My Opera is closing 3rd of March

Dòng thời gian

LỬA ĐẠN XUÂN MẬU THÂN (Hồi ký)

LỬA ĐẠN XUÂN MẬU THÂN
(1968)


ĐÓN XUÂN

5 giờ chiều cuối năm Đinh Mùi, gia đình tôi lên nêu, nấu xôi chè, nấu nước sửa soạn đón giao thừa năm Mậu Thân. Chúng tôi đang ngồi ở căn bên nhà lớn sắp đặt, bỗng một tiếng”sạt” từ trên mái tồn, thủng qua trần nhà, xán mạnh xuống nền xi măng làm bắn lên những mảnh vỡ. Ai cũng hú hồn. Thì ra đạn lạc. Tiếng đạn, tiếng pháo đốt lẻ tẻ xen lẫn khó phân biệt, mặc dù đài đã phát tin cấm đốt pháo vì tình hình tết Mậu Thân này bất ổn.

Gia đình tôi gồm 2 vợ chồng và 7 đứa con, đón tết với 7 đòn bánh tét, 1 kg mứt gừng, bí, 2 thẩu nhỏ mứt gừng ướt vụn+khoai lang, gạo đủ cho 7 ngày (đến khi hạ nêu), không đốt pháo, tuy nhiên vẫn nghe pháo nổ các nơi khi lách tách, khi dồn dập . Cúng giao thừa và ăn uống xong khoảng 2 giờ khuya.

Sáng mồng một tết Mậu Thân, như mọi năm, bà con xóm giềng đi lại chúc xuân quanh chén trà, miếng mứt….Giữa chiều không khí chuyển sang trầm buồn, người đi đường có vẻ lo âu. Đầu xuân vợ tôi lên rạp hát Đồng Xuân Lâu khai trương nghề nghiệp nhưng 10 giờ đã quay về nói:”Tuồng hát chưa vãng, nhưng ngoài cửa, ngoài đường người người chào xáo chuyện gì đó đang xảy ra, diễn xong đoạn của mình liền về mau”

GIẢI PHÓNG

Mờ sáng mùng 2 tết, cửa nhà chưa mở nhưng bên trong tôi nghe rõ tiếng lao nhao ngoài đường về một người nào đó bị bắn chết. Phía trên đông người đến xem. Xác chết nằm sấp, hai tay bị trói chặt ra sau lưng. Người ta rỉ tai nhau: “chắc bị trói dẫn đi mà bỏ chạy nên bị bắn”. Một số người đi ngang cho biết thêm: “Việt Minh đã tràn khắp phía sau đường hồi hôm”. Tôi quay về tin cho vợ biết chuyện chào xáo hôm qua ở rạp hát có lẽ từ nguyên nhân đó.

Từ Bãi Dâu, đường Hồ Xuân Hương từng toán người mặc quân phục màu xanh lá cây, mũ cối, có số mặc bộ đồ màu đen, đội mũ tai bèo, mang dép cao su, tay cầm súng AK, đi nhanh và nói:”Giải phóng rồi! Hạ cờ ba sọc xé bỏ, để cờ Phật giáo lại!” ( Ở Huế, têt đến, nhà nào cũng treo hai cờ). Nhiều nhà không biết chuyện gì, vội vàng đóng cửa, ngay tức khắc, người cầm súng AK chĩa vào: “Mở cửa ra!”

SÚNG ĐẠN VÀ VĂN NGHỆ

Mấy ngày liền các nơi Bao Vinh, Hữu Ngạn, Thành Nội đều nổ gắt tiếng súng. Thanh niên, sinh viên được tập trung lại canh gác. Tôi đem mấy đứa con nhỏ về ở nhà chú Ba Điếm vì nhà ở sâu trong xóm có đất rộng để đào hầm tránh máy bay oanh tạc và pháo kích. Hai đứa con lớn ở lại với tôi.

