My Opera is closing 3rd of March

Hồng Lâu Mộng

Subscribe to RSS feed

ĐOÁN TRƯỚC VIỆC LẤY CHỒNG XA CỦA THÁM XUÂN

Dưới ngòi bút của Tào Tuyết Cần, kết cục của Thám Xuân cũng rất bất hạnh. Nguyên Xuân, Nghênh Xuân tiếp nhau chết sớm thì cô lại mang nỗi buồn đi lấy chồng xa, một đi không trở lại. Nhưng điều không hài lòng là 40 hồi sau do Cao Ngạc viết tiếp nên chúng ta không thể biết Tào Tuyết Cần sẽ tả cụ thể như thế nào. Trong 40 hồi sau của tác phẩm có nói cô tiểu thư thứ 3 của nhà họ Giả lấy chồng xa, ở tận một đảo quốc nào đó, lấy con trai của vị Tổng chế Trấn hải, và hồi thứ 119, Thám Xuân trở thành bà Ba về lại Ninh Quốc phủ thăm cha mẹ “trông Thám Xuân lại càng xinh đẹp, ăn mặc lộng lẫy hơn trước.” Xem cung cách ấy thì mệnh vận của cô rất tốt. Điều này rõ rang không phù hợp với số phận bi kịch của nhân vật được sắp đặt trong “bạc mệnh ty” của Tào Tuyết Cần ở hồi thứ 5.

Như vậy, rốt cuộc kết cục của Thám Xuân như thế nào? Tại sao cô lấy chồng xa? Người chồng xa ấy là ai? Ở đâu? Trước những câu hỏi ấy, người nghiên cứu có cách nhìn nhận không giống nhau. Trong đó có một cách nhìn nhận ảnh hưởng nhất là cho rằng Thám Xuân đến một nơi hải đảo xa xôi ngoài nước Trung Quốc làm vương phi. Nhưng chúng tôi thấy nói làm vương phi ở hải ngoại cũng không phải là kiến giải có giá trị gì cho lắm, mà lại không phù hợp với ý lấy chồng xa của Tào Tuyết Cần. Sở dĩ kết cục của Thám Xuân được tả ở những 40 hồi sai trái với nguyên ý của Tào Tuyết Cần không phải vì Tổng chế Trấn Hải tại vùng biển không đủ xa mà vì kết cục ấy không phù hợp với số phận bi kịch của nhận vật được nói trước trong Kim lăng thập nhị thoa. Dĩ nhiên, trong một ý nghĩa nào đó thì việc lấy chồng tận đảo quốc hay lấy chồng “man mọi cũng là bi kịch rồi nhưng cái bi kịch ấy khác với những nhân vật khác trong 12 cô gái Kim Lăng, so ra hầu như có phần tốt đẹp hơn nhiều. Khoan nói đến những người khac mà chỉ nói 4 chị em của nhà họ Giả. Nguyên Xuân, Nghênh Xuân phải chết thảm, Tích Xuân phải cắt tóc đi tu “thương thay con gái nhà khuê các, một ngọn đèn xanh cạnh phật bà”. Xem ra Tích Xuân không được nhàn hạ, thoải mái như Diệu Ngọc ở am Lũng Thuý. Nghiễn Chi Bình thổ lộ: “Tiểu thư ngàn vàng mà phải nâu sồng khất thực, không bi thảm lắm sao!”Tình cảnh bi thảm của Tích Xuân xem đó thì đủ biết. Nhân vật trong 12 cô gái Kim Lăng đều có kết cục bất hạnh, dù chết, dù sống cũng đều bi thảm cả. Nói gọn một từ là “bạc mệnh”!Nhân vật còn sống thì địa vị cũng phải biến đổi. Ví dụ Anh Liên và Kiều Hạnh, cô chủ nhân thành a hoàn và a hoàn thành cô chỉnh, chính như trong bài “Hảo Liễu ca” cũng nói như vậy “ thịnh suy vinh nhục biến hoá khó lường. Từ đó suy ra số phận của Thám Xuân không hơn gì Nguyên Xuân, Nghênh Xuân, Tích Xuân. Căn cứ những đầu mối đưa ra trước hồi 80, chúng tôi cho rằng Thám Xuân đúng là làm vương phi có điều không phải là một vương phi ở hải ngoại mà là một vương phi trong nước đến ngày cưới thì gia đình nhà chồng gặp tai biến lớn. Lúc ấy Nguyên Xuân đã chết, nhà họ Giả suy sụp, không thể chống đỡ được nữa, đúng là “buộc buộc xe xe cũng khó lòng” . Với hoàn cảnh không thể cứu vãn ấy, Thám Xuân phải ôm hận theo chồng. Rất có thể họ bị biếm trích ra hải đảo hay thậm chí có thể bị lưu đày. Từ đó về sau cuộc sống bấp bênh không an định và một đi không trở lại.

