Tái luận Tần Khả Khanh (1) - Tần Khả Khanh mất năm 1662
Sunday, July 5, 2009 12:26:15 PM
Bản văn căn cứ vào phong tục dân gian Trung Quốc, ngày Giả mẫu thưởng bánh cho Tần Khả Khanh có lẻ là vào tiết Đông Chí, từ đó thấy được Tần Khả Khanh lâm trọng bệnh vào tiết Đông Chí năm đó là ngày một tháng mười một; trong sách chứng minh viết “Đông Chí năm này nhằm ngày ba mươi tháng mười một” là “giả ngữ”, trong đó hàm ẩn “Đông Chí ngày một tháng mười một”. Căn cứ vào luận chứng “Thuộc Tướng Thuyết Minh”, Tần Khả Khanh lâm trọng bệnh vào năm 1661 (năm Sửu), mất năm 1662 (năm Dần), năm này chính là năm Nam Minh diệt vong.
1) Tiền ngôn (lời mở đầu) :
Câu đố về Tần Khả Khanh đến nay vẫn là một đề tài trọng điểm nghiên cứu trong Hồng Lâu Mộng. Theo cách nói Tần Khả Khanh còn có các tên gọi Tần Khắc Thanh, Tần Doanh, Tần Anh biểu thị Tần Khả Khanh là hoá thân cho sự nghiệp kháng Thanh, cái chết của nàng là tượng trưng cho sự thất bại của sự nghiệp kháng Thanh, tượng trưng cho triều Minh ở phương nam diệt vong (1). Vấn đề này cần phải tiến thêm một bước thảo luận để giải mở toàn diện câu đố về Tần Khả Khanh. Trong sách nói rất rõ năm Tần Khả Khanh lâm trọng bệnh có một đặc trưng quan trọng, đó là “Đông Chí năm này là ngày ba mươi tháng mười một”, đặc trưng này rốt cuộc là muốn chỉ niên đại nào ?
2) Ngày Đông Chí năm Tần Khả Khanh lâm trọng bệnh
Hồi thứ mười một nói Tần Khả Khanh lâm bệnh, Giả mẫu phái Phượng Thư đến thăm hỏi:
Giả Đoan đến Vinh phủ mấy lần, đều gặp Phượng Thư đang đi về hướng Ninh phủ. Đông Chí năm nay là ngày ba mươi tháng mười một. Đến mấy ngày đổi mùa, Giả mẫu, Vương phu nhân, Phượng Thư ngày nào cũng thay nhau đi thăm Tần thị, trở về đều nói : “Mấy ngày nay không thấy bệnh nặng thêm, cũng không thấy khoẻ hơn.” Vương phu nhân nói với Giả mẫu : “Chứng bệnh này gặp phải thời tiết như vậy mà không nặng thêm thì rất có hy vọng rồi.” Giả mẫu nói : “Nhưng mà, một đứa bé ngoan, nếu có duyên cớ gì thì thật khiến người ta thương chết đi được !” đang nói thì thấy một cơn đau nhói trong lòng, gọi Phượng Thư đến bảo : “Hai mợ cũng đã bỏ sức một thời gian rồi, ngày mai là mồng một, đợi qua ngày mai, ngày mốt mợ hãy đi thăm nó. Mợ chú ý kỹ tình trạng của nó, nếu đỡ được chút nào thì quay về báo cho tôi biết để tôi mừng. Con bé thích ăn gì thì mợ gọi người làm rồi mang sang cho nó.” Phượng Thư nhất nhất vâng dạ.
