TÂM HƯỚNG HỒNG TRẦN VÀ TÂM HƯỚNG PHẬT MÔN
Sunday, July 5, 2009 12:25:56 PM
”Trong HLM có hai nhân vật có phạm vi sinh hoạt và tính cách hoàn toàn tương phản, đó là Diệu Ngọc trong “Hồng Lâu Tam Ngọc” và Tích Xuân trong “Phủ Giả Tứ Xuân”. Diệu Ngọc có thân ở cửa Phật nhưng tâm tại cõi trần, rốt cuộc phải về với cõi trần, còn Tích Xuân thân tại cõi trần như tâm hướng cõi Phật và cuối cùng đã đi theo cõi Phật. Một người dũng cảm ra đi, một người đau khổ trở lại đều là tấn bi kịch bi thương ngang trái . (Hồng lâu tiễn luận)
Đọc đoạn văn trên khiến người ta phải suy nghĩ. Ở đây, chúng ta xem hai cô gái này cùng thuộc trong chính sách thập nhị Kim Thoa cuối cùng định rõ tấn bi kịch của hai cô gái, một theo về với cõi trần , một đi theo hướng cõi phật.
Phần 1: Diệu Ngọc
Diệu Ngọc theo Phật chỉ là sự bắt đắc dĩ, bị động theo Phật đối với cô đúng là một sự ràng buộc về mặt tinh thần. Về lai lịch xuất thân của cô, tiểu thuyết chỉ cho biết qua lời kể của Lâm Chí Hiếu và Hình Tụ Yên. Theo họ nói thì cô Diệu Ngọc vốn là người Tô Châu, tổ tiên cũng xuất thân con nhà sĩ hoạn thi thư. Vì từ nhỏ cô hay bệnh, dù đã mua nhiều người thế thân nhưng bệnh vẫn không khỏi, về sau tự mình vào cửa Phật thì bệnh lành hẳn, thế là cô để tóc đi tu pháp danh Diệu Ngọc. Sau đó cha mẹ đều qua đời, tự thấy bọn quyền thế không ưa, lại không thể yên thân ở chốn quê nhà, cô đành bôn tẩu lên kinh thành. Gặp khi Giả phủ đón Nguyên phi tỉnh thân, cô bèn đến Đại Quan Viên, lúc ấy cô đã mười tám tuổi. Bên cạnh chỉ có hai bà già và một đứa ở nhỏ hầu hạ.Cô văn hay chữ tốt, kinh kệ lầu thông, vóc dáng xinh đẹp.
Là một tiểu thư con quan ngàn vàng, Diệu Ngọc vốn thích hợp với cuộc sống vinh hoa phú quý, vui chơi khoái lạc, không lo không phiền. Nhưng nàng buộc phải xuất gia đầu Phật , bầu bạn với đèn xanh Phật cổ, ngày chuông sớm trống chiều , tâm hồn tự nhiên trở nên buồn rầu ảo não.
Vốn bất đắc dĩ bị cha mẹ gởi vào cửa Phật, tâm hồn cô không thể an định được. Huống hồ nay cô lại đến kinh thành vào sống ở am Lũng Thúy trong Đại Quan Viên. Thế giới bên ngoài của am Lũng Thúy vô cùng tuyệt diệu. Chung quanh phủ Giả đầy tiếng ca thanh đờn địch, thú vui chơi của đám nam thanh nữ tú ở Đại Quan Viên có một sức mê hoặc mãnh liệt đối với cô. Do đó, Diệu Ngọc không thể chuyên tâm tu tĩnh đạo Phật, nàng còn mê luyến và ham thích cuộc sống của cõi nhân sinh vô cùng mạnh mẽ, lòng nàng vẫn bừng cháy tuổi xuân nóng bỏng.