Ở 80 hồi đầu, ám chỉ về số phận của Thám Xuân tiểu thuyết có nói ở mấy nơi. Hồi thứ 5, trong thái hư canhe ảo có lời phán từ và đoản khúc “Phân cốt nhục” hồi thứ 22 Thám Xuân ra câu đố đèn, hồi thứ 63, chị em mở dạ tiệc, Thám Xuân rút thăm, hồi thứ 70 Thám Xuân làm bài từ Nam Kha, và sau đó nói thêm trong lần thả diều v.v… Đó là những căn cứ quan trọng để chúng ta tìm hiểu kết cục của Thám Xuân.

Thả diều xét về phương diện ám chỉ số phận chung cuộc của Thám Xuân là chi tiết đáng chú ý nhất. Nhưng sự nhận biết mối liên hệ giữa việc thả diều và số phận của Thám Xuân như thế nào thì mọi người có cách nhìn nhận không giống nhau. Thông thường, người ta cho rằng thả diều chính là sự tượng trưng Thám Xuân lấy chồng xa và một đi không trở lại, điều đó có thể đúng. Nhưng tôi cho không chỉ có vậy, thả diều trên thực tế tượng trưng cho toàn bộ quá trình biến đổi số phận của Thám Xuân. Thả diều không chỉ thả đi mà còn đi luôn, ko quay lại nưa. Trước tiên, thả diều ra, diều bay lên cao sau đó đứt dây bay mất. Điều đứt dây bay vào nơi vô định lại ngụ ý sự bất hạnh và không ổn định của cuộc sống lấy chồng xa. Tôi cho rằng đó mới là sự lý giải đầy đủ mối liên hệ giữa việc thả diều và số phận của Thám Xuân.. Dĩ nhiên đó không phải là suy nghĩ tuỳ tiện của người viết mà có căn cứ hẳn hoi. Lời phán từ về Thám Xuân ở hồi thứ 5 như sau: “Mặt sau lại vẽ hai người thả diều, một vùng bể lớn, một cái thuyền lớn, trong thuyền có một cô gái bưng mặt khóc. Sau bức họa có bốn câu:

Chí cao tài giỏi có ai bì,
Gặp lúc nhà suy, vận cũng suy,
Nhớ tiếc thanh xuân ra bến khóc.
Gió đông nghìn dặm mộng xa đi.”

Đó là lần thứ nhất ám chỉ số lấy chồng xa của Thám Xuân. Cô gái ngồi trong thuyền đương nhiên là Thám Xuân.. Cũng có người co rằng ở đây rõ rang có biển rộng có thuyền lớn, sao lại không chứng tỏ Thám Xuân muốn vượt biển đi xa? Thực ra thì cũng chưa chắc. Biển rộng có thể tượng trưng cho biên giới vùng biển hay một góc biển nào đó, thuyền lớn cũng không nhất thiêt phải đi trên biển. Trong lời phán từ nói rất rõ “Nhớ tiếc thanh xuân ra bến khóc.”(Thanh minh thế tống giang biên vọng) Vậy xem ra rất có thể là thuyền đi trên song (giang thuyền) . Đó là bức tranh vẽ cảnh buồn thảm lúc Thám Xuân đi lấy chồng xa. Và theo đó thì hầu như không thấy có điều gì nói lên không khí Thám Xuân đi lấy chồng xa và làm vương phi ở một đảo quốc xa xôi cả.

