Wednesday, November 24, 2010 8:36:45 AM
Cảm tạ hay biết ơn là điều ai cũng biết, nhưng đây cũng là điều chúng ta thường thiếu sót. Trong Mùa Tạ Ơn nầy, chúng ta hãy cùng nhau một lần nữa học về lòng biết ơn hay vấn đề cảm tạ trong đời sống. Thánh Vịnh thứ 103 là phần Kinh Thánh kiểu mẫu cho chúng ta học về đề tài nầy. Lời Chúa trong phần Kinh Thánh nầy giúp chúng ta trả lời ba câu hỏi quan trọng về cảm tạ. Đó là:
Ai cảm tạ?
Tại sao cảm tạ?
Cảm tạ ai?
Thánh Vịnh 103 mở đầu như sau:
Hỡi linh hồn ta hãy ca ngợi Chúa Hằng Hữu, mọi điều gì ở trong ta, hãy ca tụng Danh thánh của Ngài. Hỡi linh hồn ta hãy ca ngợi Chúa Hằng Hữu, đừng quên những ân huệ của Ngài (Thánh vịnh 103:1-2).
Câu Kinh Thánh nầy cho thấy ai là người cảm tạ. Tác giả Thánh Vịnh nầy là vua Đa-vít và ông nói với chính mình, ông kêu gọi nhắc nhở chính mình hãy ca ngợi và cảm tạ Thiên Chúa. Ông không chỉ nói, Hỡi linh hồn ta hãy ca ngợi Thiên Chúa, nhưng ông cũng nói, Mọi điều gì ở trong ta hãy ca tụng Danh thánh của Ngài. Người cảm tạ là mỗi chúng ta, là những con người đã được Thiên Chúa tạo dựng. Là tạo vật của Thiên Chúa, chúng ta phải tạ ơn Ngài. Những người Mỹ di dân đầu tiên bày tỏ lòng biết ơn Thiên Chúa vì Ngài đã dẫn đưa họ đến bến bờ bình yên và qua một mùa Đông khắc nghiệt, Thiên Chúa đã ban cho họ hoa quả, mùa màng tốt đẹp. Họ ý thức rằng tất cả những gì họ có đến từ Thiên Chúa vì vậy họ bày tỏ lòng biết ơn Ngài trong lễ Tạ Ơn đầu tiên. Chúng ta sẽ không tạ ơn hay bày tỏ lòng biết ơn nếu trước hết không ý thức rằng tất cả những gì chúng ta đang có và thụ hưởng đều đến từ Thiên Chúa, là Đấng Tạo Hóa, là người Cha của chúng ta. Chính Thiên Chúa đã ban cho chúng ta sự sống và rồi những gì chúng ta có trong tay cũng đến từ Thiên Chúa. Một người ban cho chúng ta tất cả mà chúng ta không tạ ơn là một thiếu sót lớn.
Vua Đa-vít tự nhủ mình rằng: "Đừng quên những ân huệ Ngài." Quên là một trong những yếu đuối lớn nhất của con người. Vì vậy ông tự nhủ, Đừng quên ân huệ của Thiên Chúa. Con người chúng ta thường có khuynh hướng nhớ những điều không đáng nhớ và hay quên những điều lẽ ra mình không thể quên. Chúng ta thường nhắc lại những đau khổ, những kỷ niệm buồn, những khó khăn hay tai hại người khác gây ra cho mình nhưng lại ít nói đến những ơn phước, những điều tốt lành mà mình đã nhận. Trong Mùa Tạ Ơn nầy, chúng ta cần tự nhắc mình như vua Đa-vít ngày xưa và nói rằng: "Hỡi linh hồn ta hãy ca ngợi Chúa Hằng Hữu, đừng quên những ân huệ của Ngài."
Tại sao vua Đa-vít cảm tạ Thiên Chúa? Ông nêu ra những lý do sau đây:
Ấy là Ngài tha thứ các tội ác ngươi, chữa lành mọi bệnh tật ngươi, cứu chuộc mạng sống ngươi khỏi chốn hư nát, lấy sự nhân từ và sự thương xót mà làm mão triều đội cho ngươi. Ngài cho miệng ngươi được thỏa các vật ngon, tuổi đang thì ngươi trở lại như của chim phụng hoàng (Thánh Vịnh 103: 3-5).
Có nhiều lý do cho vua Đa-vít tạ ơn Thiên Chúa nhưng có thể tóm tắt lại trong hai điều, đó là những ơn phước tâm linh và những ơn phước vật chất. Vua Đa-vít kể ra những ơn phước tâm linh trước vì đó mới là điều quan trọng. Ông ý thức rằng điều quan trọng trên đời nầy không phải là tiền bạc, của cải dư dật nhưng là có mối tương giao tốt đẹp với Thiên Chúa. Được nối tiếp với nguồn sống rồi thì đời sống mới có ý nghĩa, nếu không, dù ta có cả thiên hạ đi nữa cũng vô ích. Vì vậy điều đầu tiên ông tạ ơn Thiên Chúa là ơn tha thứ của Ngài. Thiên Chúa thánh khiết, con người chúng ta tội lỗi, nếu Chúa không tha thứ, chúng ta không thể nào tương giao với Ngài. Thiên Chúa đã tha thứ cho chúng ta qua dòng máu vô tội của Chúa Giê-xu đổ ra vì nhân loại trên thập giá. Thiên Chúa công chính đòi hỏi án phạt và Chúa Cứu Thế Giê-xu đã lãnh án phạt đó thế cho chúng ta để chúng ta được tha thứ. Thiên Chúa chẳng những tha thứ, Ngài cũng chữa lành. Có những đau thương, đổ vỡ mà chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể rịt lành cho chúng ta. Thiên Chúa cũng giải thoát chúng ta khỏi chốn hư nát và điều chúng ta kinh nghiệm nơi Ngài là nhân từ và thương xót. Đó là những ơn phước tâm linh, còn về vật chất, vua Đa-vít nói: "Ngài cho miệng ngươi được thỏa các vật ngon, tuổi đang thì ngươi trở lại như của chim phụng hoàng." Miệng ăn thấy ngon, đó là ơn phước Thiên Chúa ban. Đó cũng là sức khỏe và những điều bình thường khác mà chúng ta không để ý. Khi đau yếu, khi nằm trên giường bệnh, khi không thể sinh hoạt bình thường, lúc đó chúng ta mới biết quý những khi lành mạnh, bình thường.
Mỗi chúng ta được sinh ra trên đời nầy là những người phải tạ ơn Thiên Chúa. Chúng ta tạ ơn Thiên Chúa vì những ơn phước vật chất cũng như tâm linh. Và như vậy, chúng ta đã đương nhiên trả lời câu hỏi thứ ba, đó là: Chúng ta tạ ơn ai? Thiên Chúa là Đấng chúng ta phải tạ ơn, nhưng tại sao tạ ơn Thiên Chúa mà không phải một ai khác? Phần còn lại của Thánh Vịnh 103, vua Đa-vít không nói gì khác hơn là mô tả cho chúng ta thấy về Thiên Chúa, đối tượng chúng ta tạ ơn. Trước hết ông cho thấy Thiên Chúa là Đấng công chính: Chúa Hằng Hữu thi hành sự công bình và sự ngay thẳng cho mọi người bị hà hiếp. Ông cũng cho thấy Thiên Chúa là Đấng mạc khải hay Chúa đã trình bày cho chúng ta thấy rõ ràng về chính Ngài: Ngài bày tỏ cho Mai-sen đường lối Ngài và cho Y-sơ-ra-ên biết các công việc Ngài. Nhưng trên hết vua Đa-vít cho chúng ta thấy tình yêu vô bờ Thiên Chúa dành cho chúng ta. Ông viết:
Chúa Hằng Hữu có lòng thương xót, hay làm ơn, chậm nóng giận và đầy sự nhân từ. Ngài không bắt tội luôn luôn, cũng chẳng giữ lòng giận đến đời đời. Ngài không đãi chúng tôi theo tội lỗi chúng tôi, cũng không báo trả chúng tôi tùy sự gian ác của chúng tôi. Vì hễ các từng trời cao trên đất bao nhiêu, thì sự nhân từ Ngài càng lớn cho kẻ nào kính sợ Ngài bấy nhiêu. Phương đông xa cách phương tây bao nhiêu, thì Ngài đã đem vi phạm chúng tôi khỏi xa chúng tôi bấy nhiêu.
Tất cả những lời nầy cho thấy tình yêu vô bờ bến Thiên Chúa dành cho chúng ta, chính vì vậy mà chúng ta phải biết ơn Thiên Chúa và tạ ơn Ngài.
Cuối cùng tác giả cho thấy tính cách mong manh và ngắn ngủi của đời người và chính trong ý thức đó, chúng ta lại càng phải biết ơn Thiên Chúa. Ông viết:
Ngài biết chúng tôi nắn nên bởi giống gì, Ngài nhớ lại rằng chúng tôi bằng bụi đất. Đời loài người như cây cỏ; người sinh trưởng khác nào bông hoa nơi đồng. Gió thổi trên bông hoa, kìa nó chẳng còn, chỗ nó không còn nhìn biết nó nữa. Song sự nhân từ của Chúa Hằng Hữu hằng có đời đời cho những người kính sợ Ngài.
Bụi đất, cây cỏ, đó là những hình ảnh chóng qua của đời người đối chiếu với lòng nhân từ, thương xót của Thiên Chúa là điều hằng có đời đời. Trước hai hình ảnh đó, chọn lựa của chúng ta phải là chọn lựa vĩnh hằng, vĩnh cửu. Không ai trong chúng ta chạy theo những gì chóng phai tàn bao giờ, thì cũng vậy, chúng ta phải biết tạ ơn Thiên Chúa tức là trở về với giá trị vĩnh cửu. Sâu kín trong đáy lòng, ý thức về Thiên Chúa và ơn sâu rộng của Ngài sẽ giúp chúng ta sống với lòng biết ơn và chúng ta sẽ trở nên nguồn ơn phước cho người khác.
Trong Mùa Tạ Ơn nầy, chúng ta hãy cùng với tác giả của Thánh Vịnh 103 và nói với chính mình rằng:
Hỡi linh hồn ta, hãy ca ngợi Chúa Hằng Hữu! Mọi điều gì ở trong ta hãy ca tụng danh thánh của Ngài! Hỡi linh hồn ta, hãy ca ngợi Chúa Hằng Hữu, chớ quên các ân huệ của Ngài.
Mục sư Nguyễn Thỉ
Chương Trình Phát Thanh Tin Lành
Thursday, November 18, 2010 3:21:33 PM
“The Girl Who Pierced My Heart” by Barbara L. Scott – Tùng Tri chuyển ngữ
Ngày đầu tiên tôi thấy cô gái ấy là vào cuối tháng chín, trong ngày ghi danh vào trường đại học, nơi tôi làm việc. Tôi tình nguyện làm công việc chào đón các sinh viên mới, nhưng tôi tránh né con người kỳ quặc này.
