My Opera is closing 3rd of March

Hồng Lâu Mộng

TIẾT BẢO THOA LUẬN VỀ THƠ

TIẾT BẢO THOA LUẬN VỀ THƠ


Tiết Bảo Thoa là một hình tượng bất hủ của lịch sử văn học Trung Quốc. Nàng là một trong ba nhân vật chủ chốt của “Hồng Lâu Mộng”. Do đó, những mâu thuẫn, rắc rối về hôn nhân và tình yêu giữa bộ ba Bảo Ngọc, Đại Ngọc , Bảo Thoa đã cấu thành nội dung chủ yếu của tác phẩm.

Tiết Bảo Thoa tướng mạo phi phàm, phẩm cách đoan chính, lại hiểu rộng biết nhiều, có một sức hấp dẫn nghệ thuật ghê gớm. Sự thông minh đĩnh ngộ, thông kim bác cổ, đa tài đa nghệ của nàng xưa nay được mọi người tôn trọng. Mà đối với việc bình giá thơ ca thì nàng đã phản ánh lối thưởng thức nghệ thuật và quan điểm mỹ học của nàng cần được chú ý nghiên cứu.

Trong Hồng Lâu Mộng, thông thường nói đến trường hợp những thiếu nữ trong đại quan viên làm thơ, luận thơ thì tác giả miêu tả thật đậm đà , sâu sắc và có lẽ trước tiên là miêu tả đến trường hợp của Tiết Bảo Thoa và Lâm Đại Ngọc. Hai người này thay phiên nhau đoạt giải, khó phân ngôi thứ, có thể nói “bên tám lạng, người nửa cân”. Mỗi khi đọc đến những đoạn tình tiết như thế, độc giả đều theo đó mà cảm xúc, mà nung nấu. Khi hai nhân vật này luận thơ thì những phát biểu của họ khiến người ta rung động, đề mục rõ ràng, lập luận có căn cứ, nói ra là hợp lý, thậm chí phát hiện điều người ta chưa từng phát hiện, bàn bạc những điều người ta chưa từng bàn bạc, và cũng từ đó, đa số độc giả biết thêm điều hữu ích, vỡ vạc thêm điều chưa thấu.

Tiết Bảo Thoa tuy thường lấy câu “con gái không có tài ấy là đức” để khuyên người khác, và không tán thành con gái đọc sách làm thơ, nhưng cính nàng thì giỏi làm thơ, giỏi luận thơ. Khi nàng luận thơ, thường đưa ra những kiến giải đặc sắc về nghệ thuật thơ ca, đọc lên là thấy điều mới mẻ, sâu sắc, thậm chí đôi khi có cảm giác bỗng nhiên tỏ ngộ.

Hồi thứ ba mươi bảy, nói về chuyện làm thơ thế nào, Tiết Bảo Thoa đã phát biểu những ý kiến rất bổ ích. Nàng nói với Sử Tương Vân : “Đề tài không cần phải lắt léo quá. Cứ xem thơ người xưa, đề bài đâu cần kỳ quặc, vần đâu cần hiểm hóc. Nếu đề bài quá lắt léo thơ không thể nào hay được, có khi còn gò bó hẹp hòi. Thơ cố nhiên phải tránh sáo ngữ, nhưng không nên quá cầu kỳ, cốt lập ý cho mới, tự nhiên lời thơ sẽ không tục.” Theo đó, ta thấy Tiết Bảo Thoa chủ trương thơ cần phải lập ý, tứ thơ cho tân kỳ, đồng thời phản đối lối ra đề kỳ quặc, hạn vần hiểm hóc, điều này thật là đúng đắn. Cho dù chú trọng cái mới, nhưng nàng vẫn có nguyên tắc, phản đối cái lắt léo và nàng cho rằng thái quá cũng hại như bất cập. Nếu thái quá sẽ không có thơ hay, cuối cùng sẽ trở nên gò ép,hẹp hòi. Quan điểm như thế có thể xem là thỏa đáng.
Nàng còn nói với Tương Vân : “ Bây giờ lấy hoa cúc làm khách, lấy người là m chủ, mình nghĩ ra mấy đầu bài, mỗi đầu bài có hai chữ : một chữ “hư”, một chữ “thực”, chữ “thực” là “cúc”, còn chữ “hư” muốn dùng chữ gì thì dùng. Như thế lại vừa vịnh cúc, lại vừa tả việc, người xưa chưa làm thế cũng không đến nỗi rơi vào khuôn sáo. Tả cảnh, vịnh vật, hai cái ấy đi đôi với nhau, như thế vừa mới mẻ, vừa khoáng đạt.” Thật đúng là không khuôn sáo, không dung tục. Kiến giải như thế thật là cao minh.