Điều đáng chú ý là vẽ hai người thảt diều có ngụ ý gì, hai người ấy là ai và có quan hệ như thế nào với số phận Thám Xuân? Có người cho hai người thả diều là Giả Hoàn, và dì Triệu tức là những người bày mưu kế để Thám Xuân đi lâyc hồng xa nhưng tôi cho hai người ấy chính là Giả Chính và Vương phu nhân. Họ không phải là kẻ bày mưu kế để Thám Xuân lấy chồng xa mà là người quyết định chuyện hôn nhân đại sự của Thám Xuân. Thám Xuân không phải là người hời hợt. Tính cách và địa vị của cô quyết không thể do giả Hoàn và dì Triệu định đoạt. Ở phủ họ Giả, người quyết định chuyện hôn nhân đại sự cho Thám Xuân không ai khác và Giả Chính và Vương phu nhân. Hồi thứ 77 có bà mối đến ngỏ lời cầu thân đó là lần đầu tiên tiểu thuyết nói đến chuyện hôn nhân của Thám Xuân. Lúc ấy, Giả Xá đã hứa gả Nghênh Xuân cho Trung Sơn Lang Tôn Thiệu Tổ, việc này tuy Giả Xá có hỏi ý kiến của Giả Mẫu, trong bụng bà cụ không hoàn toàn ưa thích nhưng chuyện hôn nhân đại sự của con gái do cha mẹ quyết định nên bà cũng không phản đối, trong khi đó Giả Chính mấy lần can ngăn nhưng Giả Xá không nghe. Chuyện hôn nhân của cháu mình. Giả Chính còn can thiệp huống hồ hôn nhân của chính con gái mình há lại không quan tâm sao được? Giả Mẫu, Giả Chính, Vương phu nhân không hoàn toàn ưa ý cuộc hôn nhân của Nghênh Xuân, nay lại đề cập đến hôn sự của Thám Xuân, ẳt hẳn họ sẽ không sơ suất quyết định. Tóm lại, họ nhất định sẽ cố gắng tìm một người chồng xứng đôi vừa lứa cho Thám Xuân. Như vậy vợ chồng Giả Chính giống người thả diều, đưa diều bay lên cao, tìm cho được một người rể quý. Đương nhiên, cuối cùng thực tế và ý nguyện không tương hợp, bay cao, bay xa tất sẽ té nặng đúng như lời dự đoán của Tần Khả Khanh “trèo cao té nặng” đối với phủ Giả. Nay đem đối chiếu với số phận của Thám Xuân thì rất phù hợp. Vợ chồng Giả Chính thả diều khôngnhững không đem lại hạnh phúc cho Thám Xuân mà lại rơi vào cảnh “Nhớ tiếc thanh xuân ra bến khóc”, một kết cục ôm hận xa nhà. Đoản khúc phân cốt nhục cũng biết:

“Con đành lỗi với mẹ cha
Khóc than chỉ thiệt thân già đấy thôi”

Đó là lời than khóc của Thám Xuân lúc ly biệt. Cha mẹ ở đây là Giả Chính và Vương phu nhân vì mẹ đẻ Thám Xuân đã gọi là dì rồi.

Giả Chính, Vương phu nhân giống như người thả diều đưa Thám Xuân bay cao, bay xa mong muốn cô thành quý phi, vương phi, điều đó lại càng ám chỉ rõ hơn trong hồi thứ 63, “chị em mở tiệc”Thám Xuân rút thẻ hoa hạnh có 4 chữ “Dao Trì tiên phẩm” dưới có câu thơ “tựa mây hồng hạnh trồng bên mặt trời” và có lời chú “ai rút được thăm này tất lấy được chồng sang” Ở đây, tác giả mượn lời người khác cố ý tả “Nhà chúng ta đã có vị vương phi rồi. Có lẽ cô lại sẽ là vương phi cũng chưa biết chừng? Đáng mừng! Đáng mừng!” Người “đáng được” ở đây nhất định là Thám Xuân. “tựa mây hồng hạnh trồng bên mặt trời” càng hàm ý gia đình đế vương, vì chỉ có gia đình đế vương mới xứng đáng “bên mặt trời”. Nếu cho rằng Thám Xuân phải làm vương phi ở hải ngoại chứ không phải ở trong nước vì như vậy sẽ vượt Nguyên Xuân phạm phải sự sắp đặt “Ba xuân không sánh nổi đầu xuân” (Tam xuân tranh cập sơ xuân cảnh) Như vậy là không đúng. Vì Nguyên Xuân không phải là vương phi mà là hoàng quý phi. Dưới hoàng đến có thân vương, quận vương, Thám Xuân có thể là phi của một thân vương hay quận vương nào đó thì địa vị đâu vượt quá Nguyên Xuân, cho nên không thể bằng “cảnh đầu xuân” được.