Hàng ngày lên về ngang qua chùa Triều Châu, tôi thường ghé vào nghe nói chuyện thời sự, đôi khi dắt theo cả con nhỏ. Đang thời hỗn loạn, Ban Văn Công miền Bắc vẫn tổ chức một đêm văn nghệ tại chùa. Đây là lần đầu tiên tôi được xem diễn viên miền Bắc diễn. Họ mặc đồng phục màu xanh lục, thắt dây đỏ thắm, múa kiếm, múa quạt mềm dẻo, uyển chuyển. Giọng ngân nga. Có những đoạn họ hát cao vút. Nội dung thể hiện khí phách, tinh thần dân tộc. Buổi diễn có tính nghệ thuật, tuy nhiên các nghệ sĩ sử dụng son phấn trắng bệch trên gương mặt nhìn không đẹp.

NẠN TÀU THỦY MỸ

Thỉnh thoảng máy bay Mỹ lượn quanh và nhả đạn xuống nơi được coi là chiến lược chiến đấu. Con đường Chi Lăng dọc bờ sông Hương (vùng Gia Hội) thường nếm đạn tàu thủy Mỹ bắn ngược lên. Đạn làm vỡ thành, sập mái. Mấy cậu trai thích bắn, nắm chờ sẵn ở bợt sông, nhắm lính Mỹ trên boong nhấn cò. Mỗi lần như vậy Mỹ trút giận quét ra đủ loại súng đạn chát óc, vưng tai, cây cối gãy rạp.

Có lần, đang ngồi ở nhà chú Ba Điếm, tôi giật mình vì tiếng pháo kích rất gần nghe cả hơi gió quạt ngang. Mọi người chạy nhanh xuống hầm, tôi xuống sau cùng, do hầm chật nên cửa hầm khó đóng lại. Lát sau, nhìn lại thấy mảnh đạn găm khắp nơi, dưới đất, trên tường, nhiều cành cây bị gãy. Nghĩ nhà chú Ba Điếm an toàn, không ngờ nơi đâu cũng nguy hiểm, thế là tôi vội lên nhà kiếm chỗ đào hầm, Tôi đào 2 hầm, phòng khi sập hầm này còn hầm khác, 1 hầm bên hông trái nhà, sau am âm hồn, hầm đào rộng đủ cho cả nhà, 1 hầm nữa ngay trong nhà bếp. Khi nghe tàu Mỹ tới, hay pháo kích, cả nhà nhanh chóng chia hai nơi chạy núp.

CHUYỆN ĐẤT TRỜI

Nhóm thanh niên, sinh viên Thạnh, Minh,Tân, Toàn… ngày đêm ra nhà tôi canh gác(vì nhà tôi ở mặt đường chính Chi Lăng). Bộ đội thường ghé nói về chiến sự, chuyện núi rừng, về nếp sống ngoài Bắc XHCN, làm ăn tập thể, mua bán mậu dịch. Nghe lạ nên anh em xúm lại hỏi han.

Từng khu vực đều có toán canh tuần, chủ yếu ban đêm. Toán đến trực tại nhà tôi tự lo nấu ăn, gạo lấy từ các kho về, thức ăn bà con góp. Ban đêm anh em toàn trải chiếu nằm đất. Cả nhà tôi cũng vậy.

Trước trụ ngõ, luôn có người cầm súng lưỡi lê đứng gác, đầu đội mũ kền sáng bạc. Mỗi khi có máy bay trực thăng dò thám, tôi gọi vào núp dưới bóng cây. Nhà tôi để sẵn bộ bàn ghế làm việc, tối tìm cách che kín đèn sợ máy bay phát hiện. Trong nhà, đội trưởng điểm danh, phân công phiên tuần. Bên ngoài, máy bay thả đèn pha chiếu sáng tìm kiếm.

Tôi vào nhà ôn mệ trấn an. Ôn mệ cũng đào hầm trú ẩn , nhưng nhiều khi chỉ ngồi nép vào tường. Nhìn lên mái tôn đầy lỗ thủng vì đạn. Ôn nói”tàu bay cứ đậu mãi trên nóc nhà và bắn”

Máy bay u ti ti, trực thăng, cánh chuồng(ông già) quần thảo bầu trời suốt 20 ngày đêm.