Những cô cậu trong Đại Quan Viên lập ra thi xã do Lý Hòan làm chưởng đ� n, bọn họ cùng nhau làm thơ vịnh hoa hải đường trắng. Nhưng ngòai Lý Hòan ra, họ chưa được thưởng thức hai chậu hoa hải đường trắng mà người ta vừa đem tặng, làm thơ vịnh thì thật là gay, cho nên Nghênh Xuân lưỡng lự nói “Chưa thấy hoa hải đường trắng mà đã làm thơ vịnh �” Bảo Thoa nói “Chẳng qua chỉ là hoa hải đường trắng cần gì phải thấy mới làm được thơ. Thơ phú của người xưa cũng chỉ cốt mượn vật để ngụ tình mà thôi. Cứ chờ trông thấy mới làm thì bây chẳng có bài thơ nào cả.” Ở đây Bảo Thoa đưa ra quan điểm của mình là “mượn vật ngụ tình”. Chi Nghiễn Trai bình giá ý kiến này rằng “quả là ngôn ngữ nhà thơ”.

Cố nhiên văn học bắt nguồn từ cuộc sống, cuộc sống là nguồn mạch duy nhất trong sáng tác thơ văn, nhưng không phải bất cứ sáng tác nào cũng câu nệ vào đó. Đã có người từng thấy hoa hải đường trắng, nhưng không phải như chú học sinh nhỏ, trước khi tả phải đích thân thưởng thức, sau đó mới hạ bút, thơ không thể cứ phải đi theo cuộc sống, đặc biệt là thơ vịnh vật chỉ cốt để “mượn vật ngụ tình”. Theo góc độ này mà xét thì quan điểm về thơ phú của Tiết Bảo Thoa là điều có thể chấp nhận được. Bài thơ vịnh hoa hải đường trắng của nàng đúng là một minh chứng tốt nhất của chủ trương sáng tác này, thơ không câu nệ vào hình trạng của hoa hải đường trắng mà cốt truyền cho được cái thần của hoa, cốt gửi gắm cái tình ý của nhà thơ, thế nên có những câu hạ bút truyền thần như :

Yên chi tẩy xuất thu giai ảnh
Băng tuyết chiêu lai lộ triệt hồn
(Phấn son rửa sạch thềm thu nọ
Băng tuyết mời về bực móc đây)

hoặc những câu ngụ ý như sau:

“Đạm cực thuỷ tri hoa cánh diễm
Sầu đa yên đắc ngọc vô ngân”
(Lạt thếch hoa càng thêm đượm vẻ
Buồn tênh ngọc cũng phải chau mày)

Và như thế bài thơ này trở thành một trong những nét khắc hoạ tính cách nhân vật của hình tượng Bảo Thoa. Từ bài thơ này, người ta rất dễ dàng tưởng tượng ra phầm chất đoan trang, cẩn trọng, đôn hậu nhu mỳ vốn có của nàng và tư tưởng xử thế với khí chất tiềm tàng, trong ngòai chân chất, lấy thoái để tiến của nàng. Đặc biệt là hai câu:

“Lạt thếch hoa càng thêm đượm vẻ
Buồn tênh ngọc cũng phải chau mày”

ẩn chứa một triết lý sâu xa khiến người ta phải suy nghĩ. Có người cho rằng Bảo Thoa đề xướng nguyên tắc “mượn vật ngụ tình” mà bài thơ trên lại không lấy “tình”, “vật” là cái sở trường, nên không phài phép làm thơ Đường mà bắt chước luật thơ Tống. Nói như vậy không tránh khỏi phiến diện, hiển nhiên “mượn vật ngụ tình” trông có vẻ gò bó thật, nhưng thực tế “tình” và “vật” ở đây bao hàm nội dung rất kháong đạt, bài thơ ấy xứng đáng là một bài vịnh vật ngụ tình rất hay, hòan tòan có thể có chỗ đứng ưu tú trong rừng thơ ca cổ điển.

Bảo Thoa không chủ trương vì hạn vần trong thơ mà trói buộc người làm thơ. Ví dụ như khi Tương Vân hỏi thơ vịnh hoa cúc thì nên hạn vần gì, Bảo Thoa đáp “Xưa nay tôi không thích hạn vần, thơ cốt cho hay, cớ gì phải trói vần. Chúng ta chớ nên học những nh� thơ gò bó, hẹp hòi, cứ ra đề bài, không cần hạn vần. Cốt mọi người nghĩ ra câu thơ hay, lấy làm vui chứ không phải lấy vần ra để làm khó dễ”. Tương Vân nghe xong nói “Chị nói rất đúng”. Theo Bảo Thoa, thơ không cần phải hạn vần. Nếu hạn vần sẽ trói buộc người làm thơ, và thơ sẽ không hay, sẽ bị gò bó, hẹp hòi. Điều này cho thấy tương quan giữa hình thức và nội dung, theo Bảo Thoa thì nội dung được coi trọng còn hình thức chỉ để phục vụ nội dung mà thôi. Ở thời đại đó mà có được kiến giải như thế quả là đáng quý.

Tiết Bảo Thoa còn cho rằng không nên bắt chước hay dẫm lên vết chân của người xưa mà phải dũng cảm vượt qua, tìm cho ra ý mới, như thế mới có thơ hay được. Ở hồi thứ sáu mươi tư, Bảo Thoa chỉ rõ : “Làm thơ bất luận là đề tài gì, cốt lật được ý cổ nhân. nếu cứ theo dấu chân người trước mà làm dù chữ có hay, câu có khéo đến đâu, cũng không phải là của mình và cũng không thể gọi là thơ hay được. Người xưa có nhiều thơ vịnh Chiêu Quân, có người trách Mao Diên Thọ, có người chê vua Hán không cho thợ vẽ vẽ các hiền thần mà lại đi vẽ mỹ nhân, mỗi người mỗi ý, không ai giống ai. Về sau, Vương Kinh Công lại có câu:

“Ý thái do lai hoạ bất thành
Đương thời uổng sát Mao Diên Thọ”
(Thần thái xưa nay ai vẽ được
Giết Mao Diên Thọ cũng là oan)

Và Vĩnh Thúc có câu:

“Nhĩ mục sở kiến thượng như thử
Vạn lý an năng chế di địch.”
(Tai nghe mắt thấy còn như thế
Muôn dặm sao ngăn được rợ Hồ)

Hai nhà thơ đều có ý kiến riêng của mình, không giống với những người khác. Nay năm bài thơ của cô Lâm cũng có thể gọi là dùng ý tân kỳ, mở riêng ra một lối khác vậy.”

Những ý kiến trên của Bảo Thoa cho thấy nàng thuộc nằm lòng thơ ca cổ điển Trung Quốc, đồng thời có thể bày tỏ sự hiểu biết quảng bác và sâu sắc của mình về vấn đề này.

