Posts tagged with "Cổ tích"
Friday, 19. October 2007, 22:01:17
Cổ tích
Thuở trước, có bảy người đàn ông làm lái buôn, cùng một chuyến lên mạn ngược cất hàng, vì lỡ độ đường, nên phải xin ngủ nhờ trong nhà một người Kinh lên lập nghiệp ở mạn ngược đã lâu.
Vào xin ngủ nhờ, bảy người lái buôn được chủ nhà cho biết: Trong nhà chỉ có hai vợ chồng, người vợ bị cảm nặng nằm ở trong buồng, còn người chồng phải ra đi tìm thuốc ở nơi xa, về đến nơi cũng đúng sáng mai. Tuy vậy, không thể làm cách nào khác hơn, chủ nhà vẫn phải ra đi, giao nhà cho bảy người lái buôn trông nom hộ.
Chủ nhà ra đi, trời cũng vừa sập tối, bảy người lái buôn cơm nước vào no nê rồi, quây quần bên nhau để ngủ. Vào khoảng gần sáng, người lái buôn nằm ngoài bìa hết bỗng cựa mình thức dậy vì một luồng gió lạnh luồn vào nhà.Y lơ láo nhìn vào phía trong, thấy cửa buồng của vợ chủ nhà mở trống, ngọn đèn dầu trong buồng đang nhỏ như hột đậu xanh bỗng phựt lên sáng rỡ rồi nhỏ lại dần.
Ngay lúc đó, người lái buôn chợt nghe tiếng điếu cày vang lên một nhịp đều đều, nhất là hơi rít cuối cùng nghe thật vui tai, tiếp theo đó là tiếng dép lẹp xẹp, rồi bất đồ bà chủ nhà vụt bước ra ngoài.
Càng đáng ngạc nhiên hơn nữa là người đàn bà này đến bên người lái buôn thứ nhất luồng hai tay xuống nhấc bổng y lên, như nhấc một miếng gỗ thường, đoạn người đàn bà ghé miệng vào mũi người lái buôn hít một hơi dài. Hít xong, lại đặt người đàn ông nằm xuống y như cũ, đoạn bước trở vào trong buồng.
Bên trong ngọn đèn dầu lại phựt lên sáng rỡ như hồi nãy rồi cũng lụn dần. Tiếng điếu cày lại vẳng lên từng chập. Độ năm phút sau người đàn bà lại hiện ra một lần nữa, bước ngay đến chỗ người lái buôn thứ hai, nâng đầu y dậy kê miệng vao mũi y hít một hơi dài như lần trước, rồi lại đứng lên quay bước trở vào buồng.
Người lái buôn nằm bìa ngoài hết sức ngạc nhiên, nhưng cố im lặng để xem cái hiện tượng kỳ quái này ra sao. Rồi cứ như lúc đầu, mỗi lượt đèn phựt sáng lên, tiếng điếu cày ròn rã, thì người đàn bà lại hiện ra, tái diễn cái cảnh tượng đã diễn ra từ nãy, lần lượt đến người lái buôn thứ sáu.
Người thư bảy, bị trống ngực đánh thình thình, nhưng vẫn nằm im không dám cục cựa. Nhưng lúc người đàn bà vừa quay đi, anh chàng sẽ rờ vào mình bạn thì thấy da thịt lạnh tanh như xác chết. Anh ta hoảng hồn, vùng ngồi phắt dậy. Người đàn bà nghe tiếng động quay lại nhìn, anh khiếp đảm quá thét lên một tiếng cắm đầu chạy ra cửa, nhảy từng bậc thang mà xuống khỏi căn nhà sàn chạy tuốt ra đường.
Càng kinh khủng hơn, là người đàn bà tức tốc đuổi theo, anh ta càng chạy, người đàn bà càng cố đuổi cho kịp. Cái lạ lùng nhất là anh ta càng chạy nhanh người đàn bà càng đuổi nhanh, anh ta chạy chậm người đàn bà cũng chạy chậm.
Trời dần dần hừng sáng, người đàn bà kỳ quái vẫn đuổi theo anh lái buôn thứ bảy chứ không chịu buông tha. Anh ta kinh hoảng quá rồi, chưa còn biết làm cách nào để thoát chết. Thời may, anh ta nom thấy bên đường có một cây gạo, thì chạy nhanh tới định trèo lên để trốn.
Bỗng anh ta nghe đằng sau có tiếng "phập phập" thật lớn, rồi thân cây rung chuyển, anh ta hốt hoảng vấp phải cái rể cây, ngã vật xuống ngất đi.
Mãi lúc mặt trời lên cao ba sào, người qua đường mới chợt thấy một cảnh tượng vô cùng khủng khiếp: Ở gốc cây có người đàn ông nằm sóng soài còn thoi thóp thở, còn bên cạnh có xác một người đàn bà ngã sang một bên, cánh tay phải xỉa ngập vào thân cây gần đến khuỷu.
Họ cứu chữa cho người đàn ông tỉnh lại. Anh ta thuật rõ những điều nghe thấy trong đêm với mọi người. Chừng đó họ mới nói cho anh ta biết đám người lái buôn đã nhập quỷ nhập tràng. Căn nhà họ vào xin ngủ trọ có người đàn bà đã chết còn quàn xác lại, nên mới hiện hình hớp hồn sáu người kia, còn anh nhờ chạy trốn kịp nên mới thoát chết.
Friday, 19. October 2007, 21:59:56
Cổ tích
Ngày xuất là người lanh lợi, nói xuôi cũng được, nói ngược cũng xong. Khi ấy có nhà nữ tu có tiếng; Trong ấy có người con gái lịch sự, xinh đẹp, người ta ai ai cũng biết. Anh em bạn biết ve nàng ấy thì khó lắm, không ai ve được; bữa ấy mới đố Tú Xuất là làm sao mà bắt nàng ấy ra cho được.
Tú Xuất chịu. Vậy mới tập trẻ hầu hạ, đứa kêu bằng chú, đứa kêu bằng bác, đưa kêu bằng cậu, đứa kêu bằng dượng, sắp đặt tử tế.
