Tuesday, January 3, 2012 3:47:04 AM
Đức Yehova: Thị Eva kia nghe cho rõ: - Khi hái trái cây đó Thị làm là do tự nguyện hay bị ép buộc ?
Bà Eva: - Dạ, con bị con rắn mà Ngài cho làm bạn nó quyến dụ; nó bảo rằng Ngài nói thế chứ ăn không chết đâu.
Đức Yehova: - Ngươi tin Ta hay tin con rắn ?
Bà Eva: - Dạ, con tin cả hai.
Đức Yehova: - Nó là loài nói dối, ngươi không thấy cái lưỡi chẻ đôi của nó sao ? Nay nó nói tả, mai nó nói hữu.
Nó thì tả-hữu bình bình, nói gì chẳng được; sao ngươi tin ?
Bà Eva: - Nó bảo rằng ăn trái ấy vào…mắt mình sẽ mở ra; cho nên con hái ăn cho sáng mắt để mở trí khôn mà biết phân biệt điều lành điều dữ…như Ngài cũng bảo thế.
Đức Yehova : - Biết đều thiện điều ác là sáng mắt ra rồi đó. Thế mới chết ! Ngươi có biết không ?
Bà Eva: - Ngài có dặn kỹ, con biết.
Đức Yehova: - Biết sao còn cố tình ăn?
Bà Eva: - Ngài đặt con vào một quyết định khó khăn quá. Một sống !Hai chết ! Vì thế bắt buộc con phải chọn lựa.
Và con đã chọn: Thà chết vinh, còn hơn sống nhục”.
Đức Yehova: - Nếu ngươi không ăn trái đó, ngươi có chết chăng?
Bà Eva: - Dạ thưa không chết, nhưng sống nhục.
Đức Yehova: - Sống như thế sao gọi là nhục?
Bà Eva: - Sống mà không phân biệt nổi đâu là thiện, đâu là ác; sao gọi là sống vinh?
Sống như thế khác nào cầm thú, sao không gọi là nhục !
Mời xem Video http://www.youtube.com/watch?v=d25z74YR8NA
Vũ Ngọc Anh
[Lấy lại từ vanchuongviet.org - Ngày đăng: 03.01.2012
Thursday, November 24, 2011 5:32:48 AM
Cách đây mấy năm đã một lần rộ lên chuyện Tấm Cám vì SGK sinh ra hai cô Tấm khác nhau làm thầy cô, học trò lúng túng...Bộ GD khó thở...giờ cơn bão Tấm Cám "lại nòm" !
Chuyện cổ tích Lọ Lem được rất nhiều chủng tộc trên thế giới kể dưới nhiều chi tiết khác nhau nhưng vẫn giữ được nguyên mẫu cấu trúc của câu chuyện: bà mẹ ghẻ độc ác với con chồng và cô con gái (con ghẻ) đó sau bao truân chuyên cũng sẽ được lên ngôi hoàng hậu…một đời vinh hoa phú quí.
Giáo sư ngôn ngữ học Nguyễn Khắc Ngữ viết: “Rất nhiều nước thế thế giới đã có những cổ tích tương tự như truyện “Tấm Cám” của ta. Với những phương tiện ít ỏi tôi chỉ có thể nêu ra các nước: Trung hoa, Ai lao, Chàm, Cao-miên, Ấn độ, Ba-tư, Anh, Pháp và Đức đã có truyện này ghi trên giấy trắng mực đen rồi.” [“Văn Hóa nguyệt san số 44 tháng 9 năm 1959 – tr.1100-1104]. Còn Giáo sư Lê Xuân Khoa trong “Nhập Môn Triết Học Ấn Độ”- [Trung Tâm Học Liêu xb. Năm 1965] cũng cho biết các nhà nghiên cứu liệt kê trên 260 truyện “Lọ Lem”.
“ Thật sự là khó có thể thống kê hết đã từng có bao nhiêu phiên bản Tro Bếp [Lọ Lem] trên toàn thế giới, ta chỉ có thể biết rằng mức độ phổ biến của câu chuyện này cực kỳ rộng lớn, từ đất Nga xa xôi đến VN mưa rào, xuyên qua Trung Đông sa mạc, tràn xuống cả Châu Phi nóng nực. Không đâu là không có “Tro Bếp”, hầu như không dân tộc nào là không có ít nhất một phiên bản như thế cho mình. Chỉ riêng Việt Nam thôi người ta đã tìm ra ít nhất 35 phiên bản. Theo một cuốn sách cũ mà tôi quên mất tựa đề, truyện “Tro Bếp” có tổng cộng ít nhất 200 phiên bản trên toàn thế giới ( 200 hay 2000 tui ko còn nhớ rõ, phải chi tôi tìm lại được cuốn ấy , chỉ còn nhớ tác giả hình như là Đinh Gia Khánh.). Đó là chưa tính đến những truyện được phóng tác từ motip này, ví dụ như bộ phim Lọ Lem lừng danh của Want Disney hay câu chuyện Tro Bếp của Andescen viết lại.” [ Yevon Tham Đốc http://lichsuvn.info/forum/showthread.php?t=10029]
Motif được xem như một mẫu loại điển hình có tính phổ quát đã trở thành biểu tượng như một “mô thức”; cho nên cái motif Lọ Lem này dầu được kể dưới bất cứ cấu trúc nào cũng cùng mẫu số chung là một “bài học” khuyến cáo về đạo lý làm người trong xã hội mang tính nhân bản và kèm theo một “thông điệp”: “kẻ ác làm rối tung mọi sự nhưng lại bắt người cô thế phải tự giải quyết lấy.”
Thần thoại, cổ tích đều nằm trong thể loại ngụ ngôn như một đồng tiền có hai mặt, như một tảng băng có hai phần: phầnt nổi và phần chìm (không phải là 2 mặt đối nghịch mà bổ sung cho nhau…làm nên giá trị của câu chuyện). Mặt nổi được văn bản xác định và mặt chìm chính là cái thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm mà Ngô Thừa Ân trong TDK gọi là “ngoại tượng bao bì” và “công án tỷ ngữ” mà trong văn học thì “ý tại, ngôn ngoại”.
“Ý tưởng” là cái hiển nghĩa [ý], còn “thông điệp” là cái “ẩn ngữ” [ngôn]
Thông điệp là cái ẩn dụ trong tác phẩm và nó nằm ngoài văn bản hay nói một cách khác là nó nằm giữa các chữ tức bên kia lăng kính của phép tỷ ngữ trong ẩn dụ của ngụ ngôn = “2 in 1”. Ngô Thừa Ân thường hỏi: “Có hiểu được ngầm ý của ta không ?”. “Cái ngầm ý” chính là nỗi lòng mà tác giả muốn gửi gắm qua cái thông điệp nằm ẩn trong “công án”. Và người đọc có bổn phận “bóc vỏ” để thấy cái “hạt” nằm bên trong chở ta thưởng thức để tác giả không đau lòng mà bảo rằng uổng phí miệng phiền lưỡi khô !
