My Opera is closing 3rd of March

Hồng Lâu Mộng

Subscribe to RSS feed

Tranh vẽ 12 thoa của hoạ sĩ An Ho

Lâm Đại Ngọc

Là em họ đầu tiên của “người hùng” Giả Bảo Ngọc, Lâm Đại Ngọc mồ côi cha mẹ và đến sống trong phủ Giả. Hoá thân là cây Giáng Châu, nàng theo hình bóng của Bảo Ngọc - một hòn đá cõi Thái Hư Ảo Cảnh xuống trần thế để trả ơn bón tưới bằng nước mắt. Vì thế, nàng có mối liên hệ với Bảo Ngọc bắt nguồn từ lời hứa hợp nhất “mộc” và “thạch”. Chữ “Ngọc” trong tên nàng có cùng nét giống như chữ “Ngọc” trong tên của Bảo Ngọc. Thể trạng yếu đuối và thường buồn rầu, nàng cuối cùng trở thành nạn nhân của sự rầu rĩ buồn khổ. Nhưng sự nhạy cảm của nàng và tình cảm sâu nặng cho nàng sức lực để làm văn thơ. Tuy nhiên, sự thiếu may mắn và bối cảnh gia đình của nàng không xứng với Bảo Ngọc. Ban đầu, nàng ghen tuông với Bảo Thoa, tuy nhiên, nàng trở thành chị em tốt với Bảo Thoa sau khi Bảo Ngọc nói rõ tình cảm của Bảo Ngọc dành cho nàng. Nàng là người chơi thân duy nhất với Bảo Ngọc mà không ép buộc Bảo Ngọc phải học hành, thi cử, tiến thân bằng đường công danh. Nàng cũng là người duy nhất tìm cách hợp lí để dạy a hoàn học làm thơ. Tất cả những dẫn chứng trong truyện đều chỉ ra đoạn kết nàng chết đau đớn, tức tưởi khi tình yêu của nàng dành cho Bảo Ngọc không có kết thúc.


An Ho, 1993, màu nước trên giấy dc bọc lụa sử dụng kĩ thuật truyền thống của Trung Quốc, 54" x 88"

Lời bình của hoạ sĩ

Nỗi buồn với tình cảm sâu nặng. Mảnh vải vắt ngang và chiếc khăn tay được quấn cho thấy sự bất an về tình cảm. Cái trâm cài đầu bằng ngọc, hình cây trúc trên cổ áo và thân áo và hoa lan trên khăn vắt ngang vai đều thể hiện sự hài hoà.

Tiết Bảo Thoa

Là con gái của dì của Bảo Ngọc và cũng là đối thủ của Đại Ngọc về phương diện tình cảm với Bảo Ngọc, nàng có mối quan hệ họ hang với hai trong bốn gia tộc bề thế trong tác phẩm và vì thế là “môn đăng hộ đối” xứng với Bảo Ngọc hơn là Lâm Đại Ngọc. Sự thật là cái khoá vàng mà nàng đeo có chữ đối với những câu ghi trên viên ngọc của Bảo Ngọc, gây sức nặng cho lời hứa hợp nhất vàng - ngọc, đối lập với lời hứa mộc - thạch tượng trưng cho tình yêu của Đại Ngọc và Bảo Ngọc. Theo chiều hướng và cái nhìn tổng quan, trái ngược với Đại Ngọc, nàng vừa được lòng của chủ nhân và người hầu phủ Giả. Biết chút thơ phú như Đại Ngọc, nàng cho rằng việc thêu thùa may vá phù hợp với nữ nhi hơn là viết thơ văn, có cơ hội là nàng đốc thúc Bảo Ngọc học hành, chuẩn bị thi cử. Đối lập với yếu tố “mộc” trong tên của Đại Ngọc, Tiết có cùng nét với chữ “tuyết”, thể hiện cái lạnh lùng và thanh khiết trong tính cách và con người nàng. Lãnh hương hoàn nàng uống ức chế sự “hài hước, vui nhộn”, mặt khác, cho thấy thậm chí mùi hương toát ra từ người nàng cũng rất “giả tạo”.


