My Opera is closing 3rd of March

Hồng Lâu Mộng

Subscribe to RSS feed

Hồng Lâu Mộng

Đặc sắc nghệ thuật

Lỗ Tấn nói: „Từ khi Hồng Lâu Mộng ra đời, tư tưởng và cách viết truyền thống đã bị phá vỡ“. Mặc dù mở đầu nói việc Chân Sĩ Ẩn gặp Giả Vũ Thôn và kết thúc bằng việc Giả Vũ Thôn gặp Chân Sĩ Ẩn, hai người này như ngững người mở màn và đóng màn Hồng Lâu Mộng, mặc dù theo đúng cái tên „mộng“, hồi đầu cuốn truyện dàn ra một cảnh mộng và những hồi sau đó cũng có nhiều cảnh mộng như Bảo Ngọc mộng chơi cõi Thái Hư (hồi 5), Tần Khả Khanh báo mộng Vương Hy Phượng (hồi 13), Bảo Ngọc mộng thấy Tình Văn (hồi 77), Tập Nhân mộng thấy Bảo Ngọc (hồi 120), nhưng toàn cuốn truyện toát lên một tinh thần hiện thực sâu sắc.

Có đủ hạng người từ Giả Bảo Ngọc đến Chân Bảo Ngọc tên giống nhau mà tâm tình khác hẳn nhau, đến Đại Ngọc và Bảo Thoa thân với nhau mà ngấm ngầm xung đột; từ Sử Thái quân vinh hoa phú quí đến Lưu lão lão nhẫn nhục bần hàn; từ Vương Hy Phượng điêu xảo khắc nghiệt đến quả phụ Lý Hoàn trung hậu dung hoà, từ Tiết Bàn ngông cuồng phóng đãng đến Liễu Tương Liên hào hiệp khảng khái..., có đủ loại việc từ cảnh thịnh mãn như lúc Nguyên Xuân về thăm nhà ở vườn Đại Quan (hồi 17) đến cảnh suy bại như lúc Ninh phủ bị tịch thu gia sản (hồi 105), từ bữa ăn cua ở quán Ngẫu Hương (hồi 38) đến cuộc thưởng trà ở am Lũng Thuý (hồi 41), từ chuyện Tập Nhân cất khăn là của Tưởng Ngọc Hàm (hồi 28) đến chuyện Vưu Tam thư trả gươm báu cho Liễu Tương Liên (hồi 66)..., bút pháp mới mẻ của Hồng Lâu Mộng là ở chỗ không giản đơn qui con người vào một tính cách rạch ròi cực đoan, trái lại nhìn con người trong vận động phát triển đầy mâu thuẫn, trong vận động biện chứng của nó.

Tính cách nhân vật được miêu tả rất chân thực. Từ Giả Bảo Ngọc, chàng trai hiện thân của mâu thuẫn giữa khát vọng tự do với sự ràng buộc khắt khe của gia đình và đạo lí phong kiến, đến Tiết Bảo Thoa, cô gái sống lí tính giàu bản lĩnh hiện thân của nguyên lí đạo đức phong kiến và Lâm Đại Ngọc với một chiều sâu tâm lí đa dạng, yêu Bảo Ngọc nhưng do thân phận của nàng nên mỗi khi Bảo Ngọc ngỏ lời thì lại hờn tủi cự tuyệt, cuối cùng nghe nói Bảo Ngọc sắp lấy vợ người trong phủ thì chắc mẩm đó sẽ là mình, nàng chứa chan hi vọng để rồi trước sự thật quá phũ phàng đã đau đớn tuyệt vọng đến chết.