Đầu cô ta cạo trọc, chỉ trừ một lọn tóc nhuộm đỏ, dường như bị để quên, phủ che ngang trước mắt. Cái bộ overalls, áo dính liền với quần, rộng thùng thình, quá cỡ ít nhất là ba bậc, và dường như đây là là bộ áo quần cô ta ưa thích, mặc trên người đã từ lâu lắm. Cái đôi giày ống kiểu quân đội sần sùi hoàn tất cách thức ăn mặc của cô ta.
Tôi chưa bao giờ thấy một người có nhiều kim khoan xỏ trên người như vậy. Cô trông giống như một chiếc gối di động bằng thịt để giắt kim. Trên cổ là cái vòng như người ta thường máng vào cổ chó, đi đôi với sợi dây xích treo từ cái túi áo trên yếm trước ngực vòng ra cái túi quần sau lưng.
Đây là trường đại học dạy về Kinh Thánh, để huấn luyện sinh viên trở thành giáo sĩ hay mục sư. Làm sao trên đời này, một người bụi đời lập dị như cô ta có thể trở thành giáo sĩ hay mục sư, để đại diện cho Thiên Chúa được?
Tôi chợt nhớ lại đứa con trai út của tôi, cũng có thời để tóc dài và mặc quần jean rách lỗ khi còn ở tuổi trung học. Nhưng bây giờ nó và vợ nó đang đi truyền giáo ở Thái lan.
Tôi mừng vì con tôi đã vượt qua được cái thời tuổi trẻ nổi loạn đó, nhưng chưa bao giờ tôi chợt nhận ra trong tôi một sự kiêu ngạo, cùng thái độ chỉ trích, đang thắt chặt trên cổ tôi, còn chặt hơn cái vòng trên chiếc cổ của cô gái đó.
Trong học kỳ đầu, tôi thường chạm mặt với cô gái ấy khắp mọi nơi trong sân trường. Cô ta thường ngồi ăn trưa chỉ có một mình, do vậy tôi thường sắp xếp các nhân viên khác, trừ tôi, ngồi ăn trưa chung với cô ấy. Dù sao, cô gái ấy chỉ là một sinh viên thôi mà.
Một buổi tối kia, tôi và chồng tôi đi ăn tối. Một người vô gia cư trông lếch thếch, đứng bên đường cạnh quán ăn, tay đang cầm một cái lon xin tiền. Tôi thận trọng tránh nhìn vào đôi mắt người ăn xin khi tôi đi ngang qua trước mặt anh ấy.
Tôi cảm thấy một điều gì không ổn trong suốt bữa ăn. Có phải tôi đã từng đọc Kinh Thánh, trong sách Ma-thi-ơ 25:40, khi đề cập đến chuyện giúp đỡ người thiếu thốn, Chúa Giê-xu có nói: “Ta bảo cùng các con, hễ các con làm điều đó cho một trong những anh em hèn mọn nhất của Ta, tức là đã làm cho Ta vậy.” Tôi có khả năng để bỏ một vài đồng vào cái lon xin tiền của người ăn xin kia. Thế nhưng tại sao tôi lại không làm nhỉ?
Cả buổi tối hôm ấy, tôi trăn trở mãi với cái khúc mắc là về chuyện thương yêu người chẳng có vẻ gì đáng yêu bên ngoài. Khi đối diện với một kẻ vô gia cư, hay một người bụi đời lập dị, tôi dường như không tránh được thái độ đánh giá người đó qua cái vẻ bên ngoài của họ. Mà làm sao tôi có thể thân thiện được với một người mà khi đến gần thì người đó chẳng lấy gì thơm tho cho lắm hay ăn mặc hoàn toàn trái ngược với quan niệm thẩm mỹ và lịch sự của tôi.
Tôi cũng tự bào chữa cho mình, vì người ta cũng thường nói, con người bên ngoài là phản ánh của con người bên trong kia mà. Liệu tôi có tránh được chuyện thiên hạ đàm tếu, coi thường tôi không, khi tôi làm quen hay làm bạn với những con người lập dị lạ lùng như vậy?
Đối với tôi, qua cách ăn mặc lập dị, người đó như muốn nói với mọi người khác rằng: “Đừng bắt chuyện với tôi”, hay “Đừng đến gần tôi” hay “Xin đừng chú ý gì đến tôi”.
Hay người đó muốn nói một ý hoàn toàn ngược lại?
Dầu sao đi nữa, tôi muốn thương yêu người khác như Thiên Chúa thương yêu con người, một tình yêu vượt xa khỏi cái nhìn bề ngoài để chạm đến con người thật sâu thẳm bên trong. Tôi ước muốn được nhìn thấy người khác qua đôi mắt nhân từ của Đấng Tối Cao.
“Chúa ơi, xin giúp con thương yêu người chẳng có vẻ gì đáng yêu cả”. Tôi cầu nguyện như vậy, rồi chìm vào giấc ngủ.
“Thúy”. Tôi nghe thật rõ ràng ai gọi tên tôi vào lúc nửa đêm.
Chồng tôi dường như đang ngủ mê, nhưng cũng có thể anh ấy đang xoay mặt ra phía khác để chơi game. Tôi gọi:
“Cái gì vậy hả anh?”
Chồng tôi ú ớ rồi ngủ tiếp.
Tôi thắc mắc “Đây thật là lạ” rồi chìm lại vào giấc ngủ.
“Thúy”
Tôi trả lời lại thật lớn:
“Cái gì vậy hả anh?”
Chồng tôi thức giấc càu nhàu:
“Anh không có kêu em”
Hừm… Điều này cũng giống như câu chuyện được ghi trong Kinh Thánh, khi Thiên Chúa gọi Sa-mu-ên trong giấc ngủ. Mà chắc không phải đâu.
“Thúy”
“Dạ, thưa Chúa gọi con. Con dậy ngay đây”.
Tôi lê ra phòng khách, đợi Chúa phán với mình, nhưng không có điều gì xảy ra. Tôi chợt nhớ đến Kinh Thánh, là quyển sách mà qua đó Chúa thường xuyên nói chuyện và bày tỏ Ngài với tôi.
Khi cầm quyển Kinh Thánh lên, tay tôi mở ra ngay câu 1 Giăng 3:17 có ghi rằng: “Nếu ai có của cải thế gian thấy anh chị em mình đang túng thiếu nhưng chặt dạ, không giúp đỡ người đó thì làm sao tình yêu thương của Đức Chúa Trời ở trong người ấy được?”
Tôi chợt nhận ra rằng mình chỉ là một người giả nhân giả nghĩa. Chung quanh có biết bao người không có vẻ đáng yêu bên ngoài, và tôi cũng cố tình phớt lờ họ đi. Mỗi con người đều có quyền để được yêu. Tình thương yêu của tôi dành cho người khác phải chân thật và trong sáng.
Qua ngày hôm sau, cô gái trong bộ y phục lập dị với lọn tóc đỏ phủ ngang trước mắt đang ngồi ăn trưa một mình như bao lần.
Tôi đến gần và hỏi:
“Chị ngồi ở đây được không?”
Cô ta tươi cười đáp lại :
“Được chứ”
“Tên em là gì?”
“Lan”
“Chị cũng thích tên Lan. Chồng chị với chị muốn đặt đứa con thứ nhì là Lan, nhưng sinh ra nó là con trai”
Lan và tôi bỗng cùng phá lên cười thật là vui vẻ.
“Tên chị là Thúy. Còn Lan ở đâu đến đây vậy?”
“Dạ em đến từ Sydney”
“Vậy hả. Chị trước kia cũng ở Sydney. Bây giờ gia đình chị ở đây, nhưng chị có nhiều bạn bè ở Sydney nhiều lắm”.
Thật là khó cho tôi, không khỏi nhìn trừng trừng vào mấy cái kim băng treo lủng lẳng trên hai tai của Lan, cũng như tôi chưa bao giờ thấy những kim khoan xỏ ngang dọc trên hai mí mắt. Chắc là đau lắm.
Dầu vậy thì Lan cũng dễ nói chuyện, cho nên tôi bắt đầu dành ra vài bữa mỗi tuần để ngồi ăn trưa với cô ấy, và chúng tôi cũng chào nhau mỗi khi chạm mặt trong sân trường. Riết rồi chẳng bao lâu, dường như tôi chẳng còn chú ý đến những cái kim, những vật khoan xỏ, lọn tóc đỏ che ngang trước mắt hay cái áo dính quần rộng thùng thình của Lan nữa.
Khoảng một tháng sau đó, tôi chợt nhận ra một sự thay đổi thật đột ngột.
Tôi bèn hỏi Lan:
“Bộ có ai nói em lấy cái cái kim khoan ra hả?”
Lan trả lời một cách thật tự nhiên:
“Dạ không có ai nói em hết. Tự em quyết định lấy ra đó chị”
Lan có một khuôn mặt nhỏ nhắn xinh xinh mà bây giờ tôi mới nhận ra.
Tháng mười một, tôi đến một tiệm sách lớn trong thành phố để tìm mua quà giáng sinh. Tôi chợt nhận ra Lan, có bày một cái bàn nhỏ trước cửa tiệm làm công việc gói quà cho khách, đang kiếm tiền để đi thực hiện một chuyến truyền giáo.
Tôi với Lan là bạn thân rồi. Lan thì biết mọi món trong cửa tiệm, nên cô ấy giúp tôi chọn mua những món quà. Chúng tôi có thời giờ thật vui vẻ với nhau, kể cho nhau về chuyện trường lớp cũng như những dự định tương lai. Năm nay sẽ là một năm đặc biệt của Lan. Giáng Sinh năm nay sẽ là Giáng Sinh đầu tiên mà Lan sẽ xa nhà. Lan đang chuẩn bị đem những món quà Giáng Sinh đến những đứa bé mồ côi tại một quốc gia thật thiếu thốn.
Vài tuần sau đó, Lan có kể cho tôi nghe cô ấy đã kiếm được thật nhiều tiền nhờ công việc gói quà, không những chỉ đủ cho chuyến truyền giáo của mình, mà còn có thể giúp cho hai sinh viên khác cũng cần tài chánh cho chuyến đi truyền giáo của họ nữa.
Khi Giáng Sinh đến, tóc Lan đã mọc dài ra. Cô ấy cắt đi cái lọn tóc nhuộm đỏ phủ ngang trước mắt, và nhuộm nó cùng màu với phần tóc mới mọc ra. Trước khi Lan lên đường đi truyền giáo, tôi có dịp ngắm cô ấy trong một chiếc áo dài tha thướt và trông cô ấy thật là dễ thương làm sao.
Tôi không còn có thể giữ im lặng được nữa. Tôi phải nói với Lan vài lời.
“Lan ơi, em thiệt là đẹp. Điều gì khiến em thay đổi quá đột ngột như vậy?”
“Vì em nghĩ rằng, nếu trước kia em trông thật là lập dị mà chị còn thương em được, cho nên em biết rằng, nếu mà em nhìn bình thường thì chắc có nhiều người sẽ chấp nhận em nữa”
Lan không chỉ là một người đã thay đổi. Khi tôi cầu nguyện với Thiên Chúa, xin Ngài dạy tôi có thể yêu những người có vẻ không đáng yêu, thì Ngài đã ban cho tôi có lòng trắc ẩn đối với những con người mà tôi đã từng đánh giá họ qua cái nhìn bên ngoài.