Đến ngày mồng hai, ăn cơm sáng xong, lại đến Ninh phủ xem tình hình Tần thị, tuy bệnh tình không nặng thêm, nhưng thịt trên mặt trên người đều ốm khô cả rồi. Vì thế nên ngồi hết nửa ngày với Tần thị, nói chuyện hàn huyên, lại đem những lời an ủi không nên lo lắng bệnh tình nói thêm một lượt. Tần thị nói : “Khỏi hay không, mùa xuân đến sẽ biết thôi. Như nay qua Đông Chí trước thì cũng không có gì nữa, hoặc giả khỏi hẳn cũng chưa biết chừng. Thím về nói với lão thái thái và thái thái rằng cứ yên tâm. Bánh nhân táo hôm qua lão thái thái thưởng cho, cháu ăn được hai miếng.” Phượng Thư nói : “Ngày mai lại đem sang cho cháu. Ta đến chỗ bà nội cháu ngó qua rồi phải mau chóng về hồi bẩm với lão thái thái.” Tần thị nói : “Thím thay cháu xin lão thái thái và thái thái yên tâm.”
Không chỉ có một vị học giả tiến hành nghiên cứu tường tận thời gian Đông Chí ngày ba mươi tháng mười một, từ năm Gia Khánh thứ mười tám (năm 1813) ngược đến năm Sùng Trinh thứ mười lăm (1642), kết quả là trong khoảng thời gian này không năm nào có ngày Đông Chí là ngày ba mươi tháng mười một. Tuy nhiên, năm 1642 và năm 1813 chính là năm có ngày Đông Chí là ngày ba mươi tháng mười một, nhưng hai niên đại này không phù hợp với bối cảnh miêu tả trong tiểu thuyết. Người viết cũng tiến hành tra lịch vạn niên, kết quả đều giống nhau. Kết quả này đã phủ định cách nhìn thời gian trong Hồng Lâu Mộng là thời gian lịch sử thực.
Hồng Lâu Mộng là một bộ tiểu thuyết, tác giả có thể hư cấu môt niên đại có ngày Đông Chí là ngày ba mươi tháng mười một, điều này trong sáng tác tiểu thuyết hoàn toàn được cho phép. Đối với rất nhiều bộ tiểu thuyết đương nhiên có thể giải thích như vậy. Nhưng, Hồng Lâu Mộng là một bộ tiểu thuyết đặc thù, tính đặc thù của nó biểu hiện ở chỗ có khá nhiều nội dung hàm ẩn bên trong. Đối với một niên đại không tồn tại với bối cảnh trong tiểu thuyết, vì sao tác giả dùng cách nói “năm này chính là” để cường điệu nó lên ? Xem ra tác giả muốn nói với đọc giả về ngày tháng này nhưng muốn nói rồi lại ngừng. Nếu tác giả đã cường điệu đến tiết Đông Chí thì chúng ta cũng nên coi trọng ngày Đông Chí này.
Trong sách viết ngày tháng Phượng Thư vâng lời Giả mẫu đi thăm Khả Khanh rất rõ ràng. Phượng Thư đi thăm Khả Khanh vào ngày mồng hai, Khả Khanh nói : “Bánh nhân táo hôm qua lão thái thái thưởng cho, cháu ăn được hai miếng”. “Ngày hôm qua” ở đây là chỉ ngày mồng một, ngày mồng một lão thái thái phái người mang bánh nhân táo đến cho Khả Khanh. Dựa vào “Đông Chí năm nay chính là ngày ba mươi tháng mười một”, ngày mồng một khẳng định không phải Đông Chí, ngày mồng một đúng ra là ngày thứ hai sau Đông Chí. Vì sao Giả mẫu lại phái người mang bánh cho Khả Khanh vào ngày thứ hai của Đông Chí ?
