Con đường dẫn đến sự thịnh vượng-Trang 2
Wednesday, May 16, 2007 4:47:26 PM
Như trên đã nói, sự thịnh vượng của một quốc gia được quy định bởi nguồn gốc của nó, đó là giá trị con người. Ở nơi nào, sự thịnh vượng được tạo ra bởi sự đúng đắn của một số chính sách của nhà nước, bởi sự khai thác các nguồn tài nguyên tự nhiên thì đó chỉ là sự thịnh vượng tạm thời. Chỉ khi nào sự thịnh vượng được xác lập bằng sự sáng tạo của con người thì đó mới là sự thịnh vượng bền vững, sự thịnh vượng có giá trị xã hội. Vậy yếu tố nào tạo ra sự thịnh vượng bền vững hay sự thịnh vượng chân chính?
Thật khó có thể nói, sự thịnh vượng vật chất quan trọng hơn sự thịnh vượng tinh thần hay ngược lại nhưng có thể thấy rằng nếu không có những động lực tinh thần thì con người không vượt qua được sự ngăn cách về mặt địa lý để có thể thu về các giá trị vật chất, đấy là chưa nói đến chuyện sáng tạo ra chúng. Nếu không có sự dũng cảm của người châu Âu thì không thể có đế quốc Tây Ban Nha, đế quốc Pháp, đế quốc Anh, hay Khối Thịnh vượng Chung. Nước Mỹ cũng là một cường quốc lớn của thế giới, nhưng động lực tạo ra sự thịnh vượng của họ lại khác. Nước Mỹ trở thành một quốc gia thịnh vượng bởi động lực của họ là tự do, nghĩa là tổ chức hợp lý đời sống để cho mỗi người tự tạo ra các giá trị của bản thân. Vì thế, tôi cho rằng, điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất tạo ra sự thịnh vượng chân chính là tự do. Bởi tự do sinh ra con người và con người tạo ra tất cả những cái còn lại cho mình. Trong rất nhiều nghiên cứu trước, chúng tôi đã kết luận rằng, tự do không còn là quyền chính trị mà là quyền phát triển, phát triển các năng lực cá nhân, năng lực con người, đến lượt nó, các năng lực con người đảm bảo tính ổn định của sự thịnh vượng. Năng lực con người sẽ xúc tiến tỷ lệ phần trăm mà con người tạo ra thịnh vượng trong toàn bộ quá trình sáng tạo của cả một dân tộc. Sự thịnh vượng của một dân tộc hay quốc gia có thể được tạo ra từ nhiều nguồn, tài nguyên, rừng vàng biển bạc là một nguồn, sự sáng suốt của các kế sách chính trị cũng là nguồn. Nhưng năng lực con người mới là nhân tố quan trọng nhất tạo ra sự thịnh vượng lành mạnh.
Khi đã tìm ra nguồn gốc của sự thịnh vượng thì chúng ta phải tiếp tục đi tìm con đường dẫn đến sự thịnh vượng. Sự thịnh vượng bắt đầu từ con người chính là sự thịnh vượng bền vững. Muốn sự thịnh vượng bền vững thì con người phải bền vững. Muốn con người bền vững thì không gian chính trị của nó phải bền vững và đó chính là không gian mà người dân làm chủ, là tự do được đảm bảo bằng các thể chế dân chủ. Nói cách khác, sự thịnh vượng có mối quan hệ gắn bó mật thiết với tự do. Nếu không có tự do thì con người không thể có đời sống tâm hồn phong phú, không thể có sự đa dạng tinh thần, không thể có cảm hứng và khát vọng vươn tới sự thịnh vượng, tức là không có cả nguồn gốc của sự thịnh vượng. Do vậy, nghiên cứu sự thịnh vượng mà không nghiên cứu phương tiện hay con đường dẫn đến nguồn gốc của nó thì chưa đủ.
