Không gian tinh thần-Trang 2
Wednesday, May 16, 2007 4:55:19 PM
IV. XÁC LẬP LẠI SỰ CÂN BẰNG CỦA ĐỜI SỐNG TINH THẦN
1. Bảo vệ sự đa dạng của đời sống tinh thần
Để giữ gìn sự cân bằng của đời sống tinh thần, trước hết con người phải tôn trọng và bảo vệ sự đa dạng của đời sống tinh thần. Sự đa dạng của đời sống tinh thần là nguồn gốc của tất cả mọi năng lực và triển vọng của con người, là nguyên lý quan trọng để mỗi người tổ chức cuộc sống. Cần phải chăm sóc và bảo vệ sự đa dạng tinh thần vì nó đảm bảo cho khả năng tương thích của con người đối với các điều kiện sống khác nhau.
Khi con người không có sự phong phú, đa dạng về mặt nhận thức thì sẽ rơi vào trạng thái đơn điệu về mặt nhận thức và năng lực ứng phó, năng lực thích nghi của con người sẽ giảm đi rất nhiều và do đó nguy cơ rủi ro dội xuống đầu con người cũng lớn hơn rất nhiều. Nếu không có sự đa dạng tinh thần thì con người có nguy cơ nghe theo những hướng dẫn phiến diện mà không đủ năng lực để nhận ra tính rủi ro của nó. Chẳng hạn, khi con người được hướng dẫn rằng tất cả những thứ bên phải đều đẹp thì tất cả mọi người khi ra đường đều nhìn về bên phải và những cơ hội ở bên trái sẽ bị bỏ qua. Thậm chí, con người đi giằng xé những cái đẹp ở bên phải và gây tắc nghẽn giao thông ở bên phải trong khi ở bên trái lại thưa thớt. Những hướng dẫn sai như vậy đã góp phần tạo ra dị tật phổ biến của con người. Nhiệm vụ của con người là phải biết chống và khắc phục sự hướng dẫn sai tạo ra dị tật phổ biến trong nhận thức của mình. Cuộc sống diễn biến khôn cùng, liên tục, do vậy, các quy tắc hướng dẫn đều có thể lạc hậu cùng với cuộc sống. Một cái đẹp năm nay có thể lạc hậu so với sang năm. Cho nên, phải tạo ra tính đa dạng để giúp con người không lúc nào bị lạc hậu, tức là con người luôn luôn có những phương án khác nhau, những cách thức khác nhau đủ phong phú để có thể thích nghi với những biến đổi của cuộc sống.
Đảm bảo sự đa dạng tinh thần là cách thức quan trọng nhất và duy nhất để chống lại sự thoái hoá của năng lực bởi vì sự đa dạng tinh thần chính là phương án nhận thức của con người và nhờ có nó mà con người trưởng thành trong quá trình phát triển của nhận thức. Nếu con người để cho mình phát triển một cách đa dạng thì con người sẽ có những năng lực tiềm ẩn để vào những lúc cần thiết, bằng tầm nhìn họ sẽ huấn luyện khả năng để chuẩn bị, để phá vỡ các ranh giới của tất yếu đối với loại năng lực đã có và tạo ra những ranh giới mới của tất yếu đối với những năng lực mới xuất hiện. Chính sự đa dạng các năng lực giúp con người tìm thấy các ranh giới mới, các triển vọng mới.
Sự phong phú của tinh thần con người chính là cái kho tiềm ẩn các giải pháp để để ứng phó với đời sống phát triển hay giúp con người chớp được thời cơ cho sự phát triển. Chính sự phong phú, đa dạng của các phôi kinh nghiệm tạo ra sự ứng phó với sự phát triển và nó tạo ra mầm mống của sự phát triển, giúp con người không bỏ lỡ cơ hội của sự phát triển. Nếu con người không phong phú thì con người không có các kinh nghiệm tình huống, con người không ứng xử đủ nhanh để tạo ra các giải pháp phát triển và do đó con người luôn lỡ nhịp trong sự phát triển. Cho nên việc chăm sóc, việc duy trì, việc phát triển cái sự đa dạng tinh thần của con người là một bài toán có chất lượng cách mạng đối với việc duy trì và phát triển sự sống
Sự đa dạng của đời sống tinh thần chỉ có thể được duy trì và phát huy tác dụng của nó trong điều kiện có tự do. Tự do để làm gì? Để cho các yếu tố khác nhau có cơ hội thay thế địa vị dẫn dắt xã hội phát triển. Nếu tiêu diệt tất cả các yếu tố ngoài yếu tố đang thống trị thì con người lấy gì làm công cụ thay thế vào những tình huống cần thiết? Sự lệ thuộc hoàn toàn vào một yếu tố lãnh đạo duy nhất là rủi ro lớn nhất của con người, nhất là khi nó trở nên thoái hoá bởi vì bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong cuộc sống đều có thể bị thoái hoá. Nếu không có tự do thì người ta không thay thế những yếu tố khác nhau trở thành yếu tố chủ đạo được. Cho nên, sự đa dạng tinh thần đảm bảo mọi cái đều tồn tại và tự do đảm bảo cho mọi cái có thể thay thế nhau trở thành yếu tố chủ đạo lãnh đạo sự phát triển.
