Thế nào là "Thạch đầu kí"? Thế nào là "Hồng Lâu Mộng"?
Sunday, July 5, 2009 12:26:05 PM
Vậy thì cuối cùng “TĐK” là gì? “TĐK” là truyện “Truyền quốc ngọc tỷ” (ngọc tỉ truyền quốc).
Truyền quốc ngọc tỉ sinh ra từ tay vị vua phong kiến đầu tiên của TQ Tần Thuỷ Hoàng, đến nay đã thành biểu tượng cho vương quyền phong kiến. Hơn 2000 năm lịch sử phong kiến, chính là lịch sử thay triều đổi đại, nên có thể gọi đó là lịch sử tranh đoạt “truyền quốc ngọc tỉ”, vì thế Mao chủ tịch có câu thơ “Giang sơn đến nay có bao nhiêu người đẹp, khiến vô số anh hùng phải đua tranh”. Cuối đời Tây Hán, Vương Mãng soán ngôi, cô của Vương Mãng đem ngọc tỉ truyền quốc (NTTQ) đánh rơi xuống đất, kết quả khiến NTTQ vỡ một góc, Vương Mãng sau đó dùng vàng trạm lại. “Ngọc” và “vàng” trong “TĐK” đều bắt nguồn từ đây.
“Vàng ngọc” trong “TĐK” đều là “NTTQ”. “NTTQ” còn gọi là “truyền quốc tỉ”, Võ Tắc Thiên thấy “tỉ” và “tử” (chết) gần âm nhau nên đổi thành “bảo”, vì thế “truyền quốc tỉ” lại còn gọi là “truyền quốc bảo”. Ý nghĩa của “Bảo Ngọc” do “ngọc là tỉ”, nên có nghĩa là “ngọc tỉ”, tức “truyền quốc ngọc tỉ”.
Bảo Ngọc đeo “Thông linh bảo ngọc” cũng là “Truyền quốc ngọc tỉ”, lai lịch của nó và câu chuyện Tần Thuỷ Hoàng dùng “Ngọc họ Hoà” chế tác thành “NTTQ” hoàn toàn giống nhau, mặt trên có khắc 8 chữ.
Trong “12 người đẹp Kim Lăng”, ngoài con cháu thê thiếp nhà họ Giả, còn có 4 “Mỹ nhược thiên tiên” từ ngoài đến, tức Diệu Ngọc, Sử Tương Vân, Lâm Đại Ngọc, Tiết Bảo Thoa, đại diện cho 4 triều đại Tống, Nguyên, Minh (chỉ riêng Chu Minh ở Nam Ninh, Chu Minh tức là nhà Minh vua mang họ Chu), tất cả đều vì “Bảo Ngọc” mà thành “anh hùng” “tranh người đẹp”.
Trong “TĐK”, “ngọc” chỉ người Hán, “kim” chỉ người dân thiểu số, đặc biệt người du mục phương bắc. Tên Diệu Ngọc và Đại Ngọc đều có chữ “ngọc”, đại diện cho chính quyền người Hán Tống và Minh; Sử Tương Vân và Bảo Thoa đều có đồ trang sức đeo bằng vàng, một là “kim kỳ lân”, một là “kim anh lạc” (chuỗi vòng vàng), đại diện cho chính quyền người du mục Nguyên và Thanh. Không chỉ vậy, Diệu Ngọc trở về là khi triều Tống diệt vong từ góc ngọc khi “NTTQ” bị rơi, đại biểu cho Triệu Tống ngọc tỉ; Sử Tương Vân là góc viên ngọc của Nguyên Mông sau khi góc ngọc sau “Diệu Ngọc” của Triệu Tống vỡ, phải nạm vàng lại, đại diện cho kim tỉ của Nguyên Mông. Cái này và việc Vương Mãng soán ngôi nhà Hán khiến “TQNT” bị vỡ 1 góc, phải dùng vàng bổ lại hoàn toàn thống nhất. Nguyên Mông diệt Tống chính là “soán Hán”, ý tức soán chính quyền người Hán. Quan hệ giữa Đại Ngọc và Bảo Thoa cũng hoàn toàn giống thế, Đại Ngọc là góc ngọc tỉ của Chu Minh khi rơi vỡ, Bảo Thoa là góc kim tỉ của Mãn Thanh sau “Đại Ngọc”, phải dùng vàng bổ lại. Mãn Thanh diệt Tống cũng là “soán Hán”.
Quốc hiệu của Mãn Thanh đầu tiên gọi là “Kim”, sử gọi là “Hậu Kim”. “Kim” trong “TĐK” cũng còn có nghĩa là “kim” trong “Hậu Kim”. Sau khi Vương Mãng soán Hán đổi quốc hiệu thành “Tân”, tiếp theo Vương Mãng bổ vào “TQNT” phần bằng vàng, có thể gọi là “tân kim” (vàng mới), chỉ phần bổ thêm này. Nó (“tân kim”) và “Hậu Kim” trong tên nước hoàn toàn giống nhau, Mãn Thanh kim tỉ “Tiết Bảo Thoa”, cũng là phần bổ thêm vào “NTTQ” của “Hậu Kim”.
Trong “TĐK”, “Bảo Ngọc” là nhân vật số một, là trung tâm của các nhân vật, Diệu Ngọc, Tương Vân, Đại Ngọc, Bảo Thoa đều là các nhân vật xoay quanh “Bảo Ngọc”, tất cả đối với tình cảm của “Bảo Ngọc” đều có chút gì đó, vì vậy tất cả đều tranh và ghen, minh tranh ám đấu (ngoài mặt thì tranh giành, bên trong thì đấu đầu). Vì sao lại như vậy? Chính là vì tương tự chuyện bổ phần khuyết của “Bảo Ngọc”.
Đó chính là vì cái gọi là "nhớ vàng nhớ ngọc" trong “TĐK”, “TĐK” thực chất là truyện về “TQNT”.
Còn “HLM” là gì ?
“TĐK” tức “NTTQ”, “Bảo Ngọc” chính là “NTTQ”. Trên “NTTQ” có 8 chữ, tức “Thụ mệnh vu thiên, ký thọ vĩnh xương” (Nhận lệnh của trời, mãi mãi bền vững), tiếp theo “TĐK” tương đương với 8 chữ trên “NTTQ”, 8 chữ này lại tương đương với 80 hồi của “TĐK”, “TĐK” chính có 80 hồi.
Đại Ngọc, Bảo Thoa lại là “ấn nê” (cái hộp đựng ấn), xuất xứ của nó là “giáng châu thảo” (cỏ màu đỏ) trong sách. Xem “Thạch đầu ấn hồng lâu” của Hoàng nghiễn đường, Bảo Ngọc và Đại Ngọc, Bảo Thoa, cũng là quan hệ “ấn tỉ” và “ấn nê”.
Ấn nê của “TQNT”, bọc bằng giấy, trên dấy có thể xuất hiện 8 chữ “Thụ mệnh vu thiên, ký thọ vĩnh xương”, mà 8 chữ đó là “HLM”, tức 80 hồi.
“TĐK” là 8 chữ “Thụ mệnh vu thiên, ký thọ vĩnh xương”, “HLM” cũng là 8 chữ đó, và “HLM” và “TĐK” không phải là một ? Không.
8 chữ trên “NTTQ”, và 8 chữ trên giấy bọc, về hướng và hình hoàn toàn ngược nhau, đó là việc làm ấn. Vì thế nói rằng, “HLM” là phản văn của “TĐK”, và ngược lại, “TĐK” là phản văn của “HLM”.
8 chữ trên giấy bọc rõ ràng, có thể nói người trên đời đều biết (đều đọc được). Nhưng nếu nhìn trực tiếp 8 chữ trên “NTTQ”, tức đọc phản văn của 8 chữ này, có thể mất chút sức lực. Nếu như không phải 8 chữ, mà là 80 hồi “TĐK” thì sao? Đem toàn bộ 80 hồi “TĐK” đọc thành “phản văn”, nó không còn là vấn đề về sức lực nữa. Trừ những người chuyên làm ấn, người thường đọc khó như lên trời. Vì thế chúng ta đọc phản văn “TĐK”, cách tốt nhất là đem nó “in” (đóng dấu) ra giấy, trực tiếp thành chính văn “HLM”.
Tuy nhiên, phản văn “TĐK” không phải “TĐK”, hiển nhiên chính văn “TĐK” đúng là “TĐK”. Cũng có thể nói, chỉ có đọc chính văn “TĐK” mới là đúng đọc “TĐK”, không thể đọc phản văn. Nếu đọc phản văn, tức là đọc “HLM”. Muốn đọc “HLM”, thì có thể trực tiếp đọc “HLM” in trên giấy, sao phải đọc phản văn “TĐK” nữa ?
Sở dĩ “TĐK” phải đọc chính văn, chính văn “TĐK” là phản văn “HLM”, vì thế đọc chính văn “TĐK” là đọc phản văn “HLM”.
Cũng có thể nói, 8 chữ trên “NTTQ”, in ra giấy thành “Thụ mệnh vu thiên, ký thọ vĩnh xương”, dễ dàng nhận ra, vì là chính văn, tức là hoàn toàn giống với những gì chúng ta vẫn đọc và viết, nhưng tác giả lại muốn chúng ta đọc phản văn. Ngược lại, 8 chữ trên “NTTQ”, căn nguyên là phản văn, tác giả muốn chúng ta đọc chính văn.
Vì sao lại vậy ?
Tác giả “TĐK” là Hồng Thăng, Hồng Thăng là người đầu đời Thanh, “TĐK” thành sách khoảng năm Khang Hy. “TĐK” giống với Mãn Thanh chinh phục Chu Minh được ví là “Vương Mãng soán Hán”, trong “Văn tự ngục” thịnh hành đầu đời Thanh có thể khép vào tử tội, thậm chí có thể chu di 9 họ.
Mãn Thanh sau khi vào quan ải giết người như rạ, như “Dương Châu thập nhật”, “Gia Định tam đồ”, khiến số người Hán giảm một nửa. Sau khi nhanh chóng giành thắng lợi quân sự, vì ức chế tư tưởng phản Thanh, Mãn Thanh lại dùng “Văn tự ngục”, nhưng chỉ có một phương kế: “giết”. Thuận Trị mượn cớ này dẫn đến các vụ như “Thuận Thiên khoa trường án”, “Giang Nam khoa trường án”, bêu rếu việc giết các sĩ tử người Hán. Chiếu chỉ ban: “Cấm sĩ tử không được kêu gọi, lập minh hội bừa bãi, cấm cả dùng các chữ và ký hiệu minh hội,… không theo sẽ bị diệt”. Năm 1663 (Khang Hy thứ 2), Khang Hy mới lên ngôi, đã làm nên một đại án văn tự ngục “Trang thị Minh sử án”. Phú thương Triết Giang là Trang Đình Lung mua được từ tể tướng cuối đời Minh là Chu Quốc Trinh cuốn di cảo “Minh sử”, mời các danh sĩ địa phương tu soạn, thêm vào phần lịch sử đời vua Sùng Trinh cuối cùng của đời Minh, ghi chép đúng việc Mãn Thanh vượt quan ải vào chiếm. Mãn Thanh vì muốn dẹp yên tộc người Nữ Chân ở đông bắc vốn thần thuộc Minh triều, dùng tội danh “phỉ báng Thanh triều”, lùng bắt toàn bộ thân thuộc của những người tham gia và biên tu, cả những người liên quan, thậm chí mua sách cũng đều bị bắt. Bắt bớ tới hơn 2000 người, tử hình 70 người, trong đó xử tử 18 người lăng trì. Những quan lại bị mất chức biến làm nô bộc vô số. Mãn Thanh văn tự ngục từ đó không thể thu lại được, càng ngày càng hà khắc, càng ngày càng thảm khốc vô nhân đạo.
“Văn tự ngục” đầu đời Thanh, chính là nguyên nhân Hồng Thăng đem “TĐK” viết thành “phản văn”. “TĐK” là “phản văn”, tác giả của nó đương nhiên chép việc gia cảnh bị diệt, vì cái gọi là “phản văn”, cũng là “văn tạo phản”. “TĐK” thành sách vào năm Khang Hy, và thành “văn tạo phản”, chính là “văn phản Mãn Thanh”. Đó chính là ngụ ý “phản văn”, trong đó ngụ ý tư tưởng “bài Mãn”. Tư tưởng “Hoa Di”, chính là tư tưởng chủ đạo của “TĐK”.
“TĐK” là một bộ tiểu thuyết dùng “phản văn” viết thành, vì thế chúng ta đọc bản “phản văn” của nó, chính là đọc chính văn “TĐK”.
Giải thích đến đây giống như chỉ là mồm mép, chúng ta nói một cách khác. Trên “NTTQ” có 8 chữ “phản văn”, in lên giấy đậy chính là 8 chữ “Thụ mệnh vu thiên, ký thọ vĩnh xương”. Chúng ta khi mặt nhìn vào giấy, 8 chữ “Thụ mệnh vu thiên, ký thọ vĩnh xương”, chính theo cách mà chúng ta thường đọc, ai cũng hiểu được; nhưng nếu mặt ta nhìn vào “NTTQ”, sẽ không còn là cách mà chúng ta thường đọc, khi đó ai hiểu được nghĩa của 8 chữ này?
Nếu bạn đọc ra 8 chữ “Thụ mệnh…”, là bạn đã đọc nhầm rồi, rõ ràng là bạn đã đọc “phản văn”. Đọc “chính văn” của “NTTQ” theo cách chúng ta vẫn đọc thông thường, mới là cách đọc đúng, nếu có thể từ đọc “chính văn” mà hiểu ra ý tứ, thì mới hiểu “TĐK”, nói cách khác, chủ đề của “TĐK” tuyệt không phải “Thụ mệnh…”. Ở đây ngụ ý một chủ đề lớn khác xem “TĐK”, tức tư tưởng “phản đế”, đương nhiên “đế” ở đây chỉ hoàng đế.
“TĐK” là sản phẩm đặc thù dưới điều kiện lịch sử đặc biệt. Sau khi triều Minh diệt vong, có rất nhiều văn nhân người Hán chép “Minh sử”, muốn sửa Minh sử để báo đáp cố quốc, Hoàng Tống Nghĩa từng nói: “Nước có thể diệt, sử không thể diệt”. Nhưng khi đại hưng văn tự ngục đầu đời Thanh, nó hầu như là một việc khó có thể hoàn thành. Chính trong bối cảnh lịch sử như thế này, đã sinh ra “TĐK” vĩ đại, tức phản văn “HLM”, “TĐK” chính là một bộ truyện “TQNT”, cũng là một bộ “Minh sử”. Tác giả Hồng Thăng đã tu soạn một bộ “Minh sử”, vì tránh né văn tự ngục của Mãn Thanh, để bộ “Minh sử” này được lưu truyền trên đời, tác giả phải đem “TĐK” dùng “phản văn” để chép, “vấn thế truyện ký” (truyện được cho ra đời, công khai với đời).
“TĐK” ở dưới ngọn Thanh Ngạnh, vách Vô Kê, núi Đại Hoang , chỉ có Không Không đạo nhân có thể thấy “Lư sơn chân diện mục”. Chúng ta bây giờ có thể đọc được, chỉ là Không Không đạo nhân đã chép lại “TĐK”. Nhưng Không Không đạo nhân lại đem tên sách đổi thành “Tình tăng lục” (Truyện về sư hữu tình). Vì sao vậy? Vì thứ Không Không đạo nhân chép lại không phải “TĐK”, mà là “HLM”, “đến ngọn Ngô Ngọc nói: HLM”, điểm này đã được nói rõ. “TĐK” là “phản văn”, nhưng vì Không Không đạo nhân “kiểm lại một lượt”, hay là nhận ra “TĐK” “không phải thương thời mạ thế (chửi đời)”? Điều này cũng chỉ rõ là thứ ông ta chép ra là “HLM”. (Xem: “Thạch đầu ấn hồng lâu”, Hoàng nghiên đường)
“TĐK” bị Không Không đạo nhân chép lại sau khi “vấn thế truyện ký”, nhưng KKđn chép lại chính là “HLM”. Vì “vấn thế truyện ký” đúng là “HLM”. Vậy làm sao chúng ta có thể đọc được “TĐK” ?
Hồ Quát trong “HLM khảo chứng” có nói: “Chúng ta chỉ có thể căn cứ vào những bản và những tài liệu đáng tin cậy, xem tác giả sách này cuối cùng là ai, dấu tích gia thế của tác giả, thời đại sáng tác, sách này đã có những bản không giống nào, lai lịch như thế nào. Những vấn đề này trở thành phạm vi khảo chứng “HLM”.”
Những quan điểm này của Hồ Quát, cũng rất thích hợp với việc khảo chứng những tác phẩm cổ điển khác, nhưng với “TĐK”, thực ra không được. “TĐK” là sản phẩm “phi thường” sinh ra dưới áp lực của văn tự ngục đời Mãn Thanh, phải đọc “TĐK” bằng một cách “phi thường”. Tác giả “TĐK” từ khi bắt đầu sáng tác, đã cố gắng xoá hết dấu tích về “gia thế của tác giả, thời đại của tác phẩm”; người đời sau đọc hiểu thấu được “con người đó” trong “TĐK”, làm hết sức mình, tìm hiểu những điều được che đậy; đọc đi đọc lại hiểu rõ ngụ ý sâu xa của “TĐK” về Mãn Thanh, cuối cùng lập kế hoạch cẩn thận, viết lại thành “HLM”, đem “TĐK” chôn vào trong “HLM”. Xin hỏi cao nhân Hồ Quát, từ đâu có thể có “tài liệu đáng tin cậy”?
Chỉ nghiễn trai viết: “Gọi là TĐK, không được cho người thường đọc”. Nói cách khác, chỉ có “người phi thường” có thể đọc “TĐK”. Chỉ nghiễn trai còn viết: “Nay nhờ lão thái quân (người phụ nữ già) viết, là bảo những kẻ không có gì trong bụng (tức những kẻ ngu dốt) không thể động bút viết thành sách được”. Tôi cũng khuyên “những người không có gì trong bụng” không nên bàn về “TĐK”, nếu “Hồng học đại tác” (tức HLM) chỉ là viết loạn mà thành, thì sao lại phổ biến khắp nơi được? Nếu nhất định phải bỏ đi, chỉ nên phân phát cho quảng đại nông dân bần khổ, nếu nông dân người người hiềm nghi. (câu cuối không rõ nghĩa lắm)
Vậy cuối cùng phải đọc “TĐK” như thế nào? Chỉ có đọc bản thân văn bản “TĐK”, là phương pháp đúng duy nhất. Những “người trong đó” vẫn chưa được đọc sao? Mãn Thanh cũng không hiểu hết ngụ ý của nó sao?
Nhưng làm sao để đọc văn bản “TĐK” ?
Chính văn của “TĐK” chính là phản văn của “HLM”, chúng ta phải đọc “TĐK”, vì thế chỉ cần đọc phản văn của “HLM”. Chỉ có cách đến lại “dưới ngọn Thanh Ngạnh, vách Vô Kê, núi Đại Hoang”, tìm hỏi “Thạch Huynh”, nhưng lại có ai biết đây, cuối cùng thì “ngọn Thanh Ngạnh” ở phương nào? [Có khảo chứng chỉ ra rằng “ngọn Thanh Ngạnh” chính ở Bàn Sơn, Thanh Tân, nên có thể đến đó hỏi bản chép “TĐK” đúng cho chúng ta xem không? Xin đừng từ chối, đây là việc tốt vô cùng. Nhưng mong rằng người này không phải là “Không Không đạo sư” thứ hai. Chỉ cười một chút. Hoàng nghiễn đường]
Vậy làm sao để đọc phản văn của “HLM”? Đừng vội, tác giả đã sắp đặt rồi.
Trong “HLM” có rất nhiều câu đố, tác giả đưa ra cho chúng ta không ít thơ đố, tỉ như hồi 22 và 50, 51. Với những câu đố này, tác giả đều đưa ra cho chúng ta một số câu trả lời trước, số còn lại để chúng ta theo đó tự trả lời. Đó hiển nhiên là tác giả dẫn chúng ta giải đố, chỉ giải được những câu đố này, chúng ta mới có thể vào “cung điện Hồng lâu”. Tác giả như đã đưa cho chúng ta chìa khoá vào cửa, nhưng đến nay chưa ai hiểu được thâm ý của tác giả, chưa ai tiếp nhận chìa khoá đó. Vì không ai nhận chìa khoá vào cửa, nên cái gọi là “Hồng học” đến nay mới chỉ quanh bên ngoài “cung điện Hồng lâu”, cũng là việc đương nhiên.
Vì thế để đọc “TĐK”, tất phải “giải đố”, “giải đố” mới có thể vào được “cung điện Hồng lâu”. Nhưng chúng ta không thể “giải đố” để “giải đố”, tất phải đọc “TĐK” để “giải đố”. “Thơ đố” trong “HLM” rất hiểm hóc, mười phần nan giải. Nếu tìm được lời giải một lớp, cũng không biết nó có đúng là lời giải hay không, cũng vị tất rõ có còn lời giải ở lớp khác không. Có mê ngữ (câu đố), mê diện (ko hiểu lắm, có lẽ những gì liên quan xung quanh một câu đố), mê để (lời giải) và hàm ý trong lời giải, ngay cả giữa “diện” và “để”, nhất định cần phải rõ hàm ý của mê để trước mới có thể hiểu rõ ý tứ của mê diện. Vì thế chỉ có sau khi tìm ra được bí ẩn tàng dấu trong mê diện, mê để, hoặc nghiệm chứng trên dưới, hoặc nghiệm chứng tới lui, hoặc nghiệm chứng giữa câu đố với câu đố, cuối cùng tìm ra kết luận, mới có thể là lời giải đúng. Không chỉ vậy, cuối cùng nghiệm chứng kết luận tìm ra với văn cảnh trong “TĐK”, và nghiệm chứng với toàn văn “TĐK”, phải hoàn toàn phù hợp, trên dưới phải trái hoàn toàn thống nhất. Chỉ có mê để sau khi đã trải qua nghiệm chứng như vậy rồi, chúng ta mới có thể tin chắc nói: đây chính là lời giải.
Sau khi đã thông qua “giải đố” để vào “cung điện Hồng lâu”, chỉ có đọc “hài âm” (những chữ đồng âm hoặc gần âm) mới có thể hiểu phản văn của “HLM”, tức chính văn của “TĐK”, đây cũng là tác giả đã không mệt mỏi lặp đi lặp lại để chỉ cho ta phương pháp. Tác giả nói với chúng ta, tên người trong “HLM” hầu hết đều có ngụ ý sâu xa, chỉ có đọc “hài âm” mới có thể hiểu được những điều ảo diệu, tỉ như “Anh Liên” là “ưng liên” (thích sen, trong tiếng Trung đồng âm với “anh liên” – yīnglián), “Hoắc Khởi” là “hoạ khởi” (tai hoạ bắt đầu, trong tiếng Trung đồng âm với “hoắc khởi” – huòqǐ), vân vân, không thể kể hết được. Tác giả còn nói với chúng ta, tên người “hài âm” còn có thể nối lại thành câu, tỉ như chữ đầu trong tên 4 chị em Nguyên Xuân, Nginh Xuân, Thám Xuân và Tích Xuân, có thể nối lại đọc thành “nguyên ưng thán tức” (vốn thích thở dài, trong tiếng Trung gần âm với “nguyên nghinh thám tích” – yuányíngtànxī). Điều này cũng nói với chúng ta rằng, hài âm trong “HLM”, không chỉ tồn tại trong danh từ then chốt, mà còn trong những câu then chốt. Và những câu đố nói ở trên đều giống nhau, tác giả cũng hướng dẫn chúng ta “đọc hài âm”, tác giả đầu tiên làm mẫu cho chúng ta, hy vọng chúng ta nắm thông được, có một hiểu ba, sau đó tự mình đọc giải hài âm trong “HLM”.
Vậy còn chỗ nào chúng ta phải đọc “hài âm”? Có phải tất cả những chữ có trong “HLM” đều đọc thành hài âm không? Đương nhiên là không, chỉ đọc hài âm một phần, thường là những chỗ then chốt trong truyện, tỉ như tên người, tên vật, địa danh; còn cả ở những câu liền nhau, đó là tác giả có “con mắt của người tỉnh”, chủ tâm nên viết thành; như trong lời phê của Chỉ nghiễn trai, cần phải lưu ý...
Chỉ cần đem những nơi then chốt “đọc hài âm”, chỉ cần đọc giải được chính xác, là có thể khai sáng được, văn cảnh lập tức chuyển biến thành lịch sử. Những chỗ then chốt này giống như điều khiển từ xa của vô tuyến, chỉ cần ấn nhè nhẹ, chúng ta có thể xem được một chương trình hoàn toàn khác; lại như vô-lăng của xe hơi, bạn đang đi trên phố Trường An hiện đại, chỉ cần đánh sang trái, bạn có thể vào lối nhỏ mang đầy tính lịch sử, nhưng nếu không rẽ trái, bạn sẽ vẫn ở đó.
Nhưng số từ đồng âm trong chữ Hán rất nhiều, huống hồ là gần âm? “Đọc hài âm” khó tránh khỏi nhiều cách đọc phát sinh, một danh từ giống nhau, hoàn toàn có thể đọc thành nhiều từ có ý hoàn toàn khác. Vì vậy, “hài âm” có thể chính xác không? Và dùng tiêu chuẩn gì để phán đoán? Tiêu chuẩn chỉ có một, đó chính là phù hợp với ngữ cảnh, và phù hợp với toàn văn. Đọc “hài âm” không chỉ giúp giải thích một đoạn văn ngắn, mà còn có thể thông suốt toàn bộ. Nếu chưa thông suốt, thì nó đã sai. Và thông suốt toàn sách, là tiêu chuẩn duy nhất kiểm nghiệm xem đọc “hài âm” đúng hay sai.
Nếu có người dùng “hài âm” không giống phản bác lại “cách đọc giải hài âm”, thì với tiêu chuẩn thông suốt ở trên, xin miễn bàn, vì tham thảo một vài cách đọc “hài âm” riêng biệt, cũng không có ý nghĩa.
“Đọc hài âm” cũng có một quy tắc nào đó, tác giả khi lần đầu dùng “cách đọc hài âm” viết sách, cũng không thể tuỳ ý. Tỉ như có thể đem những từ ngữ quái dị giải thích bằng những từ hoặc lời dễ hiểu, càng giải được thành lời nói miệng thì càng có thể tiếp cận được với ý của tác giả; đối với từ ngữ của tác giả hoặc Chỉ nghiễn trai đã gợi ý, phải theo chỉ dẫn của họ để đọc hiểu; có khi đọc giải ra được nhiều “hài âm”, nhưng chỉ có nghĩa của một từ, khi đó chỉ có một giải thích duy nhất cho “hài âm”, đó cũng là kết quả của sự dày công biên soạn của tác giả, v.v... Còn có những chữ hoặc từ “hài âm” trong “HLM”, lại tương đối cố định, như “hương” là “hàng” (xiāng và xiáng), “vân” là “duẫn” (yún và yǔn), v.v…
Tác giả không chỉ vắt óc chỉ dẫn chúng ta “giải đố” và “đọc hài âm”, trong hồi 5, tác giả còn dạy chúng ta tuyệt chiêu đọc “HLM”, đó chính là “thừa ý”. Cái gọi là “thừa ý”, chính là “tâm hội”, chính là “thần thông”, tác giả cần chúng ta “tâm hội” vào ngụ ý không thể truyền bằng lời trong “HLM”, “thần thông” những ý không thể diễn đạt bằng lời của “HLM”.
Đó chính là tác giả thiết kế phương pháp giúp chúng ta đọc hiểu sâu sắc “HLM”, tức “giải đố”, “đọc hài âm”, “quá ý”. Ba cách này bản thân chính là một quá trình từng bước một, nói cách khác, đầu tiên là “giải đố”, rồi “đọc hài âm”, cuối cùng “quá ý”. Trong trường hợp bất đồng, đương nhiên có thể chia ra sử dụng. Chỉ có làm theo chỉ dẫn của tác giả, chúng ta mới có thể đọc hiểu “TĐK”.
Nhưng mà những nhà “Hồng học” đã cự tuyệt khổ tâm bố trí của tác giả, thiên về bỏ gốc cầu ngọn (xả bản cầu mạt), leo cây tìm cá (duyên mộc cầu ngư), khác gì xây lâu đài giữa không trung, còn có mỹ danh là “Hồng học”, (Chính trong phần giới thiệu tác giả. Đánh giá Hồng Thăng có thể sống cười, sau đó lại chết cười. Cứ như vậy lặp đi lặp lại, không biết bao nhiêu. Hoàng nghiễn đường) nay người khong được không cảm thán, cảm thán sự vĩ đại của “học” giả bịa đặt. Tiết tiểu thư từng có một bài thơ “Xích Bích hoài cổ”, thường được dùng để thấy cái hay của “Hồng học”:
Xích Bích chôn vùi nước chẳng trôi, Còn lưu tên họ chở thuyền không.
Ào ào một trận gió buồn lạnh, Vô số hồn thiêng bơi trong đó.
Vì nó quá đúng, không cấm bắt chước Đại Ngọc nhăn mặt để thành khóc to. (không hiểu ý cho lắm)
Đọc “TĐK”, rất kỵ ngồi kênh kiệu, ra vẻ đạo mạo, phô ra gia thế của mình, gọi “hồng tụ” (tay áo màu hồng, ở đây chỉ HLM) là: “Lão phu phải học, không được chơi được với mày!” sau đó đung đưa đầu, “chi hồ giả dã” (đây là các từ trợ ngữ trong tiếng Hán, không có nghĩa, câu này chỉ sự rỗng tuếch trong đầu óc), như lão hoà thượng đọc kinh. (Cho nên, còn cần tu luyện 100 năm nữa. Hoàng nghiễn đường)
Đọc “TĐK”, rất nên như bố khóc con (khóc con chết), cười nói mắng chửi, “Tam tự kinh” không rời mồm. Tốt nhất là một tay ôm bình rượu, một tay cầm xem “hồng tụ”, ngồi lên trên “Thạch đầu”; sau đó bắt chước Hồng Thăng, cười hát không chán, trời rộng sông dài; “Thạch đầu” tự sẽ “đả động phàm tâm” (đánh động lòng phàm), “khẩu thổ nhân ngôn” (miệng nhả ra lời), tự động sẽ tìm ra được cái huyền ảo, “'Mày' đã để lại truyện kỳ diệu” (mày ở đây chỉ tác giả).
“TĐK” là một bộ truyện “NTTQ”, cũng là 1 bộ “Minh sử”, ta phải dùng cách “giải đố” và “đọc hài âm”, đã chứng minh “HLM” chính là “Chu lâu mộng”, tức “Chu Minh chi mộng” (hồng là màu đỏ, chu cũng là màu đỏ, Chu còn là họ của vua triều Minh). Không chỉ vậy, “HLM” còn là “Thanh lâu mộng”, tức “Mãn Thanh chi mộng”. Tác giả thông qua đó tổng kết quy luật thay triều đổi đại của thời kỳ phong kiến TQ, dùng lịch sử Chu Minh từ khi thịnh vượng đến diệt vong, để dự báo sự diệt vong của Mãn Thanh. “TĐK” chủ yếu ghi chép lịch sử Minh mạt và Thanh sơ, có thể gọi là “Minh Thanh diễn nghĩa”.
Ta từ “quá ý” “mặt dưới” “HLM”, từ đó đọc ra thành “TĐK”. Quan hệ giữa “TĐK” và “HLM”, chính là “Thạch đầu ấn Hồng lâu” (TĐK in ra trên giấy mà thành HLM).
Nguồn: www.tvbvnfc.net, do Đào Trung Kiên dịch, đc alexkiker đăng











