My Opera is closing 3rd of March

CHƯƠNG TRÌNH SPARK - HỖ TRỢ SÁNG KIẾN XÃ HỘI

Liên lạc: Hoàng Ngọc Hùng - DĐ: 0989.077.120 email: hotrosangkien@yahoo.com

VỤ LỢI - VỊ THA

Hài hoà lợi ích - phát triển bền vững

Đạo đức kinh doanh

Chẳng phải vô cớ mà khoảng 15 năm nay một ngạn ngữ Ấn Độ được lưu truyền trong giới doanh nghiệp ở các nước phát triển: “Gieo hành vi gặt thói quen, gieo thói quen gặt tư cách, gieo tư cách gặt số phận”. Điều này hàm ý: Sự tồn vong của doanh nghiệp không chỉ đến từ chất lượng của bản thân các sản phẩm - dịch vụ cung ứng mà còn chủ yếu từ phong cách kinh doanh của doanh nghiệp. Tóm gọn: Hành vi kinh doanh thể hiện tư cách của doanh nghiệp, và chính tư cách ấy tác động trực tiếp đến thành bại của tổ chức! Đạo đức kinh doanh, trong chiều hướng ấy, trở thành một nhân tố chiến lược trong việc phát triển doanh nghiệp.

Muốn “vị lợi” phải “vị nhân”
Điều này trái với cách tiếp cận của kinh tế học “cổ điển” vốn cho rằng mục đích duy nhất của doanh nghiệp là tìm kiếm lợi nhuận, vì thế vấn đề đạo đức - theo nghĩa “vị nhân bất vị lợi” - không thể đặt ra trong kinh doanh: Bản thân hoạt động doanh nghiệp là “phi đạo đức”, trong nghĩa đạo đức không phải là phạm trù quan tâm của doanh nghiệp (vì nó không mang ích lợi thiết thực cho doanh nghiệp, chứ không phải có ý rằng doanh nghiệp là thực thể “vô đạo đức”).

Luận điểm trên hiển lộ giới hạn của nó khi nhiều nhà kinh tế học đã xác minh rõ bản thân doanh nghiệp là một thiết chế xã hội mang tính tổ chức cộng đồng vận hành bởi các động cơ thoát thai từ những quyền lợi thuộc nhiều lĩnh vực của các thành viên liên quan. Và cộng đồng ấy, muốn đáp ứng một cách hiệu quả lý do tồn tại của nó - nghĩa là sản sinh lợi nhuận cần thiết cho việc tái tạo mở rộng doanh nghiệp - lại phải nhìn nhận là thành phần nội bộ cũng như các đối tác bên ngoài của nó không chỉ đơn thuần là những tác nhân kinh tế mà còn đồng thời là những thành viên của một hợp quần xã hội. Nói gọn, theo nhiều lý thuyết mới trong kinh tế học, doanh nghiệp muốn đạt đến mức tối đa mục tiêu của nó là “vị lợi” thì chí ít phải biết thế nào là “vị nhân”!

Hoạt động của doanh nghiệp, theo đó, muốn có hiệu năng tối ưu, phải được chu toàn trong sự tổng hòa những hành vi chiến lược bao gồm chủ yếu ba cấp độ trách nhiệm mà giới chuyên ngành gọi là bổn phận kinh tế, luân lý và đạo đức.

Bổn phận kinh tế của doanh nghiệp là sản xuất và cung ứng hàng hóa - dịch vụ để có được lợi nhuận cần thiết. Nhưng bổn phận ấy chỉ thật sự hoàn thành khi lợi nhuận được phân bổ đúng đắn cho việc phát triển doanh nghiệp và phân phối đồng thời cho tất cả các thành viên liên quan nhằm không chỉ góp phần trực tiếp vào việc mở rộng sự tái tạo vĩ mô của các thành viên ấy mà còn gián tiếp vào sự tái sinh mở rộng xã hội. Vì thế, bổn phận kinh tế phải đi liền với bổn phận luân lý của doanh nghiệp, hiểu theo “nghĩa tối thiểu” là doanh nghiệp phải tuân thủ nền luân lý xã hội được thiết chế trong những quy định pháp lý của Nhà nước. Theo “nghĩa tối đa”, bổn phận trên chỉ được cáng đáng hoàn chỉnh khi doanh nghiệp không chỉ tôn trọng pháp chế mà còn góp phần vào việc pháp điển hóa những quy tắc kinh doanh thuận lợi cho việc phát triển môi trường sống của xã hội (nôm na là góp sức vào việc xây dựng một “môi trường kinh tế rộng mở cho xã hội” chứ không phải là thủ thế độc quyền trục lợi hay/và thừa cơ “luật hở thì lách”!). Bổn phận đạo đức của doanh nghiệp được minh chứng thông qua những hành vi mang tính chất “tự nguyện”, nghĩa là những hoạt động “vị nhân” không nằm trong khuôn khổ các đòi hỏi thuộc bổn phận kinh tế và luân lý. Tính chất vừa nói cũng không nằm trong các “chương trình đóng góp từ thiện của doanh nghiệp” - thực chất vốn chỉ là những “hành xử quan hệ công cộng/PR” - mà khởi nguyên được thể hiện bởi sự ràng buộc giữa doanh nghiệp với chính lương tâm của nó trong việc thực hiện các hoạt động kinh doanh đối với tất cả mọi đối tác. Thí dụ: dựa vào sự bất đối xứng thông tin trong một cơ chế kinh tế tập quyền nhằm huyễn hoặc người tiêu dùng thì doanh nghiệp có thể không vi phạm luân lý xã hội - vì pháp chế không ngăn cấm - nhưng lại là một hành vi vô đạo đức trong kinh doanh vì mang tính chất “phỉ báng lương tâm nghề nghiệp”!