Trung Quốc từ xưa đến nay, dân gian rất coi trọng ngày Đông Chí, được xem là ngày lễ lớn thứ hai sau Nguyên Đán (Tết Nguyên Đán). Dân gian Trung Quốc có phong tục ăn bánh cheo, bánh tạp, bánh bột, chè trôi nước trong ngày Đông Chí. Phương bắc thì ăn bánh cheo, bánh tạp, đến Bắc Kinh xưa còn có thuyết “Đông chí hoành thánh hạ chí mì”; phương nam ăn bánh bột (bánh bông lan), gọi là “đông chí ăn niên cao, lai niên tiết tiết cao”. Người Trung Quốc bảo trì phong tục ăn thực phẩm đông chí trong ngày Đông Chí cho đến nay. Một ngày vào năm trước (hạ tuần tháng 12 năm 2006), người viết đến một quán bánh cheo ở Bắc Kinh, hôm đó khách rất đông, xếp cả một hàng dài. Hỏi ra mới biết hôm ấy là Đông Chí. Người dân thường còn coi trọng ngày Đông Chí đến vậy, huống chi là nhà quý tộc như Giả phủ ? Giả phủ là gia tộc có tư cách dùng rồng để làm vật trang sức kiến trúc, có tư cách dùng quan đăng và sử dụng rất nhiều tơ nhiễu thượng hạng, một nhà quý tộc như vậy tất nhiên phải có quy củ rất nghiêm ngặt. Căn cứ vào phong tục dân gian Trung Quốc, Giả mẫu nên thưởng bánh cho Tần Khả Khanh vào ngày này, cũng tức là nói ngày mồng một mới là Đông Chí. Dân gian Triều Sơn có câu ngạn ngữ “Đông Chí không rời tháng mười một”. Người viết tra duyệt Đông Chí từ năm 1642 đến năm 1813 đều nằm trong tháng mười một. Mồng một là Đông Chí, đương nhiên là chỉ ngày mồng một tháng mười một. Như vậy là đã yết thị trong sách viết “Đông Chí năm nay chính là mồng một tháng mười một”.
3) Phân tích hai thời gian đối với Đông Chí
Lại xem thử năm có ngày Đông Chí là mồng một tháng mười một có tồn tại hay không. Người viết tra lịch vạn niên, từ năm 1642 đến năm 1813, có bảy năm có ngày Đông Chí là mồng một tháng mười một như năm 1661. Có thể thấy được năm có ngày Đông Chí là mồng một tháng mười một tồn tại trong lịch sử. Nếu trong sách không viết “Đông Chí năm nay là ngày ba mươi tháng mười một” mà viết “Đông Chí năm nay chính là mồng một tháng mười một”, thì sự mâu thuẫn về ngày Đông Chí nói trên đã không tồn tại. Giả mẫu vào trước mồng một một ngày bảo Phượng Thư ngày mốt đi thăm Khả Khanh, thì ngày hôm qua mà Khả Khanh nói là ngày mồng một. Như vậy, Giả mẫu thưởng bánh cho Khả Khanh vào ngày Đông Chí mồng một, đây mới hoàn toàn phù hợp với phong tục dân gian Trung Quốc. Từ phân tích trên có thể khẳng định năm Khả Khanh lâm trọng bệnh có một đặc trưng quan trọng : “Đông Chí năm nay là mồng một tháng mười một”.
Trở lại đoạn trước, tác giả cố ý viết thời gian hỗn loạn, nói mùa đông rồi lại nói qua mùa thu. Trong đoạn văn dẫn từ hồi mười một ở phía trên có đề cập đến “ngưng hi hiên”, vậy “ngưng hi hiên” có ý gì ? Theo chiết tự pháp, “ngưng hi hiên” là “ngưng nhật hiên”. Tác giả nhắc nhở đọc giả nảy sinh nghi vấn với thời gian, nảy sinh nghi vấn với “Đông Chí ngày ba mươi tháng mười một”. Tác giả vì tránh né sự kiểm tra của triều đình Mãn Thanh, không viết ngày ba mươi thành mồng một; cũng không thể trực tiếp nói với đọc giả ở đây hàm ý ba mươi là một. Nhưng đối với nội dung hàm tả, tác giả vẫn đưa ra lời nhắc nhở. Trong đoạn trích dẫn đầu tiên, tác giả đã viết rất nhiều chữ “một” như : một cơn đau nhói, một thời gian, hôm sau là mồng một, đi thăm nó một chút, Phượng Thư nhất nhất vâng dạ, … tất cả có sáu chữ “một”, trong đó đặc biệt cường điệu “mồng một”. Chỉ cần để tâm chú ý là có thể nhìn ra lời nhắc nhở của tác giả.