2. Khuyến khích năng lực tự giải phóng của cá nhân
Nghiên cứu về không gian tinh thần chính là nghiên cứu công nghệ để con người đạt đến trạng thái sung mãn trong năng lực sáng tạo cũng như năng lực thỏa mãn các đòi hỏi của cuộc sống hiện đại. Đó cũng chính là cách để giữ cho đời sống tinh thần của con người được cân bằng, để con người không rơi vào trạng thái tha hoá. Muốn đạt đến trạng thái đó, trước hết con người phải ý thức được về nghĩa vụ tự giải phóng của mình. Vậy con người giải phóng mình bằng cách nào?
Thứ nhất, con người phải chủ động phấn đấu để biến tự do thành năng lực của mình. Có những người có rất nhiều quyền tự do nhưng không tạo ra được cảm giác tự do ở bên trong là vì lười biếng. Họ không phấn đấu nên không thể biến tự do thành năng lực của mình. Không phấn đấu là không có năng lực. Biến các quyền tự do bên ngoài trở thành năng lực tự do bên trong chính là khởi đầu của quá trình sáng tạo của con người. Cho nên, nếu con người không phấn đấu để mình tự do, mình hưởng được, mình biến được các quyền tự do trở thành các quyền tinh thần, trở thành năng lực của mình thì có cho con người ấy tự do cũng chẳng có ích lợi gì. Điều quan trọng nhất đối với một con người là họ phải tự phát hiện ra mình là ai và mình có những thứ gì. Con người phải tự do đi tìm giá trị của mình, phát hiện ra các giá trị của mình và biết cách sử dụng các giá trị ấy. Khi con người có tự do và biết sử dụng công nghệ tự do thì tự nhiên con người sẽ hình thành một khả năng rất quan trọng đó là tự lập. Khi nào con người tự lập được thì sẽ xuất hiện một cái quan trọng hơn nhiều, đó là tự trọng. Tự do - Tự lập - Tự trọng là những đại lượng hết sức quan trọng để hình thành giá trị của con người.
Thứ hai, con người phải tự giải phóng mình khỏi sự ràng buộc của quá khứ. Nếu con người không ý thức được việc trước hết mình phải tự giải phóng mình ra khỏi quá khứ nhận thức của mình là những định kiến được neo vào hệ tư tưởng, vào sự ràng buộc của văn hoá lạc hậu thì con người không thể có tự do. Miền tinh thần của con người phải là một miền tự do để con người có thể dịch chuyển từ các hướng nhầm lẫn sang những hướng không nhầm lẫn, để đi tìm một lối thoát đúng đắn hơn cho các hành động của mình. Nếu con người không có tự do bên trong tâm hồn của mình tức là con người không ra khỏi những thói hư tật xấu hay những nhầm lẫn của mình. Nếu con người không có tự do trong không gian tinh thần của mình thì mọi hình ảnh của cuộc sống đều được phản ánh một cách lệch lạc, biến dạng trong nó.
Thời đại của chúng ta là thời đại mà ít nhất con người phải trở thành nhà tư tưởng của chính các hành động của mình. Khi con người trở thành nhà tư tưởng của chính mình thì con người không trở thành nô lệ của tư tưởng bởi vì con người không theo ai cả, con người theo chính những lẽ phải mà mình xác lập bằng công cụ tư tưởng. Tư tưởng là trạng thái giác ngộ của con người về những kinh nghiệm, là năng lực khái quát những kinh nghiệm thực dụng của mình trở thành những chỉ dẫn có giá trị tinh thần. Những giá trị tinh thần ấy rất gần với cuộc sống để hướng dẫn những hành động của con người và nó làm cho con người không định kiến. Bởi vì khi cuộc sống phát triển thì kinh nghiệm phát triển, kinh nghiệm phát triển thì tư tưởng phát triển. Mặt khác, để không định kiến, con người còn phải biết sử dụng văn hoá như một công cụ để xác lập tính phải chăng trong các hành vi của mình. Trong cuốn sách "Cải cách" tôi đã đưa ra kết luận: Cải cách văn hoá không phải là thay đổi cấu trúc của văn hoá mà thay đổi thái độ của con người về nghĩa vụ đóng góp của văn hoá đối với đời sống và sự phát triển; tức là con người phải biết khai thác văn hoá vào việc chống các hiện tượng tiêu cực hay hiện tượng quá ngưỡng của cái Tôi.
Con người không những phải ra khỏi quá khứ của mình mà còn cần ra khỏi quá khứ của dân tộc. Quá khứ của mỗi người là một tập hợp con của quá khứ xã hội, cho nên, để giúp con người ra khỏi miền quá khứ của cả dân tộc thì không phải khích lệ con người hãy ra khỏi quá khứ một cách chung chung mà phải khích lệ từng người ra khỏi quá khứ của chính mình. Từng người một phải làm việc của mình và nó tạo ra khả năng ra khỏi quá khứ của một cộng đồng dân tộc. Nhà nước không làm thay được. Nhà nước làm thay và tưởng rằng làm được, giống như việc bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa và tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, nhưng thực tế đã chứng minh đó là một ảo tưởng. Hoặc như Ceasar đã từng đưa người Hy Lạp, đưa người La Mã đến tận Ai Cập, Ấn Độ và ông ta chôn vùi rất nhiều người.