“Mô hình 3c”
Chính là dựa vào đường hướng trên mà “mô hình 3C” được định hình để xét về “mức độ đạo đức” trong hành vi của doanh nghiệp. Đó là “Conformity”, nghĩa là có đúng theo những chuẩn mực và quy tắc được định chế hóa trong các lĩnh vực kinh tế và luân lý xã hội hay không. “Contribution” có mức độ cao hơn theo nghĩa có đóng góp gì trong việc tái tạo môi trường sinh thái của xã hội nói chung và của cá nhân con người nói riêng. “Consequence” nêu vấn đề theo hướng biện chứng, nghĩa là xem xét hệ quả của việc thực hiện hai “C” đầu tiên.

Nếu ở phương diện vĩ mô các phương cách tiếp cận trên đã mở hướng cho việc kết hợp tính nhân văn trong hoạt động kinh tế (và minh chứng rằng kinh tế không phải là một hành vi thuần túy tính toán “tiền vào tiền ra”), thì ở lĩnh vực vi mô, còn phải thuyết phục các nhà quản trị doanh nghiệp về lợi ích cụ thể của việc ứng dụng đạo đức trong kinh doanh.

Đó là công dụng của luận cứ “Ethics Pays” (“Đạo đức được trả công”) cơ bản như sau: thực hiện những hành vi mang tính đạo đức kinh doanh không nhất thiết luôn luôn phải có những chi phí kèm theo. Ngược lại, mọi hành vi vô đạo đức trong kinh doanh đều luôn luôn, không chóng thì chầy, chịu cái giá phải trả, và giá ấy thường là rất đắt so với cái lợi đã thu được.

Hai giải Nobel về kinh tế học năm 1994 và 2005 đánh dấu cho việc triển khai quan niệm trên: “Trạng thái cân bằng của Nash” minh chứng là trong một thị trường cạnh tranh, điểm “cân bằng tối ưu” chỉ có thể hình thành trên cơ sở của sự liên kết hoặc/và sự tin tưởng giữa các đối tác chứ không thể trên nền tảng của sự lừa dối lẫn nhau. “Lý thuyết trò chơi”, của Schelling và Aumann, xác nhận là trong cạnh tranh kinh tế nếu mỗi đối tác đều mù quáng chạy theo quyền lợi riêng tư của mình thì rốt cuộc tất cả đều bị thua thiệt nặng nề. Hơn nữa, tôn trọng luân lý xã hội và thực hiện đạo đức trong kinh doanh chính là những hành vi đầu tư vào sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Ngược lại, vô luân và vô đạo trong kinh doanh là những hành vi triệt tiêu niềm tin và chỉ có thể là loại “đánh quả” của những tác nhân trông mong duy nhất vào việc “hạ cánh an toàn”.

Trong thời buổi mà “thương hiệu mạnh” được nhìn nhận như một công cụ tạo lợi thế cạnh tranh đặc thù cho doanh nghiệp, “niềm tin” càng trở nên cần thiết. Trong quản trị kinh doanh, khái niệm ấy có nghĩa chính xác: đó là sự “suy đoán rằng trong những sự cố, tình huống bất ngờ và đột xuất, đối tác giao dịch sẽ hành xử theo những nguyên tắc có thể chấp nhận được, nghĩa là không ngược lại với những tiên liệu trong lĩnh vực luân lý xã hội và đạo đức nhân quần”. Nói gọn, thương hiệu là hình thái thiết lập quan hệ doanh thương dựa trên một mức độ tin cậy, và cơ sở của sự tin cậy lại chính là “niềm tin vào tính luân lý và đạo đức” của doanh nghiệp. Do đó đạo đức kinh doanh trở thành nền tảng cho việc xây dựng thương hiệu “thật sự mạnh”, nghĩa là có được sự sâu đậm trong việc “chia sẻ tâm trí” với người tiêu dùng song hành với sự “chiếm lĩnh thị phần”!

Vấn đề cuối: theo xã hội học kinh tế, khi nhân viên của công ty sai phạm trong ứng xử, khuynh hướng chung vẫn cho đấy là thiếu sót thuộc về “văn hóa doanh nghiệp”. Nhưng khi lãnh đạo công ty phạm sai lầm, nhất là sai lầm có chủ đích, xu hướng đa số lại thường nhận định đấy là khiếm khuyết về “đạo đức kinh doanh”: thành quả của tổ chức phụ thuộc vào các giá trị của văn hóa công ty, trong khi thành tích của lãnh đạo lại nằm ở diện đạo đức kinh doanh. Vì thế mà trong ngành quản trị kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp thuộc vào loại “cơ chế phòng ngự” củng cố tổ chức nội bộ và đạo đức kinh doanh lại nằm ở lĩnh vực “mô thức tiến công” trong việc đối ngoại của công ty. Hiểu được điều này tất sẽ rõ vì sao chiều hướng phổ biến lại đề cao “văn hóa doanh nghiệp” mà ít nói về “đạo đức kinh doanh”: khái niệm đầu liên quan đến “thuộc hạ”, khái niệm sau chú trọng đến vai trò của “sếp”, và khi bản thân “sếp” vốn đã không “tử tế, đàng hoàng” lắm thì chẳng ai dại mà luận bàn về “đạo đức kinh doanh”!