Nghĩ rằng có nhiều đọc giả không mấy quen thuộc với chiết tự pháp, bản văn đem phần giải mở câu đố “Đông Chí năm nay là ngày ba mươi tháng mười một” đặt ở phần năm, đọc giả nào có hứng thú thì xin cùng đọc.
4) Tần Khả Khanh mất năm 1662
Trong khoảng thời gian từ năm 1643 đến 1812, bảy năm có Đông Chí là ngày mồng một tháng mười một gồm : 1661 (Tân Sửu), 1680 (Canh Thân), 1699 (Kỷ Mão), 1718 (Mậu Tuất), 1756 (Bính Tí), 1775 (Ất Mùi) và 1786 (Bính Ngọ). Năm Khả Khanh lâm trọng bệnh tất nằm trong đó. Nhưng chỉ căn cứ vào “Đông Chí mồng một tháng mười một” vẫn chưa thể xác định năm Khả Khanh lâm trọng bệnh rốt cuộc là năm nào, còn cần phải tìm được một điều kiện ràng buộc khác. Hồi thứ mười một viết Khả Khanh lâm bệnh rồi, Bảo Ngọc “nghe Tần thị nói những lời này, như vạn mũi tên đâm vào tim, nước mắt bất tri bất giác chảy xuống.” Hồi này cũng viết về thọ thần của Giả Kính, những người tặng lễ vật cho Giả Kính gồm có :
“vừa rồi Nam An Quận Vương, Đông Bình Quận Vương, Tây Ninh Quận Vương, Bắc Tịnh Quận Vương tứ gia vương gia, còn có sáu nhà Trấn Quốc Công Ngưu phủ, tám nhà Trung Tĩnh Hầu Sử phủ, đều sai người cầm danh thiếp đến tặng lễ, hồi bẩm với phụ thân ta, thu vào nhà trong trước, lễ đơn đều đặt lên bàn.”
Ở đây đề cập đến sáu nhà Trấn Quốc Công Ngưu phủ đưa lễ vật đến tặng, đây là lần đầu tiên Ngưu phủ đến thăm hỏi Giả phủ. Họ Ngưu của Trấn Quốc Công ngoài biểu thị họ tên ra, còn biểu thị cả thuộc tướng. Về điểm này, trong sách lại có viết giải thích. Hồi thứ mười bốn trong Hồng Lâu Mộng viết hậu đại của “Lục Công” đưa tang Tần KHả Khanh (Bản Canh Thìn và Trình Ất giống nhau):
“Số khách đưa tiễn có cháu Trấn Quốc Công Ngưu Thanh hiện tập nhất đẳng bá Ngưu Kế Tông, cháu Lý Quốc Công Liễu Bưu hiện tập nhất đẳng tử Liễu Phương, cháu Tề Quốc Công Trần Dực thế tập tam phẩm Uy Trấn Tướng Quân Trần Thuỵ Văn, cháu Trị Quốc Công Mã Khôi thế tập tam phẩm Uy Viễn Tướng Quân Mã Thượng, cháu Tu Quốc Công Hầu Hiểu Minh thế tập nhất đẳng tử Hầu Hiếu Khang, Thiện Quốc Công cáo mệnh vong địch, cháu là Thạch Quang Chu thủ hiếu không đến được.”
