Từ thiện tại Bắc Giang - "Điểm sáng ở vùng sâu"
Thursday, May 28, 2009 3:56:58 AM
Điểm sáng ở vùng sâu

“Thức dậy nào. Chuẩn bị đi Bắc Giang. Hãy đánh thức tiếp những đồng chí khác. Nhanh lên…”. 4h sáng, tin nhắn của Lãnh đạo đoàn Thanh niên Cục bảo vệ, chăm sóc trẻ em giục giã mọi người. Hơn 40 đoàn viên, thanh niên ở khắp các ngõ ngách trong thành phố bật dậy, lao ra khỏi nhà và đến điểm tập kết (35 Trần Phú) một cách nhanh nhất.
Mỗi người một tay khuân vác những thùng quà tặng. “Khẩn trương, khẩn trương nào các bạn, hàng trăm em nhỏ ở vùng lòng hồ Cấm Sơn, xã Sơn Hải (huyện Lục Ngạn, Bắc Giang) đang chờ chúng ta đến”…
Đường xa, đèo cao, chênh vênh
Chiếc xe du lịch 35 chỗ Royal Cruiser ì ạch ngay từ đầu bởi lượng hàng được mang đi quá lớn. Bác tài vui tính nói không biết đây là xe chở người ngay chở hàng (?!). Gầm xe không chứa hết những quà tặng của cán bộ, công nhân viên Bộ LĐTBXH, Công ty An Sinh, Công ty Hợp Phát, Hội đồng Anh, Hiệp hội các cựu sinh viên Việt Nam du học tại Vương quốc Anh và Trung tâm tư vấn phát triển Quyền trẻ em... gửi về miền núi cao: nào quần áo, sách vở, nào xúc xích, bột canh, nước mắm, nào báo chí, cặp phao, sữa… Người ngồi xen với những thùng đồ la liệt. Để khuân được hết lượng quà tặng, ai cũng mồ hôi nhễ nhại.
Mệt..., nhưng vui !
Cả đoàn chưa ai từng đặt chân đến xã miền núi Sơn Hải, một trong những xã khó khăn nhất của tỉnh Bắc Giang, tất cả đi theo sự chỉ dẫn qua điện thoại của một đồng chí trong Sở LĐTBXH tỉnh. Từ Hà nội, để đến được Sơn Hải, chúng tôi theo Quốc lộ 1A, Quốc lộ 31 đến thị trấn Chũ. Gian nan bắt đầu từ con đường đất dài 20km từ thị trấn Chũ đến xã nghèo Sơn Hải.
Chiếc xe lắc lư, lật đật, đánh đu theo từng “ổ trâu, ổ bò” trên con đường ngoằn ngoèo. Đến chân đèo Cạn – ranh giới giữa xã Sơn hải và thị trấn Chũ thì chiếc xe du lịch phải dừng hẳn. Đèo Cạn gập ghềnh, với những tảng đá lớn chắn ngang con đường đèo hẹp, dốc đứng. Nếu xe tiếp tục đi, leo lên đèo, đầu xe sẽ vỡ, không khéo chiếc xe sẽ bị “treo” chênh vênh giữa các mỏm đá.

(Cả đoàn tưởng chừng không thể tới được với các em vì "đèo cao, dốc đá")
Tất cả các thành viên trong đoàn vò đầu bứt tai, không thể dừng lại ở đây được, các em nhỏ đang chờ đợi từng giây, từng phút những món quà hỗ trợ. Mấy phương án được đưa ra: 1. Để bác tài ở lại, nhờ xe bộ đội ra vận chuyển quà vào trường cho các em; 2. Vẫn tiếp tục đi tiếp, nếu xe có hỏng hóc gì thì chấp nhận bồi thường. Động viên mãi bác tài mới chịu đi tiếp với sự "hoa tiêu" của mấy thành viên trong đoàn và tất cả xuống đi bộ qua đèo. Thật may mắn cho chúng tôi là chiếc xe qua được đèo an toàn, không bị sứt mẻ gì.