Chiều hướng phổ biến lại đề cao “văn hóa doanh nghiệp” mà ít nói về “đạo đức kinh doanh”: khái niệm đầu liên quan đến “thuộc hạ”, khái niệm sau chú trọng đến vai trò của “sếp”, và khi bản thân “sếp” vốn đã không “tử tế, đàng hoàng” lắm thì chẳng ai dại mà luận bàn về “đạo đức kinh doanh”!

Doanh nghiệp nên tổ chức cho tất cả nhân viên cùng đóng góp xây dựng các quy tắc, tự đề ra trách nhiệm và hướng giải quyết khi xảy ra các vấn đề liên quan đến đạo đức.





Bài: Đạo đức trong kinh doanh





Theo mạng Washington Profile, ngay ở trong xã hội tư bản, những bộ phận lành mạnh của giới doanh nhân cũng cố gắng thiết lập những tiêu chí đạo đức cho các hoạt động thương mại của mình.

Khái niệm đạo đức thương trường đã có nền móng tự hàng nghìn năm trước. Aristotle đã từng nói không ít điều có thể coi là cơ sở của đạo đức kinh doanh thời hiện đại. Theo Giáo sư James O'Toole của trường Đại học Tổng hợp Nam California, chính triết gia thời Hy Lạp cổ đại này là người thực tế nhất và có "tâm hồn doanh nhân" nhất trong lịch sử triết học của loài người.

Chính Aristotle đã nêu ra ý tưởng rằng, nhiệm vụ chính của người thủ lĩnh không phải là gia tăng quyền lực của mình trước cấp dưới mà là tạo ra những điều kiện để tất cả cán bộ dưới quyền mình có thể thể hiện được mọi năng lực ở mức cao nhất.

Giáo sư O'Toole đã thống kê những câu hỏi mà Aristotle đã lập ra và ngày nay có thể đang khiến các nhà quản lý hiện đại phải đau đầu đi tìm câu trả lời: "Tôi muốn người ta đối xử với tôi như thế nào khi tôi là thành viên của cơ quan?", "Những tiền đề tiềm năng nào có được để phát triển các tài năng và cả tiềm năng của các thành viên trong cơ quan?", "Tôi có nhận nhiều hơn công sức đóng góp của mình vào quỹ chung hay không?", "Liệu hệ thống phân chia lợi nhuận đang có ảnh hưởng như thế nào tới không khí đạo đức chung của cơ quan?", "Các nhân viên sẽ được nhận tiền thưởng chiếm bao nhiêu phần trăm số lợi nhuận thu được nhờ áp dụng các sáng kiến và ý tưởng của họ?"...

Xem ra, những vấn đề mà Aristotle nêu ra cho tới hôm nay vẫn còn là thời sự.

Thương hiệu tốt không tự nhiên mà có
Viện Đạo đức kinh doanh quốc tế (International Business Ethics Institute) ở Mỹ đã từng xác định 4 công việc mà các công ty cần phải thực hiện để củng cố và gia tăng uy tín cho thương hiệu của mình.

Thứ nhất, trung thực với các nhà đầu tư và người tiêu dùng. Thứ hai, cải thiện ngày một tốt hơn tình hình nội bộ hãng bằng cách gia tăng tinh thần trách nhiệm và lợi ích của các nhân viên, giảm biến động đội ngũ cán bộ, tăng năng suất lao động... Thứ ba, đánh bóng thương hiệu một cách chuyên nghiệp và thực chất. Cuối cùng, xử lý một cách bài bản những việc liên quan tới cổ phiếu và tài chính - chỉ có ứng xử thật đàng hoàng với luật pháp thì mới có thể tạo dựng tương lai lâu dài và bền chắc cho hãng.

Còn tạp chí Business Ethics trong 16 năm liền thường xuyên công bố bảng xếp hạng những công ty mà họ cho là có tính đạo đức nhất ở Mỹ. Trong số những tiêu chí để xếp hạng có tính tới quan hệ với các nhà đầu tư và đội ngũ nhân viên (trong đó có quan hệ với phụ nữ; với các cộng đồng sắc tộc thiểu số, khác màu da, tôn giáo và quan điểm...); với các cơ quan chính quyền sở tại và cộng đồng những nhà cung cấp nguyên, nhiên liệu; với những người tiêu dùng; chính sách bảo vệ môi trường... Năm 2004, tạp chí này đã bình chọn những công ty sau:

Fannie Mae (dịch vụ tài chính trong lĩnh vực bất động sản). Cũng thật bất ngờ là đầu năm nay, lãnh đạo công ty này đã đệ đơn từ chức vì bị mất lòng tin do những nhà quản lý chủ chốt đã tự đặt những món tiền thưởng quá cao;
Procter & Gamble (hóa chất gia dụng và mỹ phẩm);
Intel Corporation (công nghệ máy tính và tin học);
St. Paul Companies SPC (dịch vụ bảo hiểm và tài chính);
Green Mountain Coffee Roasters Inc. (thực phẩm);
Deere & Company (chế tạo máy);
Avon Products (mỹ phẩm);
Hewlett- Packard Company (công nghệ máy tính và tin học);
Agilent Technologies (công nghệ tin học, điện tử và hoá chất);
Ecolab (dịch vụ làm sạch nội thất và diệt côn trùng).
Những quy tắc xếp hạng của tạp chí Business Ethics có thể áp dụng rộng rãi vì những tiêu chí chính của nó dựa trên những tiền đề mà Tổ chức Bàn tròn doanh nghiệp thế giới (Caux Round Table, viết tắt là CRT) tạo nên. CRT được lập ra từ năm 1986 bởi các doanh nhân tới từ Mỹ, châu Âu và Nhật Bản, trong số này có Chủ tịch hãng Philips, Phó Chủ tịch Viện Quản trị châu Âu và Chủ tịch hãng Canon...