Tôi đã nhìn thấy con người bên trong của Lan nhiều hơn là những biểu lộ bên ngoài. Tôi học được cách nhìn qua đôi mắt của Thiên Chúa. Điều này đã thay đổi cuộc đời tôi, vì giờ đây tôi nhìn các sự việc với một tấm lòng mới, một tấm lòng qua cái nhìn của Đấng Nhân Từ và để thương yêu đến hết thảy mọi người.
Kính thưa quý thính giả,
Trong quá trình tìm hiểu để làm bạn với Lan, Thúy đã từng thắc mắc có phải cô gái này ăn mặc thật lập dị vì cô gái ấy không muốn liên hệ với bất kỳ ai hay có thể là vì cô đang khao khát muốn được người khác để ý đến.
Cuối cùng, Thúy đã khám phá ra cách ăn mặc lập dị của Lan như một tiếng kêu gào “Xin hãy thương tôi, dầu tôi có nhìn khác với mọi người”.
Những ai trông dường như “bất cần đời”, dường như chẳng quan tâm người khác nghĩ gì về mình, thường là những người, thực ra quan tâm nhất đến những gì người khác suy nghĩ về họ.
Qua kinh nghiệm của Thúy, bạn và tôi cũng chẳng nên quá chú trọng đến bề ngoài của một người. Cái nhìn bên ngoài không phản ánh hết tấm lòng và con người thực bên trong đâu. Hầu như, một người tạo ra cái vẻ lập dị bên ngoài, là cách để được người khác chú ý đến, để làm nổi bật trong đám đông, để mà nói rằng “Xin hãy để ý đến tôi với. Xin làm bạn với tôi với”. Đôi khi, đó cũng là tiếng kêu gào “Xin hãy giúp tôi với”.
Khi bạn và tôi học cách yêu thương, cho dù có vẻ bên ngoài người đó như thế nào, thì cũng giống như chị Thúy, chúng ta sẽ khám phá ra một viên ngọc quý đã bị chôn vùi bấy lâu nay.
Thân chào quý vị và các bạn.
Saturday, November 6, 2010 3:23:13 PM
Tác giả: Khuyết Danh
,
Câu chuyện đã xảy ra từ nhiều năm trước. Lúc đó, cô Thompson đang dạy tai trường tiểu học của một thị trấn nhỏ tại Hoa Kỳ. vào ngày khai giảng năm học mới, cô đứng trước những em học sinh lớp 5, nhìn cả lớp và nói cô sẽ yêu thương tất cả các học sinh như nhau. Nhưng thực ra cô biết mình sẽ không làm được điều đó bởi cô đã nhìn thấy cậu học sinh Teddy Stoddard ngồi lù lù ngay bàn đầu. Năm ngoái cô đã từng biết Teddy và thấy cậu bé chơi không đẹp với bạn bè, quần áo thì lôi thôi lếch thếch, còn người ngợm thì lại quá bẩn thỉu. "Teddy trông thật khó ưa".
Chẳng những thế, cô thompson còn dùng cây bút đỏ vạch một chữ thập rõ đậm vào hồ sơ cá nhân của Teddy và ghi chữ F đỏ chói ngay phía ngoài (chữ F là hạng kém). Ở trường này, vào đầu năm học mỗi giáo viên đều phải xem thành tích học tập của từng học sinh trong lớp mình chủ nhiệm. Cô Thompson đã nhét hồ sơ cá nhân của Teddy đến cuối cùng mới mở ra xem, và cô rất ngạc nhiên về những điều đọc được. Cô giáo chủ nhiệm lớp 1 đã nhận xét Teddy như sau: "Teddy là một đứa trẻ thông minh và luôn vui vẻ. Học giỏi và chăm ngoan... Em là nguồn vui cho người chung quanh". Cô giáo lớp 2 nhận xét: "Teddy là một học sinh xuất sắc, được bạn bè yêu quý nhưng có chút vấn đề vì mẹ em ốm nặng và cuộc sống gia đình thật sự là một cuộc chiến đấu". Giáo viên lớp 3 ghi: "Cái chết của người mẹ đã tác động mạnh đến Teddy. Em đã cố gắng học, nhưng cha em không mấy quan tâm đến con cái và đời sống gia đình sẽ ảnh hưởng đến em nếu em không được giúp đỡ". Giáo viên chủ nhiệm lớp 5 nhận xét: "Teddy tỏ ra lãnh đạm và không tỏ ra thích thú trong học tập. Em không có nhiều bạn và thỉnh thoảng ngủ gục trong lớp". Đọc đến đây, cô Thompson chợt hiểu ra vấn đề và cảm thấy tự hổ thẹn. Cô còn thấy áy náy hơn khi đến lễ Giáng sinh, tất cả học sinh trong lớp đem tặng cô những món quà gói giấy màu và gắn nơ thật đẹp, ngoại trừ món quà của Teddy. Em đem tặng cô một gói quà bọc vụng về bằng loại giấy gói hàng nâu xỉn mà em tận dụng lại từ loại túi giấy gói hàng của tiệm tạp hóa. Cô Thompson cảm thấy đau lòng khi mở gói quà ấy ra trước mặt cả lớp. Một vài học sinh đã bật cười khi thấy cô giơ lên chiếc vòng giả kim cương cũ đã sút mất vài hột đá và một chai nước hoa chỉ còn lại một ít. Nhưng cô đã dập tắt những tiếng cười nhạo kia khi cô khen chiếc vòng đẹp, đeo nó vào tay và xịt một ít nước hoa trong chai lên cổ tay. Hôm đó Teddy đã nán lại cho đến cuối giờ để nói với cô: "Thưa cô, hôm nay cô thơm như mẹ em ngày xưa". Sau khi đứa bé ra về, cô Thompson đã ngồi khóc cả giờ đồng hồ. Và chính từ hôm đó, ngoài dạy học cô còn lưu tâm chăm sóc cho Teddy hơn trước. Mỗi khi cô đến bàn em để hướng dẫn thêm, tinh thần Teddy dường như phấn chấn hẳn lên. Cô càng động viên em càng tiến bộ nhanh. Vào cuối năm học, Teddy đã trở thành học sinh giỏi nhất lớp. Và trái với phát biểu của mình vào đầu năm học, cô đã không yêu thương mọi học sinh như nhau. Teddy là học trò cưng nhất của cô.
Một năm sau, cô tìm thấy một mẩu giấy nhét qua khe cửa. Teddy viết: "Cô là cô giáo tuyệt vời nhất trong đời em". Sáu năm sau, cô lại nhận được một bức thư ngắn từ Teddy. Cậu cho biết đã tốt nghiệp trung học, đứng hạng ba trong lớp và "Cô vẫn là người thầy tuyệt vời nhất trong đời em". Bốn năm sau, cô lại nhận được một lá thư nữa. Teddy cho biết dù hoàn cảnh rất khó khăn khiến cho cậu có lúc cảm thấy bế tắc, cậu vẫn quyết tốt nghiệp đại học với hạng xuất sắc nhất, nhưng "Cô vẫn luôn là cô giáo tuyệt vời mà em yêu quý nhất trong đời". Rồi bốn năm sau nữa cô nhận được bức thư trong đó Teddy báo tin cho biết cậu đã đậu tiến sĩ và quyết định học thêm lên. "Cô vẫn là người thầy tuyệt nhất của đời em", nhưng lúc này tên cậu đã dài hơn. Bức thư ký tên Theodore F. Stoddard - giáo sư tiến sĩ.
Câu chuyện vẫn chưa kết thúc tại đây. Một bức thư nữa được gửi đến nhà cô Thompson. Teddy kể cậu đã gặp một cô gái và cậu sẽ cưới cô ta. Cậu giải thích vì cha cậu đã mất cách đây vài năm nên cậu mong cô Thompson sẽ đến dự lễ cưới và ngồi ở vị trí vốn thường được dành cho mẹ chú rể. Và bạn thử đoán xem việc gì đã xảy ra? Ngày đó, cô đeo chiếc vòng kim cương giả bị rớt hột mà Teddy đã tặng cô năm xưa, xức thứ nước hoa mà Teddy nói mẹ cậu đã dùng vào kỳ Giáng sinh cuối cùng trước lúc bà mất. Họ ôm nhau mừng rỡ và giáo sư Stoddard thì thầm vào tai cô Thompson: "Cám ơn cô đã tin tưởng em. Cám ơn cô rất nhiều vì đã làm cho em cảm thấy mình quan trọng và cho em niềm tin rằng mình sẽ tiến bộ". Cô Thompson vừa khóc vừa nói nhỏ với cậu: "Teddy, em nói sai rồi. Chính em mới là người đã dạy cô rằng cô có thể sống khác đi. Cô chưa từng biết dạy học cho tới khi cô được gặp em".
3 Chớ làm sự chi vì lòng tranh cạnh hoặc vì hư vinh, nhưng hãy khiêm nhường, coi người khác như tôn trọng hơn mình. 4 Mỗi người trong anh em chớ chăm về lợi riêng mình, nhưng phải chăm về lợi kẻ khác nữa. 5 Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có 3 (Philip 2:3-5)
Mười Điều Luật Chúa và Gia Đình Chúng Ta
Bài 17: Điều Răn Thứ Năm
Trách Nhiệm Của Cha Mẹ #1
http://tinlanh.org/images/stories/bai17.jpgQuý vị có thích đi thăm ở bệnh viện không? Khi đến bệnh viện thăm người thân quen, chúng ta thường đến với lòng đau buồn hoặc lo lắng, ngoại trừ khi thăm những em bé mới sinh. Có thể nói, trừ những hoàn cảnh đặc biệt, mỗi một đứa bé ra chào đời đều là niềm vui lớn cho cha mẹ và người thân trong gia đình. Nhưng điều đáng buồn là sau một thời gian, niềm vui đó không còn, vì một số các em bé đó lớn lên trở thành niềm đau, gánh nặng, hay nỗi lo lắng, xấu hổ cho cha mẹ. Điều gì đã đưa đến thay đổi đó? Có nhiều lý do, nhưng thường là, vì hoàn cảnh hay một lý do nào đó, các bậc cha mẹ đã không làm trọn trách nhiệm đối với con cái. Qua Giới Răn thứ Năm, chúng ta biết con cái có bổn phận phải yêu thương, biết ơn, tôn kính, vâng phục và phụng dưỡng cha mẹ. Nói đến bổn phận của con cái mà không nói đến trách nhiệm của cha mẹ thì chưa đầy đủ và thiếu quân bình. Trong lời dạy về bổn phận giữa người đối với người, Thánh Kinh luôn luôn nói đến sự hỗ tương, hai chiều. Người này có bổn phận với người kia thì người kia cũng có trách nhiệm với người nọ. Khi sứ đồ Phao-lô dạy về bổn phận của vợ đối với chồng ông cũng nói đến trách nhiệm của chồng đối với vợ. Khi dạy về bổn phận con cái đối với cha mẹ, ông cũng nói đến trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái. Khi mỗi người vâng theo Lời Chúa dạy, sống đúng với vai trò của mình thì mối quan hệ sẽ tốt đẹp. Vì lý do đó hôm nay chúng tôi xin nói về trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái. Qua lời Chúa dạy trong Kinh Thánh, cha mẹ có những trách nhiệm sau đây đối với những đứa con mà Chúa đã ban cho mình
1. Nuôi nấng
Cha mẹ có trách nhiệm nuôi nấng con cái. Không những lo cho con có đầy đủ thức ăn và quần áo mặc, cha mẹ còn có trách nhiệm bảo vệ con khỏi những nguy hiểm trong đời sống. Con cái có bổn phận giúp cha mẹ làm những công việc trong gia đình, nhưng cha mẹ không nên lạm dụng, bắt con làm việc quá nặng hay làm quá nhiều so với tuổi và sức của chúng. Trong những xã hội xem thường trẻ con, lắm khi con cái phải làm việc cực nhọc để hầu hạ cha mẹ. Đây là điều trái với Lời dạy của Chúa. Ngày nay, trong xã hội này, có lẽ không ai lấy quyền làm cha mẹ để bóc lột sức lao động của con, nhưng ở những nước nghèo, nhiều cha mẹ vẫn còn bắt con cái làm những việc nặng nhọc quá sức, hoặc buộc con làm những điều trái với luân lý và đạo đức. Đây là một tệ trạng mà các tổ chức tôn giáo cũng như các nhóm thiện nguyện đang cố gắng giúp để cứu các em nhỏ ra khỏi hoàn cảnh bi đát này. Con cái là cơ nghiệp quý giá Chúa ban cho chúng ta chứ không phải là nô lệ hay vật sở hữu, chúng ta có thể sử dụng theo ý mình. Nói đến việc bảo vệ con khỏi nguy hiểm, ngày nay cha mẹ còn cần biết về những nguy hiểm đến từ những phương tiện truyền thông hiện đại ngày nay, như phim ảnh, video, mạng lưới internet, v.v... Đây là cả một thế giới nguy hiểm cho con cái về nhiều phương diện mà nhiều bậc cha mẹ không biết hoặc không có thì giờ để ý đến.