Như vậy, rốt cuộc Thám Xuân đem gã cho ai, làm vương phi ở vương quốc nào? Đây là một vấn đề khó đoán ra nhưng trong HLM vẫn có một số manh mối có thể giúp chúng ta lần hồi suy nghĩ tìm tòi. Hồi thứ 71 có một chi tiết đáng chú ý. Giả phủ nhân mừng thọ Giả mẫu 80 tuổi có mời các hoàng thân, phu nhân, công chúa, vương phi, quận vương, quốc quân, thái quân….Ngày đó đến dự ở Ninh Quốc phủ có Bắc Tĩnh Vương, Nam An Quận vương, phò mã Vĩnh Xương, Lạc Thiện quận vương cùng các vị công hầu thế tập, ứng tập còn ở Vinh Phủ có Nam An thái phi, Bắc Tĩnh vương phi cùng các vị thế giao, công hầu. Trong những nhân vật ấy có 3 nhân vật đáng chú ý là Nam An quận công, Nam An thái phi và Thám Xuân.Tiểu thuyết có tả đến Nam An thái phi muốn thăm các tiểu thư phủ Giả, Giả Mẫu sai Phượng Thư gọi Tương Vân, Bảo Thoa, Bảo Cầm, Đại Ngọc đến, còn trong 3 tiểu thư họ Giả thì Giả Mẫu bảo Phượng thư chỉ gọi Thám Xuân. Điều này rất đáng để ý. Nam An thái phi vốn muốn thăm các tiểu thư trong phủ các cô Sử, Tiết , Lâm đều đến sao không gọi luôn Nghênh Xuân, Tích Xuân mà chỉ gọi Thám Xuân? Đương nhiên, có thể giải thích, Giả Mẫu chỉ thích Thám Xuân hoặc trong 3 cô ấy, thám Xuân xuất sắc hơn cả. Nhưng nguyên nhân sâu xa không hẵn chỉ có thế. Sau việc này, Hình phu nhân nhân “ Nam An thái phi muốn thăm chị em trong nhà mà Giả Mẫu chỉ cho gọi Thám Xuân còn Nghênh Xuân coi như không có” mà trong lòng rất oán hận không vui. Nam An thái phi nhìn ngắm các cô khen ngợi không ngớt, ngoài việc cùng Tương Vân quen biết trước nói qua mấy câu trêu đùa, bà còn “một tay nắm Thám Xuân, một tay nắm Bảo Thoa, hỏi: “Mười mấy tuổi rồi?” - Thái Phi lại khen ngợi luôm mồm. Sau bỏ hai người này ra, lại nắm Đại Ngọc và Bảo Cầm, ngắm nghía rất kỹ, khen ngợi một lúc, cười nói:- Đều đẹp cả! Không biết bảo tôi khen người nào cho phải!”Lời khen của Nam An thái phi có lẽ không phải là lời khách sáo vì năm cô gái hiện ra, cô nào cũng đẹp cả. Trong đó, Tương Vân Bảo Cầm đã có người dạm. Đại Ngọc, Bảo Thoa không thể gả cho người khác, với lại đều là bà con bên ngoại dĩ nhiên không giống như con gái của nhà họ Giả. Mà con gái nhà họ Giả thì chỉ có mỗi một Thám Xuân. Lúc Nam An thái phi gặp mặt các cô, vừa hỏi tuổi, vừa ngắm nghía kỹ rồi sau đó không lâu, có bà mối đến cầu thân với Thám Xuân, thế là Thám Xuân có chồng sang, vậy có quan hệ gì với vị Nam An thái phi này không? Trong HLM, Bắc Tĩnh Vương thường xuất hiện với Bắc Tĩnh Vương phi, Nam An quận vương thì lại xuất hiện với Nam An thái phi, trong sách không nói đến Nam An quận vương phi. Vậy Nam An quận vương phải chăng chưa lấy vợ hoặc giả vương phi đã chết sớm, vậy Thám Xuân có khả năng về làm vương phi của vị Nam An này chăng cũng chưa biết chừng.

Ngoài hồi thứ 71 ra, Thám Xuân còn làm một bài từ là bài Nam Kha từ có những câu như sau:

“Dây đâu treo lơ lửng,
Sợi khéo rủ lòng thòng.
Buộc buộc xe xe cũng khó lòng,
Thôi đành chia các ngả nam bắc tây đông!”

