ĐẠI NGỌC KHÔNG ĐỐ KỴ VỚI TẬP NHÂN
Sunday, July 5, 2009 12:25:56 PM
“Đại Ngọc biết trước là Tương Vân sang chơi thế nào Bảo Ngọc cũng nhắc đến chuyện con kỳ lân, nghĩ bụng: “Gần đây Bảo Ngọc hay xem những chuyện tiểu thuyết, phần nhiều giai nhân, tài tử được gặp nhau là do những đồ chơi lặt vặt, khéo léo xe nên, hoặc là do uyên ương, hoặc là do phượng hoàng, hoặc là vòng ngọc, dây vàng, hoặc là khăn giao(1) dây loan đều nhờ những vật nhỏ ấy mà thỏa được ý nguyện suốt đời”. Nay thấy Bảo Ngọc có con kỳ lân, tất sẽ mượn cái ấy mà sinh chuyện, hòng khêu gợi tình tứ với Tương Vân chăng? Vì thế Đại Ngọc lẳng lặng đi đến, tùy cơ để dò xét ý tứ hai người”
Chi tiết trên rõ ràng chứng tỏ Đại Ngọc hiểu mối quan hệ giữa Bảo Ngọc và Tương Vân, nếu tình yêu xẩy ra giữa Bảo Ngọc và Tương vân thì đó sẽ là mối đe dọa đối với nàng, cho nên nàng mới không yên bụng, cần phải “tùy cơ hành sự, dò xét ý tứ hai người”. Thái độ của Đại Ngọc đối với Tương Vân đã như vậy thì đối với Bảo Thoa lại càng hơn thế nữa. Vì cái chuyện “vàng, ngọc” giữa Đại Ngọc và Bảo Ngọc đã lời qua tiếng lại không biết bao nhiêu lần. Trong vấn đề tình yêu, Đại Ngọc luôn luôn để ý đến sự hiện diện của Bảo Thoa và Tương Vân. Như Engels đã từng nói: “Xét về bản chất, tình yêu và tình dục luôn luôn ích kỷ”. Đại Ngọc yêu Bảo Ngọc một cách sâu nặng, theo bản năng nàng phải đề phòng một người thứ ba nhảy vào, về mặt tâm lý, đay là điều rất dễ hiểu. Ở đây sự ghen tuông của Đại Ngọc là một điều rất tự nhiên, rất bình thường, là ý thức cảm nhận khả năng mất người yêu nên luôn luôn tiềm ẩn một nỗi lo, và là khát vọng quan hệ thân ái mãi mãi tràn đầy. Sự ghen tuông ấy rõ ràng là yếu tố tạo ra tình yêu. Nhưng Đại Ngọc không hoàn toàn có thái độ như vậy đối với những cô gái có quan hệ mật thiết với Bảo Ngọc, ví dụ như quan hệ giữa Tập Nhân và Bảo Ngọc , nàng rất bình thản, rất yên tâm, Đại Ngọc không ghen với Tập Nhân.
Quan hệ không bình thường giữa Tập Nhân và Bảo Ngọc trong phủ họ Giả không phải là điều bí mật. Ở hồi thứ 6, sau khi “Bảo Ngọc lần đầu thử cuộc mây mưa” với Tập Nhân thì quan hệ giữa hai người đi đến giai đoạn mật thiết gắn bó. Từ đó Bảo Ngoc xem Tập Nhân khác những a hoàn khác và Tập Nhân cũng phục dịch Bảo Ngọc tận tâm hơn. Tập Nhân tuy thân phận là a hoàn nhưng cả phủ, trên dưới đều biết vai a hoàn ấy không khác với vai một người thiếp là mấy. Đến hồi 36, Vương phu nhân công khai tăng lương tháng cho Tập Nhân từ hai lạng bạc lên “hai lạng và một quan tiền” đồng thời nói với Phượng Thư: “Từ nay về sau, hễ dì Triệu và dì Chu được hưởng cái gì thì Tập Nhân cũng được hưởng cái ấy” Điều này thực tế mà nói thì Tập Nhân được xem như một người thiếp, chỉ còn chờ ngày ra mắt thì ăn ở với nhau.