Trong toàn bộ tác phẩm HLM, có tất cả 8 lần nói đến Diệu Ngọc, ngoài hai lần đầu và cuối giới thiệu sự xuất hiện và kết cục , còn lại 6 lần trong đó có đến 5 lần tả Diệu Ngọc đều có liên quan đến Giả Bảo Ngọc. Có thể nói trong 5 lần Diệu Ngọc tiếp xúc với Bảo ngọc, tác giả hầu như lất đó để khắc họa tính cách của cô. Năm lần miêu tả ấy là: lần thứ nhất hồi thứ 41, uống trà ở am Lũng Thúy; lần thứ hai hồi thứ 50 xin hồng mai trong ngày giá tuyết; lần thứ 3 hồi thứ 63 thiệp mừng sinh nhật Bảo Ngọc, lần thứ 4 hồi thứ 87 tại Lục Phong hiên xem cờ vây, nghe đờn bên quán Tiêu Tương, và khi ngồi thiền bị ám ảnh tẩu hỏa nhập ma, lần thứ 5 hồi thứ 95 vì Bảo Ngọc đi cầu tiên. Trong 5 lần ấy, tác giả khi minh khi ám, hoặc đậm hoặc nhạt đều ít nhiều nói về mối quan hệ tế nhị giữa Diệu Ngọc và bảo Ngọc chỉ ra mối dây tình vướng víu giữa Diệu Ngọc ở chốn Phật Môn và Bảo Ngọc ở tại hồng trần. Hai lần sau của người tục biên miêu tả chúng ta tạm gác lại , còn 3 lần trước chúng ta cần suy ngẫm kỹ càng.
Hồi thứ 41, Giả mẫu đưa bà Lưu đến am Lũng Thúy uống trà, đi theo còn có Bảo Ngọc , Đại Ngọc, Bảo Thoa. Bà Lưu là một bà nông dân, dưới con mắt Diệu Ngọc thì bà là tục khách, không chịu được, nên chén trà rót mời bà Lưu uống nàng sợ bẩn không lấy lại đến nỗi Bảo ngọc lấy làm khó chịu, thương cảm cho bà Lưu và yêu cầu Diệu Ngọc cho hẳn bà Lưu cái chén ấy để bà bán kiếm ít tiền độ nhật. Nhưng Diệu Ngọc nói: “- Thôi được. May tôi chưa uống đến cái chén ấy bao giờ. Đã uống rồi thì tôi đập đi, không khi nào đem cho bà ấy. Cậu muốn cho bà ấy, xin mang ngay đi.” Như vậy có thể thấy trong số những người uống trà trước nay, bà Lưu là hạng thấp nhất. Giả mẫu vốn là “lão tổ tông” của Giả phủ, bà là “thái thượng hoàng”, địa vị của bà rất cao, ai dám không trọng, ai dám không kính! Tuy Diệu Ngọc dùng cái chén Thanh Châu năm màu và pha loại trà “lão quân mi” tự tay dâng lên, nhưng trong mắt Diệu Ngọc, bà già này cũng chỉ có thể xếp vào hạng ba, nghĩa là trên Bà Lưu một cấp thôi, còn hạng nhì là Đại Ngọc và Bảo Thoa, họ được mời uống loại trà “kê kỷ hoa”. Còn hạng cao nhất tự nhiên là Bảo Ngọc rồi , và Diệu Ngọc có chủ ý “lấy chén ngọc xanh của mình thường dùng pha cho Bảo Ngọc”, chi tiết này có thể gọi là cô đã có tình cảm đặc biệt rồi vậy. Điều đó cho thấy chàng thanh niên xinh đẹp phong lưu, thoải mái này đã chiếm một vị trí quan trọng trong tâm hồn của Diệu Ngọc. Khi Giả mẫu rời am Lũng Thúy ra về, Diệu Ngọc “cũng không giữ lại, chỉ đưa Giả mẫu đến ngoài cửa rồi dùng nước sạch tẩy uế, đấy cũng chứng tỏ cô có ý miệt thị những kẻ quan quyền quý tộc, bọn tục khách chốn hồng trần, và cũng chứng tỏ cô là người trong sạch, thanh khiết. Nhưng chính cô lại lấy cái chén “ngọc xanh” của mình thường dùng mà rót trà mời vị khác thiếu niên khac phái nọ. Còn pha trà cho Đại Ngọc và Bảo Thoa thì dùng hai chén quý nhất trên đời là “điểm bình kiều” và “cô bạc giá”. Điều này chẳng phải nói rõ trong lòng Diệu Ngọc đã có một thứ cảm mến đặc biệt đối với Bảo Ngọc đó sao? Rốt cuộc, Diệu Ngọc thân tại cửa Phật mà lòng tại cõi trần, cái bộ áo cà sa kia khó có thể ngăn cản cô có tình ý với Bảo Ngọc, hình thức dùng chén pha trà mời Bảo Ngọc như thế rõ ràng biểu hiện sự dũng cảm của cô vượt ra khỏi cửa Phật và vượt ra khỏi những vây bọc của chốn tu hành để hướng về Bảo Ngọc hầu thể hiện những tình ý đặc biệt của cô. Nhưng Bảo Ngọc không dễ dàng thấu suốt nỗi khổ tâm của Diệu Ngọc bởi vì chính chiếc áo cà sa trên người và chuỗi tràng hạt trên cổ của Diệu Ngọc đã che khất tầm nhìn của Bảo Ngọc.
Hồi thứ 50, chi tiết Bảo Ngọc đi xin cành hồng mai ở chỗ Diệu Ngọc cũng nói ra mối quan hệ vi diệu giữa hai người. Bảo Ngọc nhân làm câu đối không đạt bị Lý Hoàn đánh hỏng, tự mình thừa nhận không biết làm câu đối, mong xã trưởng Lý Hoàn nới tay nhưng Lý Hoàn lại phạt chàng phải đến am Lũng Thúy của Diệu Ngọc xin về một cành hồng mai. Mọi người cho lối xử phạt ấy vừa nhã vừa thú. Bảo Ngọc vui vẻ đáp ứng. Lý Hoàn bảo cho người đi theo nhưng Đại Ngọc ngăn lại nói: “Không cần, có người đi theo sẽ không xin được hoa đâu. “ Khi Bảo Ngọc đi rồi, mọi người bàn luận tiêu đề bài thơ chờ khi Bảo Ngọc về sẽ thực hiện. Tương Vân nói: “Bắt anh ấy làm bài thơ “Đến thăm Diệu Ngọc xin cành hồng mai” Như thế chẳng thú lắm sao! Lát sau, quả nhiên Bảo Ngọc xin được cành mai hớn hở đem về, mọi người khen ngợi. Bảo Ngọc cười nói: “Bây giờ chị em thưởng ngoạn đi. Không biết tôi đã mất bao nhiêu hơi sức mới xin được đấy” Vì sao Bảo Ngọc nghe nói liền đội tuyết đi xin? Vì sao Đại Ngọc nói có người đi theo không xin được hoa? Vì sao Bảo Ngọc trở về lại nói mất bao nhiêu hơi sức? Vì sao Diệu Ngọc lại có thể bẻ cành hồng mai xinh đẹp như thế đem cho Bảo Ngọc? Những điều ấy đáng để cho quý độc giả suy ngẫm, những điều ấy ít ra cũng nói rõ giữa Bảo Ngọc, Diệu Ngọc đã có tình cảm tốt đẹp với nhau rồi.
Hồi thứ 63, bốn người Bảo Ngọc, Bảo Cầm, Tụ Yên, Bình Nhi cùng một ngày sinh nhật. Tụ Yên vốn có quan hệ vừa bạn vừa thầy với Diệu Ngọc, nàng giới thiệu về Diệu ngọc như sau:
“Chúng tôi đã ở gần nhau hàng mười năm trời, chỉ cách nhau có một cái tường thôi. Cô ấy tu ở chùa Bàn Hương, nhà tôi vốn nghèo, phải thuê một gian buồng ở trong chùa ấy suốt mười năm. Lúc rỗi tôi thường đến chơi với cô ấy. Tôi biết ít chữ cũng là nhờ cô ấy dạy cho cả. Tôi đối với cô ấy đã là bạn chơi lúc nghèo hèn, lại có tình thầy trò nữa. Khi chúng tôi đi đến nhà cô tôi, có nghe nói cô ấy không hợp với đời, bọn quyền thế không ưa, nên phải đến ở đây. May sao chúng tôi lại gặp nhau, tình cũ vẫn chưa thay đổi, cô ấy đối với tôi mối tình lại hơn ngày trước.”