1. Mối quan hệ giữa tự do và sự thịnh vượng
Tự do và thịnh vượng là cặp phạm trù vô cùng quan trọng. Tự do là nguồn gốc của sự phát triển của con người. Nếu không có tự do thì không có tiền đề, không có không gian ban đầu, không có sự sạch sẽ tâm hồn để con người tiếp nhận tất cả các khả năng tìm kiếm lối thoát phát triển. Do vậy, logic của sự thịnh vượng cũng phải bắt đầu từ tự do cộng với các giải pháp khác như dân chủ để đảm bảo thể chế hoá tự do, đảm bảo sự ổn định của tự do, giữ gìn các quyền tự do. Tiếp theo, con người cần phải tiến hành các cuộc cải cách theo đòi hỏi của cuộc sống nhằm tạo ra sự phát triển tự do của chính đời sống con người. Phát triển tự do trong đời sống con người chính là phát triển năng lực của con người. Phát triển năng lực của con người là cội nguồn của sự thịnh vượng. Tuy nhiên, trong mối quan hệ biện chứng với sự thịnh vượng, chúng ta không nói đến tự do một cách chung chung mà phải nói đến tự do một cách cụ thể. Vậy tự do là gì ? Tự do là một không gian mà ở đấy con người không bị áp đặt, con người tự mình cân bằng với chính mình và tự mình cân bằng với chính đời sống. Tự do là ở đấy mà tất cả các quyền cơ bản của con người được xác lập, được bảo vệ, được tôn trọng, nó tạo ra một không gian chính trị để con người có thể thực hiện các hành vi của mình song song với ý nghĩ. Nói cách khác, tự do được tập hợp dưới các quyền để tạo ra các không gian chính trị mà ở đấy con người có quyền hành động dựa trên nhận thức của mình về các tất yếu hay đó là không gian bên ngoài. Một cách cụ thể hơn thì đó là sự tự do đối với nhà cầm quyền, tự do đối với nhau, và tự do trong tương tác giữa các lực lượng xã hội. Nhưng tự do không chỉ có thế, tự do còn có nội hàm, có nội dung quan trọng đó chính là con người phải tự do với chính mình, con người không trói buộc mình, con người có thể tự giải phóng mình ra khỏi chính mình để đảm bảo rằng con người giữ được sự đa dạng tinh thần và lẽ phải tâm hồn của mình. Như thế, tự do gồm hai không gian rất rõ ràng, thứ nhất là không gian tự do bên ngoài là thể chế, là pháp luật để đảm bảo rằng con người có đầy đủ các quyền của nó… Thứ hai là không gian bên trong của đời sống tâm hồn con người chính là con người có quyền ra khỏi bản thân mình, có quyền dịch chuyển ý nghĩ của mình, có quyền thay đổi khuynh hướng của mình, tóm lại là con người linh hoạt, không bị giam hãm bởi chính mình.
Tự do bên ngoài và sự thịnh vượng
Chúng ta hãy cùng xem xét mối quan hệ giữa không gian tự do bên ngoài của con người và sự thịnh vượng. Một cách khái quát nhất, có thể hiểu không gian tự do bên ngoài là không gian được xây dựng từ sự nhượng bớt tự do của mỗi con người và không gian này được đảm bảo bằng thể chế, pháp luật... hay bằng tất cả những công cụ mà con người tự do thảo luận với nhau và xây dựng nên. Không gian tự do bên ngoài rất quan trọng bởi nó chính là không gian đảm bảo cho các quyền tự do của con người như quyền tự do kinh tế, tự do ngôn luận, tự do chính trị... Nói cách khác, các quyền tự do chính là nội dung của không gian tự do bên ngoài của con người và khi các quyền tự do của con người được tôn trọng thì con người mới có đủ điều kiện tìm kiếm sự thịnh vượng. Trong rất nhiều quyền tự do như thế trước hết nói về quyền tự do kinh tế. Chúng ta đều biết rằng, làm kinh tế là một trong những hoạt động bản năng nhất của con người vì thế, bản thân tự do kinh tế không chỉ là mục đích mà còn là cơ sở để đạt các quyền tự do khác. Khi con người không được tự do làm kinh tế thì rất khó để nói đến những quyền tự do khác. Hơn nữa, tự do kinh tế luôn đóng một vai trò quan trọng trên con đường vươn tới sự thịnh vượng bởi xét cho cùng, 3/4 nhân loại vẫn còn bị giày vò bởi sự thiếu thốn về vật chất, và tự do kinh tế có ý nghĩa như một cuộc giải phóng con người ra khỏi đói nghèo và lạc hậu.
Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu thế nào là khái niệm tự do kinh tế. Tự do kinh tế nghĩa là con người được quyền tự do làm kinh tế theo trí tưởng tượng của mình. Nói một cách cụ thể hơn thì tự do kinh tế nghĩa là loại bỏ toàn bộ sự kiểm soát của chính trị đối với quyền làm kinh tế của công dân. Các yếu tố biểu hiện sự tự do kinh tế là sự lựa chọn cá nhân, trao đổi tự nguyện, tự do cạnh tranh và bảo vệ con người cùng sở hữu của nó. Các thể chế và chính sách phù hợp với sự tự do kinh tế khi nó cung cấp cơ sở cho sự trao đổi tự nguyện và bảo vệ các cá nhân và tài sản của con người. Nhà nước hay bất kỳ một tổ chức nào cũng không thể làm kinh tế thay con người được bởi thực tế đã chứng minh rằng ở đâu con người được tự do làm kinh tế thì ở dấy con người no đủ và giàu có. Con người phải tự làm ra kinh tế, con người tự chủ về kinh tế thì con người mới độc lập về suy nghĩ và hành động, con người mới có danh dự và tự trọng, những phẩm chất quan trọng để chứng minh rằng đó là con người phát triển. Do vậy, tự do kinh tế là môi trường cho các tài năng có cơ hội phát triển. Nhờ đó nhân lực, vật lực, tài lực và trí tuệ có cơ hội thuận lợi phát triển làm cho nền sản xuất quốc gia phong phú và đất nước trở nên thịnh vượng.
Không thể không nhận ra vai trò của tự do kinh tế đối với sự thịnh vượng của một quốc gia, đặc biệt, trước sức ép của quá trình toàn cầu hoá và sự cạnh tranh quyết liệt giữa các nhóm nước, các khu vực, các quốc gia chậm và đang phát triển đã dần phải công nhận khu vực kinh tế tư nhân. Nhưng chỉ công nhận quyền tự do kinh tế thì chưa đủ mà các quốc gia đang phát triển còn phải thừa nhận quyền sở hữu cá nhân. Quyền sở hữu là một trong những điều kiện cơ bản và cần thiết nhất của con người. Có sở hữu thì con người mới có nhu cầu lập ra các khế ước xã hội, nhà nước và pháp luật nhằm bảo vệ sở hữu của mình. Nếu không công nhận quyền quyền sở hữu hay ý thức sở hữu của con người đối với những đối tượng cụ thể thì con người đã bị tước bỏ một phần quan trọng để có thể có kinh nghiệm ban đầu về các quyền của mình và ý thức về một xã hội thịnh vượng cũng đồng thời bị tiêu diệt. Quyền sở hữu cá nhân còn là cảm hứng quan trọng nhất để khuyến khích mỗi cá nhân sáng tạo, mỗi cá nhân phát triển và do đó, nó là nền tảng của một xã hội thịnh vượng.
Khi nói đến không gian tự do bên ngoài của con người, không thể không nói đến quyền chính trị bởi trong tất cả những tác động lên cuộc sống mà con người tiến hành thì chính trị có tác động rõ rệt nhất. Sự thay đổi chất lượng của các không gian chính trị là tiền đề để thay đổi các yếu tố của đời sống tinh thần, đời sống vật chất của con người. Vì thế, sự thịnh vượng của một quốc gia còn được quyết định bởi hệ thống chính trị. Và vì hệ thống chính trị đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của một quốc gia nên hệ thống chính trị phải linh hoạt, phải tự do và từ đó, quyền tự do chính trị trở thành một đòi hỏi tất yếu của các quốc gia trên con đường tiến tới sự thịnh vượng.
Trong cuộc sống hàng ngày, con người không cảm nhận hết những tác động của chính trị lên đời sống kinh tế, đời sống văn hóa của mình nhưng thực ra chính trị có mặt trong tất cả các không gian sống của con người. Cũng giống như tự do kinh tế, tự do chính trị nghĩa là quyền con người tự do lựa chọn các khuynh hướng chính trị khác nhau. Con người không thể bị trói buộc vào một khuynh hướng chính trị nào cả bởi con người đi trong sự hướng dẫn của các tiêu chuẩn chính trị. Nếu chỉ có một khuynh hướng chính trị thì con người buộc phải theo khuynh hướng đó và khi bị trói vào một khuynh hướng duy nhất thì con người mất đi khả năng nhận thức các khuynh hướng khác.