Thứ ba, con người phải chủ động phấn đấu cho những năng lực triển vọng của mình. Như đã nói ở trên, con người lành mạnh là con người luôn hướng đến tương lai mà tương lai của một con người là khả năng đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống của nó ở mỗi một thời điểm khác nhau. Cho nên, muốn có tương lai thì con người phải phấn đấu cho những năng lực triển vọng, phải phấn đấu để đạt đến trạng thái tiên tiến trong miền triển vọng của chính mình. Thực ra miền triển vọng là kết quả của rất nhiều thứ nhưng đóng vai trò chủ đạo là năng lực thực tế và năng lực triển vọng. Năng lực thực tế cần cho việc tưởng tượng, thiết kế và chuẩn bị để đi đến miền triển vọng. Còn năng lực triển vọng là năng lực sống ở miền triển vọng, đáp ứng đòi hỏi của miền triển vọng. Con người chỉ có triển vọng bền vững khi nó tìm ra được lối thoát ra khỏi các ràng buộc của các tất yếu bằng những năng lực mới của nó, tức là nó sáng tạo ra chính nó. Năng lực sáng tạo ra chính nó chính là năng lực tìm ra các ranh giới mới của tất yếu, là năng lực nới rộng không gian tự do của mình. Bờ vực là tất yếu đối với con người nhưng không phải là tất yếu của con chim. Thế nhưng con người đã biết sáng tạo ra máy bay để vượt qua bờ vực. Tức là nếu con người tiên lượng được, con người để cho mình phát triển một cách đa dạng thì con người sẽ có những năng lực tiềm ẩn để vào những lúc cần thiết, bằng tầm nhìn họ sẽ huấn luyện khả năng để chuẩn bị, để phá vỡ các ranh giới của tất yếu đối với loại năng lực đã có và tạo ra những ranh giới mới của tất yếu đối với những năng lực mới xuất hiện. Chính sự đa dạng tinh thần giúp con người tìm thấy các ranh giới mới, các năng lực mới. Các miền triển vọng là tất yếu đối với con người, do đó con người phải phấn đấu cho những năng lực triển vọng để đến và sống hạnh phúc ở đó.
Miền triển vọng chính là miền tinh thần trong tương lai con người. Con người không thể biết chắc chắn đời sống tinh thần của mình trong tương lai nhưng hoàn toàn có thể dự báo, thậm chí còn linh cảm thấy nó. Con người có một năng lực bẩm sinh để chú ý đến triển vọng, linh cảm tới triển vọng của mình, phân tích và xây dựng hệ tiêu chuẩn cho miền triển vọng của mình. Đấy chính là khái niệm mà tôi vẫn nói là thiết kế ra tương lai. Con người phải chủ động đối với tương lai của mình, chủ động tìm kiếm và thiết kế ra tương lai của mình, nếu không tương lai của anh sẽ trở thành một bộ phận của tương lai của người khác.
3. Tạo ra sự phát triển hoà hợp của hai không gian tự do
Xin nhắc lại quan niệm về tự do mà tôi đã đưa ra trong các nghiên cứu trước, đó là "Tự do là sự dịch chuyển song song của ý nghĩ và hành vi." Điều đó có nghĩa là tự do bên trong không gian tinh thần của con người là điều kiện cực kỳ quan trọng để con người phát triển nhưng nếu không có không gian khách quan bên ngoài tự do thì con người không thể phát triển được. Phát triển là sự gặp gỡ một cách thuận lợi giữa các tiềm năng bên trong của con người với các điều kiện khách quan. Ở nơi nào có sự gặp gỡ một cách thuận lợi giữa không gian tự do bên trong và không gian tự do bên ngoài thì nơi đó có sự phát triển. Xưa nay người ta nói rằng sự kiểm soát bên ngoài mới là tự do, nhưng người ta không phân tích được rằng con người sẽ không có không gian ấy, không cần không gian ấy nếu không gian bên trong bằng không, tức là con người không có nhu cầu tự do. Không gian bên trong chính là động lực của tự do, còn không gian bên ngoài chính là điều kiện của tự do. Khi động lực phù hợp với điều kiện thì phát triển. Cho nên khi phấn đấu vì sự tự do của con người thì chúng ta phải phấn đấu vì sự nới rộng và phát triển của cả hai không gian ấy. Và lợi ích mà xã hội nhận được chính là sự phát triển.
