Một Chiều Mùa Đông
Wednesday, March 18, 2009 3:01:20 AM
1.
Mùa đông Hà Nội năm nay lạnh hơn mọi năm. Người mỏng và nhẹ như lá vón rạt sang hai bên vệ đường trắng khô của cái ống phố dài hun hút. Cái phố này rất quen thuộc với tôi từ năm tôi mới 12 tuổi, phố của gia đình công chức, nhà một tầng, cửa hẹp, luôn đóng kín. Sau chín năm đi kháng chiến trở về Hà Nội, đi bộ qua phố cũ vẫn thấy vắng vẻ như xưa, có thêm mươi cái nhà hai tầng lợp ngói, có rào sắt và cổng sắt. Trên ba chục năm sau vẫn là một phố không có buôn bán nhưng có thêm mấy tòa nhà tường quét vôi vàng, cửa sơn màu nâu của cơ quan nhà nước và một khu tập thể bốn tầng quần áo phơi giăng cả ngày từ tầng thấp đến tầng cao. Bây giờ cái phố cũ đã từng ngủ vật vờ trên nửa thế kỷ bỗng chốc thay đổi đến kinh ngạc. Nhiều chủ cũ bán nhà, cầm cả mấy trăm cây vàng đến sống ở phố khác. Những nhà còn ở lại là con cái có tiền, dùng một phần tiền trả cho những hộ ở chung để họ chịu đi nơi khác, phần tiền còn lại để phá nhà cũ xây nhà mới. Đủ các kiểu nhà, thoạt nhìn thì đẹp và lạ, nhìn lâu cũng hơi buồn cười, từng nhà và cả phố đều hơi buồn cười. Và lác đác có mươi nhà vẫn để nguyên như cũ, tồi tàn, nhơ nhớp như những đống rác còn sót lại của một cuộc di chuyển lớn. Có một ngôi nhà cũng tồi tàn như thế, vẫn có nhiều hộ cùng ở chen chúc như ngày xưa, đặt một cái bàn bán nước chè đóng bằng ván thùng ở ngay lối ra vào cửa chính, một cái ghế dài cao lênh khênh, không lấy gì làm chắc, kê hẳn xuống hè đường cho khách ngồi, và không có ai bán hàng cả. Cái vẻ tiều tụy, buồn bã của một ngôi nhà giữa một đường phố đang thay đổi nhanh, đang giàu có nhanh khiến tôi phải lưu ý và muốn ngồi lại ít phút để uống một chén nước dầu tôi không khát. Vẫn có người coi hàng nhưng ngồi lui ở phía trong. Một bà cụ ngồi trên cái ghế xích đu bằng mây, phủ lên nửa người cái chăn dạ Nam Định cũ màu đỏ sẫm có đường kẻ đen. Bà lão nhìn tôi rồi gọi vọng vào gian trong:
- Dung ơi, có khách !
Một người đàn bà trạc bốn chục tuổi, tóc uốn, gầy nhỏ như đứa trẻ, mặc cái áo len dài tay màu huyết dụ, quần vải hoa, đi guốc bước ra. Chị ta hỏi :
- Ông uống nước ?
Tôi chợt nhìn có cái lọ thủy tinh đựng lạc rang liền hỏi:
- Nhà có bán rượu không ?
- Ông uống rượu trắng hay rượu thuốc ?
- Tôi xin một chén rượu trắng và một đĩa lạc.