Trả lại con người tự do để con người có cơ hội nhận thức nhiều khuynh hướng chính trị khác nhau của cuộc sống, để chuẩn bị và trang bị cho mình đủ kỹ năng bươn chải trong cuộc sống là một yêu cầu khẩn thiết ở các quốc gia kém và đang phát triển. Nếu không có tự do chính trị thì con người không thể có tự do kinh tế bởi chính trị là yếu tố bảo trợ, xúc tiến cho sự phát triển của kinh tế. Tự do chính trị là tạo ra không gian tinh thần để con người phát triển năng lực, không có sự phát triển năng lực của con người thì không thể tổ chức sự phát triển về kinh tế được, do vậy, tự do chính trị là đòi hỏi tất yếu của quá trình phát triển, là đòi hỏi khách quan của sự phát triển, thậm chí nó chính là không gian của sự phát triển. Tự do chính trị còn tạo ra môi trường lành mạnh thúc đẩy cảm hứng sáng tạo của con người. Không có tự do chính trị thì con người không yên ổn sáng tạo được bởi sáng tạo để làm gì nếu bỗng nhiên sáng tạo ấy của con người đi chệch hướng quỹ đạo chính trị đã được định sẵn? Và sự lo sợ về khả năng chệch khỏi quỹ đạo chính trị hay chỉ được sáng tạo trong một khuôn khổ định sẵn sẽ giết chết cảm hứng sáng tạo, khát vọng sáng tạo của con người và do đó, con người không còn cảm hứng vươn tới sự thịnh vượng.
Con người được sinh ra không chỉ là một thực thể sinh học thuần tuý mà còn là một thực thể văn hoá, triết học và chính trị. Do vậy, nói đến con người không thể không nói đến môi trường văn hoá của nó, nơi đó, nhân cách và phẩm chất của con người được hình thành và hoàn thiện. Văn hoá là kết quả của hình ảnh tự nhiên, kinh nghiệm hoặc thói quen của đời sống con người trong sự tương tác của cộng đồng nó với chính nó, và sự tương tác của cộng đồng nó với các cộng đồng khác, thậm chí còn là sự tương tác của các cộng đồng con người với thời gian. Do vậy, văn hoá là bức tranh phản ánh rõ rệt nhất đặc thù, lối sống cũng như đời sống tinh thần của một dân tộc. Chính vì văn hoá là một lĩnh vực rất quan trọng của đời sống nên hầu hết các nhà chính trị đều nhận ra rằng, không có sự hỗ trợ của văn hoá thì họ khó có thể cầm quyền một cách yên ổn được. Vì thế, xu hướng tác động vào văn hoá, biến văn hoá trở thành một công cụ hỗ trợ việc cầm quyền là một thực tế phổ biến ở nhiều quốc gia. Tuy nhiên, càng ngày người ta càng nhận ra những mặt trái của sự tác động này vì suy cho cùng, sự can thiệp của con người vào văn hoá sẽ khiến văn hoá không còn là sản phẩm tự nhiên nữa. Đến lượt mình, sự phi tự nhiên ấy sẽ tác động lên đời sống tinh thần của con người, làm biến dạng đời sống tinh thần, thậm chí làm mất đi tính đa dạng của đời sống tinh thần con người.
Như trên chúng tôi đã chỉ ra rằng, sự thịnh vượng chỉ đến khi mỗi con người có sự đa dạng tinh thần và sự đa dạng tinh thần chỉ được đảm bảo khi con người có tự do tinh thần. Do vậy, trả lại tự do cho văn hoá, tức là khôi phục lại trạng thái tự do và phi chủ quan của việc áp đặt các giá trị văn hoá là biện pháp để khôi phục lại sự đa dạng của đời sống tinh thần con người. Tự do văn hoá là không áp đặt các giá trị văn hóa, làm cho tự do trở thành công nghệ chủ yếu để hình thành các giá trị mang chất lượng văn hoá. Tự do văn hoá còn thể hiện ở việc con người có cơ hội tự do va đập, tự do tiếp nhận các giá trị văn hóa trong quá trình giao lưu giữa các cộng đồng. Cùng với sự phát triển của toàn cầu hoá, sự giao lưu kinh tế đã kéo theo sự giao lưu văn hoá bởi suy cho cùng, các giá trị văn hoá có động lực cấy ghép ở trong các giá trị vật chất cụ thể. Nhưng sự giao lưu văn hóa ấy, một số quốc gia đã cường điệu gọi là sự xâm lược văn hoá mà không biết rằng đó là sai bởi vì mỗi con người, trong thời đại toàn cầu hoá, cần phải sống, phải giao lưu, phải tiếp xúc với những cộng đồng khác ngoài cộng đồng của mình. Muốn vậy con người phải có kinh nghiệm của các nền văn hoá khác. Sự áp đặt chủ quan ngay từ đầu của các chính sách hay của sự hướng dẫn chính thống rằng đó là sự xâm lược văn hóa đã khiến con người mất đi cơ hội va đập hoặc nhận thức một cách tự nhiên. Tất nhiên, không phải yếu tố văn hóa nào khi du nhập vào một cộng đồng đều phù hợp với phong tục và thẩm mỹ của cộng đồng ấy nhưng tiêu chí để nhận thức và chọn lọc các yếu tố văn hóa phải được diễn ra một cách tự do. Mỗi con người phải mình làm việc ấy, nói cách khác, nhận thức đúng sai là công việc của mỗi người. Con người phải đi qua cái sai thì mới có kinh nghiệm của cái đúng và những người phát triển là những người biết học cái đúng từ cái sai. Nói tóm lại tự do cho con người trong việc lựa chọn những giá trị văn hoá mà mình yêu thích là một trong những khía cạnh quan trọng nhất trên con đường tiến tới sự thịnh vượng của mỗi quốc gia. Bởi đó là cách tạo ra sự phong phú của đời sống tinh thần – nguồn gốc tạo ra sự thịnh vượng.