Xét về nghệ thuật văn chương, có thể mượn lời Hông Thu Phiên trong „Hồng Lâu Mộng quyết vi“ để khái quát: „Hồng Lâu Mộng lập ý mới, bố cục khéo, từ ngữ đẹp, đầu mối rõ, khởi kết kì, đan cài diệu, miêu tả thật, sắp xếp tài, kể việc thực, nói tình thiết, đặt tên sát, dùng bút kín, cái tài tình thật không kể xiết. Hơn nữa, chế giễu thì được cái hậu của nhà thơ, khen chê thì có cái tài của sử bút, kể chuyện ma không cảm thấy hoang đường, tả sự vật không cảm thấy chồng chất, không lời nào tự mâu thuẫn, không việc nào bất trúng nhân tình. Ngoài ra, như chúc tết mừng tuổi, mừng thọ lo tang, xem bói bốc thuốc, thách rượu gá bạc, mất của gặp ma, bị cháy gặp cướp, cho đến những việc vặt vãnh gia thường, tư tình nhi nữ, không có chuyện gì mà không ghi đủ. Đến như cầm kì thư hoạ, y bốc tinh mệnh, giải quyết rất tinh, sắp đặ xác đáng. Nhưng đặc biệt tôi cho rằng không có gì tài khéo hơn là thơ từ câu đối hoành phi, lệnh phạt rượu, câu đố đèn, kèm thêm văn từ, điểm diễn hí khúc, không một chỗ nào là không ám hợp với ý chính, nhất bút song quan. Quả là một cuốn sách không tiền tuyệt hậu, độc tuyển trên đời“.

Văn bản và sự lưu truyền

„Thạch đầu kí“ 80 hồi thoạt đầu chỉ có số ít bạn bè chí thiết của tác giả truyền tay nhau đọc dưới dạng bản thảo viết tay.

Năm Càn Long 56 (1791), Trình Vĩ Nguyên và Cao Ngạc lần đầu tiên cho in bằng chữ rời để xuất bản, tên sách đổi thành „Hồng Lâu Mộng“ (Giấc mộng lầu hồng) tăng lên đến 120 hồi. Đó là bản Trình A (Trình giáp bản) như các nhà nghiên cứu thường gọi. Năm sau (1792) sửa chữa và khắc lại. Đó là bản Trình B (Trình ất bản). Lời tựa của Trình Vĩ Nguyên nói rằng 40 hồi cuối là do ông „cố công sưu tầm góp nhặt được“. Suốt một thời gian dài sau đó, độc giả cứ đinh ninh rằng cả 120 hồi đều là tác phẩm của Tào Tuyết Cần. Mãi về sau, người ta mới khảo chứng ra rằng 40 hồi cuối kì thực là do Cao Ngạc, bạn của Trình Vĩ Nguyên, viết nối. Ngoài ra còn có bản „Chi Nghiễn Trai bình điểm“.

Năm 1957, nhà xuất bản Nhân dân văn học xuất bản „bản hiệu chú“ và đến năm 1982 lại cho ra đời „bản hiệu chú mới“.

Hồng Lâu Mộng (các bản Trình A, trình B) in ra, giá bán mỗi bộ đến mấy chục lạng bạc, nhưng thiên hạ tranh nhau mua đọc, khắp kinh thành nhà nào cũng phải có một bộ trên bàn (1). Người ta „thích thú“ „vừa đọc vừa khen hay“, ca ngợi là „tác phẩm hay nhất không có gì hay hơn trong hàng tiểu thuyết (2)“, đến nỗi trong xã hội hình thành cả một tập tục thời thượng „chuyện trò không nhắc đến Hồng Lâu Mộng, đọc hết thi thư cũng phí hoài (3)“. Một mặt vì người đời đã chán ngấy cái nền „Kinh học“ gò gẫm gượng gạo, uốn lượn theo thời thế của thời Càn Long – Gia Khánh, mặt khác cũng bởi sức hấp dẫn của cấu tứ nghệ thuật tự nhiên thoải mái, hình tượng nhân vật sinh động đầy đặn, tu duy thâm trầm nhạy bén, cảm thụ chân thực tế nhị và ngôn ngữ văn học phong phú đẹp đẽ cũa Hồng Lâu Mộng, nên „đến đầu đời Quang Tự, sĩ đại phu kinh triều đều rất say mê“ (Bát kì hoạ lục dẫn). Người ta ngang nhiên chế giễu Kinh học, đem Hồng học ra đối lập với Kinh học, khẳng định Hồng học mới là văn học đích thực, quả là hiện tượng có một không hai trong lịch sử văn học Trung Quốc. Mà dùng tên tác phẩm để gọi ngành học như thế, trong văn học sử Trung Hoa cũng chỉ có „Tuyển học“ (nghiên cứu sách „Chiêu minh văn tuyển“ của Tiêu Thống, thái tử nhà Lương thời Nam triều tổ chức biên tập, là bộ tuyển tập thơ văn sớm nhất hiện còn của Trung Quốc) là có thể so sánh mà thôi. Hồng Lâu Mộng được yêu chuộng như vậy nên đã có ngót 40 bộ sách viết tiếp như Hậu Hồng Lâu Mộng, Hồng Lâu Mộng bổ, Hồng lâu viên mộng, Hồng lâu chân mộng, ... và đến hơn 20 chục bộ phỏng tác như Kính hoa duyên, Hoa nguyệt ngần, Nhi nữ anh hùng truyện, Thuỷ thạch truyện, Nhất tằng lâu...

Đương nhiên Hồng Lâu Mộng cũng vấp phải sự huỷ báng và chống đối của các thế lực bảo thủ, nhân danh bảo vệ đạo đức xã hội. Hoặc vu khống Hồng Lâu Mộng là sách „hối dâm“ (dạy dâm), là cái bứu chứa đầy tà thuyết (tà thuyết bị hành chi vưu), hoặc nguyền rủa tác giả Tào Tuyết Cần và hậu duệ của ông chịu „quả báo“, thậm chí có kẻ kiến nghị „chi bằng dồn tứ dâm thư ấy lại, đưa tống ra hải ngoại để đáp lại cái ý lưu độc thuộc phiện của nó“. Bao triều vua từng ra lệnh cấm và huỷ Hồng Lâu Mộng.

Nhưng điều đó chỉ càng cho thấy ảnh hưởng xã hội to lớn của tác phẩm. Ảnh hưởng của Hồng Lâu Mộng không dừng lại trong biên giới Trung Hoa. Năm 58 (1793), vừa chào đời được hơn một năm, Hồng Lâu Mộng đã truyền sang Nhật Bản và sau đó đến nhiều nước Đông Nam Á. Cuối thế kỉ XIX, ở Anh đã xuất hiện bản trích dịch và đến đầu thế kỉ XX thì các bản trích dịch đã ra đời ở nhiều nước phương Tây. Theo thống kê, đến nay trên thế giới ít ra đã có 16 thứ ngôn ngữ khác nhau Anh, Pháp, Đức, Nhật, Italia, Hungari, Hà Lan, Rumani, Triều Tiên, Việt Nam... dịch toàn văn học hoặc trích dịch Hồng Lâu Mộng. Nhiều nước đưa Hồng Lâu Mộng làm mục từ của từ điển bách khoa hoặc bách khoa thư của mình và đánh gia rất cao. Bách khoa toàn thư Pháp đánh giá „Hồng Lâu Mộng là một tấm gương của xã hội Trung Quốc thế kỉ XVIII“, „là một cột mốc lớn trên văn đàn thế giới“.

Hồng học ra đời và phát triển

Không lâu sau khi bộ tiểu thuyết được truyền bá, đã ra đời một ngành học lấy nó làm đối tượng nghiên cứu, gọi là Hồng học.

Các lời bình trong „Chi nghiễn trai trùng bình Thạch đầu kí“ các bản Giáp Tuất (Càn Long 19, 1754), Kỉ Mão (Càn Long 24), Canh Thìn (Càn Long 25) viết ngay khi Tào Tuyết Cần còn sống, thậm chí có thể đa được Tào Tuyết Cần tiếp thu phần nào. Đó có lẽ là những tư liệu Hồng học sớm nhất.

Trong những bước đi chập chững ban đầu, „Hồng học“ đã từng đi sai đường, biến thành những trường phái nghiên cứu gán ghép, gượng gạo khiên cưỡng. Phái thứ nhất nói rằng Hồng Lâu Mộng hoàn toàn vì Thanh Thế Tổ và Đổng Ngạc Phi mà sáng tác, đồng thời đề cập đến các danh vương kì nữ đương thời. Tiêu biểu cho phái này là cuốn „Hồng Lâu Mộng sách ẩn“ của Vương Mộc Nguyễn. Phái thứ hai tiêu biểu là „Thạch đầu kí sách ẩn“ của Thái Khiết Dân, cho Hồng Lâu Mộng là tiểu thuyết chính trị thời Khang Hy nhà Thanh. Phái thứ ba đại để chủ trương rằng những tình tiết trong Hồng Lâu Mộng đều là việc của Nạp Lan Thành Đức (Thành Đức sau đổi tên là Tính Đức, tự là Dung Nhược, là con trai của Tể tướng Minh Châu thời Khang Hy) v.v... và v.v...