SỰ SINH SỐNG TẠM

Kinh tế gia đình tôi eo hẹp, có làm mới có ăn. Gạo chuẩn bị cho 7 ngày tết nay phải nấu cháo để kéo dài ngày nhưng không thêm được mấy, nên bữa qua loa, bữa nhịn. May sao bộ đội mở kho lương trước kia còn lại phát cho dân. Vợ tôi đi lãnh gạo tại trường Trung học Gia Hội, có khi tại Chợ Dinh. Máy bay nhắm bắn nơi tập trung lãnh gạo, nơi đông người, gây chết chóc thê thảm. Mỗi lần lãnh gạo là mỗi lần liều chết vì không còn cách nào hơn. Rau xà lách trước đây rất đắt, trồng hàng mẫu ở Bãi Dâu cung cấp cho thành phố, nay bị cô lập nên đem bán ở vùng Gia Hội, giá rẻ không tưởng. Rau thừa, ối, có khi phải đem đổ, thế là ăn cơm độn xà lách cho no. Buổi sáng, vợ con tôi nấu một gánh bún-thịt heo bày bán, còn 2 đứa con gái lớn(14 và 16 tuổi) bán bánh ngọt rong suốt ngày. Thời gian sau, có lẽ do nằm hầm hơi đất, ăn uống thiếu thốn nên cả nhà đổ bệnh. Thanh niên, sinh viên đang đóng tại nhà tôi thấy vậy dồn qua nhà khác để tạo không khí yên tịnh cho mấy đứa con nhỏ. Họ còn giúp thuốc men.

NGÀY GIẢI PHÓNG RÚT

Trưa ngày 26, các toán canh phòng phía Gia Hội vội vã rút đi, tiếp đó đồng loạt nhiều tiếng súng từ máy bay, tàu thủy phát ra. Mọi người ùa chạy xuống hầm. Chạng vạng, tiếng súng xa dần nên tôi lên miệng hầm xem sự thể. Ngày hôm sau, cả nhà mới dám ra khỏi hầm. Ngày 28, trời nắng ráo, vợ tôi đem đồ đạc ra phơi, tôi dọn dẹp trong ngoài, lau chùi máy may, buộc lại nơi vỡ vì đạn, chuẩn bị làm ăn, may mắn nhà tôi chỉ hư hại sơ.

TIẾNG NỔ KHỦNG KHIẾP

16 giờ, tôi đang nấu cơm và coi nhà. Nồi cơm đặt cạnh cửa sổ nhà trên, vú già( người thân với gia đình) ghé thăm ngồi nói chuyện với vợ tôi. Thình lình, tiếng súng xóm dưới vọng lên dữ dội, mỗi lúc mỗi gần. Bà con nhớn nháo, có người đạp xe lên cho biết máy bay u ti ti đang bắn yểm trợ cho tàu thủy lên. Cả nhà ùa chạy xuống hầm. Phía Chùa Bà, cách nhà tôi khoảng 300m, lửa bốc lên hừng hực. Tôi hết chạy ra, lại chạy vào, chưa kịp xuống hầm thì một tiếng nổ long trời vang lên, mọi thứ chung quanh rào rào sụp đổ.

Rầm!
- Nhà sập hết rồi! -Vợ tôi la hoảng

Đèn hầm tắt túi thui, chát lên tiếng vú già, tiếng bầy con khóc.

- Coi có gì hại không?- Tôi trấn tỉnh.

Nhiều tiếng động dữ dội quanh mình, có lẽ hầm sắp sập, tay tôi cố níu giữ những chỗ yếu của hầm:

- Coi gấp sáp con. Quá nguy hiểm, ráng vượt ra khỏi hầm!

Cửa, ván, vôi gạch và mái tôn đổ xuống làm lấp và sập góc cửa hầm, khó khăn lắm mới ra khỏi được.

Cát, bụi, gỗ, đá ngổn ngang. Nhìn lên trần và mái trống trơn. Cửa bếp làm bằng loại gỗ chắc, nặng, khóa kỹ cũng bị bứt ra, bay mất.