Khó khăn chưa dừng ở đó, càng đi, con đường càng hun hút, hiểm trở. Nhiều đoạn, các thanh niên phải xuống khảo sát đường trước rồi chỉ dẫn cho xe “bò” theo. Ì ạch gần hai tiếng mới đến được điểm trung tâm trường tiểu học xã Sơn Hải. Nhìn chiếc xe du lịch, gầm thấp ở sân, nhiều thầy cô giáo ngạc nhiên thắc mắc: “xe này sao có thể vào được đến đây nhỉ?”. Vậy đó, để vào được đến Sơn Hải đã là một kỳ tích.
Không biết “về” kiểu gì
Chuyến đi “bão táp” là tên cả đoàn đặt cho ngày hôm ấy. Vừa đặt chân tới cổng trường, trời bỗng nổi mưa, bão, sấm chớp ầm ầm. Chưa bao giờ những thanh niên sinh ra và lớn lên ở thành phố được chứng kiến cảnh mưa bão ở vùng rừng núi, trước mặt là hồ nước mênh mông: gió giật mạnh, quăng quật những cành cây ào ạt kèm theo sấm, chớp. Nước xối ào ào. Lúc này, sau tò mò thích thú là nỗi sợ hãi của các đoàn viên nữ. Mưa to chưa biết khi nào dứt đẩy tất cả vào tình thế tiến thoái lưỡng nan: không thể đi thuyền đến điểm trường trong lòng hồ tặng quà, ô tô cũng không thể quay trở về nếu mưa liên tục trong 2-3 tiếng đồng hồ. Nếu bắt buộc phải ở lại trường, sẽ ngủ đâu, ăn gì, khi nào mới ra được thị trấn Chũ… Hàng loạt câu hỏi dồn dập khiến những người “lãnh đạo” đoàn bối rối…

(Lần đầu tiên được biết tới "Mưa rừng")
Theo các thầy cô giáo ở trường, cuộc sống ở đây cực kỳ vất vả do giao thông đi lại khó khăn. Các thầy cô bám trường, bám lớp phải thay nhau đi mua thức ăn 1 lần/tuần, rau thì xin hoặc mua của bà con trong xã. Sau những cơn mưa to kéo dài 3h, người dân ở xã hoàn toàn bị cô lập với bên ngoài, nguồn sống chủ yếu dựa vào cá, tôm bắt ở hồ Cấm Sơn.
Nhiều đoàn viên, thanh niên nữ có con nhỏ bắt đầu hoang mang, lo lắng. Anh Giáp Văn Nghệ, Hiệu trưởng nhà trường cho hay, còn một cách khác để về được Hà Nội: đó là đi thuyền máy khoảng 2h sang đất Lạng Sơn, sau đó đi bộ 5km đến quốc lộ 1A, mới bắt được ô tô khách... Nhưng mưa thế này, liệu đi thuyền có an toàn không? Đành phó mặc chuyện “ở - đi - về” cho ông thời tiết.
Cái chữ - cái tình của thầy trò Sơn Hải
Ông Vi Văn Nghề, bí thư Đảng uỷ xã Sơn Hải, cho biết, xã Sơn Hải có 5 thôn (thôn Đấp, Tam Chẽ, Đồng Mậm, Cầu Sắt, Cổ Vài) - là một trong những xã nghèo nhất của huyện Lục Ngạn với dân số trên 3700 người trong đó có 85% là dân tộc Nùng. Xã hiện có tỷ lệ hộ nghèo trên 62%, trong đó đa phần hộ nghèo là các hộ đồng bào dân tộc, đông con. Cuộc sống mưu sinh của người dân trong xã chủ yếu là làm nông nghiệp, nhưng cũng rất khó khăn trong việc canh tác, lúa cấy xuống có khi không được thu hoạch vì chỉ một trận mưa, nước dâng lên trong lòng hồ Cấm Sơn là lúa ngập.
Do là vùng lòng hồ sông nước nên việc đi học của học sinh và giáo viên nơi đây rất khó khăn. Vì lẽ đó, trường Tiểu học Sơn Hải đã được bố trí làm 5 điểm trường đặt các đảo và bán đảo khác nhau trong vùng lòng hồ. Mỗi điểm trường có trên dưới 100 học sinh và 7- 10 thày cô thường trú.
Đến Sơn Hải, tận mắt chứng kiến cuộc sống - chỗ ăn, ở, sinh hoạt, giảng dạy của các thầy cô nơi đây mới hiểu được những gian khó mà thầy và trò đang gánh chịu ta sẽ thấy cảm phục hơn tấm lòng yêu trẻ, yêu nghề của họ. Ngay từ khi ra trường, thầy hiệu trưởng Giáp Văn Nghệ đã đến với Sơn Hải, 17 năm gắn bó với sự nghiệp trồng người ở vùng đất này, thầy Nghệ hiểu hơn ai hết nỗi khó khăn, vất vả của các em mỗi ngày đến trường. Cho nên, dù hoàn cảnh bản thân, gia đình của nhiều thầy cô giáo còn khó khăn, thiếu thốn song các thầy cô vẫn ngày ngày bước lên bục giảng với đầy tâm huyết để truyền cái chữ dạy cho học sinh.
Sơn Hải nghèo nhưng hiếu học. Hiểm nguy rình rập nhưng ngày ngày những bóng dáng bé nhỏ, liêu xiêu cùng với những con thuyền lá bé xíu vẫn đều đặn cập bến của trường. Nhiều năm liền xã Sơn Hải không có học sinh nào bỏ học. Tỷ lệ học sinh khá, giỏi của trường tiểu học và trung học cơ sở luôn chiếm 10 – 15%.
Các em nhỏ Lòng Hồ, nghèo nhưng luôn cố gắng học giỏi
Để kiếm cho mình cái chữ, hàng ngày các em học sinh cấp 1, 2 vẫn phải tự chèo đò vượt qua lòng hồ Cấm Sơn, chỗ nước sâu nhất là 80m để tới trường. Hồ Cấm Sơn kéo dài tới hơn 30km với vô số những hòn đảo lớn nhỏ. Thôn xa nhất của Sơn Hải cách trường tới 15km. Nếu phải đi bộ theo đường vòng, có khi phải cả ngày mới tới lớp nên con đường ngắn nhất là đi thuyền vượt hồ. Chiều dài của quãng đường không thể đo bằng km mà chỉ đo bằng quãng thời gian các em phải chèo thuyền. 6h sáng đi học, 1 giờ chiều mới về đến nhà. Cặp sách của các em lúc nào cũng có nắm cơm dự trữ.

(Để tới trường học chữ, các em hằng ngày phải vượt qua muôn vàn khó khăn, nguy hiểm)
Khổ nhất là vào những ngày mùa đông, có những khi nhiệt độ xuống thấp 5-6 độ, các em vẫn phải chèo thuyền đi học. 4-5 trên một thuyền, một em thì chèo đò, các em khác thì tát nước. Đến được lớp học, nhiều hôm quần áo ướt lướt thướt. Chân trần, tím tái lại vì lạnh. Cũng nhiều hôm, do sương mù dầy đặc, các em chèo thuyền đi học mà không định hướng được, loanh quanh giữa lòng hồ đến chiều lại quay trở về nhà. Những hôm gió to, cứ chèo thuyền được một đoạn lại bị lật nhào, ngay cả khi bố mẹ các em đưa đi, thuyền cũng bị lật. Rất may, trẻ ở đây biết bơi từ nhỏ nên chưa xảy ra những chuyện đáng tiếc.
Cô giáo trẻ Hoàng Thị Thơm mới về công tác tại trường Tiểu học Sơn Hải được hai năm. Cô được phân công dạy học ở nơi khó khăn nhất của xã Sơn Hải, đó là thôn Đồng Mậm - chưa có điện, chưa có nước sạch sinh hoạt. Để đi từ trung tâm xã tới thôn chỉ có cách duy nhất là chèo thuyền mất 3-4 tiếng đồng hồ. Do đó, muốn đến lớp, “bài học” đầu tiên cô phải học là cách chèo thuyền. Năm nay, có thuyền máy, nên việc đi lại của cô cũng đỡ vất vả hơn, chỉ mất khoảng 1h để đến trường. Cô Thơm ở lại trường, đến cuối tuần mới về thăm nhà ở cách đó 70km. Nhưng, những hôm sóng to gió lớn, thì thuyền máy cũng phải bó tay. Cô Thơm kể: những hôm trời mưa, để vượt qua hơn 20km đường đất, cô phải mất 2h và bị ngã đến 5, 6 lần. Chiếc xe máy to hơn người nên cô thường xuyên phải nhờ một thầy giáo khác đi kèm ra đến đường cái. “Để nếu em ngã thì còn có người giúp nâng xe lên. Có lần em về đến nhà, người lấm đầy bùn đất. Bố mẹ xót con quá, nhiều hôm mưa gió bố em phải đưa đi hoặc lên đón”.
Mặc dù khó khăn, vất vả là thế, nhưng chúng tôi không thấy thầy cô giáo nào kêu ca, phàn nàn. Ở họ, chỉ thấy hiển hiện lòng yêu và thương học trò. Thầy Nghệ cho biết: “Cả trường có 32 cán bộ, giáo viên, hầu hết đều ở xa gia đình, cuối tuần mới về nhà, hôm nào mưa thì phải ở lại trường. Chỉ có 15% giáo viên là người sở tại. Mỗi giáo viên chúng tôi đều xác định phải bám trường, bám lớp, động viên nhau khắc phục những khó khăn trong cuộc sống...”.Các trò quý thầy cô như cha mẹ, tâm sự, chia sẻ với thầy cô những chuyện vui, buồn trong gia đình, cuộc sống. Những điều đó càng thôi thúc các giáo viên phải có trách nhiệm bù đắp cho học trò những thiệt thòi.

(Lễ tuyên dương, tặng quà cho các em)
Thầy Nghệ vui vẻ nói: “Chính nhờ sự quan tâm, chia sẻ của các bậc phụ huynh, sự tận tụy của người thầy, các em học sinh đã có cơ hội cắp sách tới trường. Trong số đó đã có nhiều em tiếp tục học và trưởng thành, trong đó, có em trở thành giáo viên, trở về trường xưa làm đồng nghiệp với thầy cô giáo cũ”.
Đến những vùng sông nước như ở nơi đây, mới hiểu hết giá trị và ý nghĩa của những món quà như chiếc cặp phao cứu sinh, nhu yếu phẩm hay những món ăn tinh thần của các đoàn viên, thanh niên trao tặng cho các em.

“Thức dậy nào. Chuẩn bị đi Bắc Giang. Hãy đánh thức tiếp những đồng chí khác. Nhanh lên…”. 4h sáng, tin nhắn của Lãnh đạo đoàn Thanh niên Cục bảo vệ, chăm sóc trẻ em giục giã mọi người. Hơn 40 đoàn viên, thanh niên ở khắp các ngõ ngách trong thành phố bật dậy, lao ra khỏi nhà và đến điểm tập kết (35 Trần Phú) một cách nhanh nhất.
Mỗi người một tay khuân vác những thùng quà tặng. “Khẩn trương, khẩn trương nào các bạn, hàng trăm em nhỏ ở vùng lòng hồ Cấm Sơn, xã Sơn Hải (huyện Lục Ngạn, Bắc Giang) đang chờ chúng ta đến”…
Đường xa, đèo cao, chênh vênh
Chiếc xe du lịch 35 chỗ Royal Cruiser ì ạch ngay từ đầu bởi lượng hàng được mang đi quá lớn. Bác tài vui tính nói không biết đây là xe chở người ngay chở hàng (?!). Gầm xe không chứa hết những quà tặng của cán bộ, công nhân viên Bộ LĐTBXH, Công ty An Sinh, Công ty Hợp Phát, Hội đồng Anh, Hiệp hội các cựu sinh viên Việt Nam du học tại Vương quốc Anh và Trung tâm tư vấn phát triển Quyền trẻ em... gửi về miền núi cao: nào quần áo, sách vở, nào xúc xích, bột canh, nước mắm, nào báo chí, cặp phao, sữa… Người ngồi xen với những thùng đồ la liệt. Để khuân được hết lượng quà tặng, ai cũng mồ hôi nhễ nhại.
Mệt..., nhưng vui !
Cả đoàn chưa ai từng đặt chân đến xã miền núi Sơn Hải, một trong những xã khó khăn nhất của tỉnh Bắc Giang, tất cả đi theo sự chỉ dẫn qua điện thoại của một đồng chí trong Sở LĐTBXH tỉnh. Từ Hà nội, để đến được Sơn Hải, chúng tôi theo Quốc lộ 1A, Quốc lộ 31 đến thị trấn Chũ. Gian nan bắt đầu từ con đường đất dài 20km từ thị trấn Chũ đến xã nghèo Sơn Hải.
Chiếc xe lắc lư, lật đật, đánh đu theo từng “ổ trâu, ổ bò” trên con đường ngoằn ngoèo. Đến chân đèo Cạn – ranh giới giữa xã Sơn hải và thị trấn Chũ thì chiếc xe du lịch phải dừng hẳn. Đèo Cạn gập ghềnh, với những tảng đá lớn chắn ngang con đường đèo hẹp, dốc đứng. Nếu xe tiếp tục đi, leo lên đèo, đầu xe sẽ vỡ, không khéo chiếc xe sẽ bị “treo” chênh vênh giữa các mỏm đá.

(Cả đoàn tưởng chừng không thể tới được với các em vì "đèo cao, dốc đá")
Tất cả các thành viên trong đoàn vò đầu bứt tai, không thể dừng lại ở đây được, các em nhỏ đang chờ đợi từng giây, từng phút những món quà hỗ trợ. Mấy phương án được đưa ra: 1. Để bác tài ở lại, nhờ xe bộ đội ra vận chuyển quà vào trường cho các em; 2. Vẫn tiếp tục đi tiếp, nếu xe có hỏng hóc gì thì chấp nhận bồi thường. Động viên mãi bác tài mới chịu đi tiếp với sự "hoa tiêu" của mấy thành viên trong đoàn và tất cả xuống đi bộ qua đèo. Thật may mắn cho chúng tôi là chiếc xe qua được đèo an toàn, không bị sứt mẻ gì.
Khó khăn chưa dừng ở đó, càng đi, con đường càng hun hút, hiểm trở. Nhiều đoạn, các thanh niên phải xuống khảo sát đường trước rồi chỉ dẫn cho xe “bò” theo. Ì ạch gần hai tiếng mới đến được điểm trung tâm trường tiểu học xã Sơn Hải. Nhìn chiếc xe du lịch, gầm thấp ở sân, nhiều thầy cô giáo ngạc nhiên thắc mắc: “xe này sao có thể vào được đến đây nhỉ?”. Vậy đó, để vào được đến Sơn Hải đã là một kỳ tích.
Không biết “về” kiểu gì
Chuyến đi “bão táp” là tên cả đoàn đặt cho ngày hôm ấy. Vừa đặt chân tới cổng trường, trời bỗng nổi mưa, bão, sấm chớp ầm ầm. Chưa bao giờ những thanh niên sinh ra và lớn lên ở thành phố được chứng kiến cảnh mưa bão ở vùng rừng núi, trước mặt là hồ nước mênh mông: gió giật mạnh, quăng quật những cành cây ào ạt kèm theo sấm, chớp. Nước xối ào ào. Lúc này, sau tò mò thích thú là nỗi sợ hãi của các đoàn viên nữ. Mưa to chưa biết khi nào dứt đẩy tất cả vào tình thế tiến thoái lưỡng nan: không thể đi thuyền đến điểm trường trong lòng hồ tặng quà, ô tô cũng không thể quay trở về nếu mưa liên tục trong 2-3 tiếng đồng hồ. Nếu bắt buộc phải ở lại trường, sẽ ngủ đâu, ăn gì, khi nào mới ra được thị trấn Chũ… Hàng loạt câu hỏi dồn dập khiến những người “lãnh đạo” đoàn bối rối…

(Lần đầu tiên được biết tới "Mưa rừng")
Theo các thầy cô giáo ở trường, cuộc sống ở đây cực kỳ vất vả do giao thông đi lại khó khăn. Các thầy cô bám trường, bám lớp phải thay nhau đi mua thức ăn 1 lần/tuần, rau thì xin hoặc mua của bà con trong xã. Sau những cơn mưa to kéo dài 3h, người dân ở xã hoàn toàn bị cô lập với bên ngoài, nguồn sống chủ yếu dựa vào cá, tôm bắt ở hồ Cấm Sơn.