Xem thế đủ thấy hai người biết nhau từ lâu, tình nghĩa mặn nồng nhưng Diệu Ngọc đối với ngày sinh nhật của Tụ yên lại không thể hiện điều gì, trong khi đó, viết thiếp mừng sinh nhật Bảo Ngọc: “Người ngoài cửa là Diệu Ngọc kính chúc sinh nhật”. Điều này chứng tỏ mối tình đã chớm, cõi lòng khó bình ổn, thế là nàng chủ động hiến dâng cho Bảo Ngọc cả tấm chân tình của mình. Nhưng Bảo Ngọc lại không hiểu tâm lý Diệu Ngọc, cầm tấm thiếp đưa cho Tụ yên xem, Tụ Yên cho là Diệu Ngọc vẫn giữ thói ngông kỳ quặc viết thiếp mà lại để biệt hiệu thật đúng như tục ngữ thường nói: “Tăng không phải tăng, tục không phải tục, gái không phải gái, trai không phải trai”. Thực ra Tụ Yên hiểu lầm ý Diệu Ngọc. Tiểu thuyết nhân chi tiết này mà chú trọng miêu tả Diệu Ngọc tuy thân tại Phật môn mà tâm hướng cõi trần như thế nào, và cho thấy trong lòng Diệu Ngọc đã manh nha theo đuổi tình yêu.
Những tình thơ ý họa rong Đại Quan viên có một sức hấp dẫn đối với Diệu Ngọc vì khí chất, tài hoa, cốt cách của cô có nét giống với những cô gái trong vườn Đại Quan. Hồi thứ 76, Đại Ngọc và Tương Vân làm thơ liên cú ở quán Ao tinh hầu như suốt một đêm. Và trong đêm ấy, Diệu Ngọc cũng không ngủ được, từ Đại Quan viên, tiếng đờn ca địch thổi vang vọng hấp dẫn cô, dưới ánh trăng thu như làn lụa mỏng, cô đứng một mình trên lan can, bên cạnh núi đá yên lặng thưởng thức những câu thơ liên cú “thanh nhã dị thường” của Đại Ngọc và Tương Vân. Khi hai người đọc xong câu “Hàn đường độ hạc ảnh” (bóng hạc qua ao lạnh) và “Lãnh nguyệt táng thi hồn” (hồn thơ chôn chặt dưới vành trăng trong) rồi cùng nhau xưng tụng hay lạ và có thi nghệ cao diệu thì lúc ấy có một bóng người từ sau núi đá phía ngoài lan can đi ra, cười nói: “- Thơ hay lắm, hay lắm! Nhưng buồn thảm quá, không nên làm tiếp nữa. Nếu cuối bài cứ thế thì không nổi bật được hai câu này, lại thành ra gò ép.” Hai người đang không để ý, giật nẩy mình, nhìn kỹ ra không phải ai lạ, chính là Diệu Ngọc. Thế là ba người cùng đi đến am Lũng Thúy uống trà. Diệu Ngọc yêu cầu Đại Ngọc và Tương Vân đọc lại tất cả những câu thơ liên cú, cô tự tay lấy giấy bút ghi lại từ đầu đến cuối. Sau đó thi hứng bột khởi, cô làm luôn một hơi mười ba vần rồi cộng với hai mươi hai vần nữa thành ba mươi lăm vần, bảy mươi câu. Đại Ngọc, Tương Vân không ngớt khen ngợi. Họ nói: “- Thế mới biết ngày nào chúng ta cũng bỏ chỗ gần đi tìm chỗ xa. Hiện có bậc thi nhân ở đây, mình lại cứ “bàn việc binh trên giấy”. Trời gần sáng, hai người từ giả Diệu Ngọc ra về, lúc ấy “Diệu Ngọc tiễn chân ra đến cửa ngoài, chờ cho họ đi xa rồi mới đóng cửa trở vào.”Thật khác với cảnh tiễn Giả mẫu uống trà năm nọ.
Những câu thơ làm nối của Diệu Ngọc phản ánh rõ ràng thế giới nội tâm của cô. Cô vốn có cảm nhận sâu sắc đối với những câu thơ buồn thảm của Đại ngọc và Tương Vân rồi tự mình cao hứng làm tiếp mười ba vần nữa như muốn “xoay chuyển” tứ thơ sầu não, ai oán của hai người nhưng do đêm sắp tàn, ngày sắp lên, bèn nghĩ tiếng gà gáy sáng, tiếng chuông mai lảnh lót mà lòng thì trĩu nặng khổ đau, nên những câu thơ của cô lại hiện ra những giai điệu ai oán thê lương hơn. Ví dụ như:
Ôm chăn nhờ có a hoàn ủ cho.
Màn không, phượng những thẫn thờ,
Bình phong quạnh quẽ, uyên vơ vẩn hồn.
Rêu kia móc đọng, thêm nhờn,
Trúc kia sương nặng càng trơn khó cầm.”
Đặc biệt là hai câu
Thú vui sao phải nhỏ to cùng người!”