Thơ vịnh sử của người xưa không biết bao nhiêu m� kể, nhưng cũng rất nhiều người chỉ làm theo kiểu “bảo sao nói vậy”, chứ chẳng có ý nào đáng nói. đến thời Đường, đề tài vịnh sử được các nhà thơ như Lý Thương Ẩn, Đỗ Mục, Bì Nhật Hưu, La Ẩn…giỏi lật ý cổ nhân, huỷ được cái án văn chương, đọc lên nghe thấy mới lạ, khiến người ta ngẫm ngợi và đáng gọi là thơ “luận sử”, như Lý Thương Ẩn với bài “Giả Sanh”, Đỗ Mục với bài “Xích Bích”, Bì Nhật Hựu với bài “Biện Hà hoài cổ”, La Ẩn với bài “Tây Thi”, những bài này đều dùng ý lạ mà sáng tác. Vương An Thạch, Âu Dương Tu đời Tống kế thừa và phát huy truyền thống ấy, họ vịnh Chiêu Quân thường mượn xưa để phúng thích nay, ngụ ý sâu xa, dùng đề tài cũ mà gợi ra ý mới, có thể gọi là biến cái hư nát thành cái thần kỳ, bù cái mới vào cái cũ, đọc lên sẽ gợi nhiều điều gợi mở. Đặc biệt ở đây Bảo Thoa đưa ra hai liên thơ đối nhau của Vương An Thạch và Âu Dương Tu:

Ý thái do lai hoạ bất thành
Đương thời uổng sát Mao Diên Thọ

Và :
Nhĩ mục sở cập thượng như thử
Vạn lý an năng chế di tịch

Đúng là những dẫn chứng thông tuệ, đầy thuyết phục. Ngày xưa, người ta thường cho rằng Hán Nguyên Đế, trước khi xảy ra chuyện (tức chuyện Chiêu Quân cống Hồ) thì bị bưng bít, sau khi xảy ra chuyện thì phản tỉnh, ăn năn và trở thành vị vua đa tình tốt bụng, nhưng đầu sỏ tội ác chính là họa công Mao Diên Thọ. Nhưng trong “Minh phi khúc” (Minh phi tức Chiêu Quân) Vương An Thạch lại muốn phê phán tầng lớp vua quan phong kiến, cho rằng chính Hán Nguyên Đế tạo ra tấn bi kịch Vương Chiêu Quân, còn thực ra Mao Diên Thọ chỉ bị giết oan. Như vậy ở đây ta thấy Vương An Thạch có lập ý tân kỳ, phơi bày gan ruột, bút lực sắc xảo. Âu Dương Tu trong bài “Minh phi khúc ho� Vương Giới Phủ” còn tiến thêm một bước, ông chỉ rõ : “Tuy năng sát hoạ công, Vu sự cánh hà ích” (Tuy giết được hoạ sư, Nhưng nào có ích gì?) thì bi kịch Vương Chiêu Quân ở ngay bên cạnh hoàng đế, đó là chuyện “tai nghe mắt thấy” (nhĩ mục sở cập), còn bọn dị địch “xa ngoài ngàn dặm” (vạn lý an năng chế di địch) làm sao mà chế phục cho nổi? Và ông còn tiến thêm một bước nữa:

“Hán kế thành khả chuyết
Nữ sắc nan tự khoa”
(Kế Hán thành tuy vụng
Sắc đẹp ai tự khoe)