Tùy vào thực tế của từng chủng tộc với nến văn minh và văn hóa riêng nên câu chuyện được kể mang đậm bản sắc dân tộc của nó. Những nước chăn nuôi thì lông và laine (len = sợi chỉ) được dùng cho việc làm rối tung để người bị hại gở…và không gở được ! Còn các nước nông nghiệp trồng lúa và hoa màu thì thóc và đậu được trộn lộn…vô phương nhặt ra từng loại !
“THÔNG ĐIỆP LỌ LEM” này người xưa muốn gửi gắm điều gì ? “Chính kẻ quyền thế làm rối tung mọi sự mọi việc nhưng lại bắt người cô thế bị áp bức phải giải quyết cái hổn độn đó”.
Ngay trong câu chuyện Tấm Cám này chúng ta không tìm ra cái quyền thế ác độc nằm trong triều chính – “kẻ quyền thế” - mà hiện ra sự công bằng và đầy tính nhân bản của Vua. Nếu cần gắng cho “phong kiến” cái xấu, cái ác thì không thiếu gì cách mà tác giả có thể lồng vào câu chuyện. Nhưng trong Tấm Cám cũng như các truyện Lọ Lem khác trên thế giới chúng ta không tìm ra điều ấy.Vậy “kẻ quyền thế” này là “AI ?”
Truyện không nói đến ! Nó nằm ngoài cái “ngoại tượng bao bì” – ngoài cái “ý tại”, mà nó ẩn trong “công án tỷ ngữ” tức “ngôn ngoại”…ngoài văn bản.
Cái ẩn dụ trong ngụ ngôn nằm ở thể tỷ; thế mà ta đã giải mã cái mớ hổn độn các sợi chỉ rối nùi và thóc đậu lộn hầm bà làng kia chưa ?
Ngày xửa…ngày xưa: hai cái thế lực khắc nghiệt nhất đối với dân chúng là: 1) Tôn giáo (giai cấp tăng lữ) và 2) Triều đình. Đây là hai tập cấp (caste: ở nền văn hóa này) hay hai giai cấp (classe: ở mộ nền văn hóa khác) là hòn đá tảng của nhân loại thời ấy.
Một so sánh rất thú vị mà nhà ngôn ngữ học Nguyễn Khắc Ngữ dẫn chứng “Tấm Cám là ta mượn của Chàm hay Chàm mượn của ta”. [sd trên] – “Khác với Việt-nam, xét các chuyện cổ Chàm ta thấy:
- Các chuyện này thường không kiên nể thần thánh, các nhân vật trong truyện dám đùa cả với thần thánh, đánh lừa cả thần thánh.
Thí dụ: Chà-lúc, Chà-lắc và ngay trong truyện Hu-lé và Dong [Tấm Cám]. Dong (Tấm) đã nói dối là có lời Phật dạy để đánh lừa Hu-lé (Cám).
Từ đó dẫn gs đến kết luận: “Với những điều kể trên Tấm không thể là nhân vật điển hình trong cổ tích Việt-nam.” Và “Nhưng nhân vật ấy hợp với tính chất cổ tích Chàm” [sd.tr.1103]
Việt Nam ta thì có vừa gì: “Muốn cũng cố chế độ phong kiến, duy trì chế độ bóc lột, bọn thống trị phải thi hành chính sách ngu dân. Một mặt chúng hạn chế việc học, một mặt chúng tuyên truyền tôn giáo, nhằm phát triển sự ngu muội và mê tín trong dân gian, làm nhụt chí đấu tranh của nhân dân, cố làm cho nhân dân yên trí địa chủ giàu là tại số, nhân dân nghèo cũng là tại số:
Số giàu mang đến dững dưng,
Lọ là con mắt tráo trưng mới giàu.
Sự gieo rắc mê tín ấy của giai cấp phong kiến thống trị trong dân gian đã có hiệu quả một phần nào, nhưng không phải người nào cũng bị ru ngủ và bị mê hoặc. Bọn đội lốt tu hành, vẫn bị nhân dân vạch mặt và phỉ nhổ. Hãy đọc những câu ca dao sau này:
Na mô một bồ dao găm,
Một trăm giáo mác,
Một vác dao bầu,
Một xâu thịt chó.
Có những kẻ ban ngày lần tràng hạt, ban đêm đi ăn cướp, lại có kẻ giả vờ đi quyên giáo để thừa cơ chủ nhà đi vắng thì ăn trộm ngay giữa ban ngày:
Người ta đi giáo tiền, giáo gạo,
Tiểu tôi đi giáo áo, giáo nồi,
Nhà nào công đức thì thôi,
Nhà nào đi vắng, tiểu tôi giáo bò…
Trong thời phong kiến suy tàn, đạo Phật, công cụ tuyên truyền của phong kiến , cũng ngày một suy vi, một số đông chùa chiền đã hóa ra những nơi tạm lánh chân của bọn trai tứ chiến gái giang hồ, cho nên mới có những câu:
Na mô bồ tát bồ hòn,
Ông sư bà vãi cuộn tròn lấy nhau.
Đến những kẻ làm môi giới cho chùa, làm giàu cho bọn đội lốt tu hành bằng cách khuyên nhủ người ta cúng lễ, như bọn thầy bói, thầy số, nhân dân cũng nhận thấy mánh khóa lừa bịp của chúng và giễu chúng bằng những lời mỉa mai:
Quẻ này có động,
Nhà này có quái trong nhà
Có con chó đực cắn ra đằng mồm.
Nhà bà có con chó đen,
Người lạ nó cắn, người quen nó mừng.
Nhà bà có cái cối xay,
Bốn chân xuống đất, ngõng ngay lên trời…
Trong thời phong kiến, đại đa số nhân dân bị thất học, do đó đôi khi họ cũng bùi tai nghe những lời mê hoặc, những lời dụ dỗ quàng xiên của giai cấp phong kiến thống trị và bọn tay sai của chúng. Người nông dân Việt Nam thời xưa mình trần thân trụi, bị áp bức bóc lột đủ điều, nên họ chỉ còn cách cầu Trời khẩn Phật phù hộ cho họ được đỡ khổ. Nhiều lúc họ cũng đã thấy Trời Phật bất lực trong sự giúp đỡ họ và họ cũng đã nhiều phen oán Trời, trách Phật.” [Vũ Ngọc Phan - “Tục Ngữ Ca dao Dân Ca Việt Nam” – tr.446,447,448 – xb. Khoa Học Xã Hội – HÀ NỘI – 1997]
Còn bà Hồ Xuân Hương nữa:
Sư hổ mang
Chẳng phải Ngô, chẳng phải ta,
Đầu thì trọc lóc, áo không tà,
Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm,
Vãi núp sau lưng sáu bảy bà.
Khi cảnh, khi tiu, khi chũm chọe,
Giọng hì, giọng hỉ, giọng hi ha.
Tu lâu có lẽ lên sư cụ,
Ngắt nghỏe tòa sen nọ đó là.
Sư bị ong đốt
Nào nón tu lờ, nào mũ thâm.
Đi đâu không đội để ong châm ?
Đầu sư há phải gì…bà cốt.
Bà ngọ con ong bé cái nhầm.
Kiếp tu hành
Cái kiếp tu hành nặng đá đeo,
Vị gì một chút tẻo tèo teo,
Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc
Trái gió cho nên phải lộn lèo.