Tôi vốn không uống được rượu nhưng dạo này có tuổi cũng thích uống một chút vào bữa cơm chiều, vả lại trời đang rét, uống chút rượu cũng rất khoan khoái vì hơi ấm dần dần lan tỏa khắp người. Quái, cái bà lão này là ai mà thoạt nhìn tôi đã ngờ ngay là người tôi rất quen. Mặt hơi to và vuông, miệng rất rộng, hai cánh tay dài, chân cũng dài, là người cao và to xương, là ai nhỉ ? Là ai mình đã từng gặp không chỉ một lần mà nhiều lần. Rượu rất êm và thơm, hạt lạc tròn có mùi húng lìu, vỏ mỏng bong ra trong lòng bàn tay nóng giẫy. Lạc để trong lọ là bày hàng, còn khi bán cho khách lại lấy từ trong cái túi vải cũ ủ kỹ dưới mấy lớp chăn. Phải có nhiều khách uống quen mới có loại rượu này và rang lạc kiểu này. Một buổi chiều vớ vẩn nhờ có một chén rượu và một đĩa lạc thơm ngon mà buộc phải nhớ mãi. Huống chi còn có một gương mặt lúc quen lúc lạ ẩn hiện trong vùng ký ức lòe nhòe, hỗn tạp. Bà lão vẫn ngồi lắc lư trên chiếc ghế xích đu, hai bàn tay có những đốt ngón dài đan vào nhau đặt lên bụng, mắt nhìn lơ mơ phía trước. Cái miệng móm với đường môi mỏng khẽ mím lại như một nụ cười bí hiểm. Một đứa bé gái khoảng 7, 8 tuổi mặc bộ quần áo sợi dệt màu tím sẫm từ trong nhà chạy ra, ngả đầu vào vai bà cụ, một tay choàng qua cổ, nói nhõng nhẽo : "Con học xong rồi, bà cho con đi chơi nhá !" Một giọng nói từ trong bóng tối : "Chơi thì chơi nhưng đừng có phá nhà người ta quá, nghe chửa !" Con bé mở tròn mắt nhìn sâu vào phía trong góc : "Con nghe lời ông mà". Bà lão cười móm mém: "ờ, cái Dung con ngoan, nhà ấy có chó đẻ, chớ nghịch con nó mà mẹ nó cắn đấy". Cái giọng rất trầm, hơi khàn, như giọng đàn ông, trời ơi, tôi đã nhớ ra rồi, bà T., đúng là bà T., bà vẫn còn sống sao ? lại tàn tạ, vất vả đến thế sao ?
Tháng 8 năm 1955, tôi được về Hà Nội để viết truyện anh hùng quân đội. Sau chín năm xa cách, trở lại thành phố nơi tôi sinh ra và lớn lên nhìn vào cái gì cũng nhỏ. Hồ Gươm như cái ao lớn. Đường phố chật hẹp, nhà thì thấp và tối. Chả là đã quen nhìn núi cao, sông rộng và những vùng đồi núi mênh mông nên thành phố thuở ấu thơ bỗng nhỏ hẳn lại, như một thứ đồ chơi. Ngồi trên cái tàu điện, có chuông kêu lanh canh mỗi lần đỗ, tự mình cứ cười với mình mãi, vì nó cũng bé tí, xinh xẻo, cũng chỉ là một thứ đồ chơi. Trò chuyện với người thân trong gia đình, với những người mới quen biết, là những người của Hà Nội, người của đô thành, cứ thấy họ thớ lợ, giả dối thế nào, uốn éo, mỏng mảnh thế nào, nói thì thế nhưng chưa hẳn đã nghĩ thế. Người đến từ cái thế giới cao rộng, ở đó người ta coi cái nghĩa lớn còn trọng hơn cả tính mạng, tài sản, cảm thấy vướng chật quá, vừa thích thú với những cái lạ, vừa khó chịu vì những cái lạ.
Chỉ có hai lần là tôi bị choáng váng trước sự khác biệt giữa "mình" và "họ", giữa tuổi trẻ kháng chiến, tự nó đã là một vẻ đẹp tự nhiên và hoang sơ với cái đẹp đã được trau chuốt bởi văn hóa và sự từng trải của tầng lớp thượng lưu ở đô thành. Lần đầu là ở nhà hát lớn, thời trước gọi là nhà hát tây. Tôi tuy là dân Hà Nội, nhưng từ nhỏ tới lúc ra đi kháng chiến, chưa từng một lần đặt chân lên bậc thềm của tòa nhà nguy nga này. Đứng giữa những chùm đèn sáng rực rỡ, giữa những đồ trang sức chói lòa trong mái tóc, ở đuôi tai, quanh cổ và ngón tay, cổ tay của các cô các bà cùng với màu cà vạt, các vệt sáng của kim gài của các quý ông, cái bộ quần áo quân đội mùa hè đã bạc của tôi và đôi dép lốp mòn kháng chiến là rất không đúng chỗ. Tôi cảm nhận được ngay điều đó và đứng lùi hẳn vào một góc làm người ngắm nhìn cái mặt váng lấp lánh của Hà Nội. Xin nhắc lại, lúc này là tháng 9 năm 55, người Hà Nội vẫn còn giữ nguyên vẹn cách ăn mặc trang nhã, lịch sự đã từng được những người sành ăn mặc trong cả nước ngưỡng mộ. Trong đám đông sang trọng đó tôi đặc biệt chú ý một bà tóc uốn cao, trạc tuổi bốn mươi, mặc áo nhung tím, một sợi dây rất nhỏ có màu sáng trắng đeo quanh cổ và cái ví nhỏ cũng màu tím cầm tay. Bà ta đang nói chuyện với mấy người đàn ông tóc bạc, nói rất ít, thỉnh thoảng lại cười nhẹ, một nụ cười mê hồn vì hàm răng hơi hô nhưng vòng răng rất tròn, nhỏ và đều như hạt bắp nếp. Sau này tôi mới biết bà là tiến sĩ luật khoa tốt nghiệp ở Pháp và còn là một tay đàn dương cầm nổi tiếng của Hà Nội lúc bấy giờ. Người giàu có, sang trọng và đẹp như thế mà dám ở lại với chúng tôi sao? Chỉ như thế thôi tôi đã rất quý mến bà, luôn luôn quan tâm đến bà cho tới ngày bà bị bạo bệnh và mất tại Hà Nội. Tất nhiên hai chị em tôi chưa từng một lần trò truyện, tôi biết bà nhưng bà đâu có biết tôi và sự ngưỡng mộ từ xa của tôi trong nhiều chục năm.
