My Opera is closing 3rd of March

Hồng Lâu Mộng

Một quan niệm nghệ thuật về con người trong Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần

Một quan niệm nghệ thuật về con người trong Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần

Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần là một cuốn tiểu thuyết chứa đựng nhiều nét đặc sắc, đổi mới cả về tư tưởng và cách viết, trong đó có quan niệm nghệ thuật về con người . HLM đề cập đến con người đủ mọi tầng lớp, đủ mọi lứa tuổi, đủ mọi tính cách... trong xã hội phong kiến mạt kỳ Trung Hoa thời bấy giờ. Vấn đề con người trong tác phẩm đã được quan tâm tìm hiểu từ rất sớm. Tuy nhiên, tùy hướng nghiên cứu mà con người được nhìn nhận theo những khía cạnh không giống nhau.

"Mê", "ngộ" vốn là những thuật ngữ của Phật học. "Vấn đề quan trọng nhất của Phật giáo quy về hai chữ mê và ngộ". Mê và ngộ cũng chính là tiêu chí duy nhất để phân biệt Phật và chúng sinh. "Chuyển mê khải ngộ" , mọi chúng sinh đều có thể thành Phật. Cho nên giúp con người chuyển mê khải ngộ cũng được coi là mục đích của tôn giáo. Ở đây chúng tôi mượn những thuật ngữ này để đưa ra các khái niệm "con người mê" và "con người giác ngộ" nhằm diễn tả một quan niệm nghệ thuật về con người trong HLM.

1. Con người mê

Hình tượng con người "mê" là một đặc trưng của HLM, cũng là sản phẩm tất yếu của một xã hội nhiều biến động đương thời. Theo triết lý của Phật giáo, con người ta sống trên đời thường phạm một sai lầm là cố "chấp" (nắm giữ), cố "cầu" (theo đuổi) những thứ như sắc đẹp, tiền tài, địa vị, quyền lực, công danh, sinh mệnh ... Thực chất, những thứ đó chẳng qua do nhân duyên nhất thời mà sinh ra, bản chất là vô thường, khi sinh là "huyễn sinh" nên khi diệt cũng là huyễn diệt, cứ sinh sinh diệt diệt vô cùng, hoàn toàn nằm ngoài vòng kiềm tỏa của con người. Trạng thái "chấp", "cầu" như trên của con người được gọi là mê. Như vậy ta có thể thấy trong HLM có những con người quả là điển hình cho trạng thái mê: "mê" sinh mệnh như Giả Kính, "mê" tiền bạc như Hình Phu Nhân, Phượng Thư, ..., mê thanh sắc như Giả Trân, Giả Xá, Giả Dung, Giả Thụy, Giả Liễn, Tiết Bàn ... (những thiếu niên trẻ tuổi như Tần Chung, Bồi Dính, và cả Bảo Ngọc cũng không thoát khỏi cái mê này), mê địa vị, quyền lực như Phượng Thư, mê công danh khoa cử, mê lý tưởng "lập thân dương danh" như Giả Chính... Sống trong môi trường phủ họ Giả với vẻ ngoài lung linh gấm vóc mà bên trong thì xấu xa mục ruỗng, giữa cái nơi ngự trị quy luật nghiệt ngã như Thám Xuân từng nhận xét, "là chỗ bà con thân thiết đấy nhưng ai mà chẳng giống như gà đen mắt, chỉ chực nuốt sống nhau thôi", mỗi con người càng cố công theo đuổi đến suốt đời cái mê của mình theo nhiều cách khác nhau, nhưng phần lớn là những cách cạn nhân tình, hủy nhân tính.

Nét độc đáo của hình tượng con người mê trong HLM thể hiện rõ nhất ở bộ ba nhân vật chính của tiểu thuyết: Giả Bảo Ngọc, Lâm Đại Ngọc và Tiết Bảo Thoa. Tính chất mê ở ba nhân vật này có sắc thái đặc biệt bởi những thứ họ mê chẳng phải là những cái mê thông thường dễ thấy của người đời. Điều đó càng góp phần chứng minh quan niệm về con người mê của Tào Tuyết Cần, trong cuộc sống như mộng ảo này, con người mê xuất hiện như một lẽ tất nhiên, và vòng kiềm tỏa của mê không loại trừ bất cứ người nào