Đã nói ra nỗi cô tịch của cô trong những năm dài của tuổi thanh xuân tu tập ở cửa Phật đã thể hiện khối u uất , sầu oán, và nỗi buồn phiền không biết ngỏ cùng ai của cô. Ba cô gái son trẻ ấy đều là những người không cha không mẹ, đều là kẻ ăn nhờ ở đậu, xa gia đình, xa người thân. Đối mặt với vầng trăng thu vành vạnh xa xa nghe tiếng đờn tiếng sáo vang vọng, nỗi lòng cuồn cuộn, tự lấy thơ mình để bày tỏ nỗi bất hạnh của thế nhân, bộc lộ nỗi u sầu trong tâm khảm. Cảnh ấy tình này, thật khiến cho nỗi lòng người đọc mai sau xúc động dâng trào, vì họ mà thương cảm, vì họ mà nhỏ lệ.
Cuộc đời Diệu Ngọc đúng là bi kịch , cái bi kịch ấy chính là bi kịch của tính cách, bi kịch của thời đại. Tào Tuyết Cần nêu ra cái bi kịch ấy một cách hình tượng mà sâu sắc qua lời phán từ và đoản khúc về cô như sau:
Rằng không chửa hẳn không.
Thương thay mình vàng ngọc,
Bùn lầy sa vào trong.
Và
Chỉ hiềm cô tịch, tình trời bẩm sinh.
Cho là ăn thịt(23) hôi tanh,
Lụa the, là lượt, coi khinh không thèm.
Biết đâu cao quá. đời ghen,
Biết đâu sạch quá, đời khen da mà.
Đàn xanh, đền cổ, nguờí già,
Uổng công trang điểm, xuân đà kém xuân.
Ngán cho cái kiếp phong trần,
Sau này cũng lại xấu dần mãi đi.
Ngọc kia bùn trát đen sì,
Vương tôn công tử còn gì là duyên.
Lời phán từ và đoản khúc “thế nan dung” nêu trên ca ngợi tính cách trong sạch thanh cao, tài năng xuất chúng của Diệu Ngọc đã dự báo một kết cục bi thảm, có nghĩa là tác giả hầu như có mối đồng cảm sâu sắc đối với nhân vật nữ bất hạnh này, đọc lên đôi khi khiến người ta rơi lệ.
Phần 2: Tích Xuân
Tích Xuân là một trong 4 tiểu thư của Giả phủ, cô là con của Giả Kính, và em ruột của Giả Trân. Con đường cô theo đuổi hoàn toàn khác với Diệu Ngọc: thân tuy ở hồng trần nhưng tâm hướng cõi Phật, và cuối cùng cô đã rời bỏ trần tục mà xuất gia đầu phật.
Tên của Tích Xuân được nói đến lần đầu ở hồi thứ 2 nhưng đến hồi thứ ba mới ra mặt, tiểu thuyết miêu tả rất ít về cô, nhưng không vì tình tiết, sự chuyện ít oi mà tính cách không bộc lộ. Tiểu thuyết lợi dụng cái ít oi về khuôn khổ và sự chuyện ấy mà khắc họa đặc trưng tính cách cô độc, lãnh đạm của cô.
Từ nhỏ, Tích Xuân không có mẹ, cha là Giả Kính thì chỉ lo tu đạo cầu tiên, nên nàng mất hẳn tình yêu thương ấp ủ của cha và mẹ từ lúc còn tấm bé. Cũng may sau này Giả mẫu đem về ở cạnh mình nuôi nấng dạy bảo. Tuy có anh ruột và chị dâu nhưng cô không muốn qua lại với họ. Cách sống ấy khiến cô trở thành cô độc, tất cả đối với cô đều trở nên lạnh nhạt.
Ở hồi thứ 3, cô cùng xuất hiện với Nghênh Xuân, Thám Xuân, tiểu thuyết tả cô và hai chị cùng trang điểm giống nhau, nhưng cô “vóc người chưa cao, thân hình còn nhỏ” điều này chứng tỏ Tích Xuân tuổi còn rất íy, đóa hoa nhỏ nhoi ấy còn chưa nở thì tính cách đã có gì để nói.