Tự do bên trong và sự thịnh vượng
Phải thấy rằng, với mỗi con người, cái khó nhất không phải là tự do với nhà cầm quyền mà là tự do với chính bản thân mình. Bởi khi các điều kiện xã hội đủ tự do cho con người nhưng con người vẫn không phát triển, không dịch chuyển theo các khuynh hướng đã được xác định là tích cực thì làm sao con người đạt đến sự thịnh vượng? Do vậy, không gian tự do bên ngoài là quan trọng nhưng không gian tự do bên trong mỗi con người mới là không gian quyết định sự phát triển của nó. Nếu mỗi con người không tự do với chính mình, không ra khỏi định kiến và quá khứ của chính mình thì không thể có sự thịnh vượng. Nói cách khác, nếu không có những động lực tinh thần thì con người không có khát vọng đi tìm sự đúng đắn, nếu không có khát vọng sự phát triển thì con người sẽ không phát triển và không phát triển thì làm sao có sự thịnh vượng? Vì thế, chỉ khi miền tự do bên trong của con người chứa đựng đủ khát vọng phát triển, khát khao khẳng định năng lực của mình, khát vọng cống hiến của mình thì điều kiện tự do bên ngoài mới trở nên có ý nghĩa và quan trọng hơn, con người mới đòi hỏi không gian tự do bên ngoài đảm bảo cho quá trình dịch chuyển song song của miền tự do bên trong tâm hồn mình.
Một số người đặt câu hỏi rằng, điểm yếu của con người ở các nước chưa có sự thịnh vượng nói chung là gì? Tôi cho rằng, đó là con người chưa hiểu tự do là gì. Con người luôn luôn đi tìm kiếm tiêu chuẩn, tìm kiếm đòi hỏi của người khác để chiều theo mà không biết giá trị quan trọng nhất của con người chính là phải hình thành ra tiêu chuẩn tinh thần của mình. Con người phải tự do đi tìm giá trị của mình, phát hiện ra các giá trị của mình và tìm cách bán các giá trị mà mình cho là xuất sắc nhất trong tập hợp nội hàm giá trị mình có và chỉ có miền tự do bên trong con người mới có thể giúp con người làm được điều này. Cái quan trọng nhất đối với một con người là họ phải tự phát hiện ra mình là ai và mình có những thứ gì. Con người thường hay nghe người khác khen mình có giá trị nào đó và tưởng rằng mình có khả năng. Hầu hết con người đều có trạng thái tinh thần như vậy, tức là nghe về khả năng của mình chứ chưa biết cách đo đạc một cách chính xác khả năng thật của mình, chưa nghiên cứu về khả năng thật của mình một cách biện chứng. Ví dụ, có những người bỗng nhiên nghĩ rằng mình có khả năng âm nhạc nhưng nhà mình nghèo nên không mua nổi một cây đàn, như vậy có nghĩa là khả năng âm nhạc là khả năng tự nhiên của người đó nhưng không phù hợp với điều kiện khách quan của anh ta. Khi khả năng không phù hợp với điều kiện khách quan của mình thì nó nghiễm nhiên trở thành tiềm năng, mà tiềm năng thì không phải là khả năng. Cho nên, khi nghiên cứu về khả năng của mình, phải nghiên cứu khả năng bên trong trời cho mình và cả tập hợp các điều kiện khách quan để biến nó trở thành hiện thực, trở thành thứ dịch vụ bán được. Muốn thế thì con người phải có tự do bên trong và lắng nghe sự mách bảo của tâm hồn mình, hãy đo đạc mình và đo đạc các điều kiện khách quan của mình để tìm kiếm sự phù hợp. Tôi đã từng định nghĩa: Phát triển là sự gặp gỡ một cách thuận lợi giữa các tiềm năng bên trong của con người với các điều kiện khách quan. Khi con người có tự do và biết sử dụng công nghệ tự do thì tự nhiên con người sẽ hình thành một khả năng rất quan trọng đó là