Ở đây tác giả dựa trên cơ sở của Vương An Thạch mà nêu vần đề có tính chất bén nhọn hơn. Trong số những bài thơ vịnh Vương Chiêu Quân của nhiều người khác nhau, Bảo Thoa chỉ chọn có hai bài và cho rằng “hai bài thơ ấy mỗi người đều có ý riêng, không giống như những người khác”. Sự hiểu biết đặc biệt ấy thật hiếm thấy khiến người ta có cảm giác “vén mây mù thấy ánh dương”. Từ chỗ Tiết Bảo Thoa tán dương hai nhà thơ vịnh Chiêu Quân của Vương An Thạch và Âu Dương Tu chúng ta có thể liên tưởng đến thái độ phê phán vua chúa phong kiến trong Hồng lâu Mộng, và cũng từ đó chúng ta có thể nhận ra lòng gan dạ và sự hiểu biết của tác giả. Ngoài ra Bảo Thoa còn cho rằng năm bài thơ vịnh sử của Vương An Thạch và Âu Dương Tu đều vì “lập ý tân kỳ” mà “tạo ra điều khác thường” mà theo đó Đại Ngọc làm thơ ca ngợi cái đẹp quá sức cũng là đả phá triệt để thói xấu “văn nhân tương khinh”(nhà văn, nhà thơ thường coi thường nhau) của xã hội phong kiến, lộ rõ sự rộng lượng của Bảo Thoa, thật là một điều quý báu.

Về mặt lý luận, Bảo Thoa chủ trương thơ cần lập ý tân kỳ, giỏi lật ý cổ nhân và thực tế nàng đã làm được như vậy. Bài từ “Lâm giang tiên” của nàng thể hiện rõ chủ trương ấy:

“Bạch ngọc đường tiên xuân giải vũ
Đông phong quyển đắc quân cân.
Phong vi điệp trận loạn phân phân.
Kỹ tằng tuỳ thệ thuỷ,
Khởi tất uỷ phương trần.
Vạn lũ thiên ty chung bất cải,
Nhậm tha tuỳ tụ tuỳ phân.
Thiều hoa hưu tiếu bổn vô căn.
Hào phong tần tá lực
Tống ngã thượng thanh vân!”

Dịch :
Trước thềm xuân biết múa may
Gió đông cuốn rải hoa này khắp nơi
Bướm ong nhao nhác bay hoài,
Đâu theo dòng nước? Đâu vùi bụi thơm?
Muôn dây nghìn sợi vẹn toàn,
Cũng đành khi hợp khi tan tha hồ!
Đừng cười là giống chơ vơ
Mây xanh lên vút ta chờ gió đông

Đây là bài từ vịnh bông hoa liễu. Trước khi làm bài từ này, Bảo Thoa từng nói : “Tôi nghĩ bông hoa liễu vốn là một thứ mỏng manh, không bám vào đâu, nhưng theo ý tôi, phải nói cho nó tốt thì mới thoát được sáo cũ. Cho nên tôi mới bịa ra một bài, chưa chắc đã hợp ý các chị.” Điều này cho thấy nàng vốn muốn lật ý cổ nhân, huỷ cái án văn chương xưa nay từng câu thúc người làm thơ. Những bài từ tả bông hoa liễu trước Bảo Thoa, giọng điệu hầu như có vẻ ai oán sầu khổ, như bài Nam kha tử của Thám Xuân và Bảo Ngọc có câu:

“Nan oản hệ dã nan ky,
Nhất nhậm đông tay nam bắc phân ly”
(Liều cho nam bắc đông tây
Chia lìa các ngả thì đây cũng đành)

“Oanh sầu điệp quyện vãn phương thời,
Tung thị minh xuân tái kiến cách niên kỳ”
(Oanh buồn bướm mệt lắm rồi
Xuân sau dù gặp cũng ngoài một năm)

hoặc bài Đường đa lệnh của Lâm Đại Ngọc có những câu :

“Phiêu bạc diệc như nhân bạc mệnh,
Không khiển quyển, thuyết phong lưu”
(Mỏng manh trôi dạt thân này,
Uổng công gắn bó, thiệt ngày phong lưu)

Bài Tây giang nguyệt của Bảo Cầm có câu:

‘Giang nam giang bắc nhất bàn động,
Thiên thị ly nhân hận trọng”
(Cùng chung một cảnh bắc nam,
Mà người ly biệt buồn càng buồn thêm)

