoa phù dung để sánh với Lâm Đại Ngọc trong câu “Thương mình nào dám giận gì gió đông” (Mạc oán đông phong đương tự ta), lấy hoa đào để sánh với Tập Nhân trong câu : “Hoa đào lại báo một mùa xuân sang” (Đào hồng hựu thị nhất niên xuân). Tất cả đều khắc họa tính cách từng nhân vật là chủ thể của thẻ thăm, đồng thời cũng tiên đoán số phận và kết cục của từng nhân vật ấy. Lối dùng hoa chỉ người tuyệt diệu này là điều đáng được nghiên cứu sâu hơn. Lấy hoa chỉ ngườim một cách làm thường thấy trong lịch sử văn học nhưng không rõ ràng cho lắm, vì thế có người viết thành chuyện để phúng thích, châm biếm cách làm ấy, họ có cách gọi là “thiên tài” “dung tài” “xuẩn tài”. Chúng tôi khắng định Tào Tuyết Cần không phải là tác gia đầu tiên lấy hoa chỉ người, thậm chí tác gia thứ hai thứ ba nào cũng chỉ đứng cho xa mà nhìn không thể nào sánh kịp nhưng cách lấy hoa sánh với những cô gái như đã trình bày trên rõ ràng có một nội hàm rất sâu rộng như vậy đến nay vẫn có người ca ngợi không ngớt, điều này chỉ rõ Tào Tuyết Cần không phải là “xuẩn tài” cũng không phải là “dung tài” mà là một “thiên tài” nghệ thuật vĩ đại.

Uống rượu thi hành tửu lệnh là chuyện thường thấy xưa nay nhưng dùng tửu lệnh để miêu tả đặc trưng cá tính, nói lên phong vị của cuộc sống và sức hấp dẫn của nghệ thuật thì xưa nay trong lịch sử văn học có được mấy người? Tại sao chúng ta không vì tài hoa nghệ thuật của tác giả mà tán thưởng, xưng tụng?

(Trích Mạn đàm HLM)


Nguồn: www.tvbvnfc.net do claasic_season đăng
­­
February 2014
M T W T F S S
January 2014March 2014
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28