Lần thứ hai là đi xem một vở kịch ở rạp hát hàng Da. Tôi và hai người bạn cùng cơ quan ngồi ở hàng ghế thứ hai. Hà Nội đã vào cuối thu, mùa thu đầu tiên của Hà Nội vừa được giải phóng. Buổi tối trời hơi se lạnh, sương mù giăng trên các tán cây mờ mờ trắng trong ánh sáng điện vàng như hơi khói. Chuông bắt đầu reo lần thứ nhất chợt có một cặp vợ chồng bước vào đứng sát ngay hàng ghế chúng tôi, đợi người soát vé tìm hàng và số ghế. Người đàn bà rất cao, tóc uốn bỏ xõa trên bờ vai vuông, mặc cái áo dài hàng len mỏng màu huyết dụ. ở cổ tay đeo một cái vòng trắng lấp lánh những hạt ngọc nhỏ hay kim cương gì đó. Người đàn ông gầy mỏng mặc âu phục đen, thắt nơ đen, cũng là người có dáng cao nhưng vẫn thấp hơn người đàn bà chút xíu. Khi người xếp ghế mời hai người lên hàng ghế đầu thì người đàn bà nói nhỏ nhưng tôi nghe vẫn rõ vì giọng bà ta rất trầm, hơi khàn như giọng đàn ông : "Ngồi gần quá là khó xem lắm". Rồi bà ta quay mặt về phía tôi, đưa mắt nhìn lướt cả hàng ghế thứ hai và thứ ba. Một gương mặt đẹp đến choáng ngợp, uy hiếp, chinh phục. Từ nhỏ tới lúc ấy chưa bao giờ tôi được biết một vẻ đẹp kiêu kỳ, khiêu khích đến thế. Cặp vợ chồng ngồi hàng ghế đầu hơi chếch về phía phải. Chúng tôi ngồi hàng ghế thứ hai hơi lui về phía trái nên suốt buổi diễn tôi không thấy được gì, không nghe được gì như người vừa điếc vừa mù vì đã dồn hết mọi giác quan của mình về phía gương mặt xa lạ mà thân thuộc luôn luôn quay nghiêng về phía người chồng thầm thì những gì đó. Tôi còn gặp lại bà nhiều lần sau giữa giới nghệ sĩ của thủ đô với anh em văn nghệ ngoài kháng chiến về. Một gương mặt thô với đôi lông mày dài và đậm, cặp mắt cũng dài, hơi xếch, gò má cao, cái miệng rộng, hàm răng đều và to. Lại thêm một dáng người rất cao, vai vuông, nhưng đi lại mềm mại, uyển chuyển như con báo. Tất cả đều khác thường, đều phân biệt với mọi người đàn bà khác, ngược lại với mọi tiêu chuẩn đẹp của đương thời, mà lại đẹp, đẹp nguy hiểm, đẹp chết người. Hỡi ôi, một thằng thanh niên mới 25 tuổi, cũng chỉ là một thằng bé con thôi, mà mơ mộng lắm thế, không biết tự cười mình một chút sao ! Nói cho thật, từ cái buổi tối hôm ấy cho đến tận hôm nay, tôi đã là một ông già, chưa lần nào tôi được chạm mặt lại với một vẻ đẹp chói lòa, như một nhát búa đánh mạnh vào đầu khiến mình bất tỉnh nhân sự. Từ giây phút ấy tôi không còn là tôi nữa, chỉ là cái vỏ rỗng không, nhẹ bỗng, bay lơ lửng quanh cái vệt sáng ma quái không có cách gì tự bứt ra khỏi như trong những giấc mơ khủng khiếp thuở còn nhỏ. Người đàn bà đó chính là bà T., nghệ sĩ kịch nói, nổi danh một thời của Hà Nội tạm chiếm. Ông chồng bà là đạo diễn kịch, là đứa con tài năng và hoang toàng của nghệ thuật, thuộc về cái thế giới nửa tỉnh nửa say, nửa tối nửa sáng của những kẻ sự nghiệp chưa thành.