An Ho, 1993, màu nước trên giấy dc bọc lụa sử dụng kĩ thuật truyền thống của Trung Quốc, 54" x 88"

Lời bình của hoạ sĩ

Vững chãi, tròn trịa và bề ngoài dễ ưa, tiết lộ một cuộc hôn nhân có lợi ích xã hội bên trong đó. Quần áo đơn giản cho thấy dưới vẻ ấm áp bên ngoài là một sự lạnh lùng có tính toán. hoạ tiết hoa tường vi biểu hiện sự giàu có và địa vị cao, nhưng ngầm cho thấy sự cân bằng và bình tĩnh trong con người nàng.

Sử Tương Vân

Là cháu của Sử thái quân, Sử Tương Vân đến thăm phủ Giả lúc này lúc khác để tham gia nhiều hoạt động mà Bảo Ngọc và những người khác tổ chức để vui đùa thư giãn. Là một cô nhi, Tương Vân lớn lên dưới cặp mắt dò xét của chú thím. Không giàu có và thiếu thốn quan hệ xã hội, nàng sống trong tình cảnh thiếu tiền chi dung và dựa chủ yếu vào việc thêu thùa may vá để có tiền chi tiêu. Bởi vậy, nàng mong muốn những cuộc viếng thăm phủ Giả khác biệt với cuộc sống hằng ngày buồn tẻ của nàng. Cuốn hút, thân thiện, thẳng thắn, con người nàng đối lập hoàn toàn với Đại Ngọc, dẫn đến việc châm ngòi cho cơn ghen tuông bộc phát của Đại Ngọc. Con kì lân vàng của Tương Vân và Bảo Ngọc tiết lộ mối quan hệ có lẽ xảy ra giữa hai người trong cuộc sống sau này. Làm thơ giỏi, nàng đã nối những vần thơ mà Đại Ngọc và Diệu Ngọc đã làm. Sổ chính sách và những lời bình luận tiết lộ vài khả năng về kết cục của nàng: 1) nàng lấy chồng nhưng nhanh chóng sống một mình xa chồng; 2) nàng lấy Bảo Ngọc sau vụ án nhà họ Giả và 3) nàng chết sau khi lấy chồng được một thời gian ngắn. Trong phần viết tiếp, Tương Vân lấy chồng hạnh phúc nhưng mất chồng ngay sau đó.


An Ho, 1993, màu nước trên giấy dc bọc lụa sử dụng kĩ thuật truyền thống của Trung Quốc, 54" x 88"

Lời bình của hoạ sĩ

Ngây thơ với sự cởi mở. Tao nhã và thẳng thắn. Nàng ăn bận khác biệt với các tiểu thư khác. Hoạ tiết thời Đường “một mĩ nhân huyền thoại” với nền đầy màu sắc được buộc quanh bằng dây dài. Tất cả những thứ này gộp lại mang lại vẻ tự nhiên đầy tinh nghịch của nàng.

Giả Nguyên Xuân

Là chị của Bảo Ngọc, Giả Nguyên Xuân đứng đầu Tứ Xuân phủ Giả. Tên của nàng có nghĩa là mùa xuân chính và là mẫu cho tên của ba người còn lại. Nàng được đặt tên như vậy vì nàng sinh ra vào ngày đầu tiên của mùa xuân. Trước khi nàng nhập cung, nàng chăm lo cho Bảo Ngọc như một người mẹ. Nàng được chọn làm phi tần đánh dấu đỉnh cao sự gia tăng danh vọng của phủ Giả. Nhưng trong lần về thăm cha mẹ, nàng than phiền cay đắng về cuộc sống chốn cung đình. Việc xây dựng vườn Đại Quan trong nỗi mong chờ nàng về thăm nhà cũng là một gánh nặng cho nguồn tài chính đang cạn dần của phủ Giả. Sau chuyến về thăm nhà, nàng ban lệnh mở vườn làm chỗ ở cho Bảo Ngọc và các chị em khác, chỗ mà họ được phép sống với những thú vui điền viên, tương đối tự do thoát khỏi sự quản lí của bố mẹ, đặc biệt là người cha khắc khe của Bảo Ngọc. Trong phần viết tiếp, Nguyên Xuân chết do bệnh đột ngột ở tuổi 43.