CRT tập hợp các tiền đề của mình trên cơ sở ý tưởng của các doanh nghiệp Nhật Bản: ý tưởng đó được thể hiện bằng từ "quơxây", nghĩa là "cùng sống và cùng làm việc". Trong các tiền đề này toát lên sự tôn trọng nguyên tắc tập thể lãnh đạo rất cần thiết cho sự cách tân liên tục và để đạt được sự hài hòa trong thế giới này.

CRT cũng nhấn mạnh tới tình bạn, sự hiểu biết lẫn nhau và sự hợp tác với nhau trên cơ sở cùng tôn trọng những giá trị đạo đức cao quý và tinh thần trách nhiệm của những cá nhân cụ thể nhằm thích ứng với môi trường ảnh hưởng của họ (tại nơi mà họ cư trú và làm việc). Khái niệm nhân phẩm coi sự thiêng liêng và quý báu của từng cá nhân như mục tiêu, chứ không phải là phương tiện để nhằm đạt mục tiêu.

Quan trọng hơn cả là tìm hiểu xem cái gì là đúng, chứ không phải tìm xem ai đúng (tức là không nên quá cố gắng tìm xem ai có lỗi, ai không, mà là đi tìm cách giải quyết vấn đề cho có hiệu quả nhất).

Tất nhiên, trong xã hội tư bản, không phải cái gì nói ra là đều thực hiện được. Lập ra các quy tắc đạo đức bao giờ cũng dễ hơn nhiều lần là thực hiện chúng.

Lợi nhuận tăng theo... đạo đức
Có không ít người làm giàu nhanh tới chóng mặt nhờ những sự "xập xí xập ngầu" của cơ chế. Trong những xã hội đang nằm ở giai đoạn chuyển tiếp giữa các hình thái xã hội, ăn gian nói dối đôi khi dễ dàng mang lại những khoản thu khổng lồ. Tuy nhiên, bạo phát thì rất có thể cũng sẽ bạo tàn. Kết cục của một số nhà tài phiệt Nga (Oligarkh) hiện nay là một thí dụ nhỡn tiền. Họ đã kiếm được những gia sản nhiều triệu USD trong thời kỳ Moskva dưới sự lãnh đạo của ông Boris Yeltsin phát tán tài sản thừa kế từ Liên bang Xôviết và trở thành những cự phú có máu mặt trên quy mô toàn cầu.

Rồi thế thời thay đổi, khi ông Vladimir Putin lên làm Tổng thống Nga, một số nhà tài phiệt dạng kiểu Khodokovsky đã phải vào tù. Cơ quan lập pháp rất dễ dàng tìm ra đủ các thứ tội của những nhà tài phiệt dạng này để họ phải "mùa đông sẵn có hỏa lò, mùa hè nhà đá tha hồ nghỉ ngơi"...

Hai Giáo sư John Kotter và James Heskett ở trường đào tạo quản lý kinh doanh thuộc Harvard, tác giả cuốn sách "Văn hóa công ty và chỉ số hoạt động hữu ích", đã phân tích những kết quả khác nhau ở các công ty với những truyền thống đạo đức khác nhau.

Công trình nghiên cứu của họ cho thấy, trong vòng 11 năm, những công ty "đạo đức cao" đã nâng được thu nhập của mình lên tới 682% (trong khi những công ty đối thủ thường thường bậc trung về chuẩn mực đạo đức chỉ đạt được 36%). Giá trị cổ phiếu của những công ty "đạo đức cao" trên thị trường chứng khoán tăng tới 901% (còn ở các đối thủ "kém tắm" hơn, chỉ số này chỉ là 74%). Lãi ròng của các công ty "đạo đức cao" ở Mỹ trong 11 năm đã tăng tới 756% (1%).

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu này, hai vị Giáo sư khả kính trên khẳng định, gian manh chẳng lọ thật thà!

Nhận thức được vai trò quan trọng của gương mặt đạo đức đối với công việc kinh doanh, người Mỹ đã bỏ khá nhiều công sức ra nghiên cứu về vấn đề này. Chỉ tính riêng trong năm 2000, theo Trung tâm vì một nền văn hóa kinh doanh có đạo đức (Center for Ethical Business Culture), đã có tới 52 công trình nghiên cứu hàn lâm được xuất bản tại Mỹ viết về ảnh hưởng của đạo đức kinh doanh tới thu nhập tài chính của các công ty.

33 công trình phát hiện sự tỉ lệ thuận các phẩm chất đạo đức của đội ngũ lãnh đạo cũng như nhân viên và thu nhập của các công ty. 5 công trình lại phát hiện ra mối quan hệ tỉ lệ nghịch giữa hai yếu tố trên. 14 công trình còn lại không tìm thấy sự liên hệ gì giữa hai yếu tố trên với nhau. Thế là rõ, đại bộ phận các nhà nghiên cứu đều cho rằng, công ty có đạo đức sẽ dễ làm ăn phát đạt hơn.

Theo công trình nghiên cứu do hãng tiếp thị Environics tiến hành tại 20 quốc gia trên thế giới, uy tín xã hội của công ty có vai trò vô cùng to lớn đối với các nhà đầu tư. Thí dụ như ở Mỹ, hiện đang có khoảng 60% dân số đang sở hữu cổ phiếu của các hãng tư nhân. 28% trong số này khi quyết định làm như vậy đã dựa vào những thông tin thu thập được về hình ảnh của công ty trong con mắt xã hội.

Tại Italia, tỉ lệ những nhà đầu tư như thế vào khoảng 33%, còn tại Canada - 26%, tại Nhật Bản - 22%, tại Anh, Pháp, Đức - 21%... Cũng công trình nghiên cứu trên cho thấy, uy tín xã hội ngày càng có ảnh hưởng lớn tới thương hiệu của các công ty, lớn hơn cả quảng cáo và chính sách tài chính...

Một trong những khía cạnh quan trọng nhất của đạo đức kinh doanh là thái độ của lãnh đạo công ty đối với các nhân viên. Theo một công trình nghiên cứu do Tạp chí Fast Company tiến hành năm 2001, 26% số nhân viên Mỹ tuyên bố rằng, họ quan tâm thực sự tới thành công của công ty mà họ làm việc. 55% hoàn toàn đánh đồng lợi ích cá nhân của mình với lợi ích của các ông chủ. Chỉ có 19% không yêu công ty mà họ phục vụ... Chỉ vì đối xử không thỏa đáng với nhân viên mà đại đa số các doanh nghiệp bị mất vô ích tới hai phần ba thời gian làm việc của các nhân viên...




Bài: Chữ Tâm trong kinh doanh





Người ta bàn nhiều đến chữ tâm trong kinh doanh. Nhà văn Lê Lựu - Giám đốc Trung tâm Văn hoá doanh nhân - đưa ra tiêu chuẩn của một doanh nhân đích thực phải có đủ Tâm-Tài-Trí-Đức.

Tâm là doanh nhân cần thấm đẫm tính nhân văn cao cả. Giải Golf "Doanh nhân Việt Nam vì người nghèo", được truyền hình trực tiếp, đã vận động được hơn 62 tỉ đồng ủng hộ người nghèo.

Một số cơ quan tổ chức Cúp vàng "Doanh nhân Tâm-Tài" nhằm tôn vinh các doanh nhân vừa có tâm vừa có tài. Lần đầu, năm 2007, 113 cúp vàng "Doanh nhân Tâm Tài" đã được trao trong số 285 hồ sơ tham dự bình chọn... Quả là những việc làm có ý nghĩa.

Nhưng thế nào "thấm đẫm tính nhân văn cao cả", thế nào là có tâm trong kinh doanh vẫn còn phải bàn dài dài và có lẽ không bao giờ đủ. Hình như làm ra nhiều tiền và mang tiền đi làm việc thiện (tiêu chuẩn cho cúp "Tâm và Tài" là: doanh nhân "có vai trò và ảnh hưởng quan trọng đến quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hoặc đơn vị mình phụ trách. Là tấm gương sáng về đạo đức. Tích cực tham gia các hoạt động xã hội, vì cộng đồng").

Có lẽ chữ Tâm lớn nhất đối với một doanh nhân là làm ra nhiều lợi nhuận nhất cho doanh nghiệp từ hoạt động hợp pháp, giữ chữ tín, tạo ra nhiều công ăn việc làm, tạo điều kiện cho người làm có môi trường làm việc phù hợp và có cơ hội phát huy tài năng.

Mục tiêu của doanh nghiệp là lợi nhuận. Không có lợi nhuận thì lấy đâu ra mà làm từ thiện. Lợi nhuận đó phải là từ hoạt động hợp pháp, nếu làm ăn phi pháp thì bị pháp luật trừng trị và không thể lâu bền. Các tiêu chuẩn khác không mâu thuẫn với mục tiêu lợi nhuận. Giữ được chữ tín với khách hàng, bạn hàng, nhân viên, cộng đồng và nhà nước tạo nhiều cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp, giữ được mối làm ăn, bạn hàng, nhân viên và điều này lại tạo cho doanh nghiệp cơ hội có thể tạo ra nhiều lợi nhuận hơn nữa.

Tạo công ăn việc làm là một trong những việc làm cao cả bậc nhất của doanh nhân. Nhiều người làm thì chi phí tăng lên, chi phí tăng thì lợi nhuận giảm, đấy là một cách suy nghĩ có vẻ hợp lý. Và như thế tạo nhiều công ăn việc làm có vẻ mâu thuẫn với mục tiêu lợi nhuận, song suy ngẫm kỹ hơn chưa chắc phải vậy. Nếu làm khéo, việc tăng số người làm có thể tăng doanh thu, tăng lợi nhuận. Đây là vấn đề khó, song không nhất thiết gây ra mâu thuẫn.

Những lúc khó khăn, chủ doanh nghiệp (hay các chủ mới) có thể phải thu hẹp quy mô, sa thải người, làm cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn và chỉ bằng cách đó mới có thể tạo công ăn việc làm mới trong dài hạn. Việc sa thải nhân viên thường bị lên án là "nhẫn tâm", song để cải tổ doanh nghiệp có thể việc sa thải một số người là không thể tránh khỏi. Nếu lẫn lộn giữa mục tiêu hiệu quả và chữ tâm, thì có thể cả doanh nghiệp bị xoá sổ và chẳng còn việc làm nào để mà bảo vệ.