2.
Những kẻ quen sống hoang dã của một vùng đất tự do là nghệ thuật nay phải sống trong một xã hội đang ôm cái mộng lớn tự hoàn thiện một cách nghiêm ngặt tất nhiên là phải chịu nhiều khốn khó rồi. Tôi chưa bao giờ được là nguời bạn nhỏ của họ, cũng chưa từng được trò chuyện với họ lần nào nên mọi chuyện về họ những năm sau này tôi chỉ được nghe nói lại, cũng chẳng rõ thực hư ra sao. Trong những năm Hà nội phải sơ tán, tình cờ tôi có được gặp lại bà một lần, cũng vào một buổi chiều, trời hơi se lạnh. Tôi ngồi uống nước trà ở một cái quán, vừa quay mặt lại thì nhìn thấy bà T. từ một góc phố đi tới. Bà mặc cái áo cánh bông bằng vải hoa màu tím cũ, quần thâm và đi dép nhựa. Bà đã già đi nhiều, năm ấy cũng phải ngoài năm mươi, vẫn là một bà già đẹp nhưng chỉ là cái đẹp đời thường, mất hẳn cái quầng sáng huyền bí ngày xưa. Bà cũng đưa mắt nhìn thoáng tôi, con mắt to và dài nhưng đã bạc, đã trống rỗng. Mới mười mấy năm chứ mấy mà đã là hai kiếp người! Buồn nhỉ! Năm ấy tôi mới bốn chục tuổi nhưng đã thoáng cảm nhận được cái buồn của một đời người. Tất nhiên là chỉ buồn một thoáng, bằng linh cảm mà buồn chứ chưa phải bằng sự từng trải mà buồn. Từ ngày đó cho đến nay lại một phần tư thế kỷ trôi qua, chiến tranh đã kết thúc từ hai chục năm trước, cái sự hoàn thiện về mặt đạo đức của cá nhân và xã hội xem chừng còn phải mất một thời gian nữa, cũng phải khoảng dăm bảy chục năm nữọa.
Tôi đã uống tới chén rượu thứ hai, đã lấy thêm một đĩa lạc, đầu óc đã chuếnh choáng , cái khoảnh khắc bắt đầu hơi say thật là tuyệt, vui vô cớ một chút, buồn vô cớ một chút, rất dễ xúc động và những kỷ niệm xưa chợt hiện về rất rõ ràng. Bà lão bỗng quay mặt nói với ai đó trong bóng tối: "Ông đi một mình hay bọn nó đến đón?" Người trong bóng tối nói ồm ồm: "Có một quãng đường đưa đón gì, lát nữa tôi đi". Tôi đưa chén rượu nhấp một ngụm nhỏ, nhìn chăm chú cái góc tối có tiếng nói. Một hình người đội mũ dạ, râu quai nón để dài đang hí hoáy gọt đẽo một vật gì đó trên tay. Chắc là ông T. rồi. Tôi nghe nói những năm sau này ông học được nghề mộc, đóng được hàng mộc cao cấp, lại thêm một nghề phụ rất hợp với ông : đẽo gọt ngưòi và thú trên các rễ cây. Ông đã có một cuộc triển lãm nhỏ về loại hình nghệ thuật này được bạn bè và công chúng rộng rãi rất hâm mộ. Cũng lạ nhỉ? Một thời trẻ trung làm nghệ thuật dưới ánh đèn chói lòa thì chỉ là một con bướm sặc sỡ. Còn những năm sau này làm nghệ thuật trong cô đơn, trong bóng tối với rất nhiều buồn tủi thì lại đạt tới cái thần diệu của một nghệ thuật đích thực.
Tôi đã uống gần hết chén rượu thứ hai. Phải đứng lên thôi. Hình như đã bắt đầu say thật rồi. Hai ống chân nhẹ bẫng, cái đầu cũng nhẹ bẫng. Trời đang tối dần và bỗng rét ghê gớm. Hay tại hai chén rượu vừa uống mà cảm thấy rét hơn lúc bắt đầu uống. Bà lão, nữ thần sắc đẹp của một thời trai trẻ, vẫn ngồi lắc lư trên cái ghế xích đu, mớ tóc như trắng hơn, da mặt lợt lạt, mắt hơi nhắm lại, cái miệng rộng và cặp môi mỏng hơi lõm vào, phảng phất như một cách cười ngạo đời.
Năm tháng đã qua đi nhưng vẫn còn lưu lại mùi hương đã nhạt của một thời, cả những vệt nước mắt vừa khô của một thời.