Vương phu nhân chọn Tập Nhân làm thiếp cho Bảo Ngọc thì Lâm Đại Ngọc , con người rất mẫn cảm trước vấn đề tình yêu sẽ có thái độ thế nào? Tập Nhân cũng là cô gái như Tương Vân và Bảo Thoa, thế mà chúng ta lại thấy Đại Ngọc tiếp nhận sự thật ấy một cách bình tĩnh và bình thường, nàng không chỉ không để tâm mà còn cùng rủ Tương Vân đến chúc mừng Tập Nhân. Hồi thứ 31 có đoạn tả lại sự việc như thế này, lần đó Bảo Ngọc và Tình Văn cãi nhau, kết quả cả Tình Văn, Bảo Ngọc , Tập Nhân đều khóc, lúc đó, Đại Ngọc đi đến:
Đại Ngọc cười nói:
- Khéo chưa, ngày tết có việc gì mà khóc thế? Hay là tranh nhau ăn bánh chưng, rồi giận nhau đấy?
Bảo Ngọc và Tập Nhân đều cười. Đại Ngọc nói:
- Anh Hai ơi, chả đợi anh nói em cũng đã biết cả rồi.
Đại Ngọc lại vỗ vào vai Tập Nhân cười nói:
- Thưa bà chị dâu, cho em biết với, tất là hai anh chị đương cãi nhau, nếu chị nói với em, em sẽ dàn hòa giùm cho.
Tập Nhân đẩy Đại Ngọc ra nói:
- Thưa cô, cô nói nhảm gì thế? Tôi đây chỉ là một đứa con hầu thôi.
Đại Ngọc cười nói:
- Chị bảo chị là con hầu, nhưng em coi chị như là chị dâu.
Qua đoạn trích trên, trước đây có người cho rằng Đại Ngọc muốn mỉa mai châm chọc Tập Nhân, điều đó là đọc “nhầm HLM” hiểu nhầm Lâm Đại Ngọc. Đoạn văn trên , tuy Đại Ngọc có ý trêu đùa Tập Nhân nhưng lại không có ác ý. Chuyện này với chuyện đề phòng tình cảm thân mật của Bảo Ngọc với Bảo Thoa và Tương Vân hoàn toàn không giống nhau. Qua lời nói đùa đầy thiện ý ấy có thể nhận ra Lâm Đại Ngọc hiểu rõ mối quan hệ đặc biệt giữa Bảo Ngọc và Tập Nhân và cũng nhận ra sau này là “người nhà” của Bảo Ngọc. Nàng còn biết Vương phu nhân tăng lương tháng cho Tập Nhân và hưởng quyền lợi giống như dì Triệu, dì Chu, Lâm Đại Ngọc đến chúc mừng. Tất cả đó chứng tỏ rằng Lâm Đại Ngọc không ghen tuông hay đố kỵ với Tập Nhân. Người ta có thể hỏi tình yêu vốn ích kỷ và với một ý nghĩa nào đó thậm chí cả sự ghen tuông là thước đo đánh giá tình yêu, thế thì tại sao Lâm Đại Ngọc không ghen với Tập Nhân? Về việc này không thể không đề cập đến chế độ thê thiếp của xã hội phong kiến Trung Quốc ngày xưa, đó là chế độ đa thê.