Căn cứ theo ấn bản Canh Thìn, hồi này có một đoạn phê bút đỏ :
“Ngưu, Sửu dã. Thanh, thuộc thuỷ, Tí dã. Liễu chiết Mão tự, Bưu chiết Hổ tự, Dần chiết ngụ yên. Trần tức Thìn, Dực hoả là Xà, Dị tự ngụ yên. Mã, Ngọ dã. Khôi chiết Quỷ, Quỷ Kim, Dương, Mùi tự ngụ yên. Hầu, Hầu đồng âm, Thân dã. Hiểu minh, Kê dã, Dậu tự ngụ yên. Thạch tức Thỉ, Hợi tự ngụ yên. Kỳ tổ viết Thủ Nghiệp, tức Thủ Trấn dã, Khuyển tự ngụ yên. Đây chính là thập nhị chi vậy.”
Không lẽ tác giả viết lục công bọn người Trấn Quốc Công là Ngọ Quỷ Xà Thần tống tiễn Tần Khả Khanh sao ? Không phải vậy. Đoạn “thuộc tướng thuyết minh” trong sách nói với chúng ta rằng họ của lục công tống tiễn Tần Khả Khanh đều biểu thị thuộc tướng, điều này nói rõ đặc trưng thuộc tướng của năm Tần Khả Khanh lâm trọng bệnh và tử vong. Trong lục công, Trấn Quốc Công họ Ngưu xếp thứ nhất biểu thị năm Sửu, đặc trưng về thuộc tướng này chính là điều kiện ràng buộc mà chúng ta cần tìm. Trấn Quốc Công Ngưu phủ lần đầu tiên đến thăm hỏi Giả phủ lại đúng vào năm Tần Khả Khanh lâm trọng bệnh, Ngưu phủ đem đến tin tức về năm Sửu. Cho nên, năm Khả Khanh lâm bệnh nên là năm Sửu. Trong khoảng từ năm 1643 đến 1812, chỉ có năm 1661 là năm Sửu có ngày Đông Chí là mồng một tháng mười một, vậy là có thể xác định được năm Tần Khả Khanh lâm trọng bệnh là năm 1661.
Biểu thị thuộc tướng của lục công trong lần thứ hai xuất hiện để tống tiễn Tần Khả Khanh, cháu của Lý Quốc Công Liễu Bưu hiện tập nhất đẳng tử Liễu Phương được xếp thứ hai. Thuận theo địa chi, sau Sửu là Dần, nên năng Tần Khả Khanh mất là năm Dần. Căn cứ theo phần chiết tự phía trên “Liễu chiết Mão tự, Bưu chiết Hổ tự, Dần tự ngụ yên”, từ tên họ của Liễu Bưu có thể tìm được Thỏ và Hổ, tức Mão và Dần. Giữa khoảng từ năm 1643 đến 1812, những năm có khả năng là năm Tần Khả Khanh tử vong : 1662 (Nhâm Dần), 1681 (Tân Dậu), 1700 (Canh Thìn), 1719 (Kỷ Hợi), 1757 (Đinh Sửu), 1776 (Bính Thân), 1787 (Đinh Mùi), trong đó chỉ có năm 1662 là năm Dần. Đến đây, bản văn đã chứng minh được Tần Khả Khanh mất năm 1662 (Nhâm Dần). Những quan điểm chủ yếu trình bày trong bản văn được tổng kết như sau :
1. Căn cứ vào phong tục dân gian Trung Quốc, Giả mẫu nên thưởng bánh cho Tần Khả Khanh vào ngày Đông Chí, cũng tức là nói ngày Đông Chí năm Tần Khả Khanh lâm trọng bệnh là mồng một tháng mười một. “Đông Chí năm này là ngày ba mươi tháng mười một” chỉ là “giả ngữ”, trong bối cảnh của Hồng Lâu Mộng không tồn tại niên đại này, Giả mẫu không thể nào thưởng bánh cho Tần Khả Khanh vào ngày thứ hai sau Đông Chí.
2. Năm Khả Khanh lâm bệnh, Trấn Quốc Công Ngưu phủ lần đầu tiên đến thăm hỏi Giả phủ, năm này nên là năm Sửu. Trong bảy niên đại “Đông Chí năm này là mồng một tháng mười một” chỉ có năm 1661 là năm Sửu.