Tú Xuất mới viết thư cho người đem vào thưa với bà sư cô coi nhà nữ tu ấy, mà xin bà ấy cho vợ mình lại, rằng nàng ấy tên là ấy, thật là vợ mình, vì giận hờn nhau mà bỏ mình lánh mình đi tu thôi. Nhứt diện xin với bà sư cô, nhứt diện đi thưa với làng sở tại. Làng đòi bà sư cô biểu đem nàng ấy ra đình làng mà tra hỏi cho ra việc. Tú Xuất chạy theo: Đứa kêu bác, đứa kêu thím, đứa kêu mợ, đứa kêu dì mà khóc cùng đường rằng: Sao cô bỏ...(chú, bác, cậu, dượng...) mà đi tu cho đành!
Làng hỏi, nàng thưa một hai không có chồng, không biết người trai ấy là ai bao giờ...
Làng bắt lý rằng: Sao trẻ năm bảy đứa em cháu nó khóc, nó kêu, nó nhìn mình..., sao nó không nhìn các cô khác? Nên làng dạy bà sư cô giao lại cho Tú Xuất đem vợ về.
Nàng ấy giãy giụa khóc la mà phải vâng phép làng mà về theo Tú Xuất, k
Friday, 19. October 2007, 21:58:20
Cổ tích
Ngày xưa ở một làng nọ có một cô gái đẹp. Thấy mọi người đều trầm trồ về nhan sắc của mình, cô bỗng có cái nguyện vọng thầm kín là được lấy hoàng tử làm chồng. Ngày ngày cô đi chợ mua hương đến một ngôi đền trong vùng cầu thần phù hộ cho mình được lấy chồng như nguyện.
Ở chợ hồi ấy có một người lái buôn hương. Thấy cô gái lui tới gánh hàng của mình, hắn thường thả lời chòng ghẹo, nhưng lần nào cũng bị cô nghiêm sắc mặt cự tuyệt. Tuy vậy, hắn vẫn tìm cách lân la gạ chuyện không nản. Một hôm, hắn chợt có ý muốn tìm biết ngày nào cô gái cũng chịu khó mua hương xong, sắp sửa ra về, hắn vội gửi gánh hàng cho người quen rồi lén đi theo bén gót. Nấp sau một cánh cửa, hắn nghe được tất cả những lời khấn khứa rì rầm của nàng và hiểu được điều nàng muốn. Lần khác, sau khi cô gái mua hương xong, hắn đã ba chân bốn cẳng chạy trước tới đền, nấp sau pho tượng thần. Khi nghe cô khấn vừa dứt, hắn nói vọng xuống, giả lời phán của thần:
- Con gái như thế kia làm sao dám đòi lấy chồng hoàng tử. Trên thiên đình đã định cho con làm vợ một người lái buôn hương ở chợ. Số là thế, không thể khác được!
Nghe lời truyền phán rõ ràng, cô gái lủi thủi ra về, trong bụng đinh ninh không thể tránh được số trời đã định. Ngày hôm sau, khi cô đi chợ, người buôn hương lại thả ong bướm, nhưng khác với các lần trước, lần này hắn được cô gái bắt lời. Biết là mưu mẹo của mình có kết quả, hắn hết sức tán tỉnh và cuối cùng cá đã cắn câu. Nhưng người buôn hương nghĩ rằng mình đã nhiều tuổi, nếu đưa lễ đến dạm hỏi chắc chắn bố mẹ nàng không đời nào chịu gả. Vì thế hắn có ý định tìm cách dỗ dành cho cô gái theo không, rồi kín đáo đưa nàng trốn về quê. Mà phải làm sao cho bà con xóm giềng của nàng không có ai hay, kẻo họ tìm cách ngăn trở. Khi thấy miếng mồi mười phần đã chắc ăn cả mười, hắn bèn hẹn nàng một ngày nọ tới chờ mình ở một cái lùm sau chợ, hắn sẽ đưa đi trốn.
Đúng hẹn, hai người quả gặp nhau ở lùm cây. Người buôn hương bảo cô gái ngồi vào trong một chiếc bồ lớn đậy mẹt và buộc chặt lại, để hắn gánh đi cùng với một bồ khác đựng hàng. hắn ghé tai dặn nàng: "Làm như thế sẽ không bị lộ, qua một thời gian anh sẽ về thú thật với bố mẹ sau". Cô gái nọ cả tin ở số phận nên vâng lời theo hắn.
Đường đi phải băng qua một khu rừng vắng. Trong khi người lái buôn hương lòng mừng khấp khởi với gánh hàng quý trên vai, thì tiếng thét của một toán lính làm cho hắn giật nẩy mình. Hắn không ngờ rằng ngày hôm ấy, có một hoàng tử đang đi săn ở khu rừng này. Đầu cửa rừng, người, ngựa, chó săn đang vây bọc các ngả. Vì đang làm việc gian lận, lái thương ta sợ quá, vội quẳng cả gánh hàng mà chạy. Sau đó, có mấy con chó săn đi qua bồ, ngửi thấy hơi người bèn lên tiếng cắn inh ỏi. Nghi ngờ, bọn lính dừng lại lục soát. Khi thấy trong bồ có một cô gái đẹp, bọn chúng rất đổi kinh ngạc, vội dẫn chàng đi gặp hoàng tử lúc đó cũng vừa phi ngựa đến nơi.
Hoàng tử chưa bao giờ thấy một người con gái xinh đẹp đến thế, bèn xuống ngựa bảo nàng ngồi lại chuyện trò. Nghe cô gái kể hết nổi lòng, hoàng tử ngỏ ý đưa nàng về cung làm vợ. Nhân săn được một con hổ, hoàng tử bèn sai bỏ con thú vào bồ đậy mẹt và buộc chặt lại như cũ. Đoạn, ra lệnh cho mọi người trở về kinh thành.
Sau khi hoàng tử và quân lính đi xa, người lái hương từ chỗ trốn lại quay về tìm gánh hàng quý của mình. Thấy cặp bồ còn nguyên chỗ cũ, hắn vội vã đặt gánh lên vai và rảo bước một mạch về nhà. Đến nơi, người nhà xúm lại, hỏi hắn:
- Bồ gì mà nặng thế?
Hắn đáp đùa để dọa:
- Đừng có nhìn mà chết. Hổ đấy!