2. Dạy dỗ và hướng dẫn
Cha mẹ có trách nhiệm hướng dẫn và dạy dỗ để con nên người trưởng thành, hữu dụng cho Chúa và cho người chung quanh. Con cái của chúng ta có thân thể, trí óc và linh hồn. Cha mẹ cần giúp con phát triển về cả ba phương diện. Không những chỉ nuôi con ăn uống đầy đủ để được khoẻ mạnh, chúng ta cũng cho con đi học để mở mang kiến thức và quan trọng hơn cả, cha mẹ cần hướng dẫn con trong đời sống tâm linh và đạo đức. Nhiều người khuyến khích con học cao, có việc làm kiếm được nhiều tiền nhưng không giúp con trau giồi về mặt đạo đức để con trở nên người đạo đức trong xã hội. Lời Chúa trong Kinh Thánh khuyên: "Hãy dạy cho trẻ thơ con đường nó phải theo; dầu khi nó trở về già, cũng không hề lìa khỏi đó" (Châm Ngôn 22:6). Theo lời dạy này, cha mẹ phải hướng dẫn con trong con đường nó phải theo, tức là con đường tốt đẹp mà Chúa dành cho chúng, thích hợp với những khả năng Chúa ban cho chúng, chứ không phải con đường cha mẹ muốn. Nhiều người hướng dẫn con theo ý muốn riêng, muốn con học những ngành mình yêu thích, để đạt được những mơ ước mà cha mẹ không đạt được, và vì thế đã khiến con đi sai đường mà Chúa đã định cho các em.
Trong trách nhiệm dạy con, khi con cái không vâng lời, cha mẹ cũng cần dùng đến kỷ luật để uốn nắn, sửa dạy cho con nên người, có khi phải dùng đến roi đển răn dạy. Lời Chúa khuyên: "Chớ tha sửa phạt trẻ thơ; dầu đánh nó bằng roi vọt nó chẳng chết đâu. Khi con đánh nó bằng roi vọt, ắt giải cứu linh hồn nó khỏi âm phủ" (Châm Ngôn 23:13). Và: "Người nào kiêng roi vọt ghét con trai mình; song ai thương con ắt cần lo sửa trị nó" (Châm Ngôn 13:24). Nói đến dùng roi, không hẳn là cha mẹ phải đánh con, nhưng chúng ta có thể dùng roi để cảnh cáo, ngăm đe để con không dám vượt qua giới hạn của mình. Chúng ta dùng kỷ luật để giúp con nên người chứ không phải để đánh con cho hả cơn giận. Trong việc dạy con, cha mẹ cần giữ quân bình giữa yêu thương và kỷ luật, đừng quá dễ dãi khiến con hư hỏng, cũng đừng quá nghiêm khắc, khiến con phản loạn hoặc trở thành nhút nhát và mặc cảm với mọi người.
Về trách nhiệm dạy con, sứ đồ Phao-lô khuyên: "Hỡi các người làm cha, chớ chọc cho con cái mình giận dữ, hãy dùng sự khuyên bảo dạy dỗ của Chúa mà nuôi nấng chúng nó" (Ê-phê-sô 6:4). Nhiều người, nhất là các ông cha, sửa dạy con theo tính nóng nảy và sự giận dữ của mình, khiến cho con buồn giận và nản lòng. Kinh Thánh cho biết, khi dạy con chúng ta phải dùng sự sửa phạt khuyên bảo của Chúa. Sự sửa dạy của Chúa có những đặc điểm sau:
* 1. Chúa không làm ngơ và bỏ qua sự sửa phạt. Khi chúng ta phạm lỗi lầm, Chúa không làm ngơ, không phạt vì Ngài đối đãi chúng ta như cha đối với con. Kinh Thánh ghi: Nếu anh em chịu sửa phạt, ấy là Đức Chúa Trời đãi anh em như con, vì có người nào là con mà cha không sửa phạt? Nhưng nếu anh em được khỏi sự sửa phạt mà ai nấy cũng phải chịu, thì anh em là con ngoại tình, chớ không phải con thật (Hê-bơ-rơ 12:7-8). Và Chúa phán: Còn ngươi, ta không diệt hết đâu, nhưng sẽ sửa trị ngươi cách chừng mực, và không thể nào không phạt ngươi (Giê-rê-mi 46:28b). Khi con cái có lỗi, cha mẹ cần kiên nhẫn dành thì giờ sửa dạy, đó mới là thật sự thương con. Trong đời sống bận rộn ngày nay, nhiều khi cha mẹ quá bận rộn hay mệt mỏi, nên khi con bướng bỉnh, không vâng lời, không tuân giữ luật lệ của gia đình, cha mẹ thường làm ngơ hoặc bỏ qua để cho mình được yên thân. Làm ngơ trước lỗi của con như thế rất nguy hiểm. Nguy hiểm cho con, cho cha mẹ và người chung quanh, vì các em sẽ không sửa đổi nhưng tiếp tục bất tuân luật lệ và không tôn trọng thẩm quyền của người lớn. Đây chính là lý do tại sao trong xã hội chúng ta đang sống có nhiều thanh thiếu niên phạm pháp.
* 2. Chúa sửa phạt với lòng yêu thương: Kinh Thánh dạy: "Hỡi con, chớ khinh điều sửa phạt của Đức Giê-hô-va, chớ hiềm lòng khi Ngài quở trách. Vì Đức Giê-hô-va yêu thương ai thì trách phạt nấy, như một người cha đối cùng con trai yêu dấu mình" (Châm ngôn 3:11-12). Chúa luôn luôn sửa dạy chúng ta vì yêu thương, vì muốn chúng ta trở nên người tốt. Các bậc cha mẹ cũng cần sửa phạt con với lòng thương yêu. Chúng ta nên tránh đánh phạt con vì bực bội, tinh thần căng thẳng hay vì giận người khác. Thật tội nghiệp cho những đứa con bị cha mẹ la mắng hoặc sửa phạt vì cha mẹ giận nhau mà không biết trút cơn giận đó cho nhau.
* 3. Chúa sửa phạt cách chừng mực: Kinh Thánh ghi Lời Chúa phán: "...Còn ngươi, thì ta không diệt hết đâu, nhưng sẽ sửa trị ngươi cách chừng mực" (Giê-rê-mi 46:28b). Khi cha mẹ sửa phạt con cái cách oan ức, không đúng lúc hoặc không đúng cách, sẽ khiến con cái buồn giận và ngã lòng. Đây là điều Phao-lô khuyên chúng ta phải tránh. Ông viết: "Hỡi các người làm cha, CHỚ CHỌC CHO CON CÁI MÌNH GIẬN DỮ" (Ê-phê-sô 6:4a) và: "Hỡi kẻ làm cha, CHỚ HỀ CHỌC GIẬN CON CÁI MÌNH, e chúng nó ngã lòng chăng" (Cô-lô-se 3:21). Cha mẹ có thể làm cho con cái ngã lòng khi mắng nhiếc con nặng lời, so sánh con với người khác, nói oan cho con, hoặc chê trách con quá đáng. Có người thì làm cho con buồn giận và nản lòng vì xem con như là tài sản hay đồ vật trong tay, muốn đối xử thế nào cũng được. Đây là những điều các bậc cha mẹ cần phải tránh (còn tiếp).
Minh Nguyên
Chương Trình Phát Thanh Tin Lành
Sunday, October 31, 2010 3:46:19 PM
Trích: Thư Ngỏ Gởi Tuổi Đôi Mươi.
Tác giả: André Maurois
Dịch giả: Nguyễn Hiến Lê
Con người sống, ăn uống, yêu nhau, sinh sản, làm việc. Để làm gì vậy? Goethe đáp: " Để dựng lên hoài cho thật cao cái kim tự tháp của đời mình, kim tự tháp mà cái chân đã xây sẵn cho ta rồi khi ta mới sanh" . Ráng làm cho đời mình thành một tuyệt tác, như vậy là xây dựng đời mình một cách khá cao thượng đấy. Đành rằng cơ sở của mỗi người đã được xây cất sẵn. Chẳng hạn trường hợp của tôi: tôi sanh tại một tỉnh nhỏ, trong một gia đình kỹ nghệ: tôi phải nối nghiệp ba tôi, và má tôi, rất có học thức đã gợi cho tôi lòng yêu văn chương. Đó khởi điểm của tôi như vậỵ Trên cái cơ sở đó, tôi đã hết sức xây dựng cái kim tự tháp của đời tôi. Khi tôi ở cái tuổi của bạn ngày nay, tôi không biết cái kim tự tháp của tôi sẽ ra sao. Tôi chưa hề vẽ một kế hoạch cho trọn đời tôi bao giờ cả. Tôi chỉ định những kế hoạch ngắn hạn: viết cuốn sách nọ, dạy một đại học kia, thuyết phục dân tộc nọ về một chân lý nọ... Rồi để cho sự ngẫu nhiên gạt bỏ những kế hoạch của tôi đi, đôi khi chôn vùi nó, có khi lại cải thiện nó nữa. Có những biến cố tình cờ xảy tới giúp cho tôi có đầu đề. Một tác phẩm khi viết xong, khác hẳn với hình ảnh mà tôi tưởng tượng hồi chưa viết. Có những mối oán hận làm lòng tôi đóng băng lại; lại có những tình thân yêu sưởi nóng nó lên. Ngôi kim tự tháp một ngày một lên cao, cạnh của nó vặn vẹo, không được thẳng, bực của nó cao thấp không được đều. Đã tới lúc gần tới ngọn rồi đây. Khi đã xây dựng xong, dù tốt dù xấu, thì kiến trúc sư cũng chỉ còn có việc là lánh mặt đi.