Chùa Quán Sứ
Quán Sứ sao mà cảnh vắng teo,
Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo ?
Chày kình, tiểu để suông không đấm,
Tràng hạt, vãi lần đếm lại đeo.
Sáng banh không kẻ khua tang mít,
Trưa trật nào ai móc kẽ rêu.
Cha kiếp đường tu sao lắt léo,
Cảnh buồn thêm chán nợ tình đeo.
[Nguyễn Lộc: “Thơ Hồ Xuân Huong” – tr.29 và 32,33 – xb. Văn Học Hà Nội – 1987]
Giáo lý / triết lý của họ “rối nùi” không biết đâu mà gở cho ra mối ! Nhất là “họ” nói một đàng mà làm một nẻo…biết theo đàng nào ? Cái thói “dư chữ” của họ như một thứ hỏa mù đưa ta lạc vào mê cung không lối thoát.
Thay vì phải lựa từng hạt thóc ra khỏi đống đậu hủ lốn…phải gở từng mối chỉ rối nùi kia thì câu chuyện thần thoại Hy Lạp dạy cho ta một cách đơn giản nhất để giải thể cái hổn độn đó. Một tướng quân công thành…nhưng thành ấy có lời nguyền: nếu muốn chiếm thành thì phải tháo từng nút thắt của một sợi dây thừng dài. Tướng quân ấy nghe vậy liền lấy thanh gươm chặt phăng dây thừng và xua quân vào chiếm thành một cách gọn gàng. [truyện đọc khá lâu không biết nó nằm trong sách nào – xin cáo lỗi và xin được đính chính]. Câu chuyện muốn nhắn gởi: - cái vấn đề của nó không phải là từng mắc xích, từng nút thắt mà chính là cái dây thừng. Giải quyết cái đại thể chứ không phải giải quyết cái tiểu tiết !
Chuyện cô Tấm ngày xưa nhân hậu hay ác ôn không phải là “vấn đề” của tác phẩm cho nên tác giả này thì kiến thiết một cô Tấm hiền lành, tác giả khác thì cấu trúc ra một cô Tấm độc ác cho nên “vấn đề đạo lý” nghiêng ngả muôn chiều.
Và có cần thiết phải “ép” cô Tấm phải hiền lành nhân hậu ? Chuyện Tấm trả thù một cách dã man hai mẹ con bà Dì ghẻ không phải là chuyện đạo lý mà là chuyện tâm lý bình thường của nhân loại trong tác phẩm…đôi khi nó còn được xem là hợp lô-gíc.
“Nếu phân tích cặn kẽ thì chúng ta thấy hành động trả thù của Tám là kết quả của hàng loạt tình tiết đau đớn mà Tấm phải hứng chịu liền trước và kể cả sự chi phối bởi dòng suy nghĩ xã hội đương thời.
“Chẳng hạn truyện nhấn mạnh Tấm bị Cám và mẹ ghẻ giết đến bốn lần. Đầu tiên Tấm bị Cám và mẹ ghẻ chặt cây cau cho ngã xuống chết hóa thành vàng anh thì bị Cám bắt cho mèo ăn. Khi hóa thành cây xoan đào thì bị chặt làm khung cửi. Khung cửi lại bị đốt đi khi Cám nghe thấy tiếng Tấm “kẽo cà kẽo kẹt”.
“Theo tôn giáo và tín ngưỡng phương Đông khi chết thì sẽ đầu thai chuyển thế. Và nếu chết oan thì lại có thể hóa thành quỷ dữ. Thử hỏi nếu bị hãm hại và giết chết đến bốn lần thì Tấm có còn “hiền lành” nữa không?” Nguyễn Văn Toàn (Huế) http://tuoitre.vn/Giao-duc/464738/Co-can-thiet-sua-truyen-Tam-Cam.html
“Truyền thông trong nước dẫn lời Giáo sư Phong Lê, Nguyên trưởng Viện Văn học Việt Nam lý giải sự tồn tại nghìn năm trong lịch sử của truyện cổ tích Tấm Cám vì ứng xử của triết lý dân gian là ác đến đâu tả đến đó là tương xứng, không có gì phản cảm.” [Tranh cãi về cổ tích Tấm Cám - BBC. thứ sáu, 11 tháng 11.2011]
Cái điều cực kỳ quan trọng không phải là “Tấm Cám” được đưa vào sách giáo khoa mà là ca tụng sự nhân hậu, hiền lành của cô Tấm ngày xưa ấy !
Tìm đâu ra sự nhân hậu ? Tìm riết lại gặp cái dã man !
Tội nghiệp cho anh học trò họ Trịnh viết tặng Hồng Nhung “Cô Tấm ngày xưa” !!! Nếu là “Cô Tấm ngày nay trong Văn lớp 10 cải biên ở phiên bản mới” thì được.
Thursday, November 24, 2011 5:29:53 AM
Số tôi sao cứ liên quan đến bệnh viện !
Chuyến này lại là chuyến nuôi bệnh.
Đưa người thân đến bv, Nhân Dân Gia Định cấp cứu. Sau vài giờ sơ cứu và chẩn đoán, phòng Cấp Cứu chuyển đến phòng điều trị thuộc khoa Lão Học.
Chỉ đặc biệt có bv.ND Gia Định mới có “khoa Lão Học”, còn các bệnh viện khác; người già sẽ được bố trí phòng trong từng khoa như khoa Lây Nhiễm, khoa Gan, khoa Thận, khoa Phổi, khoa Tim Mạch, khoa Thần Kinh, khoa Tiêu Hóa, khoa Sản, khoa Nhi…
Người già thì có tất cả các bệnh cần thiết của các khoa; may ra chỉ trừ có khoa Sản và khoa Nhi. Vậy mà ở đây, tất cả người già đều được dồn vào một khoa tức một khu vực gọi là “Khoa Lão Học”. Khoa này chỉ độ 5,6 phòng…2 người một giường…và nằm cả ở hành lang.
Các khoa khác “không có học”, chỉ riêng khoa Lão lại “có học” ở cái bệnh viện này.
Vừa thấy chữ “học” gắn liền với chữ “lão”, bổng dưng xương sống tôi như có luồng khí lạnh từ Bắc Cực thổi về. Với quan niệm người già mà đi sớm là chuyện không có gì đáng quan ngại. Đó là ý nghĩ của các bác sĩ ở bệnh viện này. Mẹ tôi cũng đã ra đi từ đây và họ bảo cụ cũng cao tuổi rồi…và đi là chuyện bình thường. Đó là lời khuyên lúc mẹ tôi sau cấp cứu lên phòng điều trị (không phải khoa Lão học này) và sau 6 tiếng đồng hồ thấy không xoay xở được, họ bảo nên chở về nhà đi. Cụ cũng thọ (91 tuổi) lắm rồi.
Có lẽ ý nghĩ ấy, quan niệm ấy hình thành nên cái khoa “Lão học”: người già đến đây là để cho họ “học” (study).
Cái quan niệm nhẹ nhàng ấy làm cho họ dạn tay hơn trong việc học của họ và cũng rất dễ giải thích với người nhà của bệnh nhân trong nhiều tình huống và mọi trường hợp.
Thương cho dân tôi quá !