Ra được hầm, chúng tôi chạy đến góc thành nhà Mặn(nhà trong xóm, Mặn là học trò may của tôi). Vợ con ở đó, tôi quay về nhà dập lửa. Đá, gỗ trên cao tiếp tục rơi xuống. Vợ tôi vang khóc vì 2 đứa con bán bánh rong chưa về. O Vinh, cạnh nhà ôm mền, gối vừa chạy vừa la, tôi giúp o chuyển đồ đạc ra ngõ trước vì ngõ sau đầy lửa. Một người bên đường ẳm bà cụ giáo qua, tôi vội đỡ, người đó giao đại cho tôi rồi gấp gáp bỏ đi. Cụ bại chân, nhưng cố trụt lên, trụt xuống. Tôi thấm mệt khi đem cụ vào giữa sân Thanh Bình. Nơi đây nhiều người rời nhà mang theo đồ đạc ra tập trung, vì nhà họ đang cháy. Tôi lại chạy đến nhà Mặn giúp bà cụ mù lòa(mẹ của Mặn). Bà cụ sợ, vừa lết vừa run theo hè tường, tôi dắt cụ đến ngồi chung cụ giáo. Vú già đứng gốc cây, vú cho biết vú đứng nhìn quanh giữ đồ đạc cho tôi, còn vợ tôi đem các con chạy lên phía trên. Vừa lúc hai con tôi đem thùng bánh ngọt về, tin tôi biết mẹ và các em nhỏ đã chạy vào nhà ôn mệ. Nghe vậy, tôi yên tâm liền nhờ vú trông nhà, cùng hai con tiếp tục chuyền nước dập lửa nhà hàng xóm.

Trong xóm có khoảng 10 nhà bị cháy, chữa được 5. Nguyên nhân không ngoài vỏ thép tàu Mỹ nổ bốc lửa rơi trúng. Mỗi vỏ dài độ 1 thước tây, tròn 5 tấc.

Máy bay U ti ti xối xả bắn xuống làm đồng bào khiếp sợ bươn chạy, ẩn nấp.

Tôi vội xuống hầm nhà Mặn. Mùi xăng dầu trong hầm nồng nặc. Vợ Mặn la khóc mất tiền bạc. Ngọt, em gái của Mặn nhờ tôi quẹt lửa soi tìm, tôi cản: “muốn chết thiêu hay sao mà quẹt lửa, dầu hay xăng đang nực cả hầm, chờ lửa đó”. Thấy nơi đây không ổn, tôi ra khỏi hầm, phụ vợ Mặn chuyển bao gạo sang nơi khác đề phòng cháy . Tôi trấn an vợ Mặn giữ bình tĩnh, chú ý con cái và đồ đạc.

Mọi người gánh gồng, bưng xách, chạy tới, chạy lui, gọi la, hỗn độn. Nhiều người quấn áo quần, mền vào vai, vào cổ mà chạy, đổ xô hướng đường trên(kiệt Trường Trạch). Vài người dưới chạy lên cho biết tàu thủy chở đầy xăng dầu đạn dược nổ ngay trước mặt bến chùa Phúc Kiến, cách khoảng 50 m, người chết, bị thương vô số.

Súng nổ khoảng 10 phút thì ngưng, các u ti ti cũng bay đi hết, bà con một số trở lại nhà. Tôi trở lại nhà lo dọn dẹp. Đầu tiên tôi dùng cây thọt, bứt xuống những cái còn mắc trên nhà, sao đó tôi mới để con và vú già vào giúp. Ai cũng phải mang guốc dép, đi đứng thận trọng vì mảnh gương, mẻ chén đầy đặc cả nhà, găm cả vào tủ, vào vách. Nhà tôi hư hại nặng, hai mái tồn lật bắn lên, đòn tay gãy nát, trần nhà bị xé toạc rớt xuống. Các cửa sổ đều toác lề, gãy cóng, bứt khóa. Vách thành bung góc, nứt rãn lọt ngón tay. Đến cặp băng nhà nặng hàng khối và gắn trong vách cũng bưng dồn về phía trước 5 phân, may là chưa sập. Sau này khi kiểm kê hư hại định mức 70 %. Đặc biệt, phòng thờ chính ngăn giữa nhà chẳng hư hại bao nhiêu, một ít vôi vụn rơi xuống, chỉ có tấm trần bung lên, mái tồn sau lật, tôi lấy cây chống giữ, quét dọn và thắp hương đèn, vú già nói: Như đức bổn sư đã cứu cơn nguy khốn, tôi nhờ phật mà ghé vào đây, nếu đi xuống chút nữa là chết chắc!

Nghe ngoài đường có tiếng ồn, tôi và vú già chạy ra xem, thì ra 1 mảnh vỏ tàu thép quăn queo lớn như cái bể cạn chứa vài chục đôi nước rơi nằm đó, chung quanh vô số mảnh sắc nhỏ ngổn gