My Opera is closing 3rd of March

Hồng Lâu Mộng

Subscribe to RSS feed

TÁC DỤNG CỦA NHÂN VẬT GIÀ LƯU TRONG HỒNG LÂU MỘNG


IPB Image

Già Lưu, hình tượng nghệ thuật ấy không chỉ biểu hiện cá tính trong sáng, sức sống tràn đầy mà còn có tác dụng tô điểm cho sự khắc họa đặc trưng tính cách của những nhân vật khác trong tác phẩm. Song song với việc xây dựng hình tượng nghệ thuật Già Lưu, Tào Tuyết Cần còn mượn nó để vẽ ra những trắc diện trong tính cách của những nhân vật chính cùa tác phẩm làm cho những hình tượng nghệ thuật ấy phong phú hơn, phức tạp hơn và nổi bật hơn.

Căn cứ vào tác phẩm, Tào Tuyết Cần đã miêu tả già Lưu ba lần vào phủ Vinh Quốc. Trong ba lần già Lưu xuất hiện ấy, mọi người trên dưới trong phủ Giả đều cùng xuất đầu lộ diện. Trong số những người ấy, có người là chủ nhân của phủ như Giả mẫu, Phượng Thư, Bảo Ngọc, hoặc Đại Ngọc, Bảo Thoa, có người la tôi tớ của Phủ như Bình Nhi hay Uyên Ương, đôi khi còn có cả Diệu Ngọc của am Lũng Thúy v.v… Nói chung diện liên quan khá rộng. Tiểu thuyết thông qua tấm gương đặc biệt ấy của già Lưu mà phản chiếu những đặc trưng tính cách khác nhau của từng nhân vật, thậm chí lúc bình thường lại không có nét cá tính nào nổi bật cả nhưng vì có tình tiết liên quan đến già Lưu thì lại hiện rõ hơn và nổi trội hơn, do đó mà hiệu quả nghệ thuật của tác phẩm đạt đến trình độ họi là “nói một có tác dụng mười.” Điều này đúng như lời của Nghiễn Chi Bình nói: “Trong tiểu thuyết này, một nét bút tả được hai ba điều, một sự việc nói ra vài sự việc, giống như có hằng hà sa sô nét bút vậy.” Xem thế đủ thấy bút pháp của tác giả thật là cao diệu.

Lúc Già Lưu đến phủ Vinh Quốc lần thứ nhất thì người chủ đâù tiên của phủ họ Giả nhìn thấy bà là Phượng Thư. Trong mắt già Lưu, rõ ràng Phượng Thư ăn mặc rất hoa lệ, dáng vẻ cao đạo, bà thấy nàng “ngồi ngay ngắn ở đó, tay cầm đôi đũa bằng đồng đang khêu khêu than trong lồng ấp. Bình Nhi đứng cạnh lò sưỡi đang bưng một khay trà nhỏ, trong khay có một cái chén đậy nắp. Phượng Thư không nhận chén trà, cũng không ngẩn đầu, chỉ hơ tay ở lồng ấp, từ tốn hỏi: “Sao không mời vào?” Vừa nói vừa xoay người bưng chén trà”, lúc ấy nàng mới nhìn đến già Lưu. Trước mặt một người bà con nghèo khổ như già Lưu, Phượng Thư tỏ ra cao đạo giữ ý như thế, lấy uy khinh người như thế, trang trọng nghiêm túc như thế, có thể nói là người ngay ngắn chỉnh tề, nói cười thận trọng, đúng là dáng vẻ một bà chủ.

Nhưng nếu người đọc chú ý một chút ắt sẽ không quên cũng cùng một con người Phượng Thư ấy, khi Lâm Đại Ngọc lần đầu tiên đến phủ, dù nàng có trang sức “gấm thêu lóng lánh”, dung mạo phi phàm thì nàng cũng đã phải thể hiện tình cảm nồng nhiệt, hoạt bát lanh lợi, chào hỏi ân cần, chăm sóc tỉ mỉ, tận tình chu đáo. Điều này chứng tỏ Phượng Thư là người không đánh đồng cách đối xử thái độ xử trí khác nhau, đúng là “đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”, người nào có cách đối xử nấy, nàng luôn luôn có tính toán. Trước mặt già Lưu sở dĩ Phượng Thư cao đạo uy nghiêm, dáng vẻ thần thánh như vậy là vì nàng đang đứng trước một kẻ cùng khổ, một người bà con đang cần sự nhờ vả. Còn trước mặt Lâm Đại Ngọc nàng nồng nhiệt ân cần, mở lòng trải dạ như vậy là vì người ấy là cháu ngoại cưng của vị “thái thượng hoàng” ở phủ họ Giả. Nàng biết rõ sự thân thiết nồng hậu mối quan tâm chu đáo đối với lâm Đại Ngọc cũng là sự hiến dâng mọi sự ân cần niềm nở cho vị lão tổ tông ấy vậy. Đối người mà không đối việc, xem người qua bữa ăn, Phượng Thư đúng là rất thành thạo. Cách miêu tả Phượng Thư như thế làm cho chúng ta thấy được tính cách phức tạp của nàng.

Lúc già Lưu vào phủ Vinh Quốc lần thứ hai, nhân Phượng Thư biết Giả mẫu ưa khuấy động, thích vui vẻ, nên muốn làm cho Giả mẫu hài lòng, Phượng Thư phải dẹp bớt thói cao đạo biến già Lưu thành “người giúp vui”, ra sức bày trò trêu đùa, đích thân đạo diễn để già Lưu đóng vai làm trò trong một số tình huống để lão tổ tông Giả mẫu vui cười, và chính nàng cũng được Giả mẫu thương yêu hơn. Nhưng cuối cùng Phượng Thư còn cho già Lưu nhiều thứ để bà già nhà quê này không chỉ nhờ đó mà giúp đỡ con cái dâu rễ sống qua được một năm mất mùa mà còn gặt hái được một mùa bội thu. Qua đây cũng thấy được mặt tốt trong tính cách của Vương Hy Phượng. Điều này khác với tiểu thuyết trước đây, hễ tả người tốt thì toàn tốt, tả người xấu thì toàn xấu, nên nó chân thực hơn, tự nhiên hơn, và cũng nhân đó mà sâu sắc hơn.

Đến lúc già Lưu vào phủ Vinh Quốc lần thứ 3, thì Phượng Thư đã kiệt sức, hay làm mất lòng người, lại bị ma ám, nàng bèn đem Xảo Thư phó thác cho già Lưu , về sau Già Lưu liều mình quên chết cứu được Xảo Thư. Và Phượng Thư lúc này cũng không còn thói cao ngạo của ngày trước, không còn khoe của, hợm mình, không còn làm chuẩn mực cho kẻ ăn người ở trong nhà, cũng không có khả năng đem già Lưu làm trò cười như xưa nữa, mà là đang phải cầu khẩn già Lưu giúp đỡ. Theo đó, chúng ta có thể nhận ra sự phát sinh biến hóa trong tính cách Phượng Thư và cũng nhận ra nhiều nhân tố trong sự biến hóa ấy.

Trong lần thứ hai già Lưu vào phủ Vinh Quốc, Giả mẫu dẫn già Lưu du ngoạn quanh Đại Quan Viên khiến bà lão nông thông này thấy ngôi vườn còn đẹp hơn cả một bức tranh phong cảnh, bà được mở rộng tầm mắt. Già Lưu là một bà già nhà quên mới lên phố, lại thêm tuổi đã cao, có chút rượu ngà ngà nên lạc lối đi nhầm vào nhà Giả Bảo Ngọc, Di hồng viện. Sau khi ngủ một giấc tỉnh rượu, bà mới hỏi: “Đây là khuê phòng của vị tiểu thư nào mà xinh đẹp thế? Tôi thư đang lạc vào chốn thiên cung vậy”. Tiểu thuyết mượng con mắt và cái miệng của già Lưu để vẽ ra và nói lên phòng ngủ của Giả Ngọc mang đầy cả chất nữ tính. Theo đó, ta có thể nhận ra một vài đặc điểm trong tính cách của nhân vật Bảo Ngọc. Bảo Ngọc luôn cho con gái là tốt đẹp, chàng ta có một nhận xét nổi tiếng: “Nữ nhi như nước nam nhi như bùn. Mỗi khi thấy con gái, tôi cảm thấy khoan khoái, nhẹ nhàng, còn thấy người con trai thì thấy hôi hám khó chịu.” Trong phòng ngủ của chàng, chúng ta há không tìm ra lời giải thích rõ ràng của câu nói ấy sao? Đặc điểm “nữ hóa” trong tính cách của chàng thực ra há chẳng phải đã phản ánh tư tưởng “nữ tôn nam ti” của chàng đó sao? Ngoài ra, cũng vì trong tính cách của chàng mang chất nữ tính, nên chàng thường rất mềm yếu, thậm chí đôi khi còn nhu nhược, thiếu hẳn vẻ cương cường mạnh bạo của con trai, điều đó cũng do hoàn cảnh cư trú và cá tính của chàng mà ra.

Bảo Ngọc còn có một đặc điểm tính cách khác nữa, đó là “si tình”, điều này cũng biểu hiện đầy đủ trong đoạn tình tiết già Lưu vào phủ Vinh quốc. Già Lưu vốn muốn nói đùa cho những người trong phủ giải trí, bèn “tùy tiện ăn nói”, bà bịa ra câu chuyện cô gái rút củi trong tuyết gì gì đấy, thế là chàng “si tình” tưởng thật nên bảo Dính Yên đi tìm cho ra nguồn ngọn mất toi một ngày. Điều này biểu hiện sự “si tình” của chàng đối với con gái trong thiên hạ rất sinh động, càng làm rõ thêm một nét tính cách của Bảo Ngọc.

Hình tượng Giả Mẫu cũng nhân có già Lưu xuất hiện mà sáng toe hơn. Hai bà già ấy, do địa vị và cuộc sống khác nhau nên có những nét rất khác biệt, một người sinh ra để hưởng phúc còn một người sinh ra để chịu khổ. Thông qua sự miêu tả đối chiếu, tiểu thuyết thể hiện một cách đúng đắn đặc trưng tính cách hai hình tượng khác nhau của hai nhân vật ấy. Già Lưu là một bà lão đã 75 tuổi, so với Giả Mẫu còn lớn hơn mấy tuổi nhưng khi thấy Giả mẫu, bà lại nói: “Xin thỉnh an lão thọ tinh.” Còn Giả mẫu gọi bà là “lão thân gia”, tuy không phải là không có vẻ thân thiết, nhưng so với lối xưng hô “lão thọ tinh” thì nội hàm có khác nhau, thật khiến cho người nghe cảm thấy thích thú. Già Lưu ngày ngày làm lụng vất vả, mệt bở người ra, còn Giả mẫu suốt ngày vui chơi, nhưng vẫn cảm thấy buồn chán. Giả Mẫu mong có một người cùng bà “ôn chuyện xưa”, thế là già Lưu muốn tìm mọi cách, thậm chí đóng vai hề để Giả mẫu vui, làm cho mọi người trong phủ cười. Nhưng đằng sau sự vui cười ấy, chúng ta có thể cảm nhận nỗi chua xót của bà.

Nhưng Giả mẫu vẫn thương xót người đàn bà nghèo khổ ấy, bà không những mở tiệc khoản đãi già Lưu để cho bà già quê mùa này có cơ hội biết mùi đời, mời bà ngồi nơi cao nhất trong chiếu tiệc để bà thưởng thức những sơn hào hải vị như thưởng thức món cà trộn thịt gà chẳng hạn mà còn dẫn già Lưu đi du ngoạn khắp Đại Quan Viên khiến bà già nhà quê này vô cùng thích thú cảm động. Khi mở tiệc khoản đãi già Lưu, chúng ta thấy Giả mẫu có một sự đồng tình và hiểu biết nào đó đối với già Lưu tác giả cũng vì hình tượng Giả mẫu mà tô vẽ thêm một số nét khả ái nào đó. Còn khi dẫn già Lưu đi thăm Đại Quan Viên, chúng ta thấy được kiến thức sâu rộng, hứng thú tao nhã và nhãn quang nghệ thuật đặc sắc của Giả mẫu. Già Lưu và Giả mẫi là hai hình tượng tương tác ngời sáng, tô điểm cho nhau, tất cả đó đều là khuôn mẫu nghệ thuật sáng chói trong các họa tiết nhân vật trong tác phẩm văn học Trung Quốc.

Hình tượng của Bình Nhi cũng nổi bật hẳn nhân có già Lưu xuất hiện. Khi già Lưu vào phủ lần đầu, bà thấy “Bình Nhi ăn mặc là lượt, đeo vàng đeo bạc, dung mạo xinh đẹp, cứ tưởng là Phượng Thư. Vừa định thưa bà thì nghe Chu Thụy gọi là cô Bình và thấy Bình Nhi gọi Chu Thụy là “Chị Chu” mới hay đấy chẳng qua chỉ là đứa a hoàn có chút thể diện nào đó thôi.” Miêu tả như vậy cố nhiên là muốn nói hình tượng Bình Nhi đúng là không gióng các nhân vật khác, nghĩa là cũng có dáng vẻ của một bà chủ vậy. Nhưng trước sau Bình Nhi đối xử với già Lưu rất tốt, quan tâm đến cảnh khổ của bà, thông cảm với nỗi vất vả của bà, hiểu được tâm lý của bà nên cô đã có lòng dẫn bà vào gặp Phượng Thư, sau đó đích thân đem đồ vật cho chát. Điều này nói lên tính cách thuần lương, nhiệt tình, thật thà và ngay thẳng của Bình Nhi.

Tiểu thuyết còn mượng hình tượng của Già Lưu để khắc họa tính cách của Lâm Đại Ngọc, biểu hiện ở hai phương diện sau:

Thứ nhất là làm nổi bật nét sinh hoạt cao nhã của Lâm Đại Ngọc. Trong đoạn tả già Lưu đi xem Đại Quan viên, chúng ta thấy cảnh bà già nhà quê này khi bước vào quán Tiêu tương. Già Lưu nhận thấy bên cửa sổ , trên bàn bày ra bút nghiên, giấy mực, lại thấy trên giá đầy cả sách là sách, bèn hỏi: “Đây chắc là thư phòng của một công tử nào chắc?” Lúc ấy, Giả mẫu chỉ Lâm Đại Ngọc nói:- Chính là nhà của con cháu ngoại tôi đấy. Già Lưu để ý nhìn Đại Ngọc một lúc, rồi nói: “- Có gì là giống buồng thêu của một vị tiểu thư đâu? So với buồng sách lịch sự nhất lại còn đẹp hơn!” Qua đó nói rõ đặc tính thích đọc sách của Đại Ngọc, khiến người ta tưởng tượng ra một nàng Đại Ngọc có hứng thú tao nhã, có sở thích thoát tục, thậm chí có thể tưởng tượng ra một Đại Ngọc xem thường lễ giáo, đem những gì có tính chất răn dạy giới nữ xưa nay như câu nói “con gái không có tài chính là đức vậy” vứt đi, và từ đó có thể thấy thêm một nét trong tính cách nhân vật này.

Thứ hai là tả vẻ thanh cao của Lâm Đại Ngọc. Đại Ngọc là con nhà quý tộc. Vốn là con người tự cao tự đại, mục hạ vô nhân, người bình thường không hề có trong mắt của nàng, thế thì già Lưu lại càng không cần để mắt tới. nàng rất coi thường bà già quê mùa này. Già Lưu nghe nhạc truyền qua nước, nhạc hay đến làm xúc động lòng người, già Lưu nhân có chút rượu ngà ngà, nổi hứng khua chân múa tay, lúc ấy Bảo Thoa nói với Đại Ngọc: “Cô xem bà Lưu đang múa máy kìa!” Đại Ngọc nói: “Ngày xưa, nhạc của vua tấu lên thì có trăm muông nhảy múa, bây giờ chỉ có một con trâu thôi” Rõ ràng Đại Ngọc muốn ám chỉ “đàn gảy tai trâu”. Thậm chí khi thấy Già Lưu “ăn nhiều, ăn miếng lớn” trong bữa tiệc rồi nhân thám Xuân nói đến Già Lưu nàng liền nói: “Cái miệng bà ấy như cái cửa, cứ gọi là con cào cào mẹ là hợp nhất.” Rồi khi Tích Xuân vẽ bức “Đại Quan viên hành lạc đồ”, nàng cũng nói “những con bọ khác thì không vẽ cũng được nhưng con cào cào mẹ ngày hôm qua mà không vẽ vào há chẳng phải thiếu đi hay sao?” Rồi nói với vẻ hài hước rằng” Cô hãy mau vẽ đi, đề tài cũng đã có rồi, cứ gọi là “Huề hoàng đại tước đồ”. Nhưng điều trên thể hiện đầy đủ thiên kiến của một cô tiểu thư quý tộc xuất thân đối với một người thuộc tần lớp dưới của xã hội. Miêu tả như vậy tức là đã thể hiện khá cặn kẽ thấ đáo nét chua cay, khắc bạc và tự cao tự đại của Lâm Đại Ngọc.

Ngoài ra, tiểu thuyết còn mượn một chi tiết nhỏ già Lưu uống trà ở am Lũng Thúy để nói lên sự sạch sẽ đến kỳ quặc của Diệu Ngọc. Tác giả cũng sử dụng thủ pháp tô điểm. Lối miêu tả ấy nếu đem so với việc tường thuật trực tiếp, chính thức thì sẽ sinh động, chân thực hơn nhiều, và khiến người ta có cảm giác không cứng nhắc, không tẻ nhạt.
Bổ sung đoạn này, sao không thấy tác giả nói đến. Đoạn ghé thăm Hành Vu Uyển.
“Giả mẫu bảo đỗ thuyền vào bờ, theo bậc đá trèo lên, cùng đến Hành Vu uyển, thấy sực nức mùi thơm. Những cỏ lạ dây tiên càng lạnh bao nhiêu, lại càng xanh tốt bấy nhiêu, nó đã ra quả như hạt đậu san hô, trĩu xuống đáng yêu. Vào đến trong nhà, thấy trắng tinh, không có một thứ đồ chơi nào cả. Trên án chỉ bày một cái lọ sành Châu Định, cắm vài cành cúc, cùng mấy bộ sách, hộp trà và chén trà thôi; trên giường treo cái màn the xanh, chăn đệm thì mộc mạc xuềnh xoàng lắm.”

Ở đây thấy hai điểm, Bảo Thoa uông “Lãnh hương hoàn”, lại ở một nơi như thế thật tương xứng.

Thứ hai là sự giản dị, mộc mạc của Bảo Thoa. Lúc trước có đoạn Tiết Phu nhân nói : “Con bé ấy tính khí lạ lắm, có thích hoa thích phấn bao giờ”. Lại miêu tả đoạn Bảo Ngọc đến chơi rồi so ngọc thông linh, thấy Bảo Thoa “môi không tô vẫn đỏ, mày không kẻ vẫn xanh”, mặc đồ đêu rung rúc giản dị. Nay nơi ở của Bảo Thoa như thế cũng đã khắc họa tính khí ưa giản dị của nàng.

(Trích Mạn đàm HLM)


Nguồn: www.tvbvnfc.net do classic_season đăng

February 2014
M T W T F S S
January 2014March 2014
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28