TIẾT BẢO THOA LUẬN VỀ HỌA
Sunday, July 5, 2009 12:25:58 PM

Thơ và họa xưa nay là có mối tương quan về mặt nghệ thuật nên thậm chí có người cho rằng họa là thơ có hình và thơ là họa vô ảnh. Tô Thức, đại thi nhân đời Tống từng nói : “Thi trung hữu họa, họa trung hữu thi” để đánh giá thành tựu nghệ thuật về phong cách đặc sắc trong thơ Vương Duy. Trong “Hồng Lâu Mộng” nhân vật Tiết Bảo Thoa vừa am tường về thơ vừa giỏi làm thơ, nhung về hội họa nàng cũng có những kiến giải rất đặc sắc. hồi thứ 42, tác giả “Hồng Lâu Mộng” đã biểu hiện đậm nét tài năng xuất chúng về phương diện này của Bảo Thoa, đọc lên rất thú vị và có phần gợi mở.
Về nguyên liệu và dụng cụ dùng trong hội họa Tiết Bảo Thoa rất sành sỏi, thể hiện một nét đặc điểm nhà nghề. Đối với giấy vẽ , nàng rất thạo. Khi bàn về giấy dùng để vẽ bức họa cảnh vui chơi trong Đại Quan Viên (Đại quan viên hành lạc đồ) nên dùng giấy gì, Bảo Ngọc nói: “Bảo Ngọc nói:- Ở nhà có giấy tuyết lãng, vừa rộng khổ, vừa ăn mực.Bảo Thoa cười nhạt: - Anh thật là vô dụng! Giấy tuyết lãng để viết chữ, để vẽ bức họa tả ý, hoặc để người biết vẽ sơn thủy vẽ tranh sơn thủy nhà Nam Tống, giấy vừa ăn mực mà lại không nhăn nhòe. Nếu vẽ vườn này bằng giấy ấy thì không ăn màu, lại khó khô, vẽ cũng không đẹp, phí cả giấy. Tôi bảo anh cách này: trước khi xây dựng cái vườn đã có một bức bản đồ vẽ tỉ mỉ rồi. Tuy là thợ vẽ vẽ ra, nhưng khuôn khổ, phương hướng đều rất đúng cả. Anh vào xin bà Hai bức vẽ ấy, đem ra xem rộng hẹp thế nào, rồi bảo chị Phượng cho một mảnh lụa, mang ra bên ngoài cho các họa sư bảo họ cứ theo khuôn khổ bức vẽ ấy, thêm bớt thành một bức vẽ, sau thêm nhân vật vào là được. Rõ ràng lời nói có kinh nghiệm trong nghề.
Chúng ta thử xem Bảo Thoa kê ra những nguyên liệu và dụng cũ vẽ tranh cho Tích Xuân thì đủ thấy Bảo Thoa hiểu biết rất tinh tường về hội họa như thế nào: - Bút quét loại nhất bốn chiếc, loại nhì bốn chiếc, loại ba bốn chiếc; bút chấm loại lớn bốn chiếc, loại vừa bốn chiếc, loại nhỏ bốn chiếc; bút vắt ngòi lớn mười chiếc, vắt ngòi nhỏ mười chiếc; bút kẻ mày mười chiếc, bút tô màu loại lớn hai mươi chiếc, loại nhỏ hai mươi chiếc; bút vẽ mặt mười chiếc, bút cành liễu hai mươi chiếc; son nhọn đầu, son nam, thạch hoàng, thạch thanh, thạch lục, quản hoàng, mỗi thứ bốn lạng; quảng hoa tám lạng, bột chì bốn hộp, phấn yên chi mười hai thếp; bột đỏ, bột lá mạ mỗi thứ hai trăm thếp; keo quảng quân, phèn lọc mỗi thứ bốn lạng. Keo phèn để quét lụa không kể, cứ đưa lụa cho họ để họ quét lấy. Những thuốc pha màu ấy, chúng ta phải nghiền nhỏ lọc sạch. Như thế vừa chơi vừa dùng, cô có thể dùng trọn đời cũng đủ. Lại phải lấy vợt lụa mau bốn cái, vợt lụa thưa hai cái; gác bút bốn cái, bát nghiền to nhỏ bốn cái, bát sành lớn hai mươi cái, đĩa to năm tấc mười cái đĩa sành trắng hai mươi cái, lò hai cái, nồi đất lớn nhỏ bốn cái, vại mới hai cái, thùng đựng nước mới hai cái, túi vải trắng dài một thước bốn cái, than xốp hai mươi cân, than gỗ liễu vài cân, hòm ba ngăn một cái, lụa dày một trượng, gừng sống hai lạng, tương nửa cân.” Nói một hơi, Bảo Thoa kê ra một danh sách dài bao gồm hầu hết những nguyên liệu và dụng cụ dùng trong hội họa đủ thấy nếu không thông hiểu không thể nói ra như thế được. Về phương diện này hầu như nàng đã thuộc nằm lòng, khi đọc lên khiến ta bội phục kiến văn quảng bác của Tiết Bảo Thoa. Diêu Tiếp trong “Thạch đầu ký” có phê: “Xem Tuết Bảo Thoa luận về hội họa, quả đúng là một họa sư. Người ngoài ngành không thể nói như vậy.” Lời bình luận thật hữu lý. Thử so sánh với Lâm Đại Ngọc, hầu như Đại Ngọc không nghiên cứu sâu về hội họa như Bảo Thoa. Khi nghe Bảo Thoa nói “gừng sống hai lạng, tương nửa cân.”Đại Ngọc cười nói:- Chảo một cái, bàn sản một cái.Bảo Thoa không hiểu ý thế nào. Đại Ngọc nói : “Chị bảo cần có gừng sống và tương thì tôi bảo lấy chảo hộ chị để nấu những thứ màu ấy mà ăn.” Mọi người đấu cười ầm lên. Bảo Thoa cười nói:- Cô thì biết cái gì? Những cái đĩa sành ấy không chịu được lửa, nếu không lấy nước gừng và tương xát dưới đáy trước mà đem đốt, gặp lửa một cái là nó nổ ngay.