3. Theo thứ tự địa chi, sau Sửu là Dần, trong những năm có thể là năm Tần Khả Khanh mất chỉ có năm 1662 là năm Dần, trong tên của Lý Quốc Công Liễu Bưu có hàm ẩn chữ Hổ.
Năm 1662 trong lịch sử Trung Quốc là một năm quan trọng, năm này là năm Vĩnh Lịch Đế bị giết, Nam Minh diệt vong, cũng chính là lúc triều Minh diệt vong triệt để. Người viết đã phân tích cái chết của Tần Khả Khanh tượng trưng cho sự thất bại của sự nghiệp kháng Thanh, tượng trưng cho sự diệt vong của Nam Minh (1), phần tiếp theo tiến một bước phân tích ý nghĩa của niên đại mà Tần Khả Khanh mất.
5) Giải mở câu đố “Đông Chí năm nay là ngày ba mươi tháng mười một”
Tuy năm có “Đông Chí là ngày ba mươi” viết trong bối cảnh của Hồng Lâu Mộng không tồn tại, nhưng trong đó có tàng ẩn “Đông Chí là mồng một” không ? Muốn từ “Đông Chí ngày ba mươi” giải ra được “Đông Chí mồng một” cần đọc “ba mươi” thành “một”, đây là một vấn đề rất khó khăn. “Ba mươi” gồm có hai chữ, còn “một” chỉ có một chữ, hai chữ làm sao có thể đọc thành một chữ ? Dù cho dùng đến chiết tự pháp cũng không cách nào chiết hoặc tổ hợp thành một chữ được, huống chi chữ này lại là chữ “một” đơn giản nhất.
Để giải quyết vấn đề này, người viết đã tra duyệt mười bản Hồng Lâu Mộng chép tay và in ấn, trong đó gồm có bản Ất Mão, bản Canh Thìn, bản Mông Phủ, bản Thư Tự, bản Liệt Tạng, bản Mộng Cảo, bản Giáp Thìn, bản Thích Liêu Sinh, bản Trình Giáp và bản Trình Ất. Tra xem cách viết “ba mươi” trong “Đông Chí năm nay là ngày ba mươi tháng mười một” ở hồi thứ mười một, phát hiện chỉ có bản Ất Mão viết “tam thập nhật Đông Chí” thành “tạp nhật Đông Chí”, các bản khác đều viết “tam thập nhật Đông Chí”.
“Tạp” là một chữ số, biểu thị “ba mươi”. Phàm là người tốt nghiệp trung học đã học qua lịch sử đều biết “ngũ tạp vận động”, đúng lý đều biết đọc chữ “tạp”. “Ngũ tạp vận động” là một sự kiện lịch sử phát sinh ngày ba mươi tháng năm, “tạp” biểu thị cho ngày ba mươi. Căn cứ theo chiết tự pháp, từ chữ “tạp” rất dễ dàng tách ra được chữ “nhất”, “Đông Chí năm này chính là ngày tạp tháng mười một” có thể đọc thành “Đông Chí năm này chính là mồng một tháng một”. Trong sách biểu hiện ngoài mặt là viết “Đông Chí năm này chính là ngày tạp tháng mười một”, ngày tháng ẩn tàng bên trong là “Đông Chí năm này chính là mồng một tháng một”, chữ “nhất” ẩn tàng trong chữ “tạp”. Như vậy là đã giải quyết được nan đề từ chữ “ba mươi” đọc thành chữ “một”.
“Đông Chí năm này chính là ngày tạp tháng mười một” nằm trong bản mẫu của bản Ất Mão, hay là người viết bản Ất Mão trong lúc sao chép đã nhầm “ba mươi” thành “tạp” ? Vì vậy, người viết tra duyệt lại toàn bộ chữ “ba mươi” trong bản Ất Mão, kết quả chỉ có chữ “ba mươi” trong “Đông Chí năm này chính là ngày tạp tháng mười một” viết thành chữ “tạp”, những chữ “ba mươi” khác đều viết là “ba mươi”. Có thể thấy được chữ “tạp” này không phải viết một cách tuỳ tiện. Người viết ngoài việc tra duyệt chữ “ba mươi” trong bản Ất Mão mà còn tra duyệt cả cách viết chữ “hai mươi”, phát hiện trong hồi thứ hai có viết chữ “hai mươi” thành chữ “nhập” :
Nếu hỏi Xá Công, cũng có hai trai, con lớn tên Giả Liên, năm nay đã chừng nhập rồi, thân càng thêm thân, cưới cháu gái phu nhân Vương thị của Chính lão tía, đến nay đã được hai năm.
Trong bản Ất Mão không chỉ viết chữ “hai mươi” trong “năm nay đã chừng hai mươi” thành “nhập”, mà bên cạnh “nhập” còn chú thích “hai mươi”. Hai cách viết “hai mươi” đồng thời tồn tại nói rõ rằng người sao chép bản Ất Mão rất thận trọng, không dễ dàng thay đổi văn tự. Cho nên chữ “nhập” là cách viết nguyên gốc từ bản mẫu, bản Ất Mão bảo lưu cách viết này. Tương tự như vậy, chữ “tạp” trong “Đông Chí năm này chính là ngày tạp tháng mười một” cũng là cách viết gốc trong bản mẫu.
Người viết còn tra duyệt bản in và bản chép tay của bản Canh Thìn, tuy không phát hiện chữ “ba mươi” viết thành chữ “tạp”, nhưng có hai chỗ viết chữ “ba mươi” thành “tạp”, hồi thứ ba mươi :
“Thụ đáo hồ tốn tán” chi ngữ, kim do tại nhĩ, khuất chỉ tạp ngũ niên hĩ. Ai tai, thương tai, ninh bất thống sát !
Hồi thứ hai mươi bốn :
Đọc duyệt hồi “Tuý Kim Cương”, Phục Vân ca trượng nghĩa thâm am. Hơn ba mươi năm nay, gặp được người như Kim Cương không ít, người không bằng Kim Cương cũng không ít, tiếc rằng trên sách không tiện nói nhiều về việc ngoài rìa, không phải chuyện tâm điểm. Nhâm Ngọ mạnh hạ.
Đoạn thứ hai trong phần trích văn phía trên viết chữ “ba mươi” thành chữ “tạp”, có thể thấy được “tạp” có thể đơn độc biểu thị “ba mươi”. Kỳ thực, “tạp” là một cách viết của “ba mươi”, đây vốn thuộc về ngữ văn thường thức. “Tạp” và “nhập” đều không phải chữ cổ, hiện giờ người ta vẫn đang sử dụng. Trong quái lịch của năm 2007 vẫn dùng “nhập” để biểu thị thời gian của nông lịch. Nhưng trong quái lịch, “nhập” chỉ dùng để chỉ mười đơn vị, như “nhập ngũ” (hai mươi lăm), đối với ngày hai mươi vẫn dùng “hai mươi”. Bây giờ, hai ngày Đông Chí mà Tần Khả Khanh lâm trọng bệnh đã được thống nhất, trong “Đông Chí năm này chính là ngày tạp tháng mười một” hàm ẩn “Đông Chí năm này chính là mồng một tháng mười một”.
Tài liệu tham khảo
(1) Mã Hưng Hoa, “Tần Khả Khanh còn gọi là Tần Khắc Thanh, Tần Doanh, Tần Anh”, 28-09-2005 phát biểu tại “Hồng Lâu Mộng nghệ uyển nhất phẩm độc Hồng Lâu”.
Nguồn: www.tvbvnfc.net, do Pinkie dịch, đc alexkiker đăng