tự lập. Khi nào con người tự lập được thì con người mới trả lời được một cách chính xác mình là ai. Khi còn sống nhờ vào các mối quan hệ không phải là sản phẩm trực tiếp từ trí tuệ của mình thì chưa tự lập. Khi nào con người tự lập được thì sẽ xuất hiện một cái quan trọng hơn nhiều, đó là tự trọng. Tự do - Tự lập - Tự trọng là những đại lượng hết sức quan trọng để hình thành giá trị của con người. Các bạn đều biết rằng có những con người được đầu tư một chút thì giá của nó cao gấp mười lần so với giá tự nhiên, người ta gọi đó là lăng-xê. Rất nhiều người được lăng-xê, trông xa thì lấp lánh nhưng đến gần thì thấy rất thất vọng. Lăng-xê là một dịch vụ của nền kinh tế hiện đại để tạo ra vẻ lấp lánh của tất cả các đối tượng hàng hoá. Cần phải làm sao để mình được đầu tư để được lăng-xê, nhưng quan trọng hơn cả là làm sao sau khi được lăng-xê mình vẫn còn là mình. Khi nào con người hoàn tất được một vòng công nghệ như vậy thì không bao giờ con người sợ mất giá trị và cái đó được hình thành trong logic bộ ba Tự do - Tự lập - Tự trọng.
Không gian tự do bên trong con người tạo ra sự nhạy bén về tinh thần, sự cao thượng của đời sống tinh thần của con người. Và sự nhạy bén cộng với sự cao thượng sẽ tạo ra khả năng không thể dự báo được về sự phát triển. Một số người cho rằng sự phát triển phụ thuộc vào những ý tưởng của các thiên tài mà không biết rằng thực phẩm của những thiên tài là tự do vì chỉ khi miền tự do bên trong con người thai nghén đủ ý tưởng thì con người mới có cảm hứng sáng tạo. Như vậy, tự do mới chính là điểm xuất phát của mọi sự phát triển và sự phát triển đầy đủ các mặt của cuộc sống chính là sự thịnh vượng.
2. Thể chế hoá tự do: Con đường dẫn đến sự thịnh vượng bền vững
Có lẽ không cần phải nói thêm về mối quan hệ giữa tự do và sự thịnh vượng. Tuy nhiên, nếu tự do là con đường dẫn đến sự thịnh vượng thì thể chế hoá tự do lại là con đường dẫn đến sự thịnh vượng bền vững bởi khi đó, các không gian tự do của con người được đảm bảo. Nói cách khác, thể chế hoá tự do là để tạo ra sự ổn định của tự do và do đó, người ta mới nói đến tầm quan trọng của tự do dân chủ. Nhìn vào tự do dân chủ người ta biết các quyền tự do còn lại ở trạng thái nào. Như vậy, chúng ta không thể không nói đến yếu tố tổ chức xã hội hay tầm quan trọng của yếu tố chính phủ.
Cũng có thể nói rằng sự thịnh vượng bao giờ cũng bắt đầu từ sự đúng đắn của một chính phủ. Một chính phủ đúng đắn là một chính phủ đại diện cho các khuynh hướng tiến bộ của đời sống xã hội, tạo ra không gian tinh thần để con người trở nên tự do, phát triển một cách tự do các năng lực của mình hay làm cho nguồn lực con người trở thành nguồn lực chủ yếu tạo ra sự thịnh vượng. Nói cách khác, nghĩa vụ chính trị của nhà cầm quyền là bảo vệ tính đa dạng của cuộc sống xét trên cả lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hoá. Sự đa dạng của cuộc sống trong cả lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hoá tạo ra sự phát triển tự nhiên và bền vững của đời sống. Dân tộc nào mà chính phủ tôn trọng con người thì dân tộc ấy có tương lai. Không có gì cao quý và vĩ đại hơn con người, không có gì thay thế được con người. Chính phủ sáng suốt là chính phủ biết thể chế hoá những quyền tự do của con người để con người phát triển và trở thành nhân tố quan trọng nhất tạo ra sự thịnh vượng.