Rồi một trang phong lưu tuấn nhã hào hoa khoát đạt như Sử Tương Vân mà trong bài Như mộng lệnh vẫn có những câu như :

“Thả trú, thả trú!
Mạc sử xuân quang bịet khứ”
(Thôi thôi ta giữ chặt tay
Chúa xuân khéo lại đi ngay đó mà )

Còn bài Lâm giang tiên của Tiết Bảo Thoa, lối cách điệu ai oán bịn rịn của mấy bài từ nơi các bạn thơ thì hoàn toàn tương phản, tình cảm trong bài từ này đầy chất lạc quan cởi mở hăng hái phấn chấn. Nó đi đôi với tính cách khoáng đạt, thức thời của nàng, trong đó có câu :

“Kỹ tằng tuỳ lưu thuỷ
Khởi tất uỷ phương trần”
(Nở để bụi thơm vùi dập
Bao phen dòng nước hoa trôi theo)

Có lẽ đã lấy ý của Tô Thức trong bài Thuỷ long ngâm : “Xuân sắc tam phân, nhị phân trần thổ, nhất phân lưu thuỷ (ba phần xuân sắc, hai phần đất, một phần nước) miêu tả có phần phấn chấn, hắng hái lạc quan, thật là thú vị. Nhất là hai câu cuối bài từ

“Hảo phong tần tá lực,
Tống ngã nhượng thanh vân”
(Nhờ gió đưa lên mãi
Trên mây ngất ngưởng trèo)

Bày tỏ ý hay nhất trong thi từ về bông liễu xưa nay và cũng qua lời ý của bài từ khiến cho người ta thấy Bảo Thoa ở phủ họ Giả nhân được mọi người thích thú mà đắc ý thoả lòng. Bài từ trên không những có tài lật ý cổ nhân mà còn thể hiện đặc trưng cá tính của nhân vật một cách rất hình tượng, tả dáng truyền thần, ngụ ý sâu sắc, cảm vật trữ tình, phong cách hiên ngang, xứng đáng là một bài từ vịnh vật tuyệt diệu, không trách mọi nhà thơ trẻ nam nữ trong Đại Quan Viên tán thành là bài từ hay nhất, đến nỗi họ phải vỗ án kêu tuyệt diệu, và có người buột miệng khen “Quả là lật ý cổ nhân đầy khí lực, đáng là một bài từ hay tuyệt.” Bảo Thoa lại đoạt giải nhất và được mọi người trong thi xã quý trọng.

Hồi thứ bốn mươi chín, nhân Hương Lăng say mê học làm thơ, Sử Tương vân suốt ngày đàm đạo về thơ đã bị Bảo Thoa trêu chọc “Ồ, điếc tai quá, chịu không nổi nữa. Người con gái như chúng mình chỉ biết thích thơ, coi việc làm thơ là chính chỉ tổ làm cho bọn có học chê cười, họ cho là mình không biết thủ phận. Một mình Hương Lăng đã làm nhộn lên rồi, nay thêm cái lưỡi gà u giai của cô luôn mồm luôn miệng nào là thơ Đỗ Công Bộ trầm uất, âm thầm, thơ Vi Tô Châu tao nhã thanh đạm, nào là thơ của Ôn Bát Thoa văn chương hay đẹp, Lý Nghĩa Sơn kín đáo sắc xảo. Cô không nhắc hai nhà thơ hiện đại mà lại cứ nhắc đến những nhà thơ xưa làm gì?” Tương Vân nghe xong cười hỏi “Hai nhà thơ hiện đại ấy là ai?” Bảo Thoa cười nói “Đó là nỗi lòng khổ sở của Hương lăng ngốc và lời nói ba hoa của Tương Vân điên”. Tương Vân, Hương Lăng nghe xong đều cười ầm lên. Qua mẩu chuyện này, những gì Bảo Thoa nói có phần phản ánh thiên kiến của nàng về chuyện phái nữ làm thơ, cái đáng cười là sự say sưa quên mình dấn thân vào thơ ca của Hương Lăng và Tương Vân, nhưng qua việc nhắc lại lời Tương Vân ta có thể thấy Bảo Thoa thuộc nằm lòng phong cách thơ của các nhà thơ cổ điển Trung Quốc và chứng tỏ nàng luôn trau dồi, nghiên cứu nghệ thuật thơ ca.
Từ việc Bảo Thoa luận thơ, chúng ta có thể rút ra một khía cạnh khác trong tư tưởng mỹ học của Tào Tuyết Cần. Trong Hồng Lâu Mộng, Tào Tuyết Cần đã đem chủ trương về phép làm thơ của mình mượn lời lẽ Bảo Thoa, một người học rộng, biết nhiều trình bày một cách đầy hình tượng nhưng lại được miêu tả một cách khéo léo, tự nhiên qua tác phẩm, không để lộ chút dấu vết hay một lời thuyết giáo nào của mình mà lại rất phù hợp với đặc trưng tính cách nhân vật.