Phát triển tự do chính là phát triển năng lực tồn tại của không gian tự do bên trong như là động lực thúc đẩy con người hành động, đòi hỏi phải được sử dụng một cách không lãng phí và có trách nhiệm không gian tự do ở bên ngoài. Các không gian cá thể, tức là không gian tinh thần của con người là rất khác nhau, do đó không gian bên ngoài phải là đường bao các đòi hỏi của các không gian bên trong. Không gian tự do ở bên ngoài tức là không gian điều kiện bao giờ cũng phải đủ lớn để thoã mãn sự đòi hỏi của số đông con người. Nếu không gian bên trong có chất lượng bản năng thì không gian bên ngoài hoàn toàn có chất lượng điều khiển. Vì là một không gian có chất lượng điều khiển, tức là một không gian nhân tạo cho nên không gian tự do bên ngoài phải luôn luôn được thể chế hoá, mà thể chế hoá tự do như là không gian điều kiện chính là nhà nước dân chủ. Nhà nước dân chủ là một hình thức nhà nước thể chế hoá các quyền của con người đối với tự do. Vậy, làm thế nào để vạch một đường biên hợp lý cho không gian quyền? Vấn đề đó phải được nghiên cứu một cách luật học, một cách văn hoá học, một cách nhân học và phương Tây đã làm việc này từ lâu rồi. Họ đã quy tự do thành không gian các quyền. Nhưng các nhà khoa học phương Tây cũng chưa chỉ ra được rằng tạo ra cảm giác tự do, tạo ra không gian bên trong chính là tạo ra sức ép, tạo ra quần chúng để gìn giữ sự hữu ích của không gian các quyền. Hiện nay, tỷ lệ đi bầu ở các nước phát triển cao như Hoa Kỳ, Anh... cũng chỉ chiếm 45 đến 50%, tức là có 50% số lượng nhân dân lãng phí không gian các quyền. Sự lãng phí ấy dẫn đến hiện tượng đôi lúc, trong nhiều khía cạnh quan trọng của đời sống các quyền bị các thể chế, bị các nhà nước lạm dụng, bởi vì xã hội không tập hợp đủ quần chúng tự giác về việc tạo ra sự đòi hỏi đảm bảo không gian quyền của mình, và chính vì vậy cũng không đảm bảo tính phổ biến của việc cần phải xây dựng ý chí cho mỗi cá thể để tạo ra nhu cầu, tạo ra năng lực khai thác hết không gian các quyền.
Con người với tư cách là một cá nhân là khái niệm cao nhất và quan trọng nhất để cấu tạo nên đời sống xã hội. Nhiệm vụ của khoa học khi nghiên cứu về không gian tinh thần của con người là giải phóng cá nhân con người. Để thực hiện được mục đích đó cần phải vạch rõ giá trị thiêng liêng của các quyền con người, giá trị phát triển, giá trị nhân văn của quyền con người và cổ vũ xã hội dân chủ như là xã hội duy nhất bảo vệ các quyền cá nhân, quyền con người. Một khi không ý thức được giá trị của các khái niệm ấy thì chỉ có thể cai trị chứ không lãnh đạo con người được.
V. KẾT LUẬN
Miền tinh thần của một cá thể phản ánh kích thước tự do bên trong của người đó thông qua phản ánh giá trị hay chất lượng con người. Mỗi cá thể đều có một không gian tinh thần của mình. Một người có đời sống tinh thần phong phú, đa dạng thì chắc chắn đó là một con người có không gian tinh thần tự do. Ngược lại nếu có đời sống tinh thần khô héo thì có nghĩa là tự do bên trong con người đó không đủ lớn để tạo ra động lực cho sự phát triển của chính người nó. Không ai thông báo với nhân loại rằng tôi có miền tinh thần này hay miền tinh thần kia, cũng không ai biết chắc chắn miền tinh thần của mình hình dạng ra sao. Nhưng mỗi người trước tiên phải làm chủ tự do bên trong không gian tinh thần của mình. Nghiên cứu về tự do chính là nghiên cứu về công nghệ tinh thần của con người để đạt đến trạng thái sung mãn trong năng lực sáng tạo cũng như năng lực thoả mãn các đòi hỏi của cuộc sống hiện đại.
Ở một mức độ cao hơn, con người còn cần có tự do trong việc phấn đấu vươn lên, con người phải hiểu được các giá trị và các quyền tiếp cận đến những không gian thánh thần của đời sống tinh thần. Tự do không còn đầy đủ ý nghĩa của nó nếu nó không tạo ra được các trạng thái thần thánh của con người. Trạng thái thần thánh của con người chính là trạng thái sáng tạo bậc cao. Các nhà triết học chỉ biến tự do trở thành khái niệm thần thánh của mình chứ không biến thành trạng thái thần thánh có thật trong cấu trúc tinh thần của con người. Nghiên cứu về tự do là nghiên cứu kinh nghiệm biến tự do thành phẩm hạnh để tạo ra những trạng thái phát triển của con người. Mà trạng thái phát triển bậc cao của con người chính là trạng thái thần thánh của các giá trị tinh thần của con người.
Kích hoạt sự phát triển trong đời sống tinh thần con người, hỗ trợ con người tạo ra những tiêu chuẩn có chất lượng lý tưởng để nó thiết kế và xây dựng miền tinh thần riêng của từng người chính là công việc vĩ đại nhất mà khoa học phải làm. Và muốn làm được việc ấy, muốn hoàn tất nghĩa vụ có tính chất sứ mạng ấy thì con người phải truyền bá tự do và dân chủ. Rõ ràng những phân tích về không gian tinh thần cho thấy trạng thái thiếu tự do gây ra sự thiếu hụt các yếu tố để trở thành con người phát triển và tôi đi đến kết luận rằng nếu không có tự do thì không có con đường nào để phát triển những xứ lạc hậu được.