Khoa Ngoại Thần Kinh Department of Surgical Neurology
Khoa Sản Bệnh: Department of Produce Disease
WoW !!! Ở đây lại có một "Khoa Sản xuất ra bệnh = Department of Produce Disease" !
Nhưng tôi lại thấy các sản phụ đến đây...có vẻ đau đớn lắm. Hay là các sãn phụ bị bệnh đến đây để chữa trị ?
Có khi nào đây là khoa chữa trị các bệnh thuộc về sinh sản của các bà mẹ (sản phụ) đang sinh con không ? Vậy thì, có lẽ...và hình như... Tây nó gọi là "Obstetrical Disease" (bệnh thuộc về sản khoa". Còn khoa sản thì chỉ cần một từ "OBSTETRICS" = Sản khoa
Thôi ! tiếng Tây, tiếng Tàu...xin bó tay !!!
Thương cho dân tôi quá !
Thế cho nên lần này, tôi cấp tốc vội vàng hơn cả cấp cứu, đưa người thân rời khỏi bệnh viện này và đi đến bv. Đại Học Y Dược. Họ không cho chuyển viện. Tôi cũng quyết định dứt khoát ra đi. Và đi !
Bệnh viện ĐH.Y Dược không có khoa “Lão học” vì chắc là họ cũng đã học về người già nhưng bằng cách khác.
Sau khi người thân tôi đã yên vị ở phòng điều trị, tôi xuống Căn Tin kiếm cái gì cho bụng nó yên.
Ngồi cùng bàn là một anh giáo viên lên từ An Giang để mổ. Anh tốt nghiệp CĐ Sư Phạm và dạy lớp Năm.
Sau khi anh cần mẫn ăn xong, anh tâm sự trong lúc tôi đang ăn. Anh nói anh lên để mỗ trĩ. Anh mô tả về cái trĩ của anh khá chi tiết. Anh nói hình như cái trôn trê của anh nó chai hay sao đó. Nó lòi ra ngoài nhưng không thấy đau; chỉ khi nào ăn gì cay hay mặn thì nó mới chảy máu. Anh còn kể qua cái trĩ của chú anh…thì khác; nó lòi ra như trái măng cụt – từng múi, từng múi đỏ hoe – và chảy máu thường xuyên…rất nhiều, có khi cả chén.
Cứ sau mỗi câu nói của anh trong suốt câu chuyện, tôi chỉ “ừ” nhè nhẹ, nho nhỏ. Cách này của tôi hình như khuyến khích anh hăng hơn, chi tiết hơn. Tôi cố gắng vận dụng làm ngưng trí liên tưởng của mình nhưng không hiệu quả. Sau cùng tôi đành chọn biện pháp ngừng ăn – vì nuốt không nỗi nữa – dù chỉ chưa hết nửa tô hủ tíu.
Thương cho dân tôi quá !
Đã vậy…ngồi ăn kế bên cầu tiêu:
Bên kia khạc nhổ ào ào !
Bên này ăn uống lao xao !
Thương quá…Việt nam !!!
Saturday, September 24, 2011 5:22:07 AM
Chim vẹt xám thực sự có một trí thông minh khác thường (DR)
[RFI]
Trọng Thành
« Nói như vẹt » là câu người Việt hay dùng để đả kích thái độ bắt chước mà không suy nghĩ. Các nghiên cứu về loài vẹt tại phòng Thí nghiệm Tập tính học động vật và nhận thức so sánh (LECC), đại học Paris-Ouest (Pháp) cho thấy kết quả ngược lại. Vẹt không chỉ bắt chước được tiếng người, mà còn có thể cảm nghĩ như Người.
Tờ báo Les Echos số đề ngày 17/8/2011 trích dẫn nhận định của nhà nghiên cứu Dalila Bovet, làm việc cho Thí nghiệm kể trên, cho biết : « Con vẹt không chỉ biết bắt chước, mà nó có một trí thông minh thực sự ». Cô Dalila Bovet từng làm việc 7 năm với loài vẹt xám Gabon (tên khoa học là Psittacus erthacus).
Một con vẹt mang tên Alex, cũng thuộc dòng vẹt xám Gabon, mới qua đời vào năm 2007, thọ gần 30 tuổi, từng « cộng tác » trong vòng 30 năm trời với bác sĩ Irene Pepperberd. Các nghiên cứu về Alex cho thấy, chú vẹt này có trí tuệ tương đương một em bé 5 tuổi. Nó có thể xác định được 50 đồ vật, phân biệt được 7 loại màu sắc và 5 hình thể, biết được 150 từ và hiểu được những khái niệm trừu tượng như « nhỏ hơn », « lớn hơn », « tương tự », « khác nhau » và thậm chí « số không » !
Để đạt được kết quả này, bác sĩ Irene Pepperberd đã đặt Alex vào tình trạng đặc biệt khó khăn, sống một mình và không bay được vì cánh bị xén. Như vậy, Alex đã buộc phải học nói để đạt được những gì mà nó muốn. Nếu Alex có thể sống lâu hơn nữa, như tuổi thọ trung bình của loài vẹt là 50, thì nó đã có thể có vốn từ phong phú hơn.
Sở dĩ loài vẹt xám Gabon được lựa chọn để nghiên cứu, vì bộ não của loài này lớn hơn các loài chim khác và có phần chất xám phát triển hơn. Trong môi trường tự nhiên, các quan sát cho thấy, loài vẹt này thường tổ chức theo kiểu « hợp – tan » : chúng nhóm lại với nhau vào buổi tối để hợp sức chống lại các dã thú, còn ban ngày thì tạo thành các nhóm nhỏ để đi kiếm mồi.
Vẹt xám Gabon biết xây dựng một « bộ não xã hội », « với một trí tuệ mềm dẻo, khả năng nhận thức riêng của từng cá thể và năng lực xác định được vị trí riêng của các đồng loại khác trong môi trường sống của nhóm ». Cuộc sống thành đôi hay nói một cách khác một vợ, một chồng ở loài này khiến chúng phát triển được các phẩm chất gắn liền với một cuộc chung sống lâu dài như : tính khôn khéo, kiên nhẫn, thỏa hiệp, …
Trở lại với nghiên cứu của nữ giáo sư Dalila Bovet, đại học Paris-Ouest, nghiên cứu đã góp phần vén lên bức màn bí mật che phủ trí tuệ của loài vẹt trong việc tạo ra tiếng nói. Nghiên cứu này cho thấy mỗi cá thể đại diện cho loài vẹt xám Gabon biết sáng tạo ra các âm thanh riêng, để thể hiện các xúc cảm, tình cảm của mình, như sợ hãi hay giận dữ. Các âm thanh này là rất riêng với từng cá thể, vì khi đưa cho các con vẹt khác nghe, thì chúng không hiểu gì cả. Các từ ngữ mà vẹt sử dụng không phải ngẫu nhiên, mà rất phù hợp với bối cảnh. Ví dụ câu « tạm biệt ! » (au revoir) chỉ dùng để nói vào buổi tối, khi chia tay các nhà khoa học, còn không bao giờ được nói vào ban ngày.
Câu hỏi đặt là, khả năng phát triển ngôn ngữ của vẹt có quan hệ như thế nào với đời sống cộng đồng, đời sống của nhóm ?