Trong những trường hợp như vậy, các hệ thống an sinh xã hội (trợ cấp thất nghiệp, quỹ đào tạo, v.v...) có thể làm cho người lao động đỡ bị lao đao. Như thế việc xây dựng các hệ thống an sinh xã hội thể hiện cái tâm của xã hội, của cộng đồng, của nhà nước. Và chính sách của Nhà nước để tạo dựng những hệ thống như vậy chính là thể hiện chữ Tâm lớn hơn.

Nếu hiểu và nhìn nhận như vậy thì khi có phải "sa thải" nhân viên trong cải tổ doanh nghiệp, người chủ cũng không nên bị lên án là "nhẫn tâm", vì cái "nhẫn tâm" ấy là cần thiết để tạo ra nhiều công ăn việc làm mới xét trên toàn cục và cái chữ "Nhẫn" này mất đi để chỉ còn lại chữ Tâm. Chắc chắn sẽ có người lên án tôi biện bạch cho "bọn tư bản", tôi chỉ xin họ suy đi nghĩ lại những hậu quả đối với doanh nghiệp và với chính những người lao động có thể tiếp tục làm việc ở đó sẽ ra sao nếu vì chữ Tâm mà nó không sa thải ai cả nên tiếp tục bị lỗ và đi đến phá sản, trước khi đưa ra lời lên án.

Tạo điều kiện, môi trường làm việc tốt cho người lao động làm tăng chi phí, có vẻ ngược với mục tiêu chính là lợi nhuận, nhưng xét dài hạn đó là cách đầu tư thông minh để thu được lợi nhuận nhiều hơn vì người lao động có thể phát huy hết tài năng, yên tâm làm việc.

Đóng góp lớn nhất cho cộng đồng chính là việc doanh nghiệp góp phần vào phát triển kinh tế của đất nước, của địa phương, là thuế mà doanh nghiệp nộp, là công ăn việc làm mà doanh nghiệp tạo ra, tuy các khoản "từ thiện" là rất đáng quý, rất đáng trân trọng, song vẫn không phải là "chính", là "thường xuyên". Như thế, nếu nhà nước có khung khổ pháp lý, tạo mọi điều kiện để doanh nghiệp làm ăn thuận lợi, thu được nhiều lợi nhuận nhất, thì chính là cách để doanh nhân có "chữ tâm" càng lớn, càng lâu, càng bền.

Tôi nghe vài bạn nước ngoài phàn nàn về những doanh nhân Việt Nam đi xe Lexus, xe Mercedes, ăn xài sang trọng và cũng "rất hào phóng", nhưng công nhân làm việc rất cực nhọc trong môi trường bẩn thỉu và chật chội. Dẫu họ có làm tự thiện nhiều thì chắc cũng là để "đánh bóng" tên tuổi mà thôi và cách làm đó khó có thể lâu bền, cái "tâm" có vẻ to nhưng thực ra là mỏng.

Cũng có người do các quan hệ, do cánh hẩu mà thu bộn tiền và rỉnh rang làm "từ thiện" để đánh bóng thương hiệu. Lại có những kẻ làm ăn phi pháp do sợ về mặt tâm linh và có thể làm "từ thiện" để "chuộc lỗi", để cho cái tâm của họ bớt day dứt, cho đầu óc bớt căng thẳng hay để tìm cách che đậy. Những kẻ như vậy chắc chắn "tâm không chính".

Cũng lại rất nên tránh việc biến sự tôn vinh thành cơ hội kinh doanh của các nhà tổ chức (họ bán danh ["hiệu"] cho những người cần đánh bóng mình hay doanh nghiệp của mình).

Quá thiên về các khoản đóng góp, các khoản từ thiện có thể làm cho cái nhìn bị méo mó. Cách cho, cách đưa tin có khi còn quan trọng hơn. Dùng tiền của tạo lợi nhuận cho chính mình một cách hợp pháp, tạo cho người khác có công ăn việc làm, tạo cho họ có khả năng tự xoay xở, tạo điều kiện cho người dân có nhiều khả năng tự làm giàu cho chính mình. Đấy mới là có cái tâm lớn. Và người có tâm lớn thường không khoe cái tâm của mình, không khoe việc thiện mình làm.

Ngẫm thế mới thấy cái tâm trong kinh doanh đâu đơn giản. Bàn về cái tâm đâu có thể qua loa và càng không nên ồn ã.







Bài: Đạo đức và trách nhiệm xã hội trong kinh doanh





Rất nhiều cơ hội và lợi ích chiến lược sẽ đến khi doanh nghiệp xem đạo đức và trách nhiệm xã hội là trọng tâm của các hoạt động sản xuất kinh doanh.

Đạo đức và trách nhiệm xã hội rõ ràng là những vấn đề không thể thiếu trong kinh doanh. Nhưng thực tế lại cho thấy rằng những vấn đề này chưa được doanh nghiệp chú ý. Thật khó mà thuyết phục doanh nghiệp thực hiện tốt các vấn đề đạo đức và trách nhiệm bằng những luận cứ dựa trên lợi ích kinh tế trước mắt. Bài viết này muốn thuyết phục rằng việc thực hiện trách nhiệm xã hội sẽ đem lại nhiều lợi ích mang tính chiến lược cho các doanh nghiệp. Những lợi ích đó là gì và bằng cách nào để có được? Dưới đây là một số gợi ý.