Nguyễn Trần Bạt, Chủ tịch / Tổng giám đốc, InvestConsult Group
1. Bảo vệ sự đa dạng của đời sống tinh thần
Để giữ gìn sự cân bằng của đời sống tinh thần, trước hết con người phải tôn trọng và bảo vệ sự đa dạng của đời sống tinh thần. Sự đa dạng của đời sống tinh thần là nguồn gốc của tất cả mọi năng lực và triển vọng của con người, là nguyên lý quan trọng để mỗi người tổ chức cuộc sống. Cần phải chăm sóc và bảo vệ sự đa dạng tinh thần vì nó đảm bảo cho khả năng tương thích của con người đối với các điều kiện sống khác nhau.
Khi con người không có sự phong phú, đa dạng về mặt nhận thức thì sẽ rơi vào trạng thái đơn điệu về mặt nhận thức và năng lực ứng phó, năng lực thích nghi của con người sẽ giảm đi rất nhiều và do đó nguy cơ rủi ro dội xuống đầu con người cũng lớn hơn rất nhiều. Nếu không có sự đa dạng tinh thần thì con người có nguy cơ nghe theo những hướng dẫn phiến diện mà không đủ năng lực để nhận ra tính rủi ro của nó. Chẳng hạn, khi con người được hướng dẫn rằng tất cả những thứ bên phải đều đẹp thì tất cả mọi người khi ra đường đều nhìn về bên phải và những cơ hội ở bên trái sẽ bị bỏ qua. Thậm chí, con người đi giằng xé những cái đẹp ở bên phải và gây tắc nghẽn giao thông ở bên phải trong khi ở bên trái lại thưa thớt. Những hướng dẫn sai như vậy đã góp phần tạo ra dị tật phổ biến của con người. Nhiệm vụ của con người là phải biết chống và khắc phục sự hướng dẫn sai tạo ra dị tật phổ biến trong nhận thức của mình. Cuộc sống diễn biến khôn cùng, liên tục, do vậy, các quy tắc hướng dẫn đều có thể lạc hậu cùng với cuộc sống. Một cái đẹp năm nay có thể lạc hậu so với sang năm. Cho nên, phải tạo ra tính đa dạng để giúp con người không lúc nào bị lạc hậu, tức là con người luôn luôn có những phương án khác nhau, những cách thức khác nhau đủ phong phú để có thể thích nghi với những biến đổi của cuộc sống.
Đảm bảo sự đa dạng tinh thần là cách thức quan trọng nhất và duy nhất để chống lại sự thoái hoá của năng lực bởi vì sự đa dạng tinh thần chính là phương án nhận thức của con người và nhờ có nó mà con người trưởng thành trong quá trình phát triển của nhận thức. Nếu con người để cho mình phát triển một cách đa dạng thì con người sẽ có những năng lực tiềm ẩn để vào những lúc cần thiết, bằng tầm nhìn họ sẽ huấn luyện khả năng để chuẩn bị, để phá vỡ các ranh giới của tất yếu đối với loại năng lực đã có và tạo ra những ranh giới mới của tất yếu đối với những năng lực mới xuất hiện. Chính sự đa dạng các năng lực giúp con người tìm thấy các ranh giới mới, các triển vọng mới.
Sự phong phú của tinh thần con người chính là cái kho tiềm ẩn các giải pháp để để ứng phó với đời sống phát triển hay giúp con người chớp được thời cơ cho sự phát triển. Chính sự phong phú, đa dạng của các phôi kinh nghiệm tạo ra sự ứng phó với sự phát triển và nó tạo ra mầm mống của sự phát triển, giúp con người không bỏ lỡ cơ hội của sự phát triển. Nếu con người không phong phú thì con người không có các kinh nghiệm tình huống, con người không ứng xử đủ nhanh để tạo ra các giải pháp phát triển và do đó con người luôn lỡ nhịp trong sự phát triển. Cho nên việc chăm sóc, việc duy trì, việc phát triển cái sự đa dạng tinh thần của con người là một bài toán có chất lượng cách mạng đối với việc duy trì và phát triển sự sống
Sự đa dạng của đời sống tinh thần chỉ có thể được duy trì và phát huy tác dụng của nó trong điều kiện có tự do. Tự do để làm gì? Để cho các yếu tố khác nhau có cơ hội thay thế địa vị dẫn dắt xã hội phát triển. Nếu tiêu diệt tất cả các yếu tố ngoài yếu tố đang thống trị thì con người lấy gì làm công cụ thay thế vào những tình huống cần thiết? Sự lệ thuộc hoàn toàn vào một yếu tố lãnh đạo duy nhất là rủi ro lớn nhất của con người, nhất là khi nó trở nên thoái hoá bởi vì bất cứ sự vật, hiện tượng nào trong cuộc sống đều có thể bị thoái hoá. Nếu không có tự do thì người ta không thay thế những yếu tố khác nhau trở thành yếu tố chủ đạo được. Cho nên, sự đa dạng tinh thần đảm bảo mọi cái đều tồn tại và tự do đảm bảo cho mọi cái có thể thay thế nhau trở thành yếu tố chủ đạo lãnh đạo sự phát triển.