Nói đoạn, hắn vội xách bồ quý vào buồng đóng cửa lại. Nhưng vừa mở mẹt thì con hổ từ trong đã nhảy ra, vồ hắn ăn thịt.
Friday, 19. October 2007, 21:56:54
Cổ tích
Ngày xưa, có ông bá hộ lòng dạ rất nhân từ. Ngày rằm tháng bảy, ông đốt nhang đèn bày bánh cúng, bánh cấp, mía, chuối để các cô hồn về hưởng. Cúng xong xuôi ông yên trí vô nhà nằm nghỉ.
Gần nhà ông, có một chòm mả hoang. Đêm đó, có anh bán dầu dừa đi lỡ đường đến chòm mả nọ mà nghỉ lưng. Anh ta nghe thì thào như nhóm chợ, bọn ma quỷ bàn tán qua lại:
- Đồ ăn ngon quá, mấy anh dám ăn không?
- Ông bá hộ có lòng tốt nhưng làm sao ăn được?
Tề Thiên Đại thánh nói rằng bánh cúng không được tinh khiết. Hồi gói bánh, có con nhỏ đầy tớ rủi đứt tay, làm dính máu trong lá chuối gói bánh.
Anh bán dầu dừa biết đó là tiếng nói của cô hồn. Sáng hôm sau, anh ta lập tức đến nhà ông Bá Hộ mà báo sự tình. Ông Bá Hộ hết sức buồn bã, nghĩ thầm:
- Không lẽ mình rầy rà bọn đầy tớ! Cách hay nhất là mình cáo lỗi quỷ thần, cúng lại lần thứ nhì.
Đêm sau, cúng xong, ông Bá Hộ nhờ anh bán dầu dừa ra ngoài chòm mả hoang nghe ngóng tin tức.
Anh ta y lời, rình nghe bọn cô hồn bàn tán:
- Thất bại nữa! Phen này tụi mình chết đói. Hồi hôm qua lá chuối dính máu. Bữa nay thì nấu bánh bằng củi ô uế ở chuồng heo...
Anh bán dầu dừa trở lại thuật cho ông Bá Hộ hay. Ông này buồn bã, hỏi lại thì rõ ràng bọn gia nhân đã lấy mấy khúc củi chuồng heo mà chụm lửa nấu bánh.
Ông Bá Hộ đến chùa gần đó, nhờ nhà chùa cúng giùm, như vậy bảo đảm hơn.
Cúng xong, anh bán dầu cũng ra chòm mả nghe ngóng. Nhưng lần này anh ta dạn dĩ hơn, lên tiếng trước:
- Cô hồn các đẳng ơi! Cúng như vậy ăn được không?
Cô hồn mừng rỡ nói:
- Được! Được! Ông Bá Hộ có lòng tốt trì chí lo lắng chu đáo miếng ăn cho tụi tôi. Anh về nói với ổng: Chừng một trăm ngày nữa chúng tôi đền ơn ổng một vật xứng đáng lắm.
Sẵn có máu tham, anh bán dầu dừa không thuật lại điều ấy cho ông Bá Hộ biết. Anh ta giả đò xin cất chòi kế bên cửa ngõ của ông Bá Hộ. Rồi anh ta sống nương náu chờ ngày mà cô hồn đã hứa. Rình mãi không thấy gì, anh ngã lăn ra ngủ thiêm thiếp. Gà gáy sáng, bừng mắt dậy thì rõ ràng có ba cái lu lớn đặt trước cửa ngõ tự hồi nào. Mỗi lu đều có một con rắn hổ quấn chung quanh. Trong lu, toàn là vàng thoi, bạc nén. Anh ta thò tay vào lu. Tức thì bao nhiêu vàng bạc đều hóa ra hằng trăm con rắn đen thui, bò lúc nhúc. Hoảng sợ, anh rút tay ra. Vàng bạc hiện trở lại y nguyên. Lúng túng, anh ta không biết xử trí lẽ nào. Ông Bá Hộ bước ra cổng, thấy vậy bèn sai gia nhân khiêng vàng bạc vào nhà.
Để đền ơn anh bán dầu, ông Bá Hộ cho hai thoi vàng, hai nén bạc. Cầm trên tay, anh ta mừng quýnh vì vang bạc không hóa thành con rắn nữa. Anh ta ra đi, cười hát nghêu ngao rồi vô quán rượu say sưa.
Tỉnh rượu thì hai nén bạc, hai thoi vàng nọ đã bị người khác ăn cắp từ hồi nào.
Friday, 19. October 2007, 21:55:41
Cổ tích
Ngày xưa, có anh học trò, mỗi ngày đi đến nhà thầy, phải ngang qua một nơi có con chó đá. Lạ một điều, ai đi qua thì con chó cũng trơ trơ, chỉ có anh học trò mỗi lần đi đến thì con chó nhổm dậy tỏ vẻ mừng rỡ.
Anh học trò không khỏi lấy làm lạ, lần kia liền dừng lại hỏi con chó đá rằng:
- Người qua lại ở đây cũng đông, sao các người khác mày không mừng, chỉ riêng mình tao thì mày mừng là tại cớ chi?
Con chó đá đáp rằng:
- Khoa này bao nhiêu người kia, chẳng có ai đỗ đạt cả, chỉ có một mình cậu thi đỗ, số trời đã định nên tôi mừng cho cậu vậy.
Anh học trò nghe nói vậy rất mừng, lúc về nhà kể chuyện lại cho cha mẹ nghe. Từ đó, người cha bỗng lên mặt kiêu căng phách lối bắt nạt mọi người. Có lần người cha dắt trâu ra đồng cày ruộng, thả trâu cho dẫm lên mạ của người làng. Người ta nói, ông ta không thèm đáp lại. Hôm sau, đem thêm trâu ra dẫm be bét cả ruộng của người ta. Chủ ruộng lấy làm bất mãn phiền hà, thì người cha trợn mắt múa chân tay đe dọa:
- Coi chừng, khoa này con ông thi đỗ thì bây sẽ biết tay ông.
Chủ ruộng nghe vậy thì hoang mang lo lắng nên phải chịu lép mọi bề. Hôm sau, anh học trò đi qua chỗ con chó đá thì không thấy nó nhổm dậy vẫy đuôi mừng nữa. Lúc quay về nó cũng không mừng. Anh học trò ngạc nhiên hỏi con chó:
- Mọi lần tao qua đây mày thấy mày mừng, cớ sao bữa nay mày không mừng nữa, tao có làm điều chi không hay chăng?