BN từ nhỏ đã không màng đến quyền lực, tiền bạc, không ham công danh địa vị, cũng không háo sắc như nhiều bọn đàn ông khác trong Giả phủ. Tuy nhiên, BN là một con người mê theo đúng nghĩa. Nói như nàng tiên Cảnh ảo thì anh ta "mới sinh ra đã mang một mối tình si, chúng ta gọi thế là ý dâm". BN đặt hết nhiệt tâm nhiệt tình của minh vào nữ nhi và vẻ đẹp nữ tính. Vì thế anh ta là một người bạn tuyệt vời trong khuê các, nhưng lại bị miệng lưỡi người đời chê là ngây, ngốc, điên. Tình cảm của BN với đám chị em, nhất là với "Kim Lăng thập nhị kim thoa", không phải là tình yêu nam nữ đơn thuần, mà là sự pha trộn giữa "thân tình", "hữu tình" (hữu trong bằng hữu) và "ái tình". Cái mê suốt đời đó của BN đạt đến độ thăng hoa chính trong mối tình với LĐN

LĐN thường được coi là biểu tượng bi kịch tình yêu của con người trong xã hội phong kiến. Bản chất thông minh nhạy cảm, ĐN hiểu hơn ai hết vị thế "ăn gửi ở nhờ" mong manh của mình trong Giả phủ, lại cũng sớm hiểu ra lẽ bạc bẽo của tình người nơi đây. Cách sống kiêu kì cô độc vừa mang nét tự tôn, lại vừa có vẻ mặc cảm của nàng chính là một cách phản ứng trước số phận. Song đỉnh cao của sự phản nghịch nơi nàng chính là ở chỗ: nàng đã "dám" coi tình yêu của mình với GBN là lý tưởng duy nhất để theo đuổi suốt cả cuộc đời, bất chấp bản thân nàng cũng không chỉ một lần dự cảm về sự bất thành của tình yêu đó. Có thể nói không quá lời rằng ĐN sống được là nhờ có tình yêu và chết đi cũng bởi tình yêu. Cao Ngạc đã miêu tả cái chết của nàng rất thành công khi ông để cho nàng tự tay dốc chút sức tàn đốt khăn tay và tập thơ như một cách "dứt mối tình si" nhưng trước khi nhắm mắt vẫn còn gọi "BN! BN! Anh thật ...". Bảo rằng ĐN mê suốt cả cuộc đời cũng không sai. Chính sự mâu thuẫn mê ngay trong lúc tỉnh, tỉnh mà vẫn mê đã làm nên sức hấp dẫn của "con người mê" LĐN

Nhân vật BT thường xuất hiện trước mọi người trong dáng vẻ nhu mì giản dị, dường như nàng chẳng ham muốn, chẳng đòi hỏi điều gì. Thực ra, trong sâu thẳm, nàng cũng là một con người mê. BT mê triết lý sống an phận tùy thời, giả ngu giả dại, mê hình tượng một giai nhân thục nữ phong kiến lý tưởng. Có những lúc nàng cũng bị lay động vì tiếng gọi tình yêu tự nhiên không đi theo chuẩn mực mà nàng tin tưởng nhưng rồi cuối cùng, nàng đã nhắm mắt bịt tai trước tiếng gọi đó để tiếp tục tôn thờ lý tưởng tình yêu phong kiến: nàng khuyên BN lập thân dương danh, nàng nghiêm nét mặt nói với mẹ khi mẹ hỏi ý nàng về chuyện hôn nhân: "việc của con gái là do cha mẹ làm chủ; giờ cha con mất rồi, mẹ nên làm chủ lấy; không nữa thì hỏi anh con sao lại hỏi con?" Thật là những lời "đạo lý" chỉ có thể thốt ra từ miệng một giai nhân phong kiến mẫu mực! Tuy nhiên kết của của nàng không tốt đẹp kiểu "phu quý phụ vinh" như trong các truyện tài tử giai nhân trước HLM. BT cũng rơi vào bi kịch như các chị em khác. Nhu vậy, từ con người mê TBT, ta có thể thấy sự đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người của TTC. Hình ảnh lý tưởng của giai nhân phong kiến mẫu mực đã không còn nữa