Nhiều đoàn viên, thanh niên nữ có con nhỏ bắt đầu hoang mang, lo lắng. Anh Giáp Văn Nghệ, Hiệu trưởng nhà trường cho hay, còn một cách khác để về được Hà Nội: đó là đi thuyền máy khoảng 2h sang đất Lạng Sơn, sau đó đi bộ 5km đến quốc lộ 1A, mới bắt được ô tô khách... Nhưng mưa thế này, liệu đi thuyền có an toàn không? Đành phó mặc chuyện “ở - đi - về” cho ông thời tiết.
Cái chữ - cái tình của thầy trò Sơn Hải
Ông Vi Văn Nghề, bí thư Đảng uỷ xã Sơn Hải, cho biết, xã Sơn Hải có 5 thôn (thôn Đấp, Tam Chẽ, Đồng Mậm, Cầu Sắt, Cổ Vài) - là một trong những xã nghèo nhất của huyện Lục Ngạn với dân số trên 3700 người trong đó có 85% là dân tộc Nùng. Xã hiện có tỷ lệ hộ nghèo trên 62%, trong đó đa phần hộ nghèo là các hộ đồng bào dân tộc, đông con. Cuộc sống mưu sinh của người dân trong xã chủ yếu là làm nông nghiệp, nhưng cũng rất khó khăn trong việc canh tác, lúa cấy xuống có khi không được thu hoạch vì chỉ một trận mưa, nước dâng lên trong lòng hồ Cấm Sơn là lúa ngập.
Do là vùng lòng hồ sông nước nên việc đi học của học sinh và giáo viên nơi đây rất khó khăn. Vì lẽ đó, trường Tiểu học Sơn Hải đã được bố trí làm 5 điểm trường đặt các đảo và bán đảo khác nhau trong vùng lòng hồ. Mỗi điểm trường có trên dưới 100 học sinh và 7- 10 thày cô thường trú.
Đến Sơn Hải, tận mắt chứng kiến cuộc sống - chỗ ăn, ở, sinh hoạt, giảng dạy của các thầy cô nơi đây mới hiểu được những gian khó mà thầy và trò đang gánh chịu ta sẽ thấy cảm phục hơn tấm lòng yêu trẻ, yêu nghề của họ. Ngay từ khi ra trường, thầy hiệu trưởng Giáp Văn Nghệ đã đến với Sơn Hải, 17 năm gắn bó với sự nghiệp trồng người ở vùng đất này, thầy Nghệ hiểu hơn ai hết nỗi khó khăn, vất vả của các em mỗi ngày đến trường. Cho nên, dù hoàn cảnh bản thân, gia đình của nhiều thầy cô giáo còn khó khăn, thiếu thốn song các thầy cô vẫn ngày ngày bước lên bục giảng với đầy tâm huyết để truyền cái chữ dạy cho học sinh.
Sơn Hải nghèo nhưng hiếu học. Hiểm nguy rình rập nhưng ngày ngày những bóng dáng bé nhỏ, liêu xiêu cùng với những con thuyền lá bé xíu vẫn đều đặn cập bến của trường. Nhiều năm liền xã Sơn Hải không có học sinh nào bỏ học. Tỷ lệ học sinh khá, giỏi của trường tiểu học và trung học cơ sở luôn chiếm 10 – 15%.
Các em nhỏ Lòng Hồ, nghèo nhưng luôn cố gắng học giỏiĐể kiếm cho mình cái chữ, hàng ngày các em học sinh cấp 1, 2 vẫn phải tự chèo đò vượt qua lòng hồ Cấm Sơn, chỗ nước sâu nhất là 80m để tới trường. Hồ Cấm Sơn kéo dài tới hơn 30km với vô số những hòn đảo lớn nhỏ. Thôn xa nhất của Sơn Hải cách trường tới 15km. Nếu phải đi bộ theo đường vòng, có khi phải cả ngày mới tới lớp nên con đường ngắn nhất là đi thuyền vượt hồ. Chiều dài của quãng đường không thể đo bằng km mà chỉ đo bằng quãng thời gian các em phải chèo thuyền. 6h sáng đi học, 1 giờ chiều mới về đến nhà. Cặp sách của các em lúc nào cũng có nắm cơm dự trữ.