Trong bối cảnh các nước thế giới thứ ba thì chính phủ là nhân tố quan trọng nhất. Họ đã tạo nên cuộc giải phóng lần thứ nhất và trở thành những người cầm quyền, nhưng họ chưa thức tỉnh để làm cuộc giải phóng lần thứ hai, giải phóng năng lực con người và chính vì vậy, các xã hội của khu vực này lại rơi vào bế tắc. Hầu hết các nhà lãnh đạo thiển cận đều muốn mình là lãnh đạo duy nhất, quan trọng nhất mà không nhận ra rằng chừng nào còn tình trạng như vậy thì toàn bộ tổ chức xã hội còn rủi ro. Khi nhân dân làm ra sự thịnh vượng của chính họ thì nhân dân cần chính phủ như một người lãnh đạo, một người điều hoà sự tồn tại có tính chất cộng đồng của họ chứ không phải là người lãnh đạo duy nhất trong cộng đồng ấy. Đó là lý thuyết xây dựng cộng đồng lành mạnh. Một chính phủ, một nhà nước tài ba là nhà nước làm cho nhân dân mình trở nên thông thái. Khi nhân dân thông thái hơn chính phủ thì chính phủ nhiệm kỳ sau mới có triển vọng trở thành một chính phủ có giá trị thông thái hơn chính phủ nhiệm kỳ trước, vì sự hơn của chính phủ nhiệm kỳ sau so với chính phủ nhiệm kỳ trước nằm trong chính kho tàng của nhân dân. Ngược lại, một xã hội, một cộng đồng nhân dân yếu kém về năng lực tổ chức sẽ tạo ra một chính phủ tồi. Một chính phủ tồi không chỉ tố giác sự yếu kém về năng lực của chính phủ ấy mà còn tố giác sự trì trệ của cả dân tộc ấy. Tôi cho rằng, người lãnh đạo phải xuất sắc, đẹp đẽ, thông thái, lương thiện, cao thượng vì nếu không, sự suy thoái của người lãnh đạo sẽ chỉ gây cho nhân dân sự thất thiệt về mặt vật chất, thậm chí còn cản trở họ trên con đường tiến tới sự thịnh vượng.
Để không trở thành lực lượng cản trở con người đến với sự thịnh vượng và cũng để không gian tự do được thể chế hoá bền vững, chính phủ các nước thế giới thứ ba không còn cách nào khác là phải tổ chức và rèn luyện nền dân chủ. Tổ chức, xây dựng và rèn luyện nền dân chủ là một hoạt động nhằm mở rộng không gian tự do, là cách thức kéo tự do xuống các tầng hàng ngày của đời sống, để tự do trở thành nguồn sống của con người và dân chủ trở thành không gian sống của con người. Hơn nữa, thời đại mà chúng ta đang sống là thời đại hội nhập, thời đại toàn cầu hóa, các nước thế giới thứ ba đang đứng trước các cơ hội lớn nhưng cũng phải đối mặt với những thách thức cả từ bên trong lẫn bên ngoài. Trong bài viết về toàn cầu hoá tôi có nói đến cơ hội của các nước thứ ba. Sự cạnh tranh toàn cầu sẽ tố giác một thực tế quan trọng là năng lực cạnh tranh của các nước thứ ba rất kém. Con người đi tìm cách nâng cao sức cạnh tranh và chắc chắn người ta sẽ phát hiện ra nguồn gốc của sự thiếu năng lực cạnh tranh ở các nước thế giới thứ ba là thiếu tự do. Tự do là nguồn gốc của sự tăng trưởng các năng lực con người, là vốn liếng tự nhiên quan trọng nhất để con người nâng cao năng lực của mình và do đó nâng cao năng lực cạnh tranh của các dân tộc. Quá trình hội nhập tạo ra sự thức tỉnh của các nước thế giới thứ ba về việc thiếu tự do. Chính vì thế, quá trình dân chủ hoá là tất yếu trong thời đại toàn cầu hoá và các nước kém phát triển không thể không rèn luyện và tổ chức nền dân chủ.
Thật khó có thể nói hết những nguyên lý cũng như những lộ trình của quá trình tổ chức và rèn luyện nền dân chủ của một quốc gia trong khuôn khổ một bài viết nhưng một nguyên lý cực kỳ quan trọng mà các chính phủ các nước thứ ba phải làm là đưa ra lộ trình tạo ra sự hiểu biết về xã hội dân chủ của người dân. Nói cách khác, người dân phải được giáo dục để hiểu biết về tự do và dân chủ. Mà điểm mấu chốt của lộ trình giáo dục về tự do, dân chủ chính lại là tự do giáo dục. Tự do giáo dục là xác lập tinh thần tự do trong việc hình thành nhân cách ban đầu của con người. Có thể nói, ngoài môi trường gia đình, môi trường đầu tiên mà con người giao tiếp là môi trường giáo dục của nhà trường. Vì thế, nếu môi trường giáo dục bị áp đặt bởi hệ thống chính trị thì con người không có cách gì để tổ chức lực lượng cho tương lai và sẽ không đến được tương lai vì tương lai của con người là sự giác ngộ của chính nó. Mỗi một con người phải tự tìm thấy tương lai của mình và tự do giáo dục là để đảm bảo rằng chính trị hay bất cứ một lực lượng nào đều không được phép định ra tương lai cho con người. Nếu không thức tỉnh được điều đó thì không thể có thịnh vượng.
Thêm vào đó, tổ chức và rèn luyện nền dân chủ còn có nghĩa là nâng cao năng lực làm chủ con người tức là nâng cao sự hiểu biết của con người về các quyền cơ bản của mình. Nếu không thì cho dù có một không gian tự do đầy đủ nhưng con người vẫn không đủ năng lực để khai thác và con người vẫn sẽ chỉ bơi trong mỗi không gian nhỏ bé của mình. Tổ chức và rèn luyện nền dân chủ chính là tạo cho con người khả năng khai thác hết không gian của mình, từ đó họ có khát vọng đòi hỏi những không gian lớn hơn. Khi con người không có năng lực, không có khát vọng đòi hỏi những không gian lớn hơn thì không thể có khát vọng sáng tạo, khát vọng phát triển và sự thịnh vượng cũng chỉ là những mơ ước xa vời.
Đạt đến sự thịnh vượng đã khó nhưng gìn giữ sự thịnh vượng còn khó hơn bởi hiện nay, quá trình toàn cầu hoá đang tạo ra nguy cơ mất đi sự thịnh vượng ở ngay các nước phát triển. Đó là vì các dòng di dân thì từ phương Đông sang phương Tây nhưng các dòng tài chính lại dịch chuyển từ phương Tây sang phương Đông. Hơn nữa, tự do, trong thời đại mới cũng đang phát triển cùng với sự phát triển của con người. Vì thế, tổ chức và rèn luyện nền dân chủ không chỉ là đòi hỏi ở các nước đang phát triển mà còn là đòi hỏi ở những nước phát triển. Nói cách khác, rèn luyện và tổ chức nền dân chủ phải là một quá trình liên tục hay thể chế hoá tự do phải là một quá trình liên tục nhằm đạt đến sự thịnh vượng bền vững.
KẾT LUẬN
Sự thịnh vượng tạo ra các giá trị của con người và ngược lại, giá trị con người là nguồn gốc của sự thịnh vượng. Tuy nhiên, để con người có cơ hội tìm thấy, nhận ra những giá trị của chính mình thì con người phải được tự do. Do vậy, thịnh vượng cần phải được hiểu như là cơ hội của con người, tức là con người phải có khả năng nhận biết được thịnh vượng là mục tiêu, sau đó là nhận biết các cơ hội, tiếp nữa là giải phóng các năng lực của mình để vươn tới sự thịnh vượng. Như vậy, nghiên cứu sự thịnh vượng chính là nghiên cứu cơ hội của mỗi một con người chứ không phải đi tìm thành tích để động viên con người một cách chung chung. Điều này tạo ra một sự thức tỉnh tư duy rất lớn về sự thịnh vượng. Một xã hội thịnh vượng chính là một xã hội mà ở đấy con người với tư cách là các cá thể khoẻ mạnh, giàu có, thông thái và tự tìm thấy tương lai của mình. Trạng thái tinh thần hiện thực về sự thịnh vượng cộng với chương trình tương lai của sự thịnh vượng tạo ra khái niệm thịnh vượng ổn định. Và đó cũng là thông điệp mà bài viết muốn truyền tải.
Nguyễn Trần Bạt, Chủ tịch / Tổng giám đốc, InvestConsult Group