Vì bạn hãy còn trẻ, cho nên trên cơ sở đã chỉ định cho bạn, bạn chỉ mới xây dựng được mấy lớp đầu cho cái mà sau này sẽ thành Kim tự tháp của bạn. Tôi muốn giúp bạn lợi dụng được những lầm lẫn của tôi. Kim tự tháp của tôi hiện nay không thật đúng như cái như cái mà đáng lý ra nó có thể thành được. Tại sao? Một phần cũng tại tôi đã quá bỏ phí một thời gian không sao lấy lại được. Bạn ngắt lời tôi: " Bỏ phí thời giờ của cụ ư? Thế thì ai là người làm cho mỗi phút thành sáu mươi giây công tác hữu ích hơn cụ?" Bạn đừng nên tin vậy. Đành rằng tôi đã làm việc nhiều đấy, nhưng nhiều khi hoài công. Có biết bao cuộc diễn thuyết, biết bao cuộc du lịch nó nuốt của tôi biết bao nhiêu ngày mà chẳng giúp tôi đặt thêm được viên đá nào lên cái kim tự tháp của tôi cả! Tôi không mắc lỗi tham lam hay vô độ đâu, mà mắc cái lỗi quá nể lòng người khác. Tôi không biết cương quyết từ chối mà chỉ có cách đó mới từ chối được. Tôi cứ ngại làm buồn lòng, mất lòng một người bạn. Nếu bạn muốn xây dựng một công trình lớn lao, dù một công trình văn chương , hay khoa học, chính trị, kỹ nghệ thì bạn phải để hết cả tâm lực và thời giờ vào nó, không được bỏ phí một lúc nào. " Nghệ thuật thì dài: đời sống lại ngắn ngủi" . Proust có thể viết được bộ La Recherche Du Temps Perdu (Đi tìm thời gian đã mất) không nếu tâm trí ông tản mạn? Balzac có tạo nên một thế giới không nếu ông hiến thân cho cái thế giới thực tại? Pasteur, Fleming, Einstein có thể phát kiến được những luật chưa ai biết không nếu không tập trung sự chú ý vào một điểm, như tia sáng laser? Vậy bạn nên lựa cho kỹ cái điểm để tập trung sức lực của bạn vào, rồi một khi đã lựa xong bạn phải kiên nhẫn, bất biến, nhiệt tâm, tiêm nhuệ..
Bạn có thể lựa chọn những mục tiêu mà người khác cho là không xứng đáng với họ... Chỉ cần bạn phải hết sức làm hậu thuẫn cho quyết định của bạn. Bạn bè của Fabre, của Fleming có lẽ cho rằng suốt đời nghiên cứu các con côn trùng, các vi khuẩn là điều kì cục; bạn bè của Valéry không hiểu tại sao Valéry hồi còn thanh xuân, lại bỏ ra bao nhiêu năm gọt đẽo những bài thơ tối tăm. Những thơ và phát minh đó đều bất hủ và tác giả đó cũng bất tử cả. Nhưng kể lể lòng tôi ngưỡng mộ các danh nhân như vậy cho bạn nghe, tôi đã không tự kiềm chế được chăng?
Số phận có lẽ không cho bạn có cơ hội nhập vào hàng ngũ các bậc thiên tài. Dù vậy thì cũng không sao. Dù mục tiêu là gì đi nữa thì qui tắc vẫn không thay đổi. Phải " tập làm những việc nhỏ nhặt nhất theo cái cách lớn lao nhất" . Có một cách lớn lao để điều khiển một hãng buôn hoặc một kỹ nghệ; trong những hành động đó, phải khéo điều hợp sự thận trọng và sự dám làm. Hôm qua tôi đã coi cách làm việc của một chủ tiệm sách còn trẻ tuổi, bị bệnh tê liệt. Về phương diện lựa sách, khuyên bảo khách hàng, vừa yêu một số tác giả, vừa yêu độc giả, về phương diện đó, thày ta đáng gọi là cao đại. Kim tự tháp của thày ta mặc dầu chân nhỏ mà ngọn đã đưa vút lên nền trời của những việc làm kỹ và khéo.
Bạn hiểu chứ ? Mục tiêu không phải là " thành công" theo cái nghĩa tuyệt đối là tạo nên danh vọng rực rỡ. Cái đó may ra thì được thêm - hoặc chẳng may thì phải thiếu.
Mục tiêu là làm thật kỹ cái nghề mà bạn đã lựa.
Ở nhà quê tôi có một vườn trái cây. Người trông nom khu vườn đó đâu có nghĩ tới danh vọng. Nhiệm vụ của chú ta là sản xuất trái bom cho nhiều và trái nào trái nấy cho đẹp, ngon. Chú ta học về lý thuyết rồi lại thực hành bằng thí nghiệm để dự bị cho công việc thật hoàn hảo. Suốt ngày chú ta làm vườn rồi tối đọc những tạp chí về kỹ thuật để theo dõi công việc của người khác, thân mật giao thiệp với người dưới quyền mà khi ra lệnh thì vẫn cương quyết. Chú ta tìm hiểu những khoa học phụ thuộc với khoa học trồng bom. Chẳng hạn chú ta biết hết về công việc giao truyền hoa tinh của các loài ong, về thuật dự đoán thời tiết, về nhiệm vụ của các côn trùng. Không thể có một người quản lý vườn trái cây nào hơn chú ta được nữa. Không ai có thể đòi hỏi chú ta phải làm cái gì hơn được nữa. Bạn cứ làm một việc nhỏ nhặt đi, nhưng làm cho hoàn toàn, theo cái cách lớn lao nhất. Và trong cái nghề của bạn, bạn sẽ thành một vĩ nhân.
Mọi người sẽ biết cái tài của bạn. Vì sự hoàn toàn là điều rất hiếm. Tôi đã thấy những người thợ thủ công làm việc trong cảnh tối tăm không ai biết tới, không có tham vọng nào khác là làm cho khéo, và sau nhiều năm chịu cực khổ, đã được người khác nhận là có tài, thán phục, giúp đỡ. Tôi nghĩ tới ba thiếu nữ trong một trại ở Touraine, không được ai nâng đỡ, không có tiền, mà đã dùng len của cừu do họ nuôi mà đích thân nhuộm rồi dệt thành những tấm thảm có những hình cổ kính và tượng trưng. Họ sống một cuộc đời khó khăn; họ giữ được lòng tin ở khuynh hướng của họ. Một hôm, một hội tên Khuynh Hướng, nhận ra tài năng của họ, giới thiệu họ, quảng cáo cho họ. Thế là họ thắng cuộc.
Tôi không bảo rằng kết cuộc luôn luôn tốt đẹp như vậy đâụ Bernard Palissy cũng đã phát minh được một hình thức mới của cái Đẹp. Ông đã đau khổ vì nó, rồi trong một thời gian đã tưởng mình sẽ được cứu thoát. Về cuối đời ông, vì chính sách ngược đãi tôn giáo (Palissy theo đạo Tin Lành) ông bị bỏ tù rồi chết vì đau khổ. Vậy trong trường hợp đó, có thất bại về phương diện vật chất. Nhưng không thất bại về phương diện tinh thần.
Tôi không thể bảo đảm sự thành công cho bạn được. Nó tùy thuộc sự may rủi cũng bằng tùy thuộc sự làm lụng và tài năng. Nhưng nếu trong mọi hoàn cảnh bạn biết giữ sự đoan chính, phẩm giá con người, lòng can đảm, nếu bạn không chịu nhượng bộ về cái chủ yếu thì không khi nào bạn thực là thất bại đâu. Tôi xin nhắc lại: mục tiêu không phải là " thành công" , là chiếm được " những cái hão huyền" (chữ của Plutarque), mà bất kỳ lúc nào cũng có cái quyền rọi một luồng tia sáng vào cảnh giới trong thâm tâm của bạn và thấy được những lý do để có thể tự đắc về công trình của mình, hoặc nếu không được tự đắc thì cũng không đến nỗi phải xấu hổ. Về già mà được tôn trọng thì thật là một cảnh êm đềm; sự yếu ớt của tuổi già cần có cái sức mạnh đó để được vững tâm. Nhưng nếu vì rủi ro mà bạn thiếu cái đó thì cũng chẳng sao, miễn là bạn có thể tự nhủ: " Trong đời mình, lúc nào mình cũng hành động theo cái lối mà trong thâm tâm mình, mình tin là công bằng nhất, minh trí nhất" . Mục tiêu không phải là đạt cho được cái danh vọng bất hủ. " Cái bất hủ còm cõi, hắc ám và đội vòng nguyệt quế đó." Mục tiêu là làm cho mỗi ngày thành một vĩnh cửu nho nhỏ. Mục tiêu cũng lại là được sung sướng. Montherlant bảo: " Suốt đời tôi, tôi theo hai qui tắc này: luôn luôn làm cái việc mà tối muốn làm đúng vào cái lúc mà tôi muốn làm; luôn luôn để lại hôm sau việc gì tôi không thích làm." Ông ấy sống như vậy và đã sống một cách cao cả, nhưng sở dĩ Montherlant luôn luôn làm được những việc ông muốn làm là vì ông muốn làm những tác phẩm đẹp và đã làm cho xong. Một nghệ sĩ có quyền để lại hôm sau việc gì mình không thích làm. Goethe cũng vậy, luôn luôn bắt đầu làm công việc gì ông cho là dễ nhất. Trong các hoạt động chính tri, binh bị, kinh tế, qui tắc lại khác, vì " thời giờ thì cấp bách mà vũ trụ lại không đợi ta."
Sunday, October 31, 2010 2:46:01 PM
Chúng ta đang sống trong những ngày đầu năm dương lịch nhưng lại là trong tháng cuối của năm âm lịch. Đây thật là những ngày giao mùa, giữa cũ và mới, giữa quá khứ và tương lai, giữa những gì đã qua và những gì sắp đến.
Những ngày giao mùa cũng như những buổi giao thời thường đem đến cho chúng ta những cảm xúc vui buồn lẫn lộn. Vừa bùi ngùi nhìn lại quá khứ nhưng cũng vừa băn khoăn suy nghĩ đến ngày mai. Người lớn tuổi thì thường có khuynh hướng nhìn lại quá khứ nhiều hơn trong khi người trẻ thì hướng đến tương lai. Nhưng dù là hướng về tương lai hay nhìn lại quá khứ, mỗi chúng ta đều có một hiện tại mà mình phải sống và sống như thế nào trong phút hiện tại đó mới là điều quan trọng vì chính phút hiện tại nầy sẽ quyết định cho tương lai và khi đã bước vào tương lai để nhìn lại, cái quá khứ đó lại chính là giây phút hiện tại nầy.