Trong xã hội phong kiến Trung Quốc trước đây, một người đàn ông, ngoài người vợ chính ra, còn có thể lấy thêm vợ lẽ gọi là “nạp thiếp”. Đây là điều phù hợp với chế độ nối dõi phong kiến. Ở phủ họ Giả, hầu hết nam chủ nhân đều có vợ lẽ, ít thì một hai, nhiều thì ba bốn hoặc hơn nữa cũng chưa biết chừng. Như Giả Chính có dì Triệu, dì Chu, Giả Xá thì “trong nhà, bên trái một bà, bên phải một bà”, Giả Liễn có bình Nhi sau Giả Xá thưởng cho Thu Đồng, Tiết Bàn đầu tiên mua Hương Lăng làm thiếp, sau có thêm Ngọc Thiềm… Giả Bảo Ngọc cũng không ngoại lệ, tuy chưa đến tuổi cưới vợ lấy hầu nhưng Giả Mẫu, Vương phu nhân, Giả Chính cũng đã tính toán, sắp đặt như ở hồi thứ 6, Bảo Ngọc cùng Tập Nhân “lần đầu thử cuộc mây mưa” về mặt tâm lý, Tập Nhân vốn biết Giả Mẫu đem mình cho Bảo Ngọc nên cái chuyện mây mưa ấy cũng không có gì vượt ra ngoài vòng lễ giáo cả. Điều này nói rõ Giả Mẫu trước đó đưa Tập Nhân sang hầu hạ Bảo Ngọc đã tính toán, sau này để Bảo Ngọc lấy làm thiếp. Hồi thứ 78, Giả mẫu nói với Vương phu nhân là bà muốn đem Tình Văn hầu Bảo Ngọc, tức là muốn “sau này để Bảo Ngọc sai bảo, có nghĩa là sẽ làm thiếp Bảo Ngọc.” Giả Chính cũng đã từng nói với dì Triệu: “Ta đã để ý có hai nha đầu, một cho Bảo Ngọc, một cho Giả Hoàn, nhưng vì chúng còn nhỏ lại sợ chúng ham chơi không chịu học, nên đợi vài ba năm nữa mới giao”. Giả Chính để ý thấy có hai nha đầu nào, ở đâu, chúng ta không thể nào biết được, nhưng ông ta có ý lo chuyện “nạp thiếp” cho Bảo Ngọc thì đã rõ mười mươi.
Đàn ông ưa cưới vợ lẽ, người vợ chính không thể có ý kiến phản đối, nếu không thì sẽ bị coi là người vợ không hiền thục. Ví như Giả Liễn đã từng mắng vương Hy Phượng là “Quỷ dạ xoa”, là “hũ giấm chua” cho dù Giả Liễn đã lén lút cưới dì Hai Vưu khiến Hy Phượng tức muốn chết, thế mà ngoài mặt vẫn phải giả vờ vui vẻ, lại nói với dì Hai Vưu mình không phải là hạng đàn bà hay ghen. Nàng chỉ làm náo ở Ninh phủ, nhưng chỉ trách Vưu thị, vợ Giả Trân, chị ruột của dì hai rằng: “Con gái nhà học Vưu không có người lấy mới đem lén gả cho nhà họ Giả”. Lý do trách cứ cũng chỉ là chuyện cưới dì hai không nên cưới lén và lại không nên cưới đang lúc nhà có tang, nước có tang, làm cái chuyện “trên phạm phép vua, dưới trái lệnh cha mẹ” là không được! Hy Phượng khóc lóc nói với Vưu Thị: “Việc anh nhà chị cưới vợ cho em tôi không giận nhưng tại sao lại khiến anh ta trái lệnh vua, dối cha mẹ rồi đem tiếng xấu đổ lên người tôi.
Chúng ta hãy về gặp cụ, gặp bà hai rồi họp mọi người lại cho họ định luận. Nếu tôi không hiền thục, lại không để cho chồng lấy vợ lẽ thì cứ viết mấy chữ cho tôi về, tôi sẽ đi ngay”. Ồn thì cứ ồn, mắng thì cứ mắng nhưng nàng không muốn chịu mang tiếng là một người vợ ghen tuông, ác đức không để cho chồng “mua hầu, cưới thiếp”. Người vợ chính không những không phản đối chồng cưới vợ lẽ mà đôi lúc còn chủ động cưới hầu cho chồng để gọi là có tiếng hiền thục. Như Hình phu nhân đứng ra xin cô hầu Uyên Ương của Giả mẫu cho Giả Xá, mặc dù Phượng Thư khuyên bà đừng đụng vào cái đinh cái ấy. Hình phu nhân nói: “ Những nhà đại gia phần nhiều đều có phòng này, phòng nọ, nay chúng tôi muốn sao lại không được?” Về sau, đúng là Hình phu nhân đụng phải cái đinh ấy. Không cần phải nói bà ta không nên đi xin vợ bé cho chồng mà là Giả mẫu không thể xa uyên Ương được. Giả mẫu trách: “Tôi chỉ còn mỗi một người đáng tin cậy, các người lại muốn lấy đi hết nữa sao!” Vấn đề là ở chỗ ấy. Về sau , Giả mẫu mỉa mai Hình phu nhân: “Tôi nghe chị đi làm mối cho chồng chị phải không. Chị làm đảo lộn cả tam tòng tứ đức chỉ vì cái danh người vợ hiền thục thái quá ấy!” Tui nói Hình phu nhân “hiền thục thái quá” nhưng chuyện Hình phu nhân làm mai cưới vợ lẽ cho chồng vào thời đại ấy đúng là một biểu hiện của sự hiền thục. Cũng chính vì cưới vợ lẽ là điều hợp pháp, là tập tục của thời đại ấy, mà Lâm Đại Ngọc sống trong phủ họ Giả cũng không thể thoát khỏi quan niệm đó, nàng không phản đối chế độ đa thê, cho nên nàng không ghen với Tập Nhân. Đó không phải là vì Lâm Đại Ngọc phản đối nền phong kiến không triệt để mà đó là sự phản ánh chân thực đời sống gia đình của một thời đại.
Lâm Đại Ngọc rất chú ý đến quan hệ giữa Bảo Ngọc với Bảo Thoa và Tương Vân, mà không đó kỵ Tập Nhân còn có một nguyên nhân quan trọng là do địa vị thân phận của thê thiếp là phận chủ nô, cưới vợ chính và cưới vợ lẽ là chuyện không giống nhau. Vợ chính chỉ có một, nên nếu Tiết Bảo Thoa hay Sử Tương Vân có quan hệ tình ái với Bảo Ngọc thì nó sẽ đe dọa trực tiếp đến Lâm Đại Ngọc mà một tiểu thư con nhà quý tộc như Lâm Đại Ngọc mà một tiểu thư con nhà quý tộc như Lâm Đại Ngọc không thể nào chấp nhận. Tình huống của người thiếp lại khác, nam chủ nhân dù có năm ba vợ lẽ thì vợ lẽ vẫn là người hầu của vợ chính, theo chế độ tông pháp phong kiến mà nói thì không có gì đe dọa địa vị của người vợ chính cả, tức là nói về mặt hôn nhân tình yêu, Tập Nhân hoàn toàn không phải là đối thủ có thể tranh đoạt Giả bảo Ngọc của Lâm Đại Ngọc, đó là điều do địa vị bản thân của người thiếp quyết định. Lâm Đại Ngọc không những không đố kỵ Tập Nhân mà còn đối với những a hoàn khác có quan hệ mật thiết với Bảo Ngọc cũng có thái độ như vậy. Như hồi thứ 78, Bảo Ngọc soạn “Văn tế phù dung” có các câu như “lụa hồng trong trướng , công tử đa tình”, Lâm Đại ngọc nghe vẫn không giận mà còn khen, “Câu ấy ý rất hay” và cho là “lụa hồng trong trướng” chưa chắc lụa đã chín nên đề nghị Bảo Ngọc sửa là “the hồng bên cửa , công tử đa tình”. Đương nhiên việc sửa lại ở đây ẩn dụ về số mệnh của Lâm Đại Ngọc, nhưng theo Đại Ngọc nói thì nàng không để ý đến sự biểu đạt tình cảm thân mật viết trong điếu văn đối với Tình Văn của Giả Bảo Ngọc. Điều này cùng với việc không đố kỵ Tập Nhân của Đại Ngọc là một điều hữu lý.
Tình yêu của Đại Ngọc và Bảo Ngọc là thứ tình yêu chân thành, tha thiết, họ xây dựng tình yêu ấy trên nền tảng tư tưởng đồng nhất, điều này mang một ý nghĩa lớn về xã hội đương thời và đã đạt đến một trình độ mới. Nhưng đồng thời chúng ta cũng nên xét đến trường hợp của họ chỉ là một đôi nam nữ thanh xuân con nhà quý tộc sống trong phủ họ Giả, cuộc sống tình cảm của họ không thể không mang dấu ấn sâu sắc của thời đại phong kiến. Đại Ngọc không đố kị Tập Nhân là một ví dụ.
Nguồn: www.tvbvnfc.net do classic_season đăng