2. Khuyến khích năng lực tự giải phóng của cá nhân
Nghiên cứu về không gian tinh thần chính là nghiên cứu công nghệ để con người đạt đến trạng thái sung mãn trong năng lực sáng tạo cũng như năng lực thỏa mãn các đòi hỏi của cuộc sống hiện đại. Đó cũng chính là cách để giữ cho đời sống tinh thần của con người được cân bằng, để con người không rơi vào trạng thái tha hoá. Muốn đạt đến trạng thái đó, trước hết con người phải ý thức được về nghĩa vụ tự giải phóng của mình. Vậy con người giải phóng mình bằng cách nào?
Thứ nhất, con người phải chủ động phấn đấu để biến tự do thành năng lực của mình. Có những người có rất nhiều quyền tự do nhưng không tạo ra được cảm giác tự do ở bên trong là vì lười biếng. Họ không phấn đấu nên không thể biến tự do thành năng lực của mình. Không phấn đấu là không có năng lực. Biến các quyền tự do bên ngoài trở thành năng lực tự do bên trong chính là khởi đầu của quá trình sáng tạo của con người. Cho nên, nếu con người không phấn đấu để mình tự do, mình hưởng được, mình biến được các quyền tự do trở thành các quyền tinh thần, trở thành năng lực của mình thì có cho con người ấy tự do cũng chẳng có ích lợi gì. Điều quan trọng nhất đối với một con người là họ phải tự phát hiện ra mình là ai và mình có những thứ gì. Con người phải tự do đi tìm giá trị của mình, phát hiện ra các giá trị của mình và biết cách sử dụng các giá trị ấy. Khi con người có tự do và biết sử dụng công nghệ tự do thì tự nhiên con người sẽ hình thành một khả năng rất quan trọng đó là tự lập. Khi nào con người tự lập được thì sẽ xuất hiện một cái quan trọng hơn nhiều, đó là tự trọng. Tự do - Tự lập - Tự trọng là những đại lượng hết sức quan trọng để hình thành giá trị của con người.
Thứ hai, con người phải tự giải phóng mình khỏi sự ràng buộc của quá khứ. Nếu con người không ý thức được việc trước hết mình phải tự giải phóng mình ra khỏi quá khứ nhận thức của mình là những định kiến được neo vào hệ tư tưởng, vào sự ràng buộc của văn hoá lạc hậu thì con người không thể có tự do. Miền tinh thần của con người phải là một miền tự do để con người có thể dịch chuyển từ các hướng nhầm lẫn sang những hướng không nhầm lẫn, để đi tìm một lối thoát đúng đắn hơn cho các hành động của mình. Nếu con người không có tự do bên trong tâm hồn của mình tức là con người không ra khỏi những thói hư tật xấu hay những nhầm lẫn của mình. Nếu con người không có tự do trong không gian tinh thần của mình thì mọi hình ảnh của cuộc sống đều được phản ánh một cách lệch lạc, biến dạng trong nó.
Thời đại của chúng ta là thời đại mà ít nhất con người phải trở thành nhà tư tưởng của chính các hành động của mình. Khi con người trở thành nhà tư tưởng của chính mình thì con người không trở thành nô lệ của tư tưởng bởi vì con người không theo ai cả, con người theo chính những lẽ phải mà mình xác lập bằng công cụ tư tưởng. Tư tưởng là trạng thái giác ngộ của con người về những kinh nghiệm, là năng lực khái quát những kinh nghiệm thực dụng của mình trở thành những chỉ dẫn có giá trị tinh thần. Những giá trị tinh thần ấy rất gần với cuộc sống để hướng dẫn những hành động của con người và nó làm cho con người không định kiến. Bởi vì khi cuộc sống phát triển thì kinh nghiệm phát triển, kinh nghiệm phát triển thì tư tưởng phát triển. Mặt khác, để không định kiến, con người còn phải biết sử dụng văn hoá như một công cụ để xác lập tính phải chăng trong các hành vi của mình. Trong cuốn sách "Cải cách" tôi đã đưa ra kết luận: Cải cách văn hoá không phải là thay đổi cấu trúc của văn hoá mà thay đổi thái độ của con người về nghĩa vụ đóng góp của văn hoá đối với đời sống và sự phát triển; tức là con người phải biết khai thác văn hoá vào việc chống các hiện tượng tiêu cực hay hiện tượng quá ngưỡng của cái Tôi.
Con người không những phải ra khỏi quá khứ của mình mà còn cần ra khỏi quá khứ của dân tộc. Quá khứ của mỗi người là một tập hợp con của quá khứ xã hội, cho nên, để giúp con người ra khỏi miền quá khứ của cả dân tộc thì không phải khích lệ con người hãy ra khỏi quá khứ một cách chung chung mà phải khích lệ từng người ra khỏi quá khứ của chính mình. Từng người một phải làm việc của mình và nó tạo ra khả năng ra khỏi quá khứ của một cộng đồng dân tộc. Nhà nước không làm thay được. Nhà nước làm thay và tưởng rằng làm được, giống như việc bỏ qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa và tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, nhưng thực tế đã chứng minh đó là một ảo tưởng. Hoặc như Ceasar đã từng đưa người Hy Lạp, đưa người La Mã đến tận Ai Cập, Ấn Độ và ông ta chôn vùi rất nhiều người.