Sống như thế nào trong hiện tại nói đến một triết lý sống, một cái nhìn vào đời sống, nói đến thái độ của chúng ta trong cuộc sống hằng ngày. Cái nhìn của chúng ta vào đời sống, thái độ của chúng ta trước cuộc sống sẽ quyết định mọi suy nghĩ, lời nói và hành động của chúng ta. Thái độ sống đó đến từ con người bên trong của chúng ta. Sống trong một xã hội vật chất, chúng ta dễ bị chi phối vì những yếu tố bên ngoài như tiền bạc, áo quần, nhà cửa, xe cộ... Chúng ta không biết hay quên rằng yếu tố bên trong hay con người bên trong mới quan trọng. Những yếu tố như niềm tin, quan niệm sống, cái nhìn vào giá trị. Đó mới là những yếu tố quyết định. Con người chúng ta là một sinh vật tâm linh, yếu tố vật chất chỉ là một phần nhỏ và vì vậy niềm tin hay lý tưởng sống mới là điều quan trọng, đáng cho chúng ta quan tâm, để ý. Trong những ngày giao mùa nầy, chúng tôi mời quý vị nhìn lại vào đời sống, xem thử mình đang đeo đuổi điều gì và những gì mình đeo đuổi đó sẽ đưa mình đến đâu. Chúng ta cần quyết định khôn ngoan trong phút hiện tại nầy vì nó sẽ quyết định cả cuộc đời và số phận của chúng ta.
Một học giả nổi tiếng trong Kinh Thánh là Thánh Phao-lô. Ông đã một đời khó nhọc chạy theo lý tưởng của mình và ông cũng đã thành công nữa. Nhưng từ khi đối diện với Chúa Giê-xu, đời sống của ông đã thay đổi hoàn toàn, công danh sự nghiệp không còn có ý nghĩa gì nữa vì ông đã tìm thấy ý nghĩa đời sống trong Chúa Giê-xu. Ông thuật lại kinh nghiệm của ông, cũng là lời nhắn nhủ cho chúng ta như sau. Thánh Phao-lô viết: “Tôi cứ làm một điều: quên lửng sự ở đằng sau, mà bươn theo sự ở đằng trước, tôi nhắm mục đích mà chạy, để giựt giải về sự kêu gọi trên trời của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus.”
Lời nói nầy cho thấy cả hiện tại, quá khứ và tương lai trong cuộc đời của Thánh Phao-lô. Hiện tại, ông có một quyết tâm. Ông nói, “Tôi cứ làm MỘT điều.” “Một điều” xác nhận quyết tâm của Phao-lô. Ông có thể bị chi phối hay lôi cuốn vì những điều khác, nhưng ông quyết tâm, chỉ chú tâm vào một điều và chỉ một điều mà thôi. Để có thể sống vui, sống mạnh, chúng ta cũng cần có một quyết tâm như vậy. Quyết tâm đeo đuổi một điều mà thôi, đừng để cho những điều khác chi phối. Có những người có quá nhiều mục tiêu, nay đeo đuổi điều nầy, mai đeo đuổi điều khác, cuối cùng họ chẳng đi đến đâu cả. Chúng ta cần xác định mục đích của đời sống và quyết tâm đeo đuổi mục đích đó.
Trong hiện tại, sứ đồ Phao-lô quyết tâm, còn đối với quá khứ, ông nói ông “quên lửng sự ở đằng sau.” “Quên lửng sự ở đằng sau” hàm ý không còn chú tâm vào những việc đã qua và để cho nó làm mình bận tâm. Con người chúng ta thường có hai khuynh hướng như sau về quá khứ: hoặc là nhớ về quá khứ huy hoàng để nuối tiếc hoặc nghĩ đến dĩ vãng buồn đau để khóc than. Đây là những điều không thiếu trong thơ văn và âm nhạc. Dĩ nhiên chúng ta không phủ nhận cái rung động của tâm hồn khi nhìn về quá khứ, nhưng nếu cứ sống mãi với quá khứ, dù là quá khứ vàng son đi nữa, chúng ta sẽ không đi đến đâu cả. Vì vậy đối với quá khứ, ta có thể luyến nhớ nhưng đừng để cho nó trở thành một thứ hành lý quá tải của đời sống. Sống trong mộng mơ hay đau khổ của quá khứ đều không đem lại lợi ích gì cho đời sống cả.
Đối với hiện tại ta phải quyết tâm, đối với quá khứ ta phải để nó sang một bên. Còn đối với tương lai thì sao? Thánh Phao-lô nói, “Tôi nhắm mục đích mà chạy.” Thật ra cả ba đều có liên quan mật thiết với nhau. Vì có mục đích trong đời sống, ta phải quyết tâm, vì đã quyết tâm ta sẽ không để cho quá khứ hay bất cứ điều gì khiến chúng ta bận tâm. Với mục đích trước mắt, chúng ta chỉ còn một việc để làm, đó là “nhắm mục đích mà chạy.” Đây là hình ảnh của người lực sĩ chạy bộ. Người lực sĩ khi đã tham dự cuộc đua sẽ không để cho bất cứ điều gì làm cho mình bận tâm. Người ấy chỉ có một điều cần làm và phải làm là chạy cho đến đích. Cái đích trong cuộc đời của Thánh Phao-lô là “giựt giải về sự kêu gọi trên trời của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jêsus.” Các lực sĩ chạy đua để được giải thưởng là huy chương hay chiếc vòng bằng lá đội trên đầu, cũng có thể là hiện kim, hiện vật. Nhưng là gì đi nữa, những thứ đó sẽ không còn.
Trong đời sống tâm linh, giải thưởng đó là sự sống vĩnh hằng Thiên Chúa dành cho chúng ta. Sự sống vĩnh hằng không chỉ là sự sống trong cõi đời sau nhưng là một đời sống có ý nghĩa ngay trên trần gian nầy. Và đó chính là điều Thiên Chúa hứa ban cho những người tin nhận Ngài. Chúa Giê-xu phán, “Ta đã đến hầu cho chiên được sống và được sống sung mãn.”
Chúng ta đang sống trong những ngày giao mùa, giữa cũ và mới, giữa quá khứ và tương lai. Bạn đang có cái nhìn như thế nào vào tương lai? Bạn vẫn còn đang tiếc thương quá khứ hay đang có một quyết tâm tích cực cho những ngày trước mắt. Bạn có thấy rằng chung quanh chúng ta lúc nào cũng có những hình ảnh nhắc cho chúng ta nhớ là thời gian đang qua không? Cây kim trên đồng hồ, tờ lịch trên vách, nếp nhăn trên má, những sợi tóc bạc nơi vầng trán... Tất cả cho thấy rằng thời gian đang lạnh lùng trôi và ta không thể níu kéo dù chỉ là một giây, một phút. Trước dòng thời gian đang trôi đó, lúc nào ta cũng có hiện tại, quá khứ và tương lai. Khi bắt đầu nghe câu chuyện nầy, lúc đó là hiện tại nhưng bây giờ đã thành quá khứ. Và giờ phút hiện tại nầy chính là tương lai của những phút trước đây. Nếu thời gian cứ lạnh lùng trôi và trôi nhanh như vậy thì Bạn làm gì với dòng thời gian nầy? Chẳng lẽ chúng ta cứ ngồi nhìn dòng đời lạnh lùng trôi như vậy? Chúng ta cần có một quyết tâm cho hiện tại. Quyết tâm đó là đừng để cho những gì của quá khứ khiến cho ta phải bận tâm, dù đó là quá khứ huy hoàng hay đau thương. Quyết tâm đó là nhắm vào một mục đích rõ ràng cho đời sống. Thánh Phao-lô ngày xưa và hàng tỉ người khác đã tìm thấy mục đích của cuộc đời trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, Đấng đã giáng trần chịu chết vì tội của chúng ta để đem chúng ta trở lại với Đức Chúa Trời yêu thương là Cha của chúng ta. Nhìn lên Chúa, chúng ta sẽ thấy được ý nghĩa của đời sống vì Chúa đã hứa với chúng ta là Ngài đến để cho chiên được sống và sống sung mãn. Bạn đã kinh nghiệm sự sống sung mãn trong Chúa chưa? Đây là lúc cho Bạn suy nghĩ và quyết định vì dòng thời gian sẽ tiếp tục trôi và sẽ đưa Bạn vào cõi vĩnh hằng. Bạn sẽ bước vào cõi vĩnh hằng đó với tràn đầy hy vọng hay chỉ là một viễn ảnh đen tối? Hãy đến với Chúa Giê-xu hôm nay, Ngài đang chờ đợi để ban cho Bạn một cuộc đời có ý nghĩa và một mục đích sống ngập tràn hy vọng.
Mục sư Nguyễn Thỉ
Chương Trình Phát Thanh Tin Lành
Monday, October 25, 2010 3:19:34 AM
Day 10/14/2010
| Creation: NT Style
Read:
Ephesians 1:3-6
He chose us in Him before the foundation of the world. - Ephesians 1:4
When we think about the marvel of creation - how God spoke the universe into existence and formed the earth and everything in it - we think most often of Old Testament accounts.
But it is encouraging to examine the New Testament to see how that part of the Bible refers to creation. Here is a look at some key passages:
"I will utter things kept secret from the foundation of the world" (Matt. 13:35). God reveals things to us that He had kept secret since before creation.
"Come, you blessed of my Father, inherit the kingdom prepared for you from the foundation of the world" (Matt. 25:34). Before the earth was created, God knew each of us - and He knew our future.
"He chose us in Him before the foundation of the world" (Eph. 1:4). Before the work of creation even began, God was aware of each of His eventual children.
These New Testament verses comfort us with the truth that God's knowledge of us and His eternal mysteries about us point toward His special creation of mankind as described in Genesis. We can do nothing but bow in awe before One whose knowledge and creative ability are eternal in nature and boundless in power. Creation: New Testament style - still another reason to give God praise! - Dave Branon
O Lord, how manifold the work
In wisdom wrought by Thee;
The wealth of Thy creative skill
Fills earth and mighty sea. - Anon.
Each person is a unique expression of God's loving design. |
Cuộc Sáng Tạo: Phong Cách Tân Ước
Đọc:
Ê-phê-sô 1:3-6
Ngay cả trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Cơ Đốc. - Ê-phê-sô 1:4
Khi nghĩ tới kỳ quan sáng tạo - cách Đức Chúa Trời tạo ra vũ trụ bằng lời phán, rồi nắn nên trái đất cùng mọi thứ trong đó - chúng ta thường nghĩ trước tiên đến các câu chuyện Cựu Ước.
Nhưng cũng rất nên xem xét Tân Ước để thấy phần này của Thánh Kinh cũng đề cập công cuộc sáng tạo. Sau đây là vài phân đoạn quan trọng:
"Ta sẽ công bố những điều ẩn giấu từ buổi sáng tạo thế gian" (Ma-thi-ơ 13:35). Đức Chúa Trời bày tỏ cho chúng ta mọi điều Ngài vẫn giữ bí mật từ trước khi sáng thế...