Con chó đá đáp rằng:
- Việc này không phải tại cậu mà tại cha của cậu lên mặt hống hách bắt nạt đầu này, ức hiếp đầu kia, cho trâu phá ruộng mạ của người ta còn lên giọng hăm dọa, nên Thiên Tào bôi sổ của cậu rồi, khoa này cậu không đỗ đâu, như vậy tôi còn mừng cậu làm gì nữa.
Anh học trò nghe con chó đá nói vậy thì buồn bã ra về thuật chuyện cho cha mẹ nghe. Người cha lấy làm hối hận, từ đó không dám lên mặt hống hách nữa. Riêng anh học trò, khoa đó vào thi mặc dầu học giỏi và cố gắng anh vẫn không đỗ. Lòng lấy làm buồn, vác lều chiếu trở về đợi đến khoa sau.
Khoa sau và khoa sau nữa anh đều thi rới. Cha mẹ anh bấy giờ mới biết lẽ trời chí công,nên hết lòng tu nhân tích đức, ăn ở rất tử tế với mọi người.
Một hôm, anh học trò đi ngang qua chỗ con chó đá, con chó bỗng nhổm dậy mừng rỡ nhìn anh. Anh chưa hỏi gì thì con chó đã lên tiếng:
- Bấy giờ cha cậu mới biết ăn năn sửa mình làm điều thiện, nên Thiên Tào đã ghi tên cậu vào sổ tân khoa, tôi mừng cho cậu đó.
Quả nhiên, khoa thi đó, anh học trò đậu đầu, lúc trở về làng được đón rước linh đình, lúc qua chỗ con chó đá, thì con chó biến đi đâu mất.
Friday, 19. October 2007, 21:54:21
Cổ tích
Làng Bình Sùng có gốc cây da to. Kế bên là miếu thờ ông Địa. Dân làng đồn rằng ông địa này linh lắm, nên họ hằng tới lui cúng kiến, khấn vái. Họ phải lãng phí rất nhiều tiền bạc để mua gà vịt, nhang đèn.
Có một anh nọ không tin như vậy, thề không bao giờ cúng vái ông Địa. Lắm khi đi ngang qua miếu, anh nói giả ngộ: "Ông Địa ơi! Có rảnh chiều nay lại nhà uống rượu với tôi chơi!". Ai rầy la cũng mặc, anh không bỏ thói đó.
Hôm nọ, bỗng dung anh lăn ra ôm bụng mà rên la dữ dội. Vợ anh chạy thuốc đủ điều mà bệnh không thuyên giảm. Sau cùng có người bàn nói:
- Chắc là chồng chị bị ông Địa quở, chị lén ra miếu van vái, xin tạ lỗi thử coi!
Y như lời, Vợ anh đem nhang đèn ra miễu vái lạy. Về tới nhà, anh nọ đã hết đau. Bữa sau, chị vợ khuyên chồng làm thịt heo trả lễ ông Địa. Anh đỗ quạu:
- Ai biểu mình vái. Ông Địa cứu tôi, đó là bổn phận của ổng. Ơn nghĩa gì.
Hôm sau, anh nọ phát đau dữ dội lần nữa.
Xóm giềng bàn tán:
- Chắc ông Địa quở rồi! Hôm trước có hứa, sau không chịu cúng heo cho ổng.
Chị vợ ra miễu khấn vái. Chập sau, anh cũng hết đau. Vì vậy, hôm sau chị cương quyết làm thịt heo cúng. Nghe vậy, anh cãi lại:
- Để tôi lo cho. Mình phải giao con heo sống nhăn này cho ổng. Nấu nướng trước, sợ ông ăn không vừa miệng.
Rồi anh cột dây, dắt con heo ra miễu, cột chặt con heo vào cốt ông Địa.
Tới trưa, heo đói bụng bèn lôi cốt ông Địa về nhà. Xóm giềng hoảng sợ. Song anh nọ tỉnh táo đem cốt nọ tắm sạch sẽ rồi ôm ra miễu trả lại chỗ cũ.
Thấy anh nọ quá ngoạo mạn dễ ngươi, ông Địa quyết răn dạy anh một phen đích đáng hơn mấy lần trước nên đến bà Cửu Thiên Huyền Nữ mượn cái kim cô đem về. Báo vật này giống như cái niền, hễ trồng cái kim cô vào đầu ai thì kẻ đó phải đao đớn khôn tả, cái niền xiết vào đầu ngày một chặt, đến bể sọ.
Hôm sau anh nọ bỗng nhiên la lên nhức đầu nhào lộn xuống đất. Không ai biết cách nào cứu trị. Có người khuyên nên vái ông Địa. Chị vợ khóc lóc:
- Vái rồi chừng lành không chịu tạ ơn! Ai dám vái nữa.
Kẻ khác bèn nói:
- Chắc chồng chị tiếc con heo, vậy thì vái gà vịt thế nào cũng được.
Đầu anh nọ càng nhức thêm. Túng thế anh vái:
- Ông địa cho tôi hết nhức đầu, tôi cúng cho ông...
Tới đây anh không biết hứa cúng vật gì cho gọn. Thấy anh quá bón xén, ông Địa bèn niệm thần chú cho cái kim cô nọ siết gắt hơn. Vì quá đau, anh nổi giận thét lớn:
- Mình đưa cái búa lớn cho tôi. Để tôi bửa óc tôi ra coi cái gì ở trỏng mà nhức nhối mà hành hạ quá vậy?
Biết anh nọ gan dạ; ông Địa sợ anh bửa ra thiệt. Nếu vậy, cái kim cô của bà Cửu Thiên Huyền Nữ phải đứt, uổng bửu bối nọ quá, phải bồi thường. Ông bèn thâu lại cái kim cô về miếu.
Từ đó, anh nọ không còn đau bụng nhức đầu gì nữa. Xóm giềng cũng bớt tinh dị đoan cúng vái lặt vặt hao tài tốn công vô lý như trước.