(Để tới trường học chữ, các em hằng ngày phải vượt qua muôn vàn khó khăn, nguy hiểm)
Khổ nhất là vào những ngày mùa đông, có những khi nhiệt độ xuống thấp 5-6 độ, các em vẫn phải chèo thuyền đi học. 4-5 trên một thuyền, một em thì chèo đò, các em khác thì tát nước. Đến được lớp học, nhiều hôm quần áo ướt lướt thướt. Chân trần, tím tái lại vì lạnh. Cũng nhiều hôm, do sương mù dầy đặc, các em chèo thuyền đi học mà không định hướng được, loanh quanh giữa lòng hồ đến chiều lại quay trở về nhà. Những hôm gió to, cứ chèo thuyền được một đoạn lại bị lật nhào, ngay cả khi bố mẹ các em đưa đi, thuyền cũng bị lật. Rất may, trẻ ở đây biết bơi từ nhỏ nên chưa xảy ra những chuyện đáng tiếc.
Cô giáo trẻ Hoàng Thị Thơm mới về công tác tại trường Tiểu học Sơn Hải được hai năm. Cô được phân công dạy học ở nơi khó khăn nhất của xã Sơn Hải, đó là thôn Đồng Mậm - chưa có điện, chưa có nước sạch sinh hoạt. Để đi từ trung tâm xã tới thôn chỉ có cách duy nhất là chèo thuyền mất 3-4 tiếng đồng hồ. Do đó, muốn đến lớp, “bài học” đầu tiên cô phải học là cách chèo thuyền. Năm nay, có thuyền máy, nên việc đi lại của cô cũng đỡ vất vả hơn, chỉ mất khoảng 1h để đến trường. Cô Thơm ở lại trường, đến cuối tuần mới về thăm nhà ở cách đó 70km. Nhưng, những hôm sóng to gió lớn, thì thuyền máy cũng phải bó tay. Cô Thơm kể: những hôm trời mưa, để vượt qua hơn 20km đường đất, cô phải mất 2h và bị ngã đến 5, 6 lần. Chiếc xe máy to hơn người nên cô thường xuyên phải nhờ một thầy giáo khác đi kèm ra đến đường cái. “Để nếu em ngã thì còn có người giúp nâng xe lên. Có lần em về đến nhà, người lấm đầy bùn đất. Bố mẹ xót con quá, nhiều hôm mưa gió bố em phải đưa đi hoặc lên đón”.
Mặc dù khó khăn, vất vả là thế, nhưng chúng tôi không thấy thầy cô giáo nào kêu ca, phàn nàn. Ở họ, chỉ thấy hiển hiện lòng yêu và thương học trò. Thầy Nghệ cho biết: “Cả trường có 32 cán bộ, giáo viên, hầu hết đều ở xa gia đình, cuối tuần mới về nhà, hôm nào mưa thì phải ở lại trường. Chỉ có 15% giáo viên là người sở tại. Mỗi giáo viên chúng tôi đều xác định phải bám trường, bám lớp, động viên nhau khắc phục những khó khăn trong cuộc sống...”.Các trò quý thầy cô như cha mẹ, tâm sự, chia sẻ với thầy cô những chuyện vui, buồn trong gia đình, cuộc sống. Những điều đó càng thôi thúc các giáo viên phải có trách nhiệm bù đắp cho học trò những thiệt thòi.

(Lễ tuyên dương, tặng quà cho các em)
Thầy Nghệ vui vẻ nói: “Chính nhờ sự quan tâm, chia sẻ của các bậc phụ huynh, sự tận tụy của người thầy, các em học sinh đã có cơ hội cắp sách tới trường. Trong số đó đã có nhiều em tiếp tục học và trưởng thành, trong đó, có em trở thành giáo viên, trở về trường xưa làm đồng nghiệp với thầy cô giáo cũ”.
Đến những vùng sông nước như ở nơi đây, mới hiểu hết giá trị và ý nghĩa của những món quà như chiếc cặp phao cứu sinh, nhu yếu phẩm hay những món ăn tinh thần của các đoàn viên, thanh niên trao tặng cho các em.