Nghiên cứu với ba đại biểu vẹt xám Gabon mang tên Zoé, Léo và Shango cho thấy chúng có thể tạo ra các hình thức hợp tác, trong trường hợp cần thiết. Giáo sư Dalila Bovet kể lại, ba con vẹt biết thực hiện các bài tập cùng kéo dây hai đầu để nhận được khẩu phần ăn. Tuy nhiên, dù hợp tác tập thể, hai chàng Léo, Shango và cô Zoé vẫn giữ nguyên tính cách, khi chúng hành xử riêng rẽ. Chàng Shango rất cá nhân, chàng Léo thì sẵn sàng hợp tác với bất cứ ai, còn cô Zoé thì đặc biệt là không hợp tác với Shango, là kẻ ích kỷ và ưa dùng bạo lực.
Nghiên cứu kể trên cho thấy các đại diện vẹt xám Gabon cũng có thể có ý thức đạo đức vị tha. Léo và Zoé sẵn sàng nhường nhịn, cho đi mà không cần đòi lại. Trong khi đó, Shango thì thường cương quyết giành bằng được phần hơn về mình, không cần biết đến ai. Trong nhiều thí nghiệm, cô vẹt Zoé đã phải kêu những người chăm sóc đến cứu. Chàng Shango bị phạt và đưa đi ra một chỗ, vào lúc chàng đi qua, Zoé liếc xéo sang với một cái nhìn khinh bỉ lạnh lùng và cất lên tiếng chào « tạm biệt » nanh ác.
Theo nhà nghiên cứu, đây là bằng chứng cho thấy loài vẹt xám Gabon đã có một trí tuệ "quỷ quái", "chỉ xuất hiện ở các loài động vật tiến hóa nhất".
Sunday, September 18, 2011 2:48:45 PM
Khoa học không có những cuộc tranh luận: khoa học là một con rùa què. Chính ngay khi nhà khoa học nghĩ ra được điều gì, họ cũng phải thí nghiệm và thí nghiệm điều ngược lại để xác định lý thuyết. Khi thí nghiệm những điều chống lại lý thuyết, nhà khoa học không cầu mong nó sai, nhưng là tìm cái chỗ sai của mình để sửa lại lý thuyết ấy. Vì thế họ trình bày lý thuyết của họ và mong có được nhiều phản biện, và qua những cuộc tranh luận, lý thuyết của họ càng sáng ra hơn và càng được khẳng định hơn. Đó không phải là sự tự tin mà là cách đi tìm sự thật. Sự thật không phải là chân lý mà chỉ là được họ đang bảo vệ thành công…chưa bị đánh đổ.
Và triết học là những chuyến viễn du lênh đênh nghìn trùng…vượt qua phong ba bão táp để tìm đến mép rìa sự thật…còn hơn là ngụp lặn trong biển cả mênh mông vô bờ vô định.
“đến với triết học là để tìm sự nghi vấn, để làm lay chuyển những định kiến và kiểm chứng lại niềm tin sẵn có. Nó làm ta mất ngủ hơn là an tâm.
Tất cả phải được đặt lên bàn bằng sự nghị luận, phải tỉnh táo và lắng nghe người khác nói, đó là tinh thần của triết học và khoa học” [Bùi Văn Nam Sơn: :“Đọc lại “Bàn về tự do” của John Stuart Mill” (Nguyễn Văn Trọng dịch, NXB Tri Thức, 2006)]
Nhưng còn một thứ tinh thần khác:
“Bất cứ một cuộc tranh luận nào cũng không mang lại thông cảm và đoàn kết, càng tranh cải, chúng ta càng rời xa chân lý, có chăng chỉ là chạm tới những mảnh vỏ rời rạc cuả chân lý mà thôi ! Gấn như tất cả mọi cuộc tranh luận đều phù phiếm, chúng không đưa bạn đến đâu cả ! Ngay cả khi bạn đã thắng trong cuộc tranh luận, kết quả thắng cuộc đó cũng chỉ là gượng ép mà thôi ! Ngày hôm nay, bạn có thể làm đối phương im tiếng, không thể tranh cải gì thêm được nữa, nhưng chưa chắc họ đã chịu thua hay hoàn toàn khuất phục. trong lòng họ vẫn ấm ức” [Lổ Trí Thâm]
Tôn giáo, họ dùng thủ thật “cả vú lấp miệng em”: nếu là một đưa bé miệng còn hôi sữa thì chỉ còn biết ú ớ mà thôi. Họ đang đêm ra đường trồng cây cột giữa đường rồi hô hoán lên…chửi bới…tấn công…(thật ra không có cây cột đó từ trước)…thế là mọi người cho rằng họ có lý…đúng…vỗ tay hoan nghênh. Họ đạt được mục tiêu: - xô người kia vào bẩy liệt vị !
“Tất cả mọi cuộc tranh luận thực ra đều mang ý nghĩa sai lệch, kệch cỡm, bởi vì: Không một ai đạt tới chân lý qua tranh luận cả ! Chẳng qua chỉ là để khoa trương cái TỰ NGÃ, nhưng nhiều người đã tự lừa dối mình rằng đã đạt tới chân lý, giác ngộ qua những cuộc tranh luận. Họ lấy sự hơn thua trong các cuộc tranh luận làm dấu móc đo trí thức và mức độ tu tập, giác ngộ cuả họ !
Thật hết sức lầm lẫn. Làm sao gọi là chân lý khi đầu óc bạn chứa đầy tư tưởng háo thắng, phải đánh gục đối phương, phải dứt khóat thắng cuộc tranh luận để chứng tỏ cái sở học, sở trường, sở đắc cuả mình ! Một khi bạn cố dùng mọi cách để thắng đối phương, bạn tự dưng là một kẻ bạo lực cho dù chỉ là BẠO LỰC TƯ TƯỞNG !” [Lỗ Trí Thâm]
Người này đại diện cho cái bạo lực ấy: kết tội cho người tranh luận là khoa trương cái TỰ NGÃ…lấy sự hơn thua trong các cuộc tranh luận làm dấu mốc đo trí thứ…đầy tư tưởng háo thắng…để chứng tỏ sở học…hay chính tác giả thành thật với chính mình...như thế ! Lấy bụng ta suy ra bụng người để thành một khẳng định.
Họ nói nhiều, rao giảng nhiều; nhưng lỡ có ai thắc mắc…đặt lại vấn đề với họ thì họ như đĩa phải vôi và rằng họ cho kẻ ấy là ngã mạn…dám phản biện lại họ…phản bác chân lý của họ.
Có người thì bảo họ ngạo mạn, nhưng cũng có người thì bảo họ sợ ma !
Họ là ai ? “-Kant viết: "Khai minh là việc con người đi ra khỏi sự không trưởng thành do chính mình tự chuốc lấy". Không trưởng thành là sự bất lực không biết dùng đầu óc của mình mà không có sự hướng dẫn của người khác.