An Ho, 1993, màu nước trên giấy dc bọc lụa sử dụng kĩ thuật truyền thống của Trung Quốc, 54" x 88"

Lời bình của hoạ sĩ

Tài năng và đức độ. Một chút về con người nàng được hé lộ; bởi vì nàng được vẽ rất trang nghiêm, trong phong cách hoàng cung. Nàng mặc một bộ trang phục chính thống với mũ hình con phượng hoàng màu vàng. Con phượng hoàng màu vàng là một trong những “mĩ nhân trong truyền thuyết”. Nó nói lên địa vị hoàng tộc của người mặc nó.

Giả Nghênh Xuân

Là con gái của bác của Bảo Ngọc, Nghênh Xuân (chào đón mùa xuân) là người thứ hai trong Tứ Xuân. Nàng có một cái tên ngoại lệ để phân biệt hay giới thiệu nàng. Là con vợ lẽ, nàng hoàn toàn khác biệt với Thám Xuân, cũng là con vợ lẽ. Nàng không có tài thơ phú lẫn trông coi việc nhà, vì thiếu sự khác biệt nên mới có tên của nàng, người đứng thứ hai. Thật sự, nàng yếu mềm nên vài a hoàn lợi dụng nàng thoải mái. Và thay vì coi chừng a hoàn như một người chủ nhân vẫn thường làm, nàng không thể tự bảo vệ chính mình khiến a hoàn phải đến cứu nàng trong khi vườn Đại Quan bị lúc soát. Trong đoạn viết tiếp, nàng chết trong tay người chồng tàn bạo.


An Ho, 1993, màu nước trên giấy dc bọc lụa sử dụng kĩ thuật truyền thống của Trung Quốc, 54" x 88"

Lời bình của hoạ sĩ

Yếu mềm và bình dị. Ẩn đằng sau cái quạt là nỗi sợ hãi của nàng. Con sói trên quạt chỉ ra số phận hôn nhân bi thảm của nàng. Nàng có kiểu ăn mặc rất bình thường nhấn mạnh điểm bình dị của nàng và vị trí kém phần quan trọng trong gia đình.

Giả Thám Xuân

Là người thứ ba trong Tứ Xuân, Thám Xuân (tìm kiếm mùa xuân) là em gái cùng cha khác mẹ với Bảo Ngọc, và là con vợ lẽ. Nàng có tài thơ phú, nàng là người lập ra thi xã cho những người ở Đại Quan viên. Là một người quản lí thông minh và tài năng, nàng chứng tỏ khả năng cai quản ngang ngửa với Vương Hy Phượng. Nàng cũng là một trong những người cách tân, nhìn xa trông rộng, đưa ra nhiều biện pháp để cứu vãn tình hình kinh tế kiệt quệ của phủ Giả. Và chỉ nàng - một cô chủ trẻ tuổi – có cá tính mạnh mẽ chịu toàn bộ trách nhiệm về a hoàn của mình khi Đại Quan viên bị khám xét. Nhưng dù có khả năng tuyệt vời và đầy tài năng, một sự thật không đổi - nàng là con của vợ lẽ - là một gánh nặng khiến Thám Xuân cảm thấy bị ép buộc phải từ bỏ mối liên kết với mẹ đẻ và nhận mẹ của Bảo Ngọc – Vương phu nhân – là mẹ ruột. Trong phần viết tiếp, theo như sổ chính sách và những lời bình, Thám Xuân lấy chồng là con quan lại và phải rời xa nhà.


An Ho, 1993, màu nước trên giấy dc bọc lụa sử dụng kĩ thuật truyền thống của Trung Quốc, 54" x 88"

Lời bình của hoạ sĩ

Thông minh với tham vọng cao. Tham vọng quyền lực trong khi muốn che đậy thân phận thấp kém của nàng. Nhìn với sự ghen tị đến vị trí đại diện cho quyền lực của chị dâu. Hoa cúc, hoa của mùa thu, đại diện cho sự bền bỉ của nàng. Sự đơn giản trong cái tram cài đầu và quần áo chỉ ra nàng không có thời gian dành cho việc làm đẹp.