Đến hồi thứ 7, bà Chu đem cung hoa cho Tích Xuân ở chi tiết này, tiểu thuyết viết:
Chỉ gặp Tích Xuân đang cười đùa với sư cô Trí Năng ở am Thủy Nguyệt. Trông thấy bà Chu đến, Tích Xuân hỏi có việc gì. Bà Chu mở hộp ra nói việc Tiết phu nhân sai đem hoa đến cho. Tích Xuân cười nói:
- Tôi đương nói với Trí Năng, ngày mai sẽ cắt tóc theo cô ấy đi tu. Rõ khéo chưa? Giờ lại mang hoa đến! đã cắt tóc thì còn cài hoa vào đâu nữa?
Mọi người cười ầm lên, Tích Xuân sai a hoàn cất hoa đi.
Qua chi tiết trên, tác giả đã khắc họa một cách hình tượng nét vui thú ngây thơ , hồn nhiên mộc mặc, trong sáng ngay thẳng của Tích Xuân, rất có cá tính, đồng thời bản thân ngôn ngữ cũng rất dí dỏm, trong đó câu nói “ngày mai sẽ cắt tóc theo cô ấy đi tu” là một lời dự đoán sau này tác phẩm sẽ miêu tả cô xuất gia đầu Phật.
Lúc Nguyên Xuân về tỉnh thân, Tích Xuân cùng với các chị “tùy theo thứ tự ra mắt”. Cô đã làm bài thơ rằng:
Lâu đài cao ngất giữa từng mây
Sánh cùng nhật nguyệt cùng tươi sáng
Bác thợ trời kia cũng kém tài
Tuổi nhỏ, thơ chuẩn và rất có khí thế, mà cảm nhận về hình ảnh cũng rất mạnh đồng thời có chú ý vận dụng sự biến hóa của không gian, màu sắc, cảnh quang, bài thơ có chất thi họa kết hợp chất tài tình. Tác giả mượn đó để sau này miêu tả chi tiết Tích Xuân vẽ “Đại Quan viên hành lạc đồ”, đấy cũng là cách thiết kế tác phẩm.
Hồi thứ 22, Tích Xuân làm câu đố đèn nhân ngày nguyên tiêu như thế này:
Nghe ca không thích thích nghe kinh
Đừng cho thân đã chìm trong bể
Tính vẫn còn nguyên chữ tính linh”
Cuối câu đó là lời giải: “Phật tiên hải đăng” (cây đèn biển trước tượng Phật). Gọi là “Phật tiền hài đăng” tức là cây đèn lớn treo trước tượng Phật ở các đèn chùa, miếu vũ, bụng đèn chứa đầy dầu, một ngọn lữa cháy lên tuy không tỏa sáng lắm nhưng sáng mãi không tắt rõ ràng câu đố đèn ấy là một lời sấm ngữ, dự đoán sau này Tích Xuân xuất gia làm ni cô, điều này cộng với lời nói của cô ở hồi thứ 7 là hoàn toàn khớp nhau.
Về tình tiết, sự chuyện của Tích Xuân tập trung ở hai nơi. Một ở hồi thứ 40 và 42, một ở hồi thứ 74 “Thề giữ đoan nghiêm rào lấp phủ Ninh quốc”.