Đó là thơ vịnh bông hoa liễu của Thám Xuân, đồng thời cũng là tính cách của số phận mình. Bông hoa liễu bay đi, đó là thế tất phải vậy, chuyện ngoài ý muốn, cho nên nói “treo lơ lửng, rủ lòng thòng. Buộc buộc xe xe cũng khó lòng”(đã nan quan hệ đã nan ky). Đáng chú ý nhất là câu cuối : “Thôi đành chia các ngả nam bắc tây đông” Đó vừa chỉ sự chia lìa của hoa liễu vừa chỉ sự phân ly của Thám Xuân. Thám Xuân phải đi lấy chồng xa, cũng vừa chỉ số phận của những cô gái ở Đại Quan viên giống như bông hoa liễu phiêu bạc chia lìa. Còn như nói có khả năng Thám Xuân lấy chông xa được làm vương phi làm người ta dễ liên tưởng đến các từ “đông tây nam bắc” nói ở đây với 4 vị quận vương có tên tước vị bắt đầu bằng “đông tây nam bắc” là Đông Bình quận vương, Tây Ninh quận vương, Nam An quận vương, Bắc Tĩnh quận vương, tách ra sẽ là Đông Tây Nam Bắc, Bình An Ninh Tĩnh. Điều tác giả muốn ám chỉ chính là sự tương phản với ý nêu ra vì trên thực tế 4 phương Đông tây nam bắc không được bình an ninh tĩnh. Nhưng hồi sau hồi 80, HLM nói đến cái chết của Nguyên Xuân và sự lục soát phủ họ Giả, nhiều mâu thuẩn đã bộc lộ, thậm chí cả những mâu thuẩn trong hoàng cung. Bắc Tĩnh Vương hay Nam An vương gì gì đều có quan hệ mật thiết với phủ họ Giả. Vậy trong bài từ “Nam Kha từ” Thám Xuân nói đến “Đành chia các ngả Nam Bắc tây Đông” liệu có thể xem Thám Xuân có quan hệ gì với Nam An quận vương và có ám chỉ việc đi lấy chồng xa của cô không? Dĩ nhiên, đó chỉ là suy đoán thôi.

Thám Xuân có chồng sang và làm đến vương phi, thế tại sao cuối cùng phải ôm hận đi lấy chồng xa? Theo tôi, chỉ có một cách giải thích là: nhà chồng gặp biến cố. Điều này vẫn có căn cứ để kiểm tra. Hồi thứ 22, lời giải câu đố đèn của Thám Xuân đưa ra là một cái diều. Câu đố như sau:

“ Trẻ con ngửa mặt nhìn trời,
Thanh minh là tiết dong chơi hợp thì.
Mỏng manh một sợi du ti,
Biệt ly đừng có trách gì gió đông.”

Tiết thanh minh là thời điểm thích hợp nhất để thả diều, cũng ngụ ý nói đó là thời điểm Thám Xuân rời gia đình đi lấy chồng xa. Lời phán từ trong hồi thứ 5 cũng nói:

“Thanh minh thế tống giang biên vọng”

Hồi thứ 70 miêu tả cụ thể việc thả diều như sau:

“Thám Xuân đương định cắt dây cái diều phượng hoàng của mình, chợt nhìn thấy một cái diều phượng hoàng đang bay lên trời, liền nói:

- Không biết cái kia của ai?

Mọi người đều nói:

- Cô cứ cắt cái của cô đi, xem nó quấn lại với nhau thế nào?

Nói xong, thấy cái diều phượng hoàng này dần dần bay sát lại chập vào cái diều phượng hoàng kia. Mọi người đương định rút dây lại, thấy cái diều kia cũng rút dây. Hai cái đương quấn với nhau, lại thấy một cái diều thật to, có chữ “Hỷ” long lanh, có cả sáo vang lên như tiếng chuông trên lưng chừng trời, bay dần sát lại. Mọi người nói:

- Để cho cái này quấn vào, hãy hượm kéo về. Cả ba cái quấn vào nhau mới thích.

Quả nhiên cái diều chữ “Hỷ” quấn vào hai diều phượng hoàng. Ba cái cứ đảo tít mù, đều đứt cả dây rồi vù vù bay đi cả.”