Vì thế, ông bảo: khẩu hiệu của sự Khai minh là: "Sapere aude!" (Latin: "Hãy dám biết!"), hãy có gan dùng đầu óc của mình. Con người rất thích ở yên trong tình trạng không trưởng thành, vì mọi việc đã có người khác chỉ dẫn, sắp đặt, lo liệu. Thoát khỏi "xiềng xích êm ái" ấy, con người thấy bơ vơ, lúng túng, vì không quen suy nghĩ và vận động tự do..” [Bùi Văn Nam Sơn]
Họ không tự cởi trói cái dây lòi tói mà họ đã tự buộc họ vào cây cột chân lý của họ. Cái “xiềng xích êm ái ấy” chính là cái “hầm tối bình yên” của họ. Họ đang sống trong kỷ văn minh hái lượm của mình.
“Tự mình đóng cửa thì hạn chế tầm nhìn, chỉ có hại cho mình thôi. Niềm tin được củng cố thực sự khi được so sánh và thử thách với các tư tưởng khác.” [Bùi Văn Nam Sơn]
Họ là những con ngựa bị che tầm nhìn hai bên…chỉ còn có mỗi con đường phía trước để mà đi thôi-
“Bối cảnh thế giới bây giờ đã khác hẳn, tất cả phải ngồi lại nói chuyện, bằng lý luận, lập luận trong một sự tỉnh táo, tương nhượng nhau để tìm một sự đồng thuận nào đó để làm việc, để sống và để hy vọng. "Bàn luận với nhau để mà sống", đó là khẩu hiệu hiện nay của triết học. Sống, để cho người khác sống, và cùng nuôi một chân trời hy vọng, đó là điểm gặp nhau của xã hội loài người.” [Bùi Văn Nam Sơn]
Thảo luận là một hình thức Đối Thoại (dialogue) để luận bàn về một vấn đề hay một chủ đề giữa hai người hay giữa nhiều người cùng quan tâm.
Mục đích của một cuộc thảo luận là cùng nhau suy xét kỹ càng một vấn đề để tìm ra cái hay, cái dở hay cái phải cái trái của vấn đề ấy để cùng tiến đến một ý kiến gần sự thật nhất.
Trong một cuộc thảo luận, mỗi bên đều cố gắng đưa ra những chứng cứ thuyết phục cho lập trường của mình để biện bác lý lẽ của bên kia. Như thế, một cuộc thảo luận không tránh khỏi sự tranh luận tức mỗi người phải cố gắng biện luận và chứng minh các chứng cứ của mình để bảo vệ lập trường của mình hòng bác bõ lập trường hay chứng lý của bên kia.
Nhờ những chứng cứ rõ ràng và lập luận chặc chẽ mà người này có thể chứng minh được cho người kia cái phải, cái đúng của mình và cái sai, cái trái của bên kia. Và qua những cuộc bàn cãi như vậy đôi bên có thể rút ra thêm sự hiểu biết mà bên kia cung cấp dù cho vấn đề ngã về bên này hay bên kia.
Tuy nhiên, trong mỗi cuộc tranh luận không tránh khỏi những quá khích mà học giả Trần Trọng Kim nêu ra: " Số nhiều người mình khi đã cầm bút viết, thì chỉ dùng những giọng khích bác, những lời thô thiển, có khi lại buông lời quá đáng, làm mất cả cái hòa khí trong khi biện luận." ["13 năm tranh luận văn học" - Văn Học xb.tp.HCM.1995 - Tập II, bài "Mời Phan Khôi tiên sinh trở về nhà học của ta mà nói chuyện"-tr.343-]
Và trong một cuộc thảo luận, cũng ý kiến của Trần Trọng Kim: " Miễn là khi hai bên đối địch chỉ dùng công lý mà tranh luận, chớ không lấy tư ý mà công kích nhau, thì còn có gì ích lợi cho sự học vấn bằng nữa." [sách dẫn trên -tr.344-]
Socrate là triết gia đầu tiên dùng phương pháp đối thoại để cùng người đối diện thảo luận một vấn đề mà người ấy quan tâm. Socrate gợi ý và người kia bày tỏ ý kiến của mình rồi hai bên cùng xét đến ý kiến của nhau và mỗi bên đưa ra những bằng chứng và lập luận của riêng mình. Với phương pháp này, mục đích của Socrate không nhằm tới việc hơn thua mà chỉ là kích hoạt suy nghĩ của người đối thoại để người đối thoại kia có dịp suy gẫm vần vấn đề đã được nêu ra.
Như vậy, "thảo luận là một cuốn sách sống" mà ta có thể mở ra để đi tìm thêm hiểu biết, mở tầm nhìn rộng rãi hơn...và tâm hồn thêm khoáng đạt.
Và với văn học cũng thế: “Văn học đích thực _ đó là thứ văn học có khả năng làm đảo lộn trật tự , có thể là trật tự xã hội , trật tự chính trị hay trật tự trong mỗi cá nhân . Nó không làm cho ai đó ngủ quên với cách nghĩ đơn giản, buộc người ta phải nhìn vào cái người ta không quen nhìn . Đó là một trong những tiêu chí cho thấy sách nào là văn học , sách nào không . Nói một cách khác , có những cuốn sách làm ta vui một chút, buồn một chút …..nhưng cũng có những cuốn sách giống như con sâu chui vào trong quả ( là người đọc) và khuấy đảo những gì trong đó rồi biến ta thành một người khác.” ….[Nhà văn kiêm đạo diễn Pháp Philippe Claudel - Tuổi Trẻ - tr.13 - ngày 6.11.09]
Cuộc sống là một trường biện chứng vận động chứ không phải là một giấc ngủ bình yên !
hongphuongvien
Sunday, September 11, 2011 5:11:26 AM
“ Nếu Đức Yahvê không đoái nhìn thành phố,
thì người lính canh sẽ canh phòng vô ích.”
John F. Kennedy
[Kinh Thánh]
Niềm kiêu hãnh Mỹ (WTC) đổ sụp xuống như tháp Babel thể nào thì lòng căm hận của họ lại cũng bốc cao như hai cột khói cũng không thấp hơn từ Horishima và Nagasaki.
Và, “ Cũng như với những vụ oanh tạc tấn công trước kia, dân chúng Bắc Việt bị bắt buộc phải thấy hết sức căm giận và cay đắng y như người Mỹ có thể cảm thấy như vậy một khi các thành phố và thị trấn của chính họ bị dội bôm và gia đình của chính họ bị tổn thất.” – George McT. Kahin – [ Trình Bày số 39 - ngày 18 tháng Tư năm 1972 - tr.35]
Vâng, nói như Tổng Thống Nga V.Putin: “ Những hành động mất nhân tính như vậy phải bị trừng trị… Kẻ gieo gió ắt phải gặt bão.” [Trinh Thám Hình Sự Thế Giới – “Vụ Khủng Bố Lớn Nhất Thế Giới” –xb.CAND-20-9-2001]
Bọn khủng bố chọn Tháp Đôi Trung Tâm Thương Mại Thế Giới và Ngũ Giác Đài không phải là một trận đánh chiến thuật mà là chiến lược. Và cuộc tập kích ngoạn mục vô tiền khoán hậu này bằng yếu tố bất ngờ mà chính các nhà điện ảnh làm phim khoa học viễn tưởng đã từng dựng biết bao nhiêu phim về việc Mỹ bị khủng bố cũng chưa hề nghĩ tới cái mưu lược “Phản khách vi chủ”(kế thứ 16 của Tôn Tẩn Binh Pháp): mượn gậy ông đập lưng ông để đổi khách thành chủ bằng một con đường mà không ai nghĩ đến:“Ám độ trần thương”[kế thứ 15] một cách thần kỳ như thế!