Hồi thứ 40 và 42 chủ yếu thể hiện tài năng nghệ thuật của Tích Xuân, giỏi hội họa. Tích Xuân dần dần lớn lên, cô có tham gia “Hải đường thi xã” với biệt hiệu là Ngẫu Tạ. Trong hoạt động của thi xã , cô không làm thơ mà nhiệm vụ chủ yếu là tinh tả và giám sát. Nhưng về hội họa cô là sở trường. Cô là người biết vẽ duy nhất trong số các chị em. Bảo Thoa tuy hiểu rộng biết nhiều về hội họa, nhưng tiểu thuyết không miêu tả khả năng thực tế về hội họa của nàng, và nàng cũng chưa từng vẽ bao giờ. Bà Lưu đến Đại Quan viên mới làm cho những người ở trong vườn mở rộng tầm nhìn khi bà cảm khái nói ra cái vườn này còn đẹp hơn cả một bức tranh rồi đem cho bà con ở quê nhìn ngắm thì có chết cũng mãn nguyện. Giả mẫu nghe thế rất cao hứng liền chỉ qua Tích Xuân và nói với bà Lưu: “Bà xem, con cháu nội tôi đây, nó biết vẽ đấy. Mai mốt bảo nó vẽ một bức bà thấy thế nào?” Bà Lưu nghe nói, vui vẻ chạy lại cầm tay Tích Xuân nói: “Cô ơi! Cô mới chừng ấy tuổi, mà vừa xinh đẹp lại vừa có tài vẽ, chẳng phải là thần tiên giáng thế hay sao?” Tiếp đó, tiểu thuyết còn đề cập trên đến mấy lần Giả mẫu quan tâm đến bức họa đó như thế nào, và đích thân chỉ thị cần phải vẽ người lên bức họa giống như một bức tranh đang vui chơi thật. Thế là các chị em cùng bàn bạc công tác chuẩn bị ra sao.Chung quanh chuyện vẽ bức tranh này như thế nào, tiểu thuyết đã khắc họa được đặc trưng tính cách của một số nhân vật đồng thời chú trọng nêu ra một số mặt trái thường ít thấy của một số nhân vật. Nhưng bức tranh ấy Tích Xuân cũng chưa vẽ xong, có phải vì Tào Tuyết Cần chưa tả kịp chăng? Hay tác giả không có ý tả tiếp nữa? Hoặc giả trong đó có một nguyên nhân nào khác chăng? Điều đó, đã trở thành một cái áo treo vậy. Chúng tôi cho rằng cứ như tính cách cô độc, lạnh nhạt của Tích Xuân cộng thêm với những biến cố sau này của phủ họ Giả, cô không thể vẽ bức tranh ấy ra được. Trước đấy Đại Ngọc đã từng trêu đùa Tích Xuân: “- Cứ lẽ ra thì một năm cũng chẳng lấy gì làm nhiều, cái vườn này một năm mới xây dựng xong. Bây giờ muốn vẽ cũng phải mất hai năm, vì còn phải mài mực dầm bút, trải giấy, tô màu, lại còn phải... Lại còn phải theo đúng kiểu, thong thả vẽ, thế mà không đến hai năm à.”
Còn nữa, Bảo Thoa kê một danh mục dài dằng dặc và nói một thôi lý luận về hội họa , hầu như đều muốn ngầm bảo bức tranh vui chơi ấy không thể ra đời được, tiểu thuyết chẳng qua chỉ mượn cớ để tả người mà thôi.
Hồi thứ 74 tập trung khắc họa đặc điểm tính cách cô độc, lãnh đạm của Tích Xuân. Cô vốn không thích với mọi người, lại không muốn hỏi han chuyện này, chuyện khác, cô chỉ thích đắm mình trong sách vẽ, sách cờ. Nhưng sự kiện tra xét Đại Quan Viên đã đẩy cô vào cuộc thị phi. Chuyện tranh cãi ầm ỹ này thực chất chỉ là quyền lợi gia chính giữa hai chị em dâu Vương phu nhân và hình phu nhân nhưng kết quả lại là sự ngược đãi và trục xuất một loạt những đứa hầu gái, trong đó có Nhập Họa a hoàn của Tích Xuân. Lý do vì trong rương của Nhập Họa khi soát xét thấy một bao lớn ba bốn chục khóa bạc, một cái đai ngọc và một bọc bít tất đàn ông. Thật ra đó là những thứ của Giả Trân thưởng cho anh của Nhập Họa. Vương Hy Phượng và Vưu thị cho là Nhập họa thực giữ hộ cho anh , tuy có sai nhưng cũng có thể dung thứ và nói sau này không được làm như thế nữa. Nhưng Tích Xuân lại không tha cho Nhập Họa, cô cho rằng những thứ ấy từ chỗ anh ruột và chị dâu mang về đã làm mất mặt mình, và sợ anh chị ấy ở phủ Ninh Quốc cho mình không sạch nên cô yêu cầu Vương Hy Phượng xử trí Nhập Họa, buộc Vưu thị đem Nhập Họa đi, thậm chí còn nói: “- Tôi chả biết gì cả. Như thế sao được! Chị Hai muốn đánh nó, cứ việc lôi nó ra mà đánh. Những câu nó nói, tôi nghe chối cả tai.” Và “- Chị đừng tha nó, ở đây nhiều người, nếu không trừng trị, những đứa lớn trông thấy, không biết còn xảy ra thế nào nữa kia. Chị tha nó, tôi cũng không tha!”. Thế rồi tiến đến cắt đứt quan hệ với anh và chị dâu. Do đó Vưu thị mới nói Tích Xuân là con người “vô tình lạnh nhạt”. Tiểu thuyết thông qua chi tiết này đã khắc họa đặc trưng tính cách cô độc tự trọng, nhát gan, sợ chuyện, chỉ lo cho mình, lạnh nhạt vô tình của Tích Xuân.