Khai thác các cơ hội từ việc thực hiện trách nhiệm xã hội

Đạo đức và trách nhiệm xã hội không chỉ là những vấn đề gây tốn kém và bó buộc mà còn có thể là những cơ hội tiềm tàng trong kinh doanh cho những ai nhận ra và đón bắt được. Ví dụ xu hướng tiêu dùng những sản phẩm sạch và xanh, dùng phương tiện giao thông an toàn và ít ô nhiễm đang tạo ra thị trường tiềm năng cho nhiều sản phẩm mới. Thành công của Toyota trên thị trường xe động cơ hybrid (chạy điện và xăng) hay của TRW trên lĩnh vực thiết bị an toàn trong xe hơi đều xuất phát từ việc lấy mục tiêu an toàn của người tiêu dùng và môi trường làm chiến lược kinh doanh.

Xem đạo đức và trách nhiệm xã hội là một phần thiết yếu của chiến lược kinh doanh, các doanh nghiệp cũng sẽ cảm thấy tự nguyện và chủ động hơn trong việc thực hiện. Khi đó, những vấn đề này không còn là một gánh nặng hay điều bắt buộc mà là nguồn và cơ sở của những thành công. Motorola thường xuyên có những đột phá về kỹ thuật vì công ty luôn chủ động đầu tư vào các chương trình đào tạo và chăm sóc đời sống cho nhân viên. Những năm đầu thập niên 1990, Proctor & Gamble đã đi tiên phong và gặt hái nhiều thành công nhờ chiến lược tiếp thị các sản phẩm có thành phần và bao bì không gây hại môi trường. Các sản phẩm “xanh” đã thành thời thượng ngay sau đó. Công ty 3M khởi xướng chương trình giảm ô nhiễm 3P (Pollution Prevention Pays) ngay từ những năm 1970 nên đã tiết kiệm rất nhiều chi phí về sau khi các vấn đề về môi trường được áp đặt bằng luật lệ.

Sự trung thành của nhân viên và khách hàng

Việc tôn trọng đạo đức và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp sẽ mang lại lợi ích chung cho nhân viên, khách hàng, đối tác và cộng đồng. Đây là những bộ phận quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp. Vì vậy, dù chi phí ban đầu có thể sẽ nặng, lợi ích có thể chưa thấy ngay, nhưng chắc chắn về lâu về dài sẽ chẳng có gì thiệt thòi khi doanh nghiệp tôn trọng lợi ích của những bộ phận thiết yếu này. Khi thực hiện tốt đạo đức và trách nhiệm xã hội, doanh nghiệp sẽ nhận được sự ủng hộ trung thành và nhiệt tình của nhân viên, khách hàng và các đối tác khác. Đây chính là điều kiện cơ bản nhất của mọi thành công. Làm thương hiệu không gì khác hơn là làm cho các bên có liên quan, không chỉ khách hàng mà cả nhân viên, đối tác và cộng đồng, thương yêu cái hiệu, cái tên của công ty mình. Ví dụ, nếu có dịp xem qua trang web của các doanh nghiệp lớn trên thế giới, ta sẽ thấy họ ngày càng ít giới thiệu công ty qua những sản phẩm hay dịch vụ, mà chỉ giới thiệu các thành tích trong việc thực hiện đạo đức và trách nhiệm xã hội trong kinh doanh bằng cách nêu lên những nỗ lực của công ty để trở thành ông chủ tốt, đối tác tốt, công dân tốt và là người bảo vệ môi trường. Điều này cho thấy rõ đâu là xu hướng chính trong các chiến lược làm thương hiệu và kinh doanh ngày nay.

Tóm lại, thực hiện đạo đức và trách nhiệm xã hội trong kinh doanh có thể không mang lại những lợi nhuận trước mắt nhưng cũng không phải là gánh nặng cho các doanh nghiệp. Nếu biết cách đưa những vấn đề này vào trong chiến lược kinh doanh, các doanh nghiệp và cả xã hội sẽ có thể phát triển theo hướng tích cực và bền vững hơn.




Đạo đức và trách nhiệm xã hội - những vấn đề không thể thiếu trong kinh doanh

Đạo đức và trách nhiệm xã hội là những vấn đề không thể thiếu trong kinh doanh. Rất nhiều cơ hội và lợi ích chiến lược sẽ đến khi doanh nghiệp xem đạo đức và trách nhiệm xã hội là trọng tâm của các hoạt động kinh doanh. Sự tồn vong của doanh nghiệp không chỉ đến từ chất lượng của bản thân các sản phẩm - dịch vụ cung ứng mà còn chủ yếu từ phong cách kinh doanh của doanh nghiệp. Hành vi kinh doanh thể hiện tư cách của doanh nghiệp, và chính tư cách ấy tác động trực tiếp đến thành bại của tổ chức. Đạo đức kinh doanh, trong chiều hướng âý, trở thành một nhân tố chiến lược trong việc phát triển doanh nghiệp.


Đạo đức và trách nhiệm xã hội mang lại cho doanh nghiệp những gì?

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp là vấn đề tất yếu đi liền với kinh doanh, bởi nó mang lại cho doanh nghiệp những lợi ích đáng kể: khẳng định thương hiệu doanh nghiệp trong lòng khách hàng và tăng lợi nhuận doanh nghiệp. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đóng vai trò người kiến tạo lòng trung thành nơi khách hàng bằng những giá trị đạo đức rất "phong cách", và nó sẽ đánh bóng tên tuổi của doanh nghiệp, khẳng định thương hiệu và gây được thiện cảm trong lòng dân chúng, họ sẽ bán hàng nhiều hơn gấp nhiều lần.