Mọi người đều nói: “Phải đấy”. Cuộc đối thoại mang màu sắc khôi hài đùa cợt ấy, thông qua thủ pháp tô điểm so sánh, càng làm nổi bật sự hiểu biết rành rẽ của Bảo Thoa về nguyên liệu và công việc chuẩn bị để vẽ một bức tranh, trong đó đặc điểm biết rộng hiểu nhiều được thể hiện một cách rất hình tượng. Đồng thời qua một bản kê dài và qua lời đối thoại của Bảo Thoa, chúng ta có thể thấy nàng suy nghĩ rất tỉ mỉ, liệu việc chu đáo tường tận, thông hiểu đặc điểm tính chất một cách toàn diện, chả trách sau này nàng giúp một tay đắc lực cho Thám Xuân, Lý Hoàn điều hành việc nhà, đồng thời lo liệu việc đâu ra đấy , được mọi người trong phủ ca ngợi.
Điều làm chúng ta càng bội phục hơn nữa là những kiến giải về bản thân hội họa của Tiết Bảo Thoa. Chúng ta hãy nghe nàng trình bày: “Bây giờ vẽ cái vườn, nếu trong bụng không có một hiểu biết rộng thì vẽ sao nổi. Cái vườn này cũng giống như bức tranh, nào là đá núi, cây cối, nào là lâu đài nhà cửa, gần xa, thưa nhặt, đừng ít quá cũng đừng nhiều quá mà phải đúng mức. Nếu cứ theo thế vẽ lên trên giấy thì đẹp làm sao được. Phải xem khuôn khổ tờ giấy, nên để xa gần, nhiều ít thế nào, nên chia phần chính phần phụ ra sao, chỗ nào đáng thêm thì thêm, chỗ nào đáng bỏ, đáng bớt thì bỏ đi, bớt đi, cái gì đáng để lộ mới để lộ. Bắt đầu phải vẽ phác rồi ngắm nghía tính toán cẩn thận, mới thành công được bức vẽ. Điều thứ hai là, lâu đài nhà cửa phải chia giới hạn, sơ ý một tí là bao lan cũng lệch, cột cũng nghiêng, cửa sổ sẽ dựng ngược lên, thềm cũng không đúng chỗ, thậm chí bàn ghế cũng chen lên tường, chậu hoa bày ở trên màn. Như thế chẳng phải là vẽ ra một bức tranh để cười ư? Điều thứ ba là, phải xếp đặt nhân vật thưa hay nhặt, cao hay thấp, đều cho đúng chỗ. Nếp quần, dây lưng, ngón tay, bước chân cũng rất quan trọng; nếu sai một nét, không sưng tay cũng hóa kiễng chân, đến như bộ mặt mái tóc chỉ là việc nhỏ…” Lời bàn trên là lời bàn trứ danh về hội họa trong HLM rất được nhiều người sau chú ý. Trong đoạn này có thể bao gồm những nội dung về mấy phương diện sau : “Người xưa suy nghĩ sâu xa phát hiện không ngừng tìm ra ý mới, tạo ra cảnh mới, tất cả đều có vị trí, bố cục trước ở trong đầu” Và phải có suy nghĩ sâu xa mới có thể vẽ được toàn cảnh bức tranh vui chơi trong Đại Quan Viên. Thứ hai, nói sự chân thực của cuộc sống hoàn toàn không phải trông chờ vào sự chân thực của nghệ thật, không thể hoàn toàn dựa vào nguyên mẫu của cuộc sống, không phải đem cuộc sống phục chế lại một cách bất di bất dịch, nếu cứ thế mà sáng tác hội họa thì bức tranh sẽ giống hệt như thật và như thế không thể đạt được hiệu quả nghệ thuật một cách khả quan. Thứ ba, nghệ thuật cần phải chú trọng đến sự tái tạo cuộc sống. Sáng tạo nghệ thuật cần phải dụng công và mang chất khái quát , cần làm rõ ngôi vị chủ - khách, chúng tô điểm cho nhau, ẩn hiện kết hợp, thưa nhặt thỏa đáng, tăng giảm đúng mực, cần chú ý đến tính chân thật của những chi tiết nhỏ nhặt, hoàn toàn không được qua loa đại khái. Cách kiến giải như thế có thể nói là đã đạt trình độ hiểu biết rất cao, đó cũng là tổng kết sâu sắc về kinh nghiệm hội họa cổ đại Trung Quốc, nó có ý nghĩa không những đối với sáng tác hội họa mà còn mở rộng cho các ngành sáng tác nghệ thuật khác, nó có giá trị lý luận phổ biến.