"Hỡi những người được Cha Ta ban phước, hãy đến thừa hưởng vương quốc thiên đàng đã chuẩn bị sẵn cho các ngươi từ khi tạo dựng thế gian" (Ma-thi-ơ 25:34). Trước khi tạo nên địa cầu, Đức Chúa Trời đã biết mỗi người chúng ta - và Ngài biết tương lai chúng ta.
"Ngay cả trước khi sáng thế, Ngài đã chọn chúng ta trong Đấng Cơ Đốc" (Ê-phê-sô 1:4). Trước khi bắt đầu công cuộc sáng tạo, Đức Chúa Trời đã biết từng đứa con tương lai của Ngài.
Các câu Kinh Thánh Tân Ước này an ủi chúng ta, khi biết rằng Đức Chúa Trời biết chúng ta, và mọi bí mật đời đời của Ngài liên quan đến chúng ta được bày tỏ qua cách Ngài tạo dựng loài người thật đặc biệt, như đã mô tả trong Sáng Thế Ký. Chúng ta không thể làm gì khác hơn là kính sợ cúi đầu trước Đấng đời đời toàn tri và quyền năng vô bờ trong năng lực sáng tạo cõi thiên nhiên này.
Công cuộc sáng tạo: phong cách Tân Ước - thêm một lý do nữa để ca tụng Đức Chúa Trời! - Dave Branon
Mỗi người là một nét độc đáo
trong bản thiết kế đầy yêu thương của Đức Chúa Trời.
|
Monday, October 25, 2010 3:06:20 AM
Trên ngọn đồi của tiểu bang Missouri, tọa lạc một trường học thôn dã, không có vẻ gì đặc sắc, cũng không tọa lạc trên một xa lộ tối tân để thu hút du khách. Tuy nhiên, trong cái ngôi trường nhỏ bé lại hẻo lánh này, một sự việc quan trọng xảy ra trong cuộc đời một cậu bé ngoan ngoản, vào khoảng mười hai tuổi, và qua đời sống của cậu, đời sống của nhiều người khác cũng được thay đổi.
Ngôi trường thôn dã này thật đông đúc những người dự thính, lắng nghe một cách chăm chú - bên trong nhà trường chật nức những người có vẻ học thức, còn bên ngoài, nhìn xuyên qua cửa sổ, là những người có lẻ làm việc lao động, cũng yên lặng đứng chăm chú nghe giảng.
Tôi được hân hạnh trình bày với đám đông này lời Chúa được tìm thấy trong sách La Mã 10:9 -- "Vậy nếu miệng ngươi xưng Ðức Chúa Jêsus ra và lòng ngươi tin rằng Ðức Chúa Trời đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, thì ngươi sẽ được cứu " Tôi dùng một số minh họa để giải thích ý nghĩa của việc thú nhận tội lỗi được nói đến trong câu kinh Thánh này. Người cảnh sát, mặc đồ đồng phục màu xanh dương, trên ngực có đeo một ngôi sao, thú nhận rằng ông có quan hệ với sở cảnh sát, và nhà chức trách ủy quyền cho ông là người đại diện luật pháp. Người thư mục ngân hàng, với bộ đồng phục màu xanh và tên nhà băng trên cái nón của ông, đã thú nhận rằng ông ta đang với tư cách đại diện cho mốt nhà băng lớn ở trung tâm thành phố. Người lính trong bộ quân phục với cấp bậc trên cổ áo, đã thú nhận ông ta đang phục vụ đất nước và không còn làm chủ chính mình, nhưng thừa lệnh theo ý muốn và uy qưyền của nhân viên cấp trên.
Ở gần cuối phòng của ngôi trường nhỏ này, có một cậu bé khoảng mười hai tuổi đang ngồi đó, đầu tóc rối tung, đang mặt một bộ quần áo vải kiểu chồng vào và che phủ khắp người, có những chỗ bị rách. Có lẻ cậu ta xuất thân từ một gia đình nghèo túng nên có vẻ thiếu tốn những xa hoa và những thứ cần thiết của đời sống. Trong gia đình cậu còn có mười một trẻ con nữa, cha cậu làm việc dọc theo những phân đoạn của đường rày xe lửa. Suốt buổi nhóm cậu bé thật chăm chú lắng nghe. Cậu chưa từng được nghe một sứ điệp truyền giảng như vậy. Có một sự thúc dục trong trái tim nhỏ bé của cậu khi cậu chuyện về Cứu Chúa kêu gọi trẻ em, trai cũng như gái, người lớn nam cũng như nữ hãy đến với Ngài, đặt lòng tin nơi Ngài để được Ngài che phủ dưới bóng của cánh Ngài.
Khi buổi nhóm kết thúc, cậu bé len lõi trong đám đông để tiến đến đằng trước. Cậu phải né tránh dưới những cánh tay và giữa những thân hình của đám đông đang đứng chật cứng trong căn phòng nhỏ, cho đến khi cậu tiến tới chỗ tôi đang đứng.
Vừa nhìn tôi với gương mặt thật hăng hái và một cử chỉ đáng lưu ý, cậu ta nói:"Thưa ông, bao nhiêu tuổi thì một đứa con trai như tôi được cứu?"
Câu hỏi thật hay làm sao? Nhiều người lớn cũng đã từng hỏi như vậy. Nhiều thầy giáo day Trường Chúa Nhật cũng đã bâng khuâng về vấn đề này. Ngay cả những bậc cha mẹ cũng đã từng hỏi về điều này; nhưng tôi chưa bao giờ được hỏi câu hỏi đó từ một cậu bé.
Tôi vội cầu nguyện thầm xin Chúa cho có sự khôn ngoan, rồi choàng tay ôm vai của cậu bé và nói:"Cậu bé, cậu cũng đã đủ lớn để nhận biết Chúa Giê Xu đến thế gian để cứu cậu, và để nói với Ngài rằng Chúa Giê Xu có thể làm chủ đời sống cậu. Cậu có muốn nói với Ngài như vậy không?"
Cậu ta cúi đầu xuống một chút như để khẫn nguyện và rồi nhìn thẳng lên với nụ cười tươi, rồi nói:"Vâng, thưa ông, con tiếp nhận Chúa Giê Xu ngay bây giờ." Chỉ có như vậy thôi! Hội chúng tụ họp nhau để chuyện trò còn cậu bé chẳng bao lâu cũng lẫn lộn trong đám đông.
Sau đó một thời gian, tôi hỏi biết được tên cậu và hỏi thăm thêm về cậu bé Joe, xem cậu có thật sự bước đi với Chúa và tin cậy vào Đấng Cứu Thế cậu mới tìm gặp. Báo cáo cho tôi biết: "Câu bé Joe thật sự đươc cứu. Ai đó cho cậu một cuốn Kinh Thánh. Cậu đem nó theo đến trường học. Cậu để nó trên bàn học cùng với những cuốn sách khác. Trong giờ ra chơi, khi những đứa trẻ khác chơi đùa với những trò chơi khác, cậu bé Joe ngồi dưới bãi cỏ bên cạnh hàng rào, đọc Kinh Thánh và cầu nguyện với Cứu Chúa yêu quý mà cậu đã tìm gặp."
Trãi qua nhiều năm, cậu Joe vẫn còn đem theo cuốn Kinh Thánh của cậu. Cậu học và trở nên thành thạo về Kinh Thánh để cậu có thể nói về nó với những người khác cách công khai hay cá nhân; và qua đời sống tin kính Chúa của cậu, đã minh chứng rõ ràng vào cái đêm đặc biệt đó, cậu thật sự tiếp nhận Chúa Giê Xu Christ vào đời sống của cậu và Cứu Chúa yêu quý tiếp nhận cậu và đang ngự trị đời sống của cậu.
Một cậu bé mười hai tuổi không phải quá trẻ để được cứu, cũng như không quá non nớt để bị hư mất. Tôi mong rằng mọi trẻ em, trai cũng như gái, đọc câu chuyện hay ho này, hãy làm như cậu bé Joe khi trước đã làm, và nói ngay tức thì: "Tôi tiếp nhận món quà của Chúa; tôi tiếp nhận Chúa Giê Xu làm Cứu Chúa vì Ngài đã chịu chết cho tôi "
Cập nhật ( 17/05/2008 )
Saturday, October 23, 2010 5:45:53 AM
Khi nước dâng lên, có một người đứng trên thềm nhà. Có một người khác chèo thuyền tới, nói: Anh hãy lên thuyền, tôi sẽ cứu anh. Người trên nhà nói: Không, tôi tin vào Chúa, Chúa sẽ cứu tôi.
Nước vẫn dâng lên. Người nọ phải dời lên gác hai. Có một người đi xuồng máy tới nói: Anh hãy lên đây, tôi tới để cứu anh. Nhưng người trong nhà vẫn từ chối: Xin cám ơn, tôi tin vào Chúa và sẽ chờ Chúa cứu vớt.
Chẳng mấy chốc lũ lên ngập nhà, người nọ phải đứng trên mái nhà. Một chiếc máy bay trực thăng bay tới, thả dây xuống. Viên phi công bảo người trên mái nhà hãy leo lên. Nhưng người nọ chỉ nói với viên phi công: Tôi tin vào Chúa, Chúa sẽ cứu tôi.
Cuối cùng ngôi nhà ngập hoàn toàn, người nọ lên thiên đường. Anh ta được gặp Chúa, và hỏi vì sao Chúa không cứu anh khi anh đặt hết lòng tin vào Chúa. Chúa bèn nói: Ta đã gửi tới một con thuyền, một xuồng máy và một phi cơ lên thẳng rồi, con còn muốn gì nữa ?
Friday, October 22, 2010 10:09:45 AM
Day 10/6/2010
10/6/2010
|
Sweet Praise
Read:
Colossians 3:12-17
________________________________________
Let the Word of Christ dwell in you richly... singing with grace in your hearts to the Lord. - Colossians 3:16
________________________________________
Several years ago, my husband helped to lead a work crew of high school students on a short-term missions trip to a Christian school in an urban community. Unfortunately, Tom had broken his foot shortly before the trip and was supervising the work from a wheelchair. He was discouraged because he wasn't able to get around as he had hoped.
While he was working on the ground floor, a few of the girls were painting on the third floor. He could hear them singing praise choruses in harmony as their voices echoed down the wide-open staircases. Song after song ministered to him. "It was the most beautiful sound I'd ever heard," he told me later. "And it lifted my spirits."
Colossians 3 reminds us, "Let the Word of Christ dwell in you richly in all wisdom, teaching and admonishing one another in psalms and hymns and spiritual songs, singing with grace in your hearts to the Lord" (v.16). Not only were those teenage girls giving sweet praise to God, they were ministering to a co-worker.