Friday, 19. October 2007, 21:52:46
Cổ tích
Ngày xưa có hai anh em họ Trình, ăn ở với nhau cũng thuận hòa, chỉ ngặt là người anh thích chuyện ăn chơi, giao du kết bạn, vì vậy bao nhiêu tiền của cha mẹ để lại, người anh giành lấy hết, không để cho người em ruột một đồng nào làm vốn sinh nhai.
Người em phải chịu cảnh thiếu thốn nghèo khổ, còn người anh thì tối ngày trà rượu, bài bạc rong chơi. Người anh đi tới đâu cũng có vài ba gã "cặp tàu" để được ăn uống phủ phê, người anh thường lấy thế làm hãnh diện với làng nước, người vợ có to nhỏ khuyên giải thế nào cũng không nghe. Đã vậy người em có đến cậy nhờ chút đỉnh tiền bạc, thóc gạo thì người anh khăng khăng từ chối, đuổi về, trong lúc đó hễ bạn bè của anh ta có cần một đôi quan tiền, người anh lấy đưa ngay không tiếc. Vợ thấy thế bảo chồng:
- Không ai lạ đời như mình cả, ruột lại bỏ ra, người xa bỏ vào là nghĩa lí gì?
Người chồng cãi lại:
- Đàn bà biết gì, để rồi coi, nếu có chuyện gì, bạn bè họ không bỏ tao chớ chú Ba nó thì đừng hòng nhờ cậy gì.
Nói rồi người anh hiu hiu tự đắc cho rằng mình xử thế rất khéo, không mảy may lưu ý đến chuyện giúp đỡ người em. Người vợ biết nói gì nữa với chồng cũng vô ích, nên lẳng lặng làm thinh.
Đêm kia, người chồng vừa về tới nhà, vợ run rẩy kêu chồng vào buồng nói rằng:
- Nguy rồi, hồi chiều này có một lão ăn xin đến trước cửa nhà mình kêu đói, mình cho một bát cơm mà lão còn chê ít đứng ỳ ra đó, đuổi mãi không đi, giận quá, em lấy gậy, đánh lão một gậy lão liền ngã lăn ra chết. Em liền bó thây lão trong chiếc chiếu để dưới sàn ngoài kia, bây giờ mình liệu đem chôn lão cách nào đừng cho ai biết mới tránh khỏi tội giết người, thiệt là oan gia khi không kéo đến nhà mình vậy.
Nghe vợ nói xong, người chồng liền bảo ở nhà đợi, mình đi tìm các bạn về phụ lực đem chôn. Các bạn của anh ta khi nghe kể chuyện, thẩy đều tìm cách thoái thác và còn khuyên anh ta nên thú tội với quan. Anh ta chán nản về nói với vợ phải liệu cách nào khác chớ mấy thằng bạn chẳng người nào chịu tiếp tay đem chôn lão ăn mày.
Người vợ bèn nói với chồng:
- Hay để em đi mời chú Ba may ra chú biết nghĩ tình giúp mình một tay.
Người vợ đi mời người em đến, phụ lực với anh đem chôn lão ăn mày.
Chẳng ngờ mấy thằng bạn của người anh đều là kẻ tiểu tâm, muốn lập công nên họ kéo nhau đến huyện đường tố cáo. Quan huyện truyền cho sai nha đi bắt người anh điệu đến phủ đường. Người vợ liền đi theo kêu oan cho chồng.
Người vợ bẩm với quan huyện:
- Thưa quan huyện những người bạn của chồng tôi họ cáo gian. Sự thật là chẳng có ông già ăn mày nào bị đánh chết cả, vật bó chiếu đem chôn là một con chó.
Quan huyện không tin cho quật mồ lên xem thì thấy xác một con chó bị đánh chết. Liền hỏi qua duyên cớ. Người vợ thật tình nói rằng vì muốn khuyên chồng chừa bỏ cái thói giao du với những người bạn xấu nên mới làm thế để cho chồng thấy rõ bụng dạ nham hiểm của con người.
Quan huyện hết lời khen ngợi người đàn bà có chí và truyền răn phạt người xấu xa độc ác. Người chồng đã tỉnh ngộ, xa lánh bài bạc rượu trà và các bạn bè không tốt, từ đó rất thương yêu người em, hết lòng giúp đỡ người em được no ấm.
Friday, 19. October 2007, 21:51:04
Cổ tích
Xưa có một gia đình họ Võ nuôi một con cọp. Cọp nọ lớn lên được gia đìng thương mến xem như con ruột. Ông Tú tài họ Võ dạy hai đứa con của mình (một trai, một gái) kêu cọp nọ bằng anh Hai.
Vài năm sau, ông được lệnh ra Huế lãng chức vụ mới. Trước khi đi, ông kêu cọp nọ mà căn dặn ráng ở nhà nuôi mẹ nuôi em.
Chừng ông đi được vài ngày, cọp nọ bỗng dưng lại bàn thờ quỳ xuống, la hét. Người mẹ an ủi cọp. Cọp bèn ra dấu tỏ ý muốn xin phép ra đi rồi trở về. Bà Tú tài họ Võ cho phép. Cọp mừng rỡ chạy mất.
Bữa đó ông Tú tài nằm trên cáng trên đường về Huế, thình lình gặp con cọp đón đường. Nhìn lại, rõ là cọp ở nhà chạy theo! Ông biểu cọp trở về. Cọp khóc lóc, sau cùng đem dâng cho ông Tú tài một hoàn thuốc xạ hương để phòng bệnh dọc đường.
Khi về nhà cọp nọ biến ăn biến uống. Về sau được thư ông Tú tài gởi về, cả nhà mới biết rằng con cọp đi kỳ rồi là để dâng thuốc. Ai nấy hết sức cảm động.
Vài hôm sau, ông Tú tài đau nặng, nhờ hoàn thuốc nọ nên tạm thuyên giảm. Ông bèn gởi thư nhắn đứa con trai lớn ra săn sóc. Đứa con đến nơi, ông đã chết.
Cọp ở nhà hằng ngày lo nuôi mẹ và em gái, rảnh thì vô rừng bắt heo hoặc đi lối xóm cột bùa cho con nít kiếm tiền về chi dụng. Hỡi ôi, gia đình bà Tú tài càng ngày càng suy sụp. Nhuốm bệnh, bà từ trần. Cọp khóc lóc thảm thiết, chạ đầu làng cuối xóm để báo tin buồn rồi lạy tạ ơn những người đến giúp chôn cất mẹ.
Năm bảy tháng sau, người con trai ở Huế về Bến Tre. Chừng gặp mặt, cọp khóc lóc rồi dẫn hai anh em ra thăm mả của bà Tú Tài. Đến nơi, cọp đập đầu vào mả mà tự tử.
Người con trai bèn để tang cho cọp, làm lễ chôn cất kỹ lưỡng rồi lập miếu thờ, đề mấy chữ: "Nghĩa Hổ Trưởng Huynh chi mộ". Sau đó có người làm thơ khen tặng như vầy:
Hùm còn biết nghĩa nặng cùng người,
Trả thảo liều thân giữa đất trời
Một tấm gia dầu chôn chặt đất
Friday, 19. October 2007, 21:49:51
Cổ tích
Ngày xưa có một thầy đồ họ Lê, nhà nghèo khó, phải bỏ đi các nơi làm nghề gõ đầu trẻ. Về sau, anh được một phú ông làng nọ đón về "ngồi ở nhà" để cho con khỏi phải đi học xa. Phú ông có một cô con gái chưa chồng. Từ ngày có anh đồ đến ở nhà mình, cô gái đâm ra phải lòng chàng trẻ tuổi. Thấy cô gái thực bụng yêu mình, anh đồ cũng yêu lại một cách thắm thiết. Hai bên từng chỉ non thề biển quyết sống với nhau đến bạc đầu.
Nhưng khi bố mẹ anh đồ mang trà rượu tới dạm cô gái cho con, thì phú ông nhất quyết không gả. Không những thế, sợ để thầy đồ "ngồi" tại nhà mình lâu ngày sẽ không có lợi nên hết năm đó, lấy cớ là con mình lên học tỉnh với cụ Cử chỗ bà con, phú ông mời thầy dọn đi chỗ khác. Thấy mối tình bị chia rẽ, cô không dám cho một ai biết, chỉ mình tự khóc với mình mà thôi. Xa người yêu, cô sinh ra tương tư, lâu dần sầu não thành bệnh. Mặc dầu thuốc thang chăm sóc cũng nhiều, bệnh cứ nặng thêm, chưa bao lâu nụ hoa mơn mởn đã sớm lìa cành.
Thương tiếc con gái, vợ chồng phú ông tỏ ý hối hận. Họ bỏ tiền ra làm ma chay rất hậu. Người ta bỏ vào áo quan tất cả những vật kỉ niệm của nàng. Để tưởng nhớ lâu đài, người ta đập tấm gương soi của cô gái ra làm hai mảnh: một bỏ vào áo quan còn một đem đặt trên bàn thờ.
Lại nói chuyện anh đồ họ Lê, từ khi bị phú ông từ chối và cấm cửa, cũng đau xót không kém gì cô gái. Nhưng vì sinh kế, anh phải bỏ đi dạy học ở một tỉnh xa. Tuy vậy, anh vẫn không quên theo dõi tin tức của người yêu. Khi biết nàng đã sầu não mà chết, lòng anh thương tiếc không lúc nào nguôi. Từ đấy anh quyết định ở vậy cho đến già, khước từ tất cả mọi đám do bà mối manh hoặc tìm giúp.
Ba năm trôi qua.
Một hôm vào dịp cuối năm, anh đồ khăn gói trở về quê hương. Đường đi phải qua làng người yêu, nhưng vừa bước chân đến đấy thì trời đã tối. Bỗng trời nổi lên một cơn giông, gió bụi mù mịt. Đang đi đường sắp sửa thấy mưa to, anh đồ lật đật tìm một nơi trú ẩn. Chạy quá mấy lùm cây thì may sao anh nhìn thấy xa xa le lói có ánh đèn. Anh vội băng đồng tìm tới. Khi đứng trước một ngôi nhà nhỏ, anh kêu cửa xin vào trọ. Cửa vừa mở, một cô gái cầm đèn bước ra. Anh hết sức ngạc nhiên vì người ấy chính là người yêu của mình ngày xưa. Anh kêu lên:
- Ôi! Người hay là ma đây? Nghe người ta đồn là nàng đã chết rồi? Tại sao bây giờ lại ở đây?
- Thiếp chưa chết đâu. Cô gái tươi cười đáp. Nếu chết rồi thì làm sao còn đứng nói chuyện được với chàng đây. Mấy năm nay thiếp hằng ngày tựa cửa đợi chàng. Hôm nay được gặp lại nhau, thiếp vui mừng biết mấy. Mời chàng vào đi, kẻo mưa.
- Ở với người cô. Ở đây đôi ta có thể được tự do. Không một ai quấy nhiễu, ngăn cấm chúng mình cả.
Nghe lời nàng nói, chàng họ Lê có vẻ ngờ vực. Anh rụt rè bước vào. Trong nhà bày biện có vẻ khác với ngôi nhà cũ ngày xưa anh ngồi dạy học, nhưng anh không tiện hỏi. Nhà vắng vẻ chỉ có một bà cô hom hem và nặng tai. Nhưng chỉ trong một chốc, cô gái đã gọi tới năm bảy người có cả đàn ông và đàn bà. Họ vật lợn, giả giò, đồ xôi, gói bánh, khiêng bàn dọn ghế rất tấp nập. Anh hỏi cô gái khi cô ghé lại ngồi bên cạnh:
- Giết lợn đồ xôi làm gì vậy?
- Để làm lễ cưới chúng ta đấy! Sao chàng hiểu chậm thế!
- Không có bố mẹ họ hàng hai bên dự sao?
- Có chứ. Có cô ruột. Có ông bà nội. Nhưng cũng phải giấu giếm một tí. Nếu có bố mẹ thì chàng chẳng lấy được thiếp đâu. Vả lại còn có xóm làng quanh đây đến chứng kiến cho đôi ta.
Cô gái thấy anh có vẻ bỡ ngỡ, liền dắt anh vào buồng. Trong buồng bài trí rất đẹp. Cô gái lấy ra tất cả những vật kỉ niệm hồi còn trẻ, trong đó có chiếc lược anh đồ họ Lê tặng mình ngày trước, cho anh xem. Nhìn thấy chiếc lược sừng cũ, anh đồ cảm thấy yên tâm hơn. Anh rụt rè sờ thử vào người cô gái. Thấy nàng vẫn xinh xắn mềm mại như ngày xưa mọi ngờ vực của ông đồ bỗng nhiên tan biến hết.