Thực ra những hiểu biết của Bảo Thoa nêu trên chỉ là sự kế thừa và phát huy lý luận hội họa cổ điển Trung Quốc và cũng là sự giải thích có tính hình tượng về một số những môn luận mẫu mực về hội họa. Như Đổng Kỳ Xương đời Minh đã phát hiểu trong “Họa chỉ”: “Đọc vạn quyển sách, đi vạn dặm đường, lòng không còn vướng bụi trần, bỗng nhiên tỏ ngộ, tự thành phát thảo, rồi tiện tay vẽ ra sẽ thành bức sơn thủy truyền thần”. Điều Bảo Thoa nói: “Bây giờ vẽ cái vườn, nếu trong bụng không có một hiểu biết rộng thì vẽ sao nổi.” Không phải phù hợp với ý của Đổng Kỳ Xương đó sao? Hoặc như Trương Nhan Viễn đời Đường trong “Lịch đại danh họa ký” ông nói: “Phàm vẽ vật kỵ nhất là vẽ hình dáng hiện hữu cần phải biết rõ, thật cẩn trọng, thật tinh tế mà làm lộ ra cái khéo lép kín đáo bên trong của vật. Cho nên không suy nghĩ không được mà phải suy nghĩ đâu ra đấy” Lý Thành đời Ngũ Đại (907-960) cũng từng chỉ rõ trong tập “Sơn thủy quyết” như sau” Phàm vẽ tranh sơn thủy, trước hết xác định ngôi vị chủ khách, tiếp đến là hình thế viễn cận , sau đó mới tô vẽ, trau chuốt cảnh vật, bố trí cao thấp lồi lõm.” Mấy lời nói ấy so với mấy lời của Bảo thoa như : “nếu cứ theo thế vẽ lên trên giấy thì đẹp làm sao được. Phải xem khuôn khổ tờ giấy, nên để xa gần, nhiều ít thế nào, nên chia phần chính phần phụ ra sao, chỗ nào đáng thêm thì thêm, chỗ nào đáng bỏ, đáng bớt thì bỏ đi, bớt đi, cái gì đáng để lộ mới để lộ.” thật có nhiều điểm giống nhau. Ví như Đường Chí Khiết đời Minh trong “hội sự vi âm” đã nói : “Giỏi ẩn tức là không hẵn không hiện, giỏi hiện tức là không hẳn không ẩn” “Càng có chỗ ẩn càng hơn có chỗ hiện” và bức tranh sẽ càng thú vị”. Hai cách nói trên có thể gọi là đi cùng một đường. Tiết Bảo Thoa lại nói: “lâu đài nhà cửa phải chia giới hạn, sơ ý một tí là bao lan cũng lệch, cột cũng nghiêng, cửa sổ sẽ dựng ngược lên, thềm cũng không đúng chỗ, thậm chí bàn ghế cũng chen lên tường, chậu hoa bày ở trên màn. Như thế chẳng phải là vẽ ra một bức tranh để cười ư?” Điều này cũng rất giống với ý của Nhiêu Tự Nhiên đời Tống trong “Hội tông thập nhị chí” : “Phân giới hạn trong hội họa tuy là bước tầm thường nhưng lâu đài phòng ốc ngang dọc phải phân định rõ ràng từng thước từng phần, hoặc kèo cột rui mèn cong thẳng thế nào cũng phải theo thước tấc quy cũ thì thâth là thiên nan vạn nan” Nhưng lại được Bảo Thoa nói lên rất hình tượng tỉ mì bằng thứ ngôn ngữ hài hước nhẹ nhàng bày tỏ hết những chủ trương về hội họa của mình. Theo những điều trình bày trên, chúng ta có thể thấy Tào Tuyết Cần đã nghiên cứu, trau dồi hội họa một cách đầy đủ và đã trình bày lý luận hội họa cổ đại Trung Quốc một cách khéo léo , giàu hình tượng.