Khẳng đinh thương hiệu

Trong thời buổi mà thương hiệu mạnh được nhìn nhận như một công cụ tạo lợi thế cạnh tranh đặc thù cho doanh nghiệp, thì "niềm tin càng trở nên cần thiết. Đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội trở thành nền tảng cho việc xây dựng thương hiệu thật sự mạnh. Điều này đồng nghĩa với việc có được sự sâu đậm trong việc "chia sẻ tâm trí" với người tiêu dùng song hành với sự "chiếm lĩnh thị phần"! Tình bạn, sự hiểu biết lẫn nhau và sự hợp tác với nhau trên cơ sở cùng tôn trọng những giá trị đạo đức cao quý và tinh thần trách nhiệm, trung thực với các nhà đầu tư và người tiêu dùng là cách tốt nhất để dánh bóng thương hiệu một cách chuyên nghiệp và thực chất. Uy tín xã hội ngày càng có ảnh hưởng lớn tới thương hiệu của các công ty, lớn hơn cả quảng cáo và chính sách tài chính. Theo công tình nghiên cứu do hãng tiếp thị Environics tiến hành tại 20 quốc gia trên thế giới, uy tín xã hội của công ty có vai trò vô cùng to lớn đối với các nhà đầu tư. Ví dụ như ở Mỹ, hiện đang có khoảng 60% dân số đang sở hữu cổ phiếu của các hãng tư nhân. 28% trong số này khi quyết đinh làm như vậy đã dựa vào những thông tin thu thập được về hình ảnh của công ty trong con mắt xã hội.


Tăng lợi nhuận doanh nghiệp

Tôn trọng luân lý xã hội và thực hiện đạo đức trong kinh doanh chính là những hành vi đầu tư vào việc gia tăng lợi nhuận và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Giữ được chữ tín với khách hàng, bạn hàng, nhân viên, cộng đồng và nhà nước tạo nhieuf cơ hội kinh doanh cho doanh nghiệp, giữ được mối làm ăn bạn hàng, nhân viên và điều này lại tạo cho doanh nghiệp cơ hội có thể tạo ra nhiều lợi nhuận hơn nữa. Trong một thị trường cạnh tranh, điểm "cân bằng tối ưu" và lợi nhuận doanh nghiệp chỉ có thể hình thành trên cơ sở của sự liên kết và sự tin tưởng giữa các đối tác chứ không thể trên nền tảng của sự lừa dối lẫn nhau. Trong cạnh tranh kinh tế, nếu mỗi đối tác đều mù quáng chạy theo quyền lợi riêng tư của mình thì rốt cuộc tất cả dều bị thua thiệt nặng nề. Công trình nghiên cứu của hai giáo sư John Kotter và James Heskett ở trường đào tạo quản lý kinh doanh thuộc Harvard cho thấy, trong vòng 11 năm, những công ty "đạo đức cao" đã nâng được thu nhập của mình lên tới 682% (trong khi những công ty đối thủ thường thường bậc trung về chuẩn mực đạo đức chỉ đạt được 36%). Giá trị cổ phiếu của những công ty "đạo đức cao" trên thị trường chứng khoán tăng tới 901% (còn ở các đối thủ "kém tắm" hơn, chỉ số này chỉ là 74%). Điều này cho thấy, các công ty có đạo đức sẽ dễ làm ăn phát đạt hơn.



Đạo đức và trách nhiệm xã hội - gánh nặng hay cơ sở thành công của doanh nghiệp

Xem đạo đức và trách nhiệm xã hội là một phần thiết yếu của chiến lược kinh doanh, các doanh nghiệp cũng sẽ cảm thấy tự nguyện và chủ động hơn trong việc thực hiện. Khi đó, những vấn đề này không còn là môt gánh nặng hay điều bắt buộc mà là nguồn và cơ sở của những thành công. Rất nhiều cơ hội và lợi ích chiến lược sẽ đến khi doanh nghiệp xem đạo đức và trách nhiệm xã hội là trọng tâm của các hoạt động sản xuất kinh doanh.

Việc tôn trọng đạo đức và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp sẽ mang lại lợi ích chung cho nhân viên, khách hàng, đối tác và cộng đồng. Đây là những bộ phận quyết định đối với sự tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp. Khi thực hiện tốt đạo đức và trách nhiệm xã hội, doanh nghiệp sẽ nhận được sự ủng hộ trung thành và nhiệt tình của nhân viên, khách hàng và các đối tác này. Đây chính là điều kiện cơ bản nhất của mọi thành công. Ngày nay, đề làm cho khách hàng và cộng đồng thương yêu thương hiệu của công ty, các doanh nghiệp ngày càng ít giới thiệu công ty qua những sản phẩm hay dịch vụ, mà chỉ giới thiệu các thành tích trong việc thực hiện đạo đức và trách nhiệm xã hội trong kinh doanh bằng cách nêu lên những nỗ lực của công ty để trở thành ông chủ tốt, đối tác tốt, công dân tốt và là người bảo vệ môi trường.

Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệpTRÁCH NHIỆM XÃ HỘI DOANH NGHIỆP

Write a comment

New comments have been disabled for this post.

February 2014
M T W T F S S
January 2014March 2014
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28