Tào Tuyết Cần là một tiểu thuyết gia vĩ đại, cuộc đời của ông lận đận mà ngắn ngủi; nghèo khổ và bệnh tật đã cướp đi sinh mệnh ông, cuộc đời của một đại văn hào lại ra đi giữa tuổi trẻ, áng văn chương kim cổ vẫn chưa viết xong. V� ông cũng chưa kịp trình bày hết những chủ trương nghệ thuật và tư tưởng mỹ học của mình một cách có hệ thống và toàn diện. Về thi, phú, từ khúc ông có một lối tu tập nghệ thuật cao thâm và có một lối kiến giải nghệ thuật đặc sắc. Ông dùng hình tượng nhân vật trong tiểu thuyết để sáng tạo ra đặc trưng tính cách của từng nhân vật vừa rất sát hợp lại vừa có giá trị cao về mặt nghệ thuật trong các thể loại, khiến cho người đời sau không ngớt ca ngợi, kính phục. Nhưng do nhiều nguyên nhân phức tạp, ngày nay ngoài Hồng Lâu Mộng chưa hoàn tất ra, chúng ta chỉ đọc được hai câu thơ của ông:

“Bạch phó thi linh ưng hỷ thậm
Định giao man tố từ bài trường”

Phong cách thơ có vẻ chịu ảnh hưởng của Lý Hạ, nhưng lại không mất đi phong cách nghệ thuật của chính mình. Trương Nghi Tuyền nói về thơ Tào Tuyết Cần : “Thơ của ngài không phải là thơ để nhàn ngâm”. Đôn Thành cũng nói “yêu chất thơ của ngài vì có phong cách lạ”. Từ những lời phát ngôn ấy, tài làm thơ của Tào Tuyết Cần cũng đã bộc lộ ít nhiều.

Nhân đây có thể nói thông qua tiểu thuyết của mình, Tào Tuyết Cần đã để cho nhân vật thông minh đĩnh ngộ, hiểu rộng biết nhiều Tiết Bảo Thoa xuất hiện đàm luận thơ ca, đồng thời những gì nàng nói, nàng giải thích đều khác thường, vượt trội, nghe ra phải bội phục, đó là một phương thức thể hiện những chủ trương về thơ ca của mình vừa khéo léo, vừa tự nhiên, vừa đáng tin; điều này đủ thấy sự tinh khôn, bén nhạy của Tào Tuyết Cần.

Trích Mạn Đàm Hồng Lâu Mộng
Trương Khánh Thiện- Lưu Vĩnh Lương
(bản dịch của Nguyễn Phố)


Nguồn: www.tvbvnfc.net, do classic_season đăng

Nguyên tiêuTào Tuyết Cần và giấc mộng lầu hồng

Write a comment

New comments have been disabled for this post.

February 2014
M T W T F S S
January 2014March 2014
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28