Giả Tích Xuân

Là người trẻ nhất trong những chị em họ của Bảo Ngọc, Tích Xuân (yêu thương mùa xuân) là một trong Tứ Xuân. Nàng được sinh trong Ninh phủ nhà họ Giả. Vì mẹ mất khi còn nhỏ, Tích Xuân được mẹ Bảo Ngọc – Vương phu nhân - nhận nuôi và được đưa sang vườn ở cho có bầu bạn với những người chị họ. Vì tuổi còn trẻ, tuy nhiên, nàng đã bộc lộ sở thích về tôn giáo trong sách vở. Cách nhìn xa cách về cuộc sống này tư nó chỉ ra rõ ràng khi danh vọng của phủ Giả có dấu hiệu xuống dần và việc khám xét buồng của nàng phát hiệnh ra một trong những a hoàn của nàng ăn cắp đồ đưa vào vườn Đại Quan, trái với gia qui. Tích Xuân lập tức đuổi a hoàn này và từ bỏ mõi quan hệ với gia đình bên nội. Không biết thơ phú nhiều, nhưng nàng tỏ ra là một hoạ sĩ khéo léo và được Giả Mẫu tin tưởng giao nhiệm vụ vẽ một bức tranh về vườn Đại Quan. Trong phần viết tiếp, nàng giống như Diệu Ngọc, trở thành một ni cô không cạo đầu sau khi Diệu Ngọc bị bắt đi.


An Ho, 1993, màu nước trên giấy dc bọc lụa sử dụng kĩ thuật truyền thống của Trung Quốc, 54" x 88"

Lời bình của hoạ sĩ

Tiêu cực và nhượng bộ, nàng tìm thấy sự trợ giúp từ thế giới tôn giáo thiền và tâm linh. Trâm tóc hình hoa sen tượng trưng cho sự thanh khiết, vì loài hoa này mọc lên không chút dơ bẩn từ ao hồ bùn lầy. Cổ nhướng lên tượng trưng cho ước muốn trường tồn trong thế giới tâm linh của nàng.

Vương Hy Phượng

Là cháu bên nội của mẹ Bảo Ngọc - Vương phu nhân – Vương Hy Phượng được tất cả thừa nhận, không chỉ tài cán nhất trong tất cả phụ nữ phủ Giả, mà đối với một số người thậm chí còn hơn cả chồng nàng. Bằng cách chiếm được sự đồng tình và yêu thích của những người phụ nữ quyền lực nhất trong dòng tộc, đứng đầu là Giả Mẫu và bằng cách thể hiện cho mọi người thấy khả năng cai quản hơn người, Hy Phượng đảm bảo sự lấn át, vượt trội, một nhân vật cứng rắn trong truyện. Sự thật nàng xuất thân trong một gia đình quyền lực nhất thời bấy giờ và làm dâu một gia đình khác để có thể bành trướng quyền lực và ảnh hưởng ngoài những mối liên hệ của phủ Giả. Thật sự có cái gì nữ quyền trong cách Hy Phượng ước muốn độc lập tiền bạc. Nhưng trong khi tìm kiếm sự thừa nhận và bình đẳng giới, nàng thường gây hại không cứu vãn cho các nạn nhân khác của chế độ phong kiến. Và tất cả sự khôn khéo và bất chấp sự thông minh sẵn có, việc nàng không thể sinh được con trai che mờ số phận của nàng. Mong muốn có người thừa kế nam để tiếp nối dòng tộc khiến chồng nàng thoải mái muốn lấy bao nhiêu vợ lẽ cũng được. Điều tốt nhất mà nàng có thể làm là cài bẫy một trong số họ và buộc cô vợ lẽ tự sát. Trong phần viết tiếp, nàng chết trong sự xấu hổ sau khi không sắp xếp tốt đám tang của Giả Mẫu.


An Ho, 1993, màu nước trên giấy dc bọc lụa sử dụng kĩ thuật truyền thống của Trung Quốc, 54" x 88"

Lời bình của hoạ sĩ

Dữ dằn, tài năng và đầy thủ đoạn. Nàng là một nhân vật có quyền ngồi đường hoàng trên chiếc ghế quyền lực. Trang phục của nàng được thêu hoạ tiết hoa tường vi và bướm, thể hiện sự giàu có và trường tồn. Nàng mặc bộ trang phục đặc trưng cho một phụ nữ giàu có, quyền lực và truyền thống.

Tần Khả Khanh

Làm dâu trong Ninh phủ nhà họ Giả, Tần Khả Khanh còn được gọi là Tần thị. Nàng được một trại trẻ mồ côi nhận nuôi và lớn lên là một phụ nữ cực kì quyến rũ. Trong phần đầu truyện, nàng mắc một chức bệnh không chữa được và chết ở cái tuổi 20. Tuy nhiên, việc nàng chết một cách kì lạ và phản ứng tình cảm quá khích của bố chồng nàng kể về cái chết của nàng tạo ra một câu chuyện khác. Theo thông tin cơ bản dựa trên sổ chính sách và những lời bình luận và những khúc mắc mà tác giả đã cài trong lời thoại, những nhà nghiên cứu đã cho rằng Tần Khả Khanh thật sự treo cổ khi hôn nhân rạn nứt do mối quan hệ giữa nàng và bố chồng bị phát hiện. Nhưng do sự ngưỡng mộ của Red Inkstone (là ai?) đối với nàng, tác giả đã sửa lại cách xử lí cái chết của nàng và tin tưởng trao nàng hai nhiệm vụ quan trọng: 1) nàng nhường phòng của nàng cho Bảo Ngọc khi Bảo Ngọc muốn nghỉ mệt. Bảo Ngọc nằm mơ thấy tiên cô của Thái hư ảo cảnh, nhìn thấy sổ và nghe khúc Hồng Lâu Mộng. Khi Bảo Ngọc tỉnh giấc mộng, Bảo Ngọc gọi tên tiên cô trong giấc mộng là Khả Khanh mà không hề biết tên tục của nàng. 2) Khi nàng chết, nàng hiện về báo mộng cho Vương Hy Phượng, báo cho Hy Phượng biết sự sụp đổ không tránh khỏi của nhà họ Giả và đưa ra biện pháp cho Hy Phượng để bảo vệ nhà họ Giả tránh sụp đổ không cứu vãn được.


An Ho, 1993, màu nước trên giấy dc bọc lụa sử dụng kĩ thuật truyền thống của Trung Quốc, 54" x 88"

Lời bình của hoạ sĩ

Sắc đẹp và phong cách quý phái. Rất tình tứ. Nhìn bờ vai nàng từ sau lưng với hàng ngàn duyên dáng. Cái khăn quàng qua vai dài được thêu hoạ tiết hoa tường vi biểu hiện sự giàu có, trong khi khăn dài kéo lê dưới đất tạo cho nàng một cử chỉ đung đưa, rung rinh lộ nét duyên dáng quyến rũ.

Lý Hoàn

Trở thành goá bụa sau khi lấy anh trai Bảo Ngọc, Lý Hoàn là một mẫu người phụ nữ Trung Quốc truyền thống. Nàng xuất thân trong một gia đình dạy con cái đầy đủ. Nhưng cha nàng tin rằng con gái chỉ nên học Tứ thư dành cho con gái và cuộc sống của phụ nữ quyền quí để mà chính nàng là hình mẫu của mẫu người đức hạnh trong quá khứ. Nàng được nuôi dạy với tư tưởng “thiếu tài năng, đối với phụ nữ là đức hạnh” và được đặt một cái tên cho thấy sự quan tâm quan trọng hàng đầu vào công việc thêu thùa may vá đối với một người phụ nữ. Và là một goá phụ trẻ, ngoài việc chăm sóc con trai, nàng dồn hết cả cuộc đời vào việc kéo sợi và dệt vải. Tuy nhiên, nàng chủ trì hội quán do Thám Xuân lập ra và chăm lo với tư cách là một thành viên của chế độ tam đường để giám sát sinh hoạt hằng ngày. Trong phần viết tiếp, nàng chết sau khi con trai nàng thi cử đỗ đạt không lâu.


An Ho, 1993, màu nước trên giấy dc bọc lụa sử dụng kĩ thuật truyền thống của Trung Quốc, 54" x 88"

Lời bình của hoạ sĩ

Tự buộc mình vào kỉ luật của chính mình. Hoạ tiết hoa mận cho thấy sự hoà hợp cao và đúng mực. Hoạ tiết nước trên váy đại diện cấp bậc cao của đạo đức.

Diệu Ngọc

Là một ni cô không xuống tóc, Diệu Ngọc xuất thân từ một gia đình gia giáo. Khi sinh ra, nàng là một đứa trẻ ốm yếu. Để cải thiện sức khoẻ, nàng qui y và trở thành ni cô với đầu còn nguyên tóc. Nàng được mời đến ở vườn Đại Quan sau khi Giả phi quyết định cho Bảo Ngọc và các chị em đến ở đó. Khi mà nàng xuất hiện trong truyện thì bố mẹ nàng đã mất. Nàng được cho là lo lắng thái quá và kì dị. Vì vậy, khi già Lưu, một phụ nữ nông dân uống một trong những cốc trà cổ của nàng thì nàng lập tức cho người vứt đi. Nàng có tài thơ phú, nàng đã nối vần thơ để kết thúc bài thơ nà Đại Ngọc và Sử Tương Vân làm. Sự thật là chữ “Ngọc” trên trong tên của nàng tương tự với chữ trong tên của Đại Ngọc và Bảo Ngọc cho thấy nàng cũng có mối nhân duyên với hai người này. Theo sổ chính sách và lời bình, sẽ có một ngày Diệu Ngọc rời am và mất đi sự thanh khiết như một viên ngọc rơi xuống bùn lầy. Trong phần viết tiếp, Diệu Ngọc mất phương hướng trong thiền pháp và bị dục vọng quấn lấy. Cuối cùng, nàng bị tên cướp bắt đi.


An Ho, 1993, màu nước trên giấy dc bọc lụa sử dụng kĩ thuật truyền thống của Trung Quốc, 54" x 88"

Lời bình của hoạ sĩ

Thích hư danh với nỗi sợ tâm linh bị vấy bẩn. Quần áo của nàng với những miến vá, mạng nghèo nàn cho thấy nàng là một ni cô, tấm gương chỉ ra sự hư vinh còn đọng lại.

Xảo Thư

Là con gái của Vương Hy Phượng, Xảo Thư ban đầu được gọi là Đại Thư (con gái đầu tiên). Khi còn là đứa trẻ, Xảo Thư ốm yếu. Khi già Lưu, một phụ nữ nông dân, đến thăm vườn Đại Quan, Hy Phượng hỏi bà đặt tên cho cháu bé. Già Lưu được biết là Đại Thư sinh ra vào ngày bảy tháng bảy âm lịch nên để nghị đặt tên là Xảo Thư (đứa bé gái may mắn). Già Lưu rất tinh ý khi kết hợp ngày sinh nhật của Xảo Thư với truyền thuyết Ngưu Lang và Chức Nữ, người số phận an bài chỉ được gặp nhau một lần mỗi năm. “Xảo” có nghĩa là tình cờ, vì thế tên gọi Xảo Thư ý nghĩa gấp đôi: nó đánh dấu sự sinh ra trùng hợp ngẫu nhiên với sự hợp nhất hai người yêu nhau trên trời và trùng hợp với câu “wu qiao bu cheng hua” (không có sự tình cờ thì không có câu chuyện) mà những người kể chuyện ngày xưa hay dung để làm nền cho sự tưởng tượng, sáng tạo của mình. Trong phần viết tiếp, già Lưu cứu Xảo Thư từ người họ hang tham lam và gả cho con trai một chủ đất giàu có.


An Ho, 1993, màu nước trên giấy dc bọc lụa sử dụng kĩ thuật truyền thống của Trung Quốc, 54" x 88"

Lời bình của hoạ sĩ

Ngây thơ và vô tư. Quần áo sang sủa chỉ ra con người vui vẻ và tương lai may mắn trong số phận của Xảo Thư.

Nguồn: http://museum.oglethorpe.edu/RedChamber.htm

Alexkiker dịch và đăng trên www.tvbvnfc.net

February 2014
M T W T F S S
January 2014March 2014
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28