Cùng với nội dung của hội họa, Tiết Bảo Thoa còn có cách phối màu riêng của mình khá đặc sắc, phản ánh quan điểm về thẫm mỹ của mình. Ví dụ như hồi thứ 35 có một đoạn nói về cách phối màu để tết sợi dây đeo ngọc của Bảo Ngọc đã để lại ấn tượng sâu sắc. Oanh Nhi đang tết dây đeo ngọc cho Bảo Ngọc. Bảo Ngọc hỏi Bảo Thoa tết màu gì cho đẹp được? Bảo Thoa nói:: “- Các màu thường nhất định không thể dùng được. Màu đỏ lại lẫn màu. Màu vàng thì không nổi, màu đen thì tối quá. Cứ ý tôi, nên lấy chỉ kim tuyến xe lẫn với chỉ đen bóng, sợi nọ xe lẫn sợi kia, tết như thế mới đẹp.” Đoạn thoại trên nói lên quan điểm thẫm mỹ của Bảo Thoa về cách phối màu. Nàng cho rằng nếu dây ấy chỉ dùng một màu, như màu đỏ chẳng hạn thì quá nổi, màu vàng thì không bắt mắt mà màu đen thì quá tối, cuối cùng chỉ có cách dùng thứ chỉ kim tuyến xe với chỉ đen bóng để tết dây là tốt nhất, vì chỉ có thể đậm nhạt mới phù hợp, sáng tối mới hài hòa, vừa giản dị vừa tự nhiên, vừa có hiệu quả toàn bích về màu sắc. Nếu Bảo Ngọc dùng sợi dây trang sức có màu sắc xinh đẹp như thế này đeo viên ngọc thông linh thì thần thái phiêu dật, đặc sắc vô ngần, càng khiến người ta chú ý, làm người ta điên đảo si tình. Điều này cho thấy chỉ một yếu tố nhỏ trong sinh hoạt hằng ngày cũng thể hiện nhãn quan thẩm mỹ của Bảo Thoa, đương nhiên trong đó có đẫm một chút tình, có lồng một chút ý đối với Bảo Ngọc.
Tào Tuyết Cần vốn yêu thích hội họa nhưng vì cuộc sống nghèo túng, chán chường, ông đã từng đem tranh bán để đổi rượu, hai câu thơ sau đây của Đôn Mẫn là bằng chứng
Mãi họa tiền lai phó tửu gia”
(Người đi thơ vịnh lưu chùa Phật
Tránh bán tiền đem trả tửu gia)
Tương truyền Tào Tuyết Cần rất sành vẽ trúc, vẽ đá, và thường gởi gắm tâm sự của mình vào tranh. Đôn Mẫn có bài tứ tuyệt nhan đề: “Đề Cần Phố họa thạch” (Bài vịnh bức tranh đá của Tào Tuyết Cần)
Lân tuần cánh kiến thử chi li
Túy dư phần tảo như suyền bút
Tả xuất hưng trung cỗi lỗi thì”
(Rắn rỏi như ông thế đã kỷ
Gầy trơ càng rõ dáng suy vi
Say khướt bút tài vung tay vẽ
Giải bày tâm cang bất bình chi)
Qua bài thơ trên ta thấy Tào Tuyết Cần đã mượn cái cốt cách cứng cỏi của đá để bày tỏ cá tính khinh thế ngạo vật của mình. Phải từng trải như thế nào, phải nghiên cứu trau dồi nghệ thuật như thế nào, ông mới có thể khéo léo mượn lời nhân vật Tiết Bảo Thoa để thể hiện những kiến giải nghệ thuật hội họa, những rung cảm thẫm mỹ của mình qua tác phẩm HLM một cách đầy hình tượng như vậy.
Ngày nay không phải vì chúng ta không xem được những tác phẩm hội họa của Tào Tuyết Cần, không đọc được những tác phẩm lý luận về hội họa của ông mà lấy làm đáng tiếc, hay ân hận, bởi vì dù sao ông cũng đã để lại cho chúng ta công trình bất hủ muôn đời, đó là tác phẩm trứ danh HLM. Chúng ta hãy đọc HLM vì ở đó thể hiện rất đầy đủ những tư tưởng thẫm mỹ những chủ trương nghệ thuật của Tào Tuyết Cần, đó là một kho nghệ thuật quý báu lấy hoài không hết, dùng hoài không kiệt!
Nguồn: www.tvbvnfc.net do classic_season đăng