Trong chuyện này, khi Tích Xuân và Vưu Thị tranh cãi:
Vưu Thị nghe nói, vừa tức, vừa buồn cười, nói với mọi người đứng ở đấy:
- Thảo nào ai cũng bảo cô Tư trẻ tuổi hồ đồ
Tích Xuân cười nhạt:
- Tuổi tôi tuy còn thơ ngây, nhưng lời nói thì không thơ ngây đâu. Các người không học, không biết chữ, đều là hạng ngốc cả, thế lại bảo tôi hồ đồ!
Vưu Thị nói:
- Cô là trạng nguyên, thám hoa, là tài tử hạng nhất! Chúng tôi chỉ là hạng người lẩn thẩn, không được sáng suốt như cô!
- Trạng nguyên, thám hoa mà không có người lẩn thẩn à? Thế mới biết các chị đều là người tục cả.
- Giỏi lắm, giỏi lắm! Vừa mới là tài tử, giờ lại thành ra hòa thượng bàn đến giác ngộ rồi.(1)
- Tôi chẳng giác ngộ gì cả. Tôi xem người bây giờ đều như hạng Nhập Họa hết.
Trong đoạn đối thoại này, có thể thấy tác giả ngầm bảo với chúng ta sau này Tích Xuân sẽ rời bỏ chốn hồng trần để theo Phật tổ.
Tích Xuân với vẻ vô tình lạnh nhạt ấy quan sát mọi việc xảy ra chung quanh cô, cô thấy được cái buồn trong niềm vui khi chị cả nguyên Xuân về tỉnh thân, thấy được chị hai Nghênh Xuân sau khi lấy Tôn Triệu Tổ sẽ bị ngược đãi, thấy được chị ba Thám Xuân lấy chồng xa không thể trở về nữa. Ngoài ra cô còn thấy được Tương vân sớm trở thành góa bụa, Đại Ngọc sẽ chết yểu, thậm chí còn thấy được phủ Giả bị tra xét. Tất cả thật đáng sợ và đáng buồn! Còn số phận của cô sẽ như thế nào?Ắt hẳng cô không thể không lo nghĩ
Thời trang đổi lấy áo cà sa
Thương thay con gái nhà khuê các
Một ngọn đèn xanh cạnh Phật bà”
Thái độ lãnh đạm đối với thế sự nhân tình như vậy của Tích Xuân nhất là sau khi thấy nhà họ Giả suy bại, tất nhiên lòng cô nguội lạnh, muốn bỏ đời theo Phật, đúng như bức họa ở mặt sau lời phán từ trong hồi thứ 5: “vẽ một tòa miếu cổ, trong miếu có một mỹ nhân ngồi xem kinh”. Đó chính là kết cục của Tích Xuân.
Miêu tả kết cục của Tích Xuân ở những 40 hồi sau của tác giả tục biên, về cơ bản gần như trung thực với nguyên ý của Tào Tuyết Cần. Nhưng không phải Tích Xuân đến tu ở một ngôi miếu cổ mà đến tu ở am Lũng thúy trong Đại Quan Viên ngay chỗ Diệu Ngọc đã tu tĩnh cho nên chất bi kịch có phần nhạt bớt đi. Trong khi đó Diệu Ngọc từ am Lũng thúy ra đi, trở về với chốn hồng trần còn Tích Xuân thì bước vào am lũng thúy đi theo với Phật tổ.
Tóm lại cho dù Diệu Ngọc thân tại cửa Phật mà tâm đã hướng hồng trần thì rốt cuộc cũng phải ra khỏi cõi Phật để thao về với cõi trần, còn tích Xuân tâm đã hướng cõi Phật thì cuối cùng cũng theo về với Phật tổ. Kết cục của họ cũng đều là bi kịch, có thể nói là bi kịch của tính cách, cũng là bi kịch của thời đại. Kết cục bi thảm của hai người xem ra không giống nhau nhưng kỳ thực chỉ là một, bất luận họ đi theo con đường nào kết cục vẫn bi thảm vậy.
Nguồn: www.tvbvnfc.net do classic_season đăng