Tấn công vào hai nơi này được xem như đã đánh thẳng vào đầu não (État Major) của chủ nghĩa tư bản. Vì nói đến tư bản, người ta nghĩ ngay đến nước Mỹ. – nhận định này đúng/sai sẽ còn hậu xét -, và tòa tháp đôi Trung Tâm Thương Mại Thế Giới (WTC) gần như cái biểu tượng của tư bản thế giới vậy.
" Tổng thống Obama nói rằng những kẻ tấn công nước Mỹ không chỉ tấn công vào các tòa nhà, mà còn tấn công vào chính lý tưởng của Hoa Kỳ." [
http://www.voanews.com/vietnamese/news/us-9-11-aniversary-09-12-2010-102730609.html ]
Hai tòa tháp đôi ngặt nghẽo đó không tượng trưng cho tháp Babel xưa (Kinh Thánh); nhưng tháp Babel lại là biểu tượng cho hai tòa tháp ấy (WTC). Babel có nghĩa là “lộn xộn”, và tư bản cũng được định danh là “tư bản hoang dã” (capital sauvage) mà các nhà kinh tế học cũng như báo chí Tây phương đã từng mệnh danh.
Hai tòa tháp đôi WTC kêu hãnh thế nào thì Babel xưa cũng cao ngạo thế ấy. Và, Đức Chúa Trời đã trừng phạt sự kêu căng ấy bằng cách triệt hạ. Babel bị hũy diệt thế nào, thì WTC cũng bị phá hũy thế ấy. Kẻ gieo gió đã gặt bão!
Bao lâu nay người dân Mỹ ngủ quên trong sự bình yên và họ cứ ngỡ Mỹ an toàn. Nhưng cùng một lúc bốn chiếc máy bay cảm tử triệt hạ niềm kêu hãnh của họ, thì họ mới bừng tĩnh cơn mê.
Sau “Ngày Thứ Ba Đen Tối” 11-9-2001 ấy, tâm lý lo âu của dân chúng Mỹ cứ canh cánh trong lòng, không biết mình sẽ bị tấn công từ hướng nào nữa! Tình trạng bất an ngự trị tâm hồn họ.
Đời sống có nhiều xáo trộn và phương thức tư bản đã tỏ ra sự bất ổn của nó. Cái khâu dây chuyền tư bản đã nắm quyền định đoạt mọi sinh hoạt đời sống con người - ấy là Ngân Hàng: cái nôi tài chánh - bắt đầu lộ rõ bản chất lộn xộn của nó…và người ta bắt đầu nghi ngờ nó…và người ta phải kiểm tra lại sức khỏe của nó…nếu thấy nó bị suy dinh dưỡng mà làm việc quá độ đến kiệt sức thì bồi dưỡng thêm Vitamin-EURO & DOLLAR cho nó…và rồi người ta cũng xác định lại niềm tin nơi nó !
"Người đứng đầu Quĩ Tiền tệ Quốc tế, IMF, đang hối thúc các lãnh đạo quốc gia hành động nhanh chóng và mạnh mẽ để đối phó với sự khủng hoảng lòng tin đang làm ảnh hưởng tới nền kinh tế toàn cầu." [VOA 9.9.2011]
Từ đó, thế giới có nhiều lộn xộn, kinh tế không chỉ những ở Mỹ mà cả thế giới càng có dấu hiệu báo động chiều hướng bấp bênh. Không chỉ ngành hàng không trực tiếp bị ảnh hưởng mà đã lây sang các lãnh vực khác: du lịch…xuất nhập khẩu… các thị trường chứng khoán…!!! Và cách nhìn nhận thế giới cũng không còn yên vị như xưa nữa.
“Tư bản là gì?” – Là khai thác lòng tham của con người. Chính vị Cha đẻ ra tư bản, Adam Smith, không ngần ngại tuyên bố như một lời Kinh làm nền tảng cho thuyết tư bản của ông: “người ta ai cũng vì tư lợi, ham giàu chỉ là một khía cạnh của lòng vị kỷ, và mọi hoạt động của con người đều vì lý do tư lợi cả…(và) …chúng ta kêu gọi không phải lòng nhân từ của họ mà kêu gọi đến lòng ích kỷ của họ, chúng ta không bao giờ nói với họ về những nhu cầu của chúng ta mà chỉ nói với họ về mối lợi riêng của họ.” [“Những tác phẩm biến đổi thế giới”- Thánh tổ của chế độ tự do kinh doanh – Adam Smith – tr.69-70 –Văn Đàn-1970]
Mà lòng tham nào có đáy?
Chính vì lý do tư lợi được khuyếch sung thành nềm tin và khích lệ thành tín điều làm nền tảng cho chủ nghĩa tư bản nên cái tư bản ấy được mệnh danh là “tư bản hoang dã”(capital sauvage)! Nó trở về rừng, về đàn bầy…còn thèm thuồng tài sản của láng giềng…như thuở hoang sơ giành lãnh địa…Nó không có lòng nhân từ để đánh mất…vì nó chưa hóa văn. Chưa thành người!
tonvantriet
Friday, June 10, 2011 5:52:44 PM
- Aristotle: biết bao cuộc tranh luận dài dòng có thể tóm tắt thành một đoạn ngắn nếu các kẻ tranh luận dám định nghĩa rõ ràng chữ nghĩa của họ!
- Francis Bacon: Môn giả kim đã trở thành hóa học, môn chiêm tinh đã trở thành thiên văn học và các câu chuyện thần thoại về những con vật biết nói đã trở thành môn động vật học!
- Spinoza: Thù ghét là thừa nhận sự yếu kém và sự sợ hãi của mình. Ta đâu có thèm thù ghét một kẻ thù mà ta biết chắc là sẽ dư sức đánh thắng!
- Voltaire: Thượng đế tạo ra đàn bà chỉ là để thuần phục đàn ông! (“mankind” ở đây là “đàn ông” hay cả… nhân loại?!).
- Kant: đối diện với cám dỗ, ta có “mệnh lệnh luân lý” ở trong ta như là lời mách bảo của lương tâm!
- Hegel: Ý tưởng hay tình huống nào trong thế gian cũng đều nhất định dẫn tới cái đối lập của nó, rồi hợp nhất với nó để tạo ra một toàn bộ cao hơn hay phức tạp hơn!
- Schopenhauer: Dẫn đạo thế giới là ý chí, vì thế mà có nỗ lực, có bi kịch. Ý chí là bản chất của con người!
- Herbert Spencer: sáng chế ra mấy chữ: “đấu tranh sinh tồn” và “ưu thắng liệt bại”. Có thể dùng chúng để giải thích mọi sự mọi vật!
- Nietzsche: Nếu thế, thì sự cứng rắn sẽ là đức tính tối thượng, còn yếu đuối là sai lầm duy nhất!