Chỉ trong một chốc, cỗ bàn đã bày xong. Khách đến dự khá đông, có cả ông bà nội cô gái, bà cô lúc nãy và nhiều ông già bà lão, khăn áo đều đẹp chỉnh tề. Người ta mời hai anh chị vào trước bàn thờ làm lễ. Mùi hương trầm sực nức. Một ông cụ khấn vái hồi lâu rồi cuối cùng quay ra chúc hai anh chị:"bách niên giai lão". Chàng họ Lê thấy cô gái đứng trước ánh đèn, gò má đỏ lên có vẻ thẹn thò.
Sau đó họ ngồi vào mâm. Hai vợ chồng được ngồi riêng một mâm ở trong buồng. Cô gái ăn nhỏ nhẹ, nhưng anh đồ bụng đói nên cảm thấy ngon miệng. Phía ngoài, tiếng đũa bát chạm nhau và tiếng trò chuyện râm ran. Cuối cùng cảnh vật lại chìm vào vắng lặng như lúc mới đến.
Hai người cùng nằm lên giường tỉ tê trò chuyện. Anh đồ chưa bao giờ cảm thấy sung sướng và thoải mái đến như thế. Anh đọc những vần thơ tả sự nhớ nhung sầu muộn từ ngày cách biệt cho vợ nghe. Cô gái hỏi anh:
- Thế chúng ta đã thành vợ chồng, thỏa lời nguyện ước, chàng có vui sướng không?
- Có.
- Chàng đáp: Nhưng giá được phép bố mẹ, thì còn vui sướng gấp bội.
- Thế ngộ nhỡ có việc gì, liệu chàng có còn thương đến thiếp không?
- Thương.
- Thương nhiều hay thương ít?
- Thương mãi mãi.
- Thiếp chết rồi, chàng còn thương nữa chăng?
- Dù thế nào, vẫn thương hết mực.
Rồi đó, sau cuộc ân ái, anh đồ lăn ra ngủ say.
Đến sáng mai, khi bừng mắt tỉnh dậy thì không thấy cô gái và nhà cửa đâu cả, chỉ thấy mình nằm trên một ngôi mộ xây rất đẹp. Anh mới biết rằng tối hôm qua, mình đã lạc vào làng ma và được gặp người yêu. Anh chỉ thấy làm lạ, rằng bụng mình vẫn còn no, mũi vẫn còn phảng phất mùi hương trầm.
Sau những ngày nghỉ ngơi ở quê nhà, anh đồ họ Lê lại trẩy vào mấy tỉnh đường trong để trở lại với công việc dạy học.
Một năm nữa lại trôi qua một cách chóng vánh. Năm ấy tết đến, vì cơn bệnh dày vò, anh không về được. Khi lành bệnh, anh lại tiếp tục dạy học cho đến tháng năm. Một hôm, anh đồ họ Lê bỗng cảm thấy lòng xao xuyến, nhớ người yêu khôn tả. Hồi tưởng lại cái đêm năm xưa, anh tha thiết muốn gặp lại nàng lần nữa, dù thế nào cũng cam lòng. Anh bèn sửa soạn khăn gói từ giã đám học trò để trở về thăm quê. Qua làng của người yêu, anh không ngờ chân anh tự nhiên đưa anh bước theo lối cũ tới đúng vào cái nơi anh từng dự lễ thành hôn với người mình yêu dấu và lần này cũng đúng vào lúc đêm hôm khuya khoắt như hôm nào. Gọi cửa, anh lại thấy người yêu ra mở. Nhưng trong tay nàng giờ đây còn có một đứa bé chừng bảy tám tháng. Nàng trách chàng:
- Sao chàng đến muộn thế? Thiếp giận lắm đấy!
- Con ai thế này? Anh đồ họ Lê hỏi.
- Con chàng chứ con ai. Này thử nhìn xem, nó giống chàng như đúc.
Hai người dắt nhau vào dưới ánh đèn. Anh đồ liếc nhìn thấy vợ có phần xinh hơn trước, tuy rằng nước da hơi xanh. Thằng bé trong tay nàng bụ bẫm và có vẻ khôi ngô. Nàng nhìn anh cười:
Sau này chàng nhớ dạy cho nó học. Nó sẽ làm hơn cả bố đấy!
Sau khi ăn cơm xong, hai người lại lên giường, nhưng lần này vợ bảo chồng:
- Hai chúng ta đã kết nghĩa vợ chồng, thật là thỏa tấm lòng mong ước. Nhưng thú thật với chàng: thiếp vốn là người ở cõi âm, còn chàng là người dương thế, không thể sum họp với nhau lâu dài. Nay chúng ta đã có một đứa con. Xin giao lại để chàng đưa nó về nuôi.
Thấy chồng có vẻ ngần ngại, vợ lấy trong hòm ra một mảnh gương vỡ trao cho và nói:
- Chàng đừng lo phải vất vả bận bịu về việc nuôi con. Bố mẹ thiếp từ ngày thiếp mất đi đã biết hối hận. Vậy chàng cứ tìm đến nhà bố mẹ thiếp mà ở, thế nào ông cũng không tuyệt tình với cháu ngoại đâu. Chàng đừng lo ngại gì cả. Với lại, chàng giữ mảnh gương này, khi con khóc đưa ra cho nó soi, tự khắc nó nín.
Tình tự ái ân suốt đêm anh đồ lại ngủ quên. Sáng dậy, cũng như lần trước, mọi cảnh vật lẫn người yêu đều biến mất cả. Nhưng lần này, trên ngôi mộ ngoài anh ra còn có một đứa bé con với mảnh gương soi đã vỡ.
Nhớ lời dặn của vợ, anh đồ họ Lê bế con tìm vào nhà phú ông. Sợ vợ chồng phú ông không nhận, anh chỉ xin họ cho mình ở nhờ để mở một lớp dạy học trò. Nhưng anh không ngờ vợ chồng phú ông lần này tiếp đãi mình rất tử tế và sốt sắng nhận lời. Lại nhờ có ông giúp đỡ, trường học của anh ngày một đông học trò. Từ đấy, anh đỡ vất vả hơn trước. Đứa con của thầy đồ cũng được gia đình nhà chủ nuôi nấng chăm sóc mà không tính công.
Nhưng mỗi khi thằng bé khóc nư, thì không một người nào có thể làm cho nó nín được: dỗ dành cũng như dọa nạt đều chỉ phí công. Chỉ có đưa cho bố nó bế thì bao giờ nó cũng nín ngay. Một hôm, phú ông để ý rình xem vì sao thầy đồ lại có cách dỗ con tài tình như vậy. Khi trông thấy mảnh gương vỡ trong tay thầy đồ, phú ông vội kêu lên, ngỡ là thầy đã tự tiện lấy trộm mảng gương vỡ bày trên bàn thờ con gái. Anh chàng họ Lê phải hết sức biện bạch, cho mọi người hiểu rằng đó là vật kỉ niệm của vợ để lại, chẳng phải trộm cắp của ai. Phú ông vào lục tìm ở bàn thờ thì thấy mảnh gương của con mình vẫn còn. Và cả nhà rất lấy làm ngạc nhiên khi đưa cả hai ra so thì vừa như in những đường vỡ của hai bên khớp với nhau một cách lạ lùng. Sự ngạc nhiên càng tăng lên gấp bội khi họ thấy hai mảnh gương bỗng nhiên dính liền với nhau làm một.
Anh đồ họ Lê đành phải thuật lại sự tình cho vợ chồng phú ông nghe. Từ đấy vợ chồng phú ông nhận anh là rể và nhận con anh làm cháu ngoại. Anh ở vậy nuôi con, không lấy vợ khác. Đứa con anh về sau quả học giỏi, thi đỗ làm quan, đúng như lời mẹ nó báo trước.
Friday, 19. October 2007, 21:48:05
Cổ tích
Ngày xưa có một người học trò nghèo nhưng học giỏi, được Thiên Đình rất chú ý. Trong sổ thiên tào hồi đó đã ghi cho anh chàng đậu chiến sĩ, làm quan đến Thượng Thư. Mỗi lần anh đi học thường qua một ngôi đền thờ thần ở làng bên cạnh. Vị thần làng đó vốn đã đọc ở sổ thiên tào nên tỏ vẻ cung kính đối với người học trò ấy. Những khi anh ta đi qua đền thì tượng thần đang ngồi trên bệ lật đật đứng dậy rất lễ phép.
Một hôm người từ giữ đền nằm mơ thấy thần bảo:
- Ngày mai ngươi phải quét dọn đền cho sạch sẽ tử tế vì có quan lớn đến chơi nhà ta.
Người từ làm y như lời và suốt ngày hôm ấy hắn đứng chực ở cổng đền chờ đón vị khách quí của ông thần. Nhưng đợi mãi, hắn ta chả thấy một ai cả, trừ anh học trò nghèo xác nói trên ngày hôm đó vô tình có ghé vào đền nghỉ chân một lúc. Người từ cho là thường nên không để ý gì đến.
Ít lâu sau người từ cũng lại chiêm bao thấy ông thầy dặn dò như trước. Lần này, hắn cũng chả thấy ai lạ hơn là anh học trò nghèo hôm nọ đến đây ngâm một bài phú rồi lại đi. Nhưng hắn vẫn không tin. Đến lượt thứ ba cũng thế. Bấy giờ người từ mới cho quả phù hợp với lời thần dặn, bèn kể chuyện cho người học trò nghe và bảo:
- Đã ba lần như thế, nên tôi chắc rằng nhà thầy sau này sẽ đỗ đạt làm quan to chứ chẳng chơi.
- Nghe nói, người học trò như mở cờ trong bụng. Anh ta quyết chắc cầm sự vinh hoa phú quí trong tay. Hắn nghĩ ngợi rất nhiều về tương lai của mình. Một hôm, khi ngắm lại nhan sắc vợ mình, hắn thấy không được đẹp tí nào cả. Thế rồi đêm hôm ấy nằm dưới bóng trăng hắn mơ tưởng một người đẹp như chị Hằng. Hắn bụng bảo dạ:
- Rồi ta sẽ cho vợ ta về đi thôi! Một khi đỗ đạt thì thiếu gì nơi ngấp nghé muốn làm bà. Lúc đó ta tìm những đám con vua cháu chúa, đã da trắng moi son lại còn lắm của.
Nghĩ thế, qua ngày hôm sau hắn kiếm cớ gây sự với vợ và đòi bỏ cho kỳ được. Mọi người đều lấy làm lạ và tỏ vẻ khinh bỉ một người có học như hắn lại có thể nhẫn tâm đến thế được. Nhưng hắn chỉ cười khẩy mà không kể gì dư luận.
Một hôm khác có người đến đòi nợ hắn. Vừa mới bước vào sân, người ấy đã bị hắn chỉ tay vào mặt mắng cho một trận:
- Ta chưa có trả. Không khéo nay mai ta sẽ cắm đất vào vườn ở của mày cho mày biết mặt.
Hắn còn đe dọa nhiều người nữa. Gặp ai không vừa ý, hắn nói: "Rồi chúng mày sẽ biết tay ông!"
Tất cả những hành động của người học trò đều được tâu báo về Thiên Đình. Ngọc Hoàng nghe nói rất phật ý. Cho nên ít lâu sau đó, người từ giữ đền lại nằm thấy ông thần tin cho biết là không phải kính sợ đối với người học trò nữa vì trên Thiên Đình đã tước sổ mất rồi, không cho đỗ đạt. Ông từ hỏi:
- Tội của nó như thế nào?
- Nó bị kết án là "dưới trăng bỏ vợ, trước sân đòi nhà, chưa làm nên đã thất đức". Bây giờ nó không được hưởng phúc nữa.
Quả nhiên người học trò ấy từ đó thi mãi không đỗ, muốn nối duyên lại với vợ cũ cũng không được. Cửa nhà hắn ngày một sa sút dần. Do đó mà có câu tục ngữ "Chưa đỗ ông nghè đã đe hàng tổng".
1 2 3 4 5 Next »
Showing posts 1 -
10 of
42.