Phải nhờ lao động đáng kính và thành tự khả quan của một loạt học giả sau Ngũ Tứ đem cái học khảo chứng vào nghiên cứu Hồng Lâu Mộng như Thái Nguyên Bồi, Ngô Thế Xương, Du Bình Bá, Lý Huyền Bá, Phan Trọng Quy và đặc biệt là Hồ Thích với công trình „Hồng Lâu Mộng khảo chứng“ nổi tiếng hoàn thành năm 1921, khai sáng phái Tân Hồng học (hồng học mới) thì việc nghiên cứu Hồng Lâu Mộng mới thoát khỏi tình trạng gán ghép áp đặt mà trở thành một ngành học thật sự có phương pháp khoa học hẳn hoi, xuất phát từ việc khảo sát tác giả và văn bản tác phẩm.

Hội thảo Hồng Lâu Mộng qui mô toàn Trung Hoa lần thứ nhất họp ở Cáp Nhĩ Tân mùa thu năm 1980 có hơn 70 bản tham luận. Tại hội thảo này cũng đã chính thức thành lập Hội Hồng Lâu Mộng học Trung Quốc. Sau đó, năm 1981 ở Tế Nam, năm 1982 ở Thượng Hải, năm 1983 ở Nam Kinh, năm 1985 ở Quý Dương... đã lần lượt tở chức các hội thảo và sinh hoạt hằng năm của Hội.

Viện nghiên cứu nghệ thuật Trung Quốc đã thành lập một cơ cấu học thuật chuyên nghiệp là Sở nghiên cứu Hồng Lâu Mộng. Chuyên đăng tải các thành tự nghiên cứu Hồng học có hai tạp chí lớn, một là „Hồng Lâu Mộng học san“ ra hằng quí do ba nhà Hồng học nổi tiếng là Vương Triều Văn, Phùng Kì Dung và Lý Hy Phàm làm chủ biên; một nữa là „Hồng Lâu Mộng nghiên cứu tập san“ do Sở nghiên cứu văn học thuộc Viện khoa học xã hội Trung Quốc chủ trì.

Phân hội Giang Tô đã xuất bản bộ „Tư liệu tham khảo nghiên cứu Hồng Lâu Mộng“, tháng 10/1982 đã công bố „kết quả mười năm gian khổ hiệu đính chỉnh lí văn bản Hồng Lâu Mộng“ của Phan Trọng Quy, đến năm 1983 lại công bố „Hồ sơ mới phát hiện về gia thế Tào Tuyết Cần“. Mới đây, Du Bình Bá đã tập hợp các bản „Chi Nghiễn Trai trùng bình Thạch đầu kí“ gồm hơn 2000 lời bình điểm thành một tư liệu quan trọng để nghiên cứu Hồng Lâu Mộng.

Hồng học ngày nay đã thành một ngành học vấn ở phạm vi quốc tế. Mùa xuân năm 1980, trường ĐH Wisconsin ở Mỹ đã đứng ra triệu tập Hội nghị nghiên cứu Hồng Lâu Mộng quốc tế. Tháng 6/1986, Hội thảo Hồng Lâu Mộng quốc tế lần thứ hai họp tại Cáp Nhĩ Tân (Trung Quốc). Tại đây cũng diễn ra Liên hoa nghệ thuật Hồng Lâu Mộng.

Với thành tựu sáng tạo độc đáo về văn học, với tư tưởng nhân văn sâu sắc về nội dung, với giá trị toàn diện về văn hoá và với ảnh hưởng sâu rộng trên thế giới, Hồng Lâu Mộng thật sự là một pho tuyệt thế kì thư của văn học Trung Quốc, xứng đáng được giới thiệu với độc giả Việt Nam như một bông hoa tươi sắc thơm hương trong vườn hoa văn học thế giới.

GS. Phan Văn Các
09/1995

-----------------------------------------------

(1) Sái thư đường kí bút: án đầu tất hữu nhất bản

(2) Từ dư tùng thoại: tiểu thuyết trung vô thượng thượng phẩm

(3) Kinh dô trúc thi từ: Khai đàm bất thuyết Hồng Lâu Mộng, độc tận thi thư diệc uổng nhiên.


Nguồn: www.tvbvnfc.net do lilychouchou đăng

February 2014
M T W T F S S
January 2014March 2014
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28