Đoạn văn miêu tả trên có thể nói là cụ thể hoá và hình tượng hoá câu đố đèn của Thám Xuân ở hồi thứ 22. Như trên đã nói, thả diều không những tượng trưng cho Thám Xuân lấy chồng xa không quay lại mà còn tượng trưng cho quá trình biến đổi kết cục việc đi lấy chồng xa ấy. Chúng tôi tìm hiểu kỹ đoạn văn tả chuyện thả diều trên để minh chứng những gì đã trình bày không phải là không có căn cứ. Thả diều và có hai cái diều phượng hoàng quấn lấy nhau rồi một cái có chữ hỷ long lanh , đúng là ngụ ý Thám Xuân có chồng sang. Còn như quá trình phức tạp cụ thể như thế nào, hiện khó đoán ra được. Các từ “quấn lấy nhau”, “cả ba cái chao đảo tít mù”v.v… rất có thể ngụ ý Thám Xuân có chồng sang nhưng thông xuôi buồm thuận gió mà gặp phải bà đào bão táp.. Có chồng sang là một đại hỷ giống như con diều to long lanh chữ “Hỷ”, tiếng sáo vi vu, nhưng đồng thời cũng là một đại hoạ. Cái “hỷ” của Thám Xuân chỉ là hoan lạc trong chốc lát, hết vui là đến hoạ. Khi cái diều chữ Hỷ kia quấn vào hai cái diều phượng hoàng thì không ngờ dây diều đứt cả, ba cái chao đảo tít mù. Thật đúng là “dây tơ đứt đoạn diều vô lực”. Rõ rang đứt dây dẫn đến nguyên nhân cơ bản của việc đi lấy chồng xa của Thám Xuân. Đứt dây ở đây ngụ ý gì? Căn cứ cảnh buồn rầu thê thảm của buổi biệt ly nói trong lời phán từ ở hồi thứ 5:

Cùng thông số đã định rồi
Hợp tan âu cũng duyên trời chi đây

Đại khái chúng ta đoán “đứt dây” ở đây ám chỉ có biến cố chính trị to lớn đang xảy ra. Và qua biến cố đó, Thám Xuân đương là địa vị vương phi bị truất làm thứ dân. Điều này đối với tính cách tự tôn, chí lớn như Thám Xuân mà xét thì rõ rang là một sự đã kích nặng nề. Càng đáng thương hơn nữa là phải lấy chồng xa một đi không trở lại. Cuộc hôn nhân của Thám Xuân có 3 điều bất hạnh. 1 là đang vui xảy ra đại biến, 2 là do ép buộc, Thám Xuân không thể làm chủ (buộc buộc xe xe cũng khó lòng) 3 là một đi không trở lại:

Đường xa mưa gió một chèo
Cửa nhà, ruột thịt thôi đều bỏ qua


Phân chia hai ngả từ nay
Dám mong giữ được ngày ngày bình yên
Con đi xin chớ lo phiền

Cốt nhục phân ly, gia đình vĩnh biệt, số phận long đong, làm sao yên ổn, làm sao không phiền, thứ tư, cuộc sống sau khi lấy chồng xa lại vô cùng bất ổn. Lời phán của Thám Xuân trong Bạc mệnh ty “Gặp lúc nhà suy vận cũng suy”… Đáng chú ý là đoản khúc “hư hoa ngộ”

Cảnh xuân nhìn đã rõ rồi,
Liễu xanh, đào thắm hãy ngồi xem sao
Thiều hoa đuổi sạch đi nào
Tìm nơi nhã đạm thanh cao khác đời
Kể chi đào nở trên trời
Kể chi nhị hạnh lựng mùi trong mây?
Rốt cùng nào có ai hay
Tiết thu đâu đã kéo ngay đến rồi

"Đào ở trên trời", "nhị hạnh trong mây" rõ ràng ám chỉ Nguyên Xuân làm hoàng phi, Thám Xuân làm vương phi, nhưng đó cũng chỉ là mộng ảo, cuối cùng “nào ai biết mùa thu đã đến” Nguyên Xuân vinh hoa, Thám Xuân phi tần rốt cục không tránh được hai chữ BẠC MỆNH. Thám xuân lấy chồng xa mở ra màn bi kịch của những cô gái trong Đại Quan Viên, đúng là:

Tam xuân khứ hậu chư phương tận
Các tự tu tầm, các tự môn
(Ba xuân tàn lụi, muôn hoa kiệt
Mỗi mỗi tìm về góc trú thân)


(Trích Mạn đàm HLM)

Nguồn: www.tvbvnfc.net do classic_season viết và đăng

February 2014
M T W T F S S
January 2014March 2014
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28