Thứ ba, con người phải chủ động phấn đấu cho những năng lực triển vọng của mình. Như đã nói ở trên, con người lành mạnh là con người luôn hướng đến tương lai mà tương lai của một con người là khả năng đáp ứng những đòi hỏi của cuộc sống của nó ở mỗi một thời điểm khác nhau. Cho nên, muốn có tương lai thì con người phải phấn đấu cho những năng lực triển vọng, phải phấn đấu để đạt đến trạng thái tiên tiến trong miền triển vọng của chính mình. Thực ra miền triển vọng là kết quả của rất nhiều thứ nhưng đóng vai trò chủ đạo là năng lực thực tế và năng lực triển vọng. Năng lực thực tế cần cho việc tưởng tượng, thiết kế và chuẩn bị để đi đến miền triển vọng. Còn năng lực triển vọng là năng lực sống ở miền triển vọng, đáp ứng đòi hỏi của miền triển vọng. Con người chỉ có triển vọng bền vững khi nó tìm ra được lối thoát ra khỏi các ràng buộc của các tất yếu bằng những năng lực mới của nó, tức là nó sáng tạo ra chính nó. Năng lực sáng tạo ra chính nó chính là năng lực tìm ra các ranh giới mới của tất yếu, là năng lực nới rộng không gian tự do của mình. Bờ vực là tất yếu đối với con người nhưng không phải là tất yếu của con chim. Thế nhưng con người đã biết sáng tạo ra máy bay để vượt qua bờ vực. Tức là nếu con người tiên lượng được, con người để cho mình phát triển một cách đa dạng thì con người sẽ có những năng lực tiềm ẩn để vào những lúc cần thiết, bằng tầm nhìn họ sẽ huấn luyện khả năng để chuẩn bị, để phá vỡ các ranh giới của tất yếu đối với loại năng lực đã có và tạo ra những ranh giới mới của tất yếu đối với những năng lực mới xuất hiện. Chính sự đa dạng tinh thần giúp con người tìm thấy các ranh giới mới, các năng lực mới. Các miền triển vọng là tất yếu đối với con người, do đó con người phải phấn đấu cho những năng lực triển vọng để đến và sống hạnh phúc ở đó.
Miền triển vọng chính là miền tinh thần trong tương lai con người. Con người không thể biết chắc chắn đời sống tinh thần của mình trong tương lai nhưng hoàn toàn có thể dự báo, thậm chí còn linh cảm thấy nó. Con người có một năng lực bẩm sinh để chú ý đến triển vọng, linh cảm tới triển vọng của mình, phân tích và xây dựng hệ tiêu chuẩn cho miền triển vọng của mình. Đấy chính là khái niệm mà tôi vẫn nói là thiết kế ra tương lai. Con người phải chủ động đối với tương lai của mình, chủ động tìm kiếm và thiết kế ra tương lai của mình, nếu không tương lai của anh sẽ trở thành một bộ phận của tương lai của người khác.
3. Tạo ra sự phát triển hoà hợp của hai không gian tự do
Xin nhắc lại quan niệm về tự do mà tôi đã đưa ra trong các nghiên cứu trước, đó là "Tự do là sự dịch chuyển song song của ý nghĩ và hành vi." Điều đó có nghĩa là tự do bên trong không gian tinh thần của con người là điều kiện cực kỳ quan trọng để con người phát triển nhưng nếu không có không gian khách quan bên ngoài tự do thì con người không thể phát triển được. Phát triển là sự gặp gỡ một cách thuận lợi giữa các tiềm năng bên trong của con người với các điều kiện khách quan. Ở nơi nào có sự gặp gỡ một cách thuận lợi giữa không gian tự do bên trong và không gian tự do bên ngoài thì nơi đó có sự phát triển. Xưa nay người ta nói rằng sự kiểm soát bên ngoài mới là tự do, nhưng người ta không phân tích được rằng con người sẽ không có không gian ấy, không cần không gian ấy nếu không gian bên trong bằng không, tức là con người không có nhu cầu tự do. Không gian bên trong chính là động lực của tự do, còn không gian bên ngoài chính là điều kiện của tự do. Khi động lực phù hợp với điều kiện thì phát triển. Cho nên khi phấn đấu vì sự tự do của con người thì chúng ta phải phấn đấu vì sự nới rộng và phát triển của cả hai không gian ấy. Và lợi ích mà xã hội nhận được chính là sự phát triển.