Có thể nói, hết thảy những con người thuộc thế giới thực trong HLM đều là những con người mê. Họ đeo đuổi suốt đời những thứ mà trong hiện thực không thể nào thực hiện được, nhưng kết cục của tất cả đều như bài "hảo liễu ca" đầu tác phẩm. Không phải không có các nhân vật trong tác phẩm đã hoàn toàn thoát khỏi vòng kiềm tỏa của con người mê, như những đạo sĩ, nhà sư, song những người như vậy lại thuộc về thế giới khác, bên ngoài thế giới trần thế này rồi

Hình ảnh những con người mê không phải là cá biệt trong truyền thống văn hóa văn học TQ. Thông thường con người mê xuất hiện nhiều nhất trong xã hội biến động, xã hội giao thời, khi những lý tưởng truyền thống mà con người ta tin tưởng đang dần sụp đổ, khi lý tưởng chân chính của con người đang phải xung đột với lý tưởng mà xã hội đang tôn thờ. Thêm vào đó, bản thân tư duy triết học của người TQ đã có nhận thức sắc bén về con người mê. Chúng ta đã nói nhiều về cái mê của con người như một phần quan trọng trong giáo lý nhà Phật. Trong thực tế, trước khi Phật giáo thâm nhập vào TQ, nhà triết học nổi tiếng Trang tử đã sớm nhận ra rằng, bản thể vũ trụ luôn thay đổi không cùng, nhưng nhân sinh không mấy người nhận ra điều đó. Con người muốn cưỡng lại lẽ tự nhiên, cố công theo đuổi việc đời, phân chia phải-trái, lợi-hại, nó-ta, luẩn quẩn trong vòng sống-chết, yêu-ghét ... Con người không thuận theo tự nhiên đó của Trang Tử cũng chính là con người "mê", "cầu", "chấp" của Phật giáo, hẳn đã có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhân sinh quan của con người học rộng và từng trải TTC, làm nên hình ảnh con người mê chân thực, sinh động trong HLM. Có thể nói khi xây dựng trong tác phẩm hình ảnh con người mê, TTC không hề có ý muốn phê phán hay chỉ trích con người, ông chỉ muốn bằng những trải nghiệm và suy tư mà mình có, chỉ ra một thuộc tính dường như là tất yếu của con người

2. Con người ngộ

"Ngộ" là khái niệm gắn liền với khái niệm "mê". Mục đích của Phật giáo là giúp con người "chuyển mê khải ngộ". "Ngộ" với con người không gì khác chính là nhận ra mình đang "mê", và những gì mình đang cố công theo đuổi chỉ là hư vô, giả tưởng. Trong HLM, mặc dù có rất nhiều nhân vật phải kết thúc cuộc đời mình bằng những cái chết bi thảm nhưng dường như họ không chỉ ám ảnh người đọc bằng những cái chết của mình mà vì những đau khổ mà họ phải nếm trải khi còn sống. Trong đó, nỗi đau lớn nhất có lẽ là nỗi đau nhận ra rằng những bi hoan ly hợp mình phải trải qua ở cuộc đời này thực chất chẳng có ý nghĩa gì cả, rốt cuộc chẳng là gì cả trong đất trời này, vũ trụ này. Khi đó, họ nhận ra cuộc đời chỉ là mộng ảo, họ nhận ra tính chất "hư", "ảo" của cuộc đời ngỡ như rất thực này, có nghĩa là họ nhìn thấy thực tại đúng như nó có. Và ở một số không nhiều nhân vật, họ bắt đầu nhận thấy rằng không phải chỉ có trần thế mà ngay cả thế giới tiên cảnh mê ly kì ảo (như Thái hư ảo cảnh chẳng hạn) cũng chỉ là mộng ảo mà thôi. Con người giác ngộ khi thấy được cái hư, mà khi thấy cái hư rồi thì có nghĩa là không còn cái thực so với cái hư nữa, cũng như không còn cái hư so với cái thực nữa, đúng hơn là không còn sự phân biệt thực-hư như người đời thường ngộ nhận nữa. Nói theo cách của Phật giáo thì khi người ta đã "đáo bỉ ngạn" (qua bờ bên kia) rồi thì làm gì còn "bờ bên kia" so với "bờ bên này", cũng không còn những cái gọi là "bến Mê" hay "cảnh Ngộ". Như vậy cũng có cũng có nghĩa là con người ta có thể "mê" vì những điều khác nhau, theo những cách khác nhau, nhưng khi đã là "con người giác ngộ" thì họ đều giống nhau. Chúng ta có thể chỉ ra một số đặc điểm của hình tượng "con người giác ngộ" trong HLM, từ đó nhận ra phần nào quan niệm nghệ thuật về con người của TTC