Whatever you're doing today, cultivate an attitude of praise. Whether it is through song or conversation, let your joy in the Lord reverberate to others. You never know who you might encourage. - Cindy Hess Kasper
Our words of praise and songs of joy
Can be a welcomed gift
To those who need encouragement -
Whose spirits need a lift. - Sper
Hope can be ignited by a spark of encouragement.
|
Ngợi Khen Ngọt Ngào
Đọc:
Cô-lô-se 3:12-17
________________________________________
Hãy để Lời của Đấng Cơ Đốc sống sung mãn trong lòng anh em... hãy hát cho Đức Chúa Trời với lòng biết ơn. - Cô-lô-se 3:16
________________________________________
Vài năm trước, chồng tôi giúp hướng dẫn một nhóm học sinh đi chuyến truyền giáo ngắn hạn tới một trường Cơ Đốc trong một cộng đồng thành phố. Chẳng may Tom bị gãy chân ngay trước chuyến đi và phải giám sát công việc từ xe lăn. Anh chán nản vì không đi lại được, như mong muốn.
Trong khi anh đang làm việc ở tầng hầm, vài cô gái đang sơn trên lầu ba. Anh nghe họ hát nhịp nhàng nhiều ca khúc và giọng ca của họ dội vang xuống cầu thang rộng mở. Anh nghe hết bài này tới bài kia. Về sau anh nói với tôi, "Âm thanh thật là tuyệt anh được nghe xưa nay. Nó giúp anh lên tinh thần."
Cô-lô-se 3 nhắc chúng ta, "Hãy để Lời của Đấng Cơ Đốc sống sung mãn trong lòng anh em với mọi điều khôn ngoan, để dạy và khuyên bảo nhau, dùng Thi Thiên, thánh ca và linh khúc để hát cho Đức Chúa Trời với lòng biết ơn" (c.16). Mấy cô thiếu niên đó không chỉ ca ngợi Đức Chúa Trời mà còn phục vụ cho một người đồng công.
Dù đang làm gì hôm nay, cũng hãy rèn luyện thái độ ca ngợi. Dù ca hát hay trò chuyện, hãy để cho niềm vui của bạn trong Chúa vang dội sang người khác. Bạn không bao giờ biết được có thể là mình đang khích lệ ai đó. - Cindy hess Kasper
_
_______________________________________
Hi vọng có thể được châm ngòi bởi tia lửa khích lệ.
|
Friday, October 22, 2010 4:55:20 AM
Câu chuyện ngụ ngôn nầy rất quen thuộc, kể về một ông già làm bạn với gấu. Ông già nọ sống trong cảnh cô đơn không người thân thiết, quanh năm chỉ vui với cỏ cây, núi rừng. Ngày kia gặp con gấu nhỏ, chẳng biết vì sao nó cũng không có cha mẹ hoặc bầy đàn. Thế là họ sống chung với nhau, một lão già và một con gấu, đồng cảm, thương yêu.
Gấu như hiểu được ông già, những gì ông sai khiến, gấu đều vâng theo. Hằng ngày gấu giúp ông những việc vặt, lúc ông ngủ, gấu ngồi canh giữ một cách cẩn thận để ông được yên giấc. Một hôm, ông già mệt nhọc sau buổi sáng đi rừng, ngủ mê man trong giấc trưa, gấu ngồi bên cạnh như thường lệ, thỉnh thoảng giơ tay đuổi ruồi hoặc có khi đập muỗi. Bất ngờ một con ruồi đậu trên mũi ông già, gấu nhiều lần quơ tay đuổi đi nhưng nó cứ đậu trở lại, gấu hết sức tức giận, đâm ra lúng túng, đập ruồi nhưng vẫn cố gắng giữ yên lặng cho ông già ngủ ngon. Ruồi bay lượn nhởn nhơ mỗi lúc như muốn trêu tức gấu thêm, giận quá, gấu cầm cục đá ở gần đó, chờ ruồi vừa đáp xuống, đập thật mạnh. Lần nầy thì ruồi tan xác, nhưng ông già cũng không còn! Gấu ôm lấy ông già với khuôn mặt đầy máu, khóc tức tưởi trong nỗi ân hận không bao giờ nguôi.
Đôi khi chúng ta muốn làm những điều tốt cho nhau, nhưng hóa thành chuyện hại nhau. Có những chủ đích rất tốt, nhưng cách thực hiện lại không tốt. Cuộc sống dễ nảy sinh những hiểu lầm, do vậy cần phải đặt tình thương lên trên hết trước khi giải quyết một sự việc nào. Thiện chí có thể bị ngộ nhận hoặc đánh giá sai, vì thế nếu không sáng suốt nhận định động lực của mỗi hành vi, chúng ta dễ dàng đối xử với nhau một cách tàn nhẫn, mất tin tưởng lẫn nhau. Cần thận trọng ngay cả khi bày tỏ tình thương.
“Lòng yêu thương phải cho thành thật. Hãy gớm sự dữ mà mến sự lành. Hãy lấy lòng yêu thương mềm mại mà yêu nhau như anh em; hãy lấy lẽ kính nhường nhau.” Rô-ma 12: 9-10.
Trích "Chắp Cánh Cho Tâm Hồn Bay Cao"
– Của Dương Quang Thoại.
Wednesday, September 22, 2010 12:46:25 PM
Một người bạn bực dọc than phiền về người thợ xây dựng vừa sửa chữa căn nhà của anh: "Thầy với thợ! Vừa sửa nhà xong, mưa xuống một trận, mái nhà dột lung tung!" Vài ngày sau gặp lại, khi hỏi anh ta: nhà đã hết dột chưa. Anh vẫn ấm ức trả lời: "Sửa lại rồi, nhưng phải chờ mưa xuống mới biết còn dột chỗ nào không." Trong một cuốn sách viết vào năm 1696 có đoạn, "Hoạn nạn đau đớn cho tâm hồn cũng giống như mưa ướt sũng mái nhà. Chúng ta chỉ biết được mái nhà dột chỗ nào khi mưa rơi xuống, những chỗ dột sẽ nhỏ nước. Có lẽ chúng ta không hề biết tâm hồn mình có những nhược điểm nào, cho tới khi mưa gió của hoạn nạn kéo đến, lúc đó chúng ta mới thấy sự vô tín, nóng nảy và sợ hãi lộ diện nhiều nơi."
Nhiều lúc, trong một hoàn cảnh bức xúc nào đó, chúng ta bất ngờ nhận ra những lời nói hoặc hành động xấu xa của mình, mà lúc bình thường không bao giờ chúng ta biểu lộ như thế. Trong những tháng ngày êm ả, chúng ta khó có thể nhận diện một cách đầy đủ bản tánh của mình. Chính hoạn nạn thử nghiệm chúng ta và cho thấy chúng ta thuộc loại Cơ Đốc nhân nào. Nếu áo giáp thuộc linh của chúng ta có khuyết điểm, chúng sẽ lộ ra khi gặp những áp lực, sự căng thẳng và khó khăn. Tuy nhiên, chúng ta không nên quá lo sợ, bởi lẽ chính Cha yêu thương đã cho phép những dòng nước tràn tới, không phải để nhấn chìm mà là thanh tẩy và giúp chúng ta phát hiện được đời sống mình cần phải sửa chữa những chỗ nào. “Nhà” bạn đã trải qua một "cơn mưa" tầm tã nào chưa? Bạn có nhận thấy những chỗ "dột" trong bản tánh mình không? Bạn đã từng bực bội, giận dữ, mất đức tin, sợ hãi hoặc nổi loạn chưa? Hãy biết rằng Đức Chúa Trời đã đặt bạn trong hoàn cảnh ngặt nghèo ấy để bạn biết được nhu cầu thuộc linh của mình. Bằng sự cầu nguyện, đức tin và đầu phục Thánh Linh, hãy sửa chữa "những chỗ dột."
"Khi ngươi vượt qua các dòng nước, Ta sẽ ở cùng; khi ngươi lội qua sông, sẽ chẳng che lấp. Khi ngươi bước qua lửa, sẽ chẳng bị cháy, ngọn lửa chẳng đốt ngươi." Ê-sai 43:2.
Trích "Chắp Cánh Cho Tâm Hồn Bay Cao"
– Của Dương Quang Thoại.
Tuesday, September 21, 2010 5:48:33 PM
Hallelujah (lyrics)
I've heard there was a secret chord
That David played, and it pleased the Lord
But you don't really care for music, do you?
Well, it goes like this, the fourth, the fifth
The minor fall, the major lift
The baffled king composing Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Well, your faith was strong but you needed proof
You saw her bathing on the roof
Her beauty and the moonlight overthrew you
She tied you to a kitchen chair
She broke your throne, she cut your hair
And from your lips she drew the Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Well, baby, I've been here before.
I've seen this room, and I've walked this floor.
I used to live alone before I knew you.
But I've seen your flag on the marble arch,
And love is not a victory march,
It's a cold and it is a broken Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Well, there was a time when you'd let me know
What's really going on below,
But now you never show that to me, do you?
But remember when I moved in you,
And the Holy Ghost was moving too,
And every breath we drew was Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Well, maybe there is a God above,
But all that I've ever learned from love
Was how to shoot somebody who outdrew you.
It's not a cry that you hear at night,
And it is not somebody who has seen the light
It's a cold and it is a broken Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah, Hallelujah
Hallelujah
Hallelujah
Wednesday, September 15, 2010 12:16:46 PM
Một người giàu có trong làng hấp hối. Cách đó ít ngày ông bị tai biến mạch máu não, á khẩu và liệt bán thân dưới. Tình trạng nghiêm trọng đến nỗi gia đình nghĩ rằng ông không thể qua khỏi, các Bác sĩ cũng cho biết như thế. Một vị Linh mục trong giáo phận được mời đến.
Read more...
Tuesday, September 14, 2010 10:00:42 AM
7/21/2010| Hope
Read:
Psalm 23
You are my hope, O Lord God; You are my trust from my youth. - Psalm 71:5 |
Read more...
Tuesday, September 14, 2010 9:56:31 AM
Ngày xưa, tại quảng trường trung tâm thành phố Nhã Điển - Hy Lạp, thường có một nhà hiền triết rất thông thái đến ngồi,...
Read more...
Wednesday, September 8, 2010 4:18:03 PM
Một anh nọ thất nghiệp lâu ngày tìm việc mãi chưa ra. Đọc báo thấy sở thú trong thành phố cần người gấp, anh liền tới xin việc và được chấp thuận.
Read more...
Thursday, September 2, 2010 3:06:33 AM
8/31/2010|
Common Language
Read:
Acts 17:22-32
As I was... considering the objects of your worship, I even found an altar with this inscription: To The Unknown God. - Acts 17:23 |
Read more...
Thursday, September 2, 2010 2:56:06 AM
Tạp chí The Hope Health Letter số tháng 10/1995 đã đăng câu chuyện sau. Có một người đàn ông sống với vợ, hai con, và cha mẹ già trong một túp lều nhỏ bé. Ông ta cố gắng chịu đựng và sống hòa nhã, nhưng vì nhà đông người quá, tiếng ồn ào và sự chật chội đã làm ông không còn đủ kiên nhẫn.
Trong sự bức bách của cơn tuyệt vọng, ông đến gặp Già Làng để xin ý kiến. Già Làng hỏi, "Nhà ông có con gà trống không?" Người đàn ông đáp "Dạ có." - "Thế thì hãy đem con gà đó vào trong túp lều, sống chung với gia đình ông và tuần sau trở lại đây gặp tôi."
Read more...
1 2 3 4 5 ... 9 Next »