Phát triển tự do chính là phát triển năng lực tồn tại của không gian tự do bên trong như là động lực thúc đẩy con người hành động, đòi hỏi phải được sử dụng một cách không lãng phí và có trách nhiệm không gian tự do ở bên ngoài. Các không gian cá thể, tức là không gian tinh thần của con người là rất khác nhau, do đó không gian bên ngoài phải là đường bao các đòi hỏi của các không gian bên trong. Không gian tự do ở bên ngoài tức là không gian điều kiện bao giờ cũng phải đủ lớn để thoã mãn sự đòi hỏi của số đông con người. Nếu không gian bên trong có chất lượng bản năng thì không gian bên ngoài hoàn toàn có chất lượng điều khiển. Vì là một không gian có chất lượng điều khiển, tức là một không gian nhân tạo cho nên không gian tự do bên ngoài phải luôn luôn được thể chế hoá, mà thể chế hoá tự do như là không gian điều kiện chính là nhà nước dân chủ. Nhà nước dân chủ là một hình thức nhà nước thể chế hoá các quyền của con người đối với tự do. Vậy, làm thế nào để vạch một đường biên hợp lý cho không gian quyền? Vấn đề đó phải được nghiên cứu một cách luật học, một cách văn hoá học, một cách nhân học và phương Tây đã làm việc này từ lâu rồi. Họ đã quy tự do thành không gian các quyền. Nhưng các nhà khoa học phương Tây cũng chưa chỉ ra được rằng tạo ra cảm giác tự do, tạo ra không gian bên trong chính là tạo ra sức ép, tạo ra quần chúng để gìn giữ sự hữu ích của không gian các quyền. Hiện nay, tỷ lệ đi bầu ở các nước phát triển cao như Hoa Kỳ, Anh... cũng chỉ chiếm 45 đến 50%, tức là có 50% số lượng nhân dân lãng phí không gian các quyền. Sự lãng phí ấy dẫn đến hiện tượng đôi lúc, trong nhiều khía cạnh quan trọng của đời sống các quyền bị các thể chế, bị các nhà nước lạm dụng, bởi vì xã hội không tập hợp đủ quần chúng tự giác về việc tạo ra sự đòi hỏi đảm bảo không gian quyền của mình, và chính vì vậy cũng không đảm bảo tính phổ biến của việc cần phải xây dựng ý chí cho mỗi cá thể để tạo ra nhu cầu, tạo ra năng lực khai thác hết không gian các quyền.
Con người với tư cách là một cá nhân là khái niệm cao nhất và quan trọng nhất để cấu tạo nên đời sống xã hội. Nhiệm vụ của khoa học khi nghiên cứu về không gian tinh thần của con người là giải phóng cá nhân con người. Để thực hiện được mục đích đó cần phải vạch rõ giá trị thiêng liêng của các quyền con người, giá trị phát triển, giá trị nhân văn của quyền con người và cổ vũ xã hội dân chủ như là xã hội duy nhất bảo vệ các quyền cá nhân, quyền con người. Một khi không ý thức được giá trị của các khái niệm ấy thì chỉ có thể cai trị chứ không lãnh đạo con người được.
V. KẾT LUẬN
Miền tinh thần của một cá thể phản ánh kích thước tự do bên trong của người đó thông qua phản ánh giá trị hay chất lượng con người. Mỗi cá thể đều có một không gian tinh thần của mình. Một người có đời sống tinh thần phong phú, đa dạng thì chắc chắn đó là một con người có không gian tinh thần tự do. Ngược lại nếu có đời sống tinh thần khô héo thì có nghĩa là tự do bên trong con người đó không đủ lớn để tạo ra động lực cho sự phát triển của chính người nó. Không ai thông báo với nhân loại rằng tôi có miền tinh thần này hay miền tinh thần kia, cũng không ai biết chắc chắn miền tinh thần của mình hình dạng ra sao. Nhưng mỗi người trước tiên phải làm chủ tự do bên trong không gian tinh thần của mình. Nghiên cứu về tự do chính là nghiên cứu về công nghệ tinh thần của con người để đạt đến trạng thái sung mãn trong năng lực sáng tạo cũng như năng lực thoả mãn các đòi hỏi của cuộc sống hiện đại.
Ở một mức độ cao hơn, con người còn cần có tự do trong việc phấn đấu vươn lên, con người phải hiểu được các giá trị và các quyền tiếp cận đến những không gian thánh thần của đời sống tinh thần. Tự do không còn đầy đủ ý nghĩa của nó nếu nó không tạo ra được các trạng thái thần thánh của con người. Trạng thái thần thánh của con người chính là trạng thái sáng tạo bậc cao. Các nhà triết học chỉ biến tự do trở thành khái niệm thần thánh của mình chứ không biến thành trạng thái thần thánh có thật trong cấu trúc tinh thần của con người. Nghiên cứu về tự do là nghiên cứu kinh nghiệm biến tự do thành phẩm hạnh để tạo ra những trạng thái phát triển của con người. Mà trạng thái phát triển bậc cao của con người chính là trạng thái thần thánh của các giá trị tinh thần của con người.
Kích hoạt sự phát triển trong đời sống tinh thần con người, hỗ trợ con người tạo ra những tiêu chuẩn có chất lượng lý tưởng để nó thiết kế và xây dựng miền tinh thần riêng của từng người chính là công việc vĩ đại nhất mà khoa học phải làm. Và muốn làm được việc ấy, muốn hoàn tất nghĩa vụ có tính chất sứ mạng ấy thì con người phải truyền bá tự do và dân chủ. Rõ ràng những phân tích về không gian tinh thần cho thấy trạng thái thiếu tự do gây ra sự thiếu hụt các yếu tố để trở thành con người phát triển và tôi đi đến kết luận rằng nếu không có tự do thì không có con đường nào để phát triển những xứ lạc hậu được.
Nguyễn Trần Bạt, Chủ tịch / Tổng giám đốc, InvestConsult Group