Trong số những con người mê trong HLM, không có một con người nào lại có thể ngộ nhờ một số lý thuyết nào đó trong sách vở hay nhờ sự tác động đơn thuần của các lực lượng thần bí bên ngoài. Con người mê GBN là một ví dụ điển hình. Toàn tác phẩm, có lẽ BN là người chăm chỉ tìm kiếm suy ngẫm về những triết lý trong sách vở (như Nam Hoa kinh, lời hý kịch...) nhất, cũng không chỉ một lần chàng đã tưởng rằng mình đã có thể "tham thiền ngộ đạo", có thể "trần trùi trụi đi về không vướng víu". Nhưng cuối cùng chàng lại bị đám chị em BT, ĐN, TV dùng chính kinh sách để bắt bẻ, khiến BN hiểu ra rằng: "Họ hiểu biết trước ta cũng còn chưa giác ngộ, sao ta lại tự chuốc lấy khổ não vào người". Đây cũng là một chi tiết đánh dấu cái ngộ của BN, cho thấy "ngộ" là kết quả của một quá trình sống với cuộc đời, với những thực tại mà ta đang thấy trong cuộc sống thường ngày nhưng không thể diễn đạt thành lời (gọi là tiệm ngộ), với những khoảnh khắc ta chợt tỉnh ra (gọi là đốn ngộ), với những kinh nghiệm ta nếm trải chứ không phải những hiểu biết ta tìm thấy trong sách vở. Những kinh nghiệm ấy ta chỉ có được nhờ sống với nó theo đúng nghĩa, trong đó không thể thiếu những cảm xúc bằng trái tim rất "con người". Giác ngộ không chỉ là những trải nghiệm bằng lý tính mà cả trải nghiệm tình cảm. Trong HLM, quan niệm này về con người giác ngộ không chỉ thống nhất với tinh thần của Phật giáo, nhất là Phật giáo thiền tông mà còn phù hợp với truyền thống văn học Trung Hoa. Với văn học TQ,để đạt đạo, con người cần phải nếm trải toàn bộ cuộc sống này với mọi hạnh phúc và đau khổ của nó, dù đó là sự nếm trải trong thực tế hay bằng môt số phương tiện khác (giấc mộng Kê Khang là một trong những phương tiện này). Kết thúc câu chuyện, sau sự giác ngộ, thường có môtip nhân vật ra đi, rời bỏ thế giới này để đến một thế giới khác, nhưng dường như không bao giờ tác giả nói rõ thế giới khác đó là thế giới như thế nào, nhân vật sống ở đó ra sao và sẽ đạt đến điều gì. Chính diểm dừng tưởng rõ mà không rõ này tạo nên sức hấp dẫn của con người giác ngộ. Trước hết, nó cho thấy bản chất của ngộ, , đã ngộ rồi thì bất tất phải nói nhiều lời. Thứ hai, nó tạo một khoảng trống, một hướng mở cho sự suy ngẫm của người đọc. Một số cuốn do các tác giả đời sau viết tiếp HLM, muốn kể câu chuyện BN đi tu như thế nào, ĐN lên Thái hư cảnh ảo ra sao ..., nhưng đều thất bại, có lẽ một phần là do không giữ nguyên được hình ảnh con người mê, con người giác ngộ trong nguyên ý của TTC

Như đã nói, con ngừoi ta khi đã mê thì khác nhau nhưng khi đã ngộ thì giống nhau. Giống nhau ở chỗ cùng nhận ra bản chất của thế giới, giống nhau ở chỗ đều phải dùng những kinh nghiệm đã từng nếm trải để ngộ. Tuy nhiên, trong HLM quá trình đi đến ngộ của mỗi con người lại mang những đặc trưng riêng. Điều này cho thấy sự phản ánh cuộc sống chân thực và cách nhìn nhận con người không hề phiến diện, một chiều của tác giả. Đi liền với hình ảnh những con người mê suốt cuộc đời tất nhiên là những con người chỉ giác ngộ trước khi chết, mặc dù không phải mọi con người mê đều có thể trở thành con người giác ngộ, dù là ngộ trước cái chết. Tần Chung đến khi nhắm mắt mới trăn trối với BN "Trước đây anh em ta cứ tưởng cao quý hơn đời, nay mới biết là sai". ĐN sau bao lần chết đi sống lại, cuối cùng đã quyết tâm dứt mối tình si trước khi về nơi cảnh ảo... Tất nhiên không phải mọi con người mê đều phải dùng đến cái chết để ngộ. Ở trên đây chúng tôi đã nói đến con người ngộ và "ra đi". Ba nhân vật Chân Sĩ Ẩn, Liễu Tương Liên, và GBN là những điển hình cho những cách ngộ mang đậm màu sắc tôn giáo Phật và Đạo này. Chân sĩ Ẩn đã trải qua một quá trình "tiệm ngộ" gần trọn cả đời người, để rồi trong một khoảnh khắc tựa như khoảnh khắc sát-na trong Phật giáo, chợt "đốn ngộ" nhờ bài ca "Hảo liễu" của vị đạo sĩ kì lạ. Giải nghĩa xong Hảo liễu ca cũng là lúc Sĩ Ẩn dứt hết duyên trần vùn vụt ra đi không quay trở lại. Câu chuyện Tương Liên ngộ thì y hệt một tích truyện trong Phật giáo Thiền tông: một ngôi miếuđổ, một đạo sĩ ngồi bắt rận, đáp lại câu hỏi "Thưa đây là nơi nào? Tiên ông hiệu là gì?" của Tương Liên là câu trả lời mang đậm màu sắc Phật giáo Thiền tông "Chính ta cũng không biết đây là nơi nào, mà ta là người nào. Chẳng qua đến tạm nghỉ chân ở đây thôi", đã khiến cho Tương Liên "lạnh toát đến tận xương", "cắt hết những sợi phiền não", đi theo đạo sĩ. Sự giác ngộ của GBN gắn liền với hai nhân vật "nhất tăng nhất đạo", chính họ đã biến hòn đá trên núi Đại Hoang thành "Thông linh Bảo Ngọc" mang xuống phàm trần, cũng chính họ lại đưa GBN về với kiếp đá trên núi Đại Hoang

Quá trình giác ngộ của GBN có thể coi là điển hình cho quan niệm về con người "chuyển mê khải ngộ" của TTC trong HLM. Có sự tìm tòi kinh sách, có sự trải nghiệm thực tế, có "tiệm ngộ" và cũng có "đốn ngộ". Sự giác ngộ của BN về cơ bản lại là những trải nghiệm cuộc sống thông qua cảm xúc về "tình". Thêm vào đó BN còn là điển hình cho con người mê nhưng lại sẵn có một khí chất nhạy cảm (đặc điểm ở BN mà nhiều người vẫn lầm tưởng là ngây, ngốc, điên ...), tạo điều kiện cho con người ta dễ dàng đến với sự giác ngộ ngay khi đang sống và đang "mê" trong cuộc đời thực này. Tuy nhiên xét về tổng thể thì hầu hết những nhân vật có khả năng dự cảm để đi đến ngộ đều rơi vào đám chị em. Họ được miêu tả có nhận thức sâu sắc hơn và trải nghiệm nội tâm thâm trầm hơn các nhân vật nam, đặc biệt là các nhân vật nữ vừa xinh đẹp vừa xuất chúng. Trong truyền thống văn hóa và tâm thức sâu xa của người TQ, có hai loại người trong thế gian là điển hình của cái tuyệtđẹp, tuyệt giỏi đồng thời cũng là những kẻ phải hững chịu những cái cực đau khổ, cực bất hạnh của cuộc đời: anh hùng và mỹ nhân. HLM là tiểu thuyết ca ngợi vẻ đẹp nữ tính, nên việc dành cái nhìn ưu ái và đồng cảm cho các nhân vật nữ, ngay cả trong quan niệm về con người ngộ, cũng là lẽ tất nhiên. Trong đám chị em LĐN chính là người nhiều dự cảm nhất. Ở nàng có đầy đủ những yếu tố cho quá trình "ngộ": hoàn cảnh éo le, tài năng hơn người, sự thông minh sắc sảo, khí chất nhạy cảm bẩm sinh... LĐN mê không giống người mà ngộ cũng không giống người. Cái gọi là "dự cảm" dường như đã có sẵn trong con người nàng và chưa giờ phút nào ngừng ám ảnh nàng. ĐN luôn luôn nhìn thấy cái sầu trong mọi cái đẹp, cái tan trong mọi cái tụ, cái ly trong mọi cái hợp, khi hoa đang nở nàng đã thương tiếc hoa tàn ... Dùng hai chữ "dự cảm" với nàng e rằng chưa chính xác, vì thực ra nàng không nhìn thấy "trước" kết cục trở về với hư không, mà nhìn thấy cái hư không "đồng thời" với vẻ náo nhiệt phồn hoa của cuộc đời thực đang diễn ra trước mắt. Có lẽ trong toàn bộ HLM, nhân vật ĐN xứng đáng nhất với nhận xét về con người "mê" suốt một đời mà cũng "tỉnh" suốt một đời.