- Henri Bergson: trước nay, ta chỉ là chiếc đinh ốc trong cổ máy vô hồn; bây giờ, nếu muốn, ta có thể tham gia viết một chương trong vở kịch của sự sáng tạo!
- Benedetto Croce: Cái đẹp là sản phẩm tinh thần về một hình ảnh (hay một chuỗi hình ảnh) chộp được bản chất của sự vật được nhìn thấy!
- Bertrand Russell: Hận thù và chiến tranh phần lớn là do những định kiến và lòng tin giáo điều!
- George Santayana: Các cuộc cải cách luôn có các kết quả nước đôi, vì chúng tạo ra các định chế mới, mà hễ có định chế mới thì ắt có những sự lạm dụng mới!
- William James: Các kết quả sẽ trắc nghiệm các ý tưởng!
- John Dewey: trong xã hội công nghiệp, nhà trường nên là một công trường và một cộng đồng thu nhỏ; nên dạy học bằng thực hành và bằng việc “thử và sai”. Cần nhận thức lại về giáo dục: giáo dục không đơn thuần là một sự chuẩn bị cho sự trưởng thành mà như là một sự tăng trưởng không ngừng của đầu óc và một sự khai minh liên tục về cuộc đời”…
Bạn đọc còn có thể tìm thấy nhiều hạt ngọc hiền minh hơn nữa trong quyển sách này, và đó cũng đủ là lý do để tất cả chúng ta biết ơn tác giả và nhất là hai dịch giả Trí Hải và Bửu Đích (Nha Tu thư và Sưu khảo, Viện Đại học Vạn Hạnh, In lần thứ nhất, Sài Gòn, 1971) đã cung cấp cho bạn đọc tiếng Việt một bản dịch tuyệt vời.
Giáng sinh 2007
Bùi Văn Nam Sơn
Friday, June 10, 2011 5:23:23 PM
Người giới thiệu: Bùi Văn Nam Sơn
Socrates tự biện:
http://www.sachhay.com/book/200904112407/socrates-tu-bien.aspx Tựa sách:Socrates tự biện
Tác giả:Plato - Xenophon
Ngôn ngữ:Tiếng Việt
Lĩnh vực:Triết học
Dịch giả:Nguyễn Văn Khoa
Năm xuất bản:2006
Đơn vị xuất bản:Tri thức
Số trang:156
Giá sách:22.000 VND
…
“Trong Cuộc đời, tư tưởng và phát biểu của các triết gia xuất sắc (Vie, doctrines et sentences des philosophes illustres, khoảng đầu thế kỷ III sCN), Diogenes Laertius kể rằng khi biện sĩ tiếng tăm Lysias đưa cho Socrates xem bài cãi mà y đã viết choông để đọc trước tòa như luật pháp cho phép, triết gia đã từ chối vì nó có tính chất pháp lý hơn là triết lý: “Diễn từ của bạn hay lắm, Lysias, đáng tiếc là nó không hợp với tôi” – “Sao? Nếu diễn từ của tôi hay, sao nó lại không thích hợp được?” – “Được chứ sao không! Quần áo và giày dép có thể tuy đẹp mà vẫn không hợp với tôi. Ở đây cũng y hệt như vậy”.
Nếu Socrates không muốn một bài tự biện pháp lý khi tự bênh vực mình trước tòa, triết gia còn gì để nói ngoài triết lý? Rốt cuộc, ông đã dùng phiên tòa xử ông như một diễn đàn để gửi đến những người xét xử ông, và qua họ đến các thành quốc Hy Lạp, rồi qua các thành quốc này đến thế giới đương thời và cả mai hậu, một thông điệp. Được Plato ghi lại như “huyền thuyết lập ngôn của triết học”, nó không ngừng chất vấn lương tâm con người, và đặt ra một câu hỏi lớn về công lý cho mọi chế độ chính trị.
Đồng thời, với nó Socrates trở thành một mẫu mực bất tử. Bởi vì Socrates đã trở thành biểu tượng của nhiều mặt người, như chúng ta có thể dễ dàng nhận diện qua những dòng dưới đây, trích dẫn từ bản dịch tác phẩm của Plato mà quý độc giả đang cầm trong tay:
Socrates là triết gia đầu tiên. Vì Socrates đã dám xác lập “sống” đồng nghĩa với “triết lý”. “Thưa quý đồng hương, tôi kính yêu quý vị, nhưng tôi quyết vâng lời Thần hơn là tuân lệnh quý vị, và khi nào còn chút hơi sức, tôi sẽ không ngừng sống đời triết gia, khuyên nhủ và khuyên cáo quý vị (tr. 87) rằng phải tự xét mình và xét người, bởi vì sống không suy xét không đáng gọi là sống” (tr. 116).
Socrates là nhà nhân quyền đầu tiên. Vì Socrates đã dám xác lập tự do tư duy, tự do phát biểu, tự do sống cuộc đời mình chọn lựa, như một thứ quyền con người, cao hơn bất kỳ bộ luật của một cộng đồng người đặc thù nào, kể cả của thành quốc nơi ông sinh trưởng. “Suốt đời, tôi luôn luôn sống như thế trước mắt mọi người, khi có dịp tham chính cũng như trong quan hệ riêng tư, không nhân nhượng bất kỳ ai khi công lý bị đe dọa, ngay cả đối với bọn bạo ngược” (tr. 98)... “Tôi thà chịu nguy nan đứng về phía pháp luật và công lý hơn là theo đuổi quý vị làm điều bất chính vì sợ gôngcúm với tử thần” (tr. 96)... “Trước sự thế này, ngày nay tôi chỉ cần thưa với quý vị: có trả tự do cho tôi hay không, không thành vấn đề; Socrates sẽ thẳng bao giờ làm chuyện gì khác, dù phải bỏ mạng nghìn lần” (tr. 89).
Socrates là người trí thức đầu tiên theo nghĩa hiện đại. Vì Socrates dám tin vào một thứ chức năng thiên phú: phê phán không nhân nhượng xã hội ông đang sống. “Dường như Thần đã trói tôi vào thành quốc đế thức tỉnh, kích thích, quở trách mỗi công dân trong quý vị, bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, không ngừng, không nghỉ” (tr. 91)... “Và xin quý vị chớ nổi giận nếu tôi nói ra đây một sự thực: chẳng ai có thế sống sót nếu dám đương đầu với quý vị hay với bất kỳ một tập hợp quần chúng nào khác. Không, dù ở đây hay ở đâu, chẳng ai có thể thẳng thắn ngăn cản sự đam mê của số đông, không để nó dẫn đến những hành động bất hợp pháp hay bất công trong xã hội mà lại không hề hấn gì” (tr. 94)... Nhưng “thật là sai lầm nếu quý vị nghĩ rằng chi cần giết người là trốn thoát lời chê trách sống không suy xét. Cách loại bỏ sự kiểm tra ấy vừa bất chính vừa bất khả thi, cách vừa chính đáng vừa dễ dàng là, thay vì tìm cách bịt miệng kẻ khác, hãy tự tu thân sửa tính” (tr. 120).
Trích lời “Dẫn vào Socrates Tự biện”. Dịch giả Nguyễn Văn Khoa 2006
1 2 3 4 5 Next »