Quan niệm về những con người chuyển mê khải ngộ có mối liên quan chặt chẽ với quan niệm về cuộc đời "trong hư có thực, trong thực có hư" của tác giả. Do vậy mới có những nhân vật như Diệu Ngọc thì "thân tại phật môn" nhưng "tâm hướng hồng trần", còn Tích Xuân thì "thân tại hồng trần" nhưng "tâm hướng phật môn". Cho nên kết cục chính tiểu thư Tích Xuân chứ không phải ni cô Diệu Ngọc mới bước được vào cửa Phật. Phượng Thư bởi đứng trong cuộc, lại hêt sức thông minh nên nàng có điều kiện nhìn thấy bản chất xấu xa và sự suy tàn của gia tộc rõ hơn ai hết, nhưng nàng chỉ "ngộ" khi đã gần kề cái chết. Con người "mê" trong nàng quá lớn, lòng nàng còn quá nhiều toan tính, cầu chấp, không còn chỗ cho cái gọi là "hư tâm". BN không chỉ một lần được đến Thái hư ảo cảnh, được xem trước số phận của các chị em trong cuốn sổ bạc mệnh, nhưng chỉ khi lòng đã "không" bởi thấu rõ sự đời, BN mới "ngộ" ... Chân lý mà những con người "chuyển mê khải ngộ" trong HLM tìm thấy không ở đâu xa, không phải ở một thế giới hư vô nào đó, mà ở ngay cạnh con người, ngay trong con người. Cái "hư" thực sự là cái "hư" trong tâm hồn con người

Quan niệm nghệ thuật về con người là nguyên tắc lý giải, cảm thụ và miêu tả con người trong nghệ thuật. Đó không phải là một thứ triết lý hay lý thuyết trừu tượng chung chung mà nó được hóa thân ngay trong những phương tiện, phương thức nghệ thuật cụ thể của tác phẩm. Thông qua việc tìm hiểu một số đặc điểm của hình tượng con người mê và con người ngộ trong HLM, chúng ta có thể khẳng định một quan niệm nghệ thuật về con người của tác phẩm: trong cuộc sống đầy biến động thăng trầm, trong cuộc đời thực mà lại như mộng ảo này, "mê" là một thuộc tính tất yếu của con người, cũng như "ngộ" là một phần của nhân tính con người. Sống hết mình với cuộc đời, với những trải nghiệm lý trí và tình cảm của bản thân, con người ta rốt cuộc sẽ tím thấy chân lý ngay bên cạnh mình, ngay bên trong mình

Thạc sĩ Nguyễn Thị Diệu Linh (ĐHSP Hà Nội, khoa Ngữ Văn)

Vòng thi khu vực Nam KinhCúc hoa thi - Ức cúc

Comments

Unregistered user

Ha Nguyen writes: cháu Hai post bài này phải khg? Lần sau nhớ ghi tag và highlight nó để dễ tìm kiếm nha cháu Hai.[html:br ] [html:br ] Bà chờ cháu Hai gõ cả bài xong rồi mới đọc, bài này viết hay lắm. Có chỗ bà thấy hình như nhầm lẫn là BN là linh hồn Thần An, còn hòn đá trên núi Đại Hoang mới là viên ngọc.

Write a comment

New comments have been disabled for this post.

February 2014
M T W T F S S
January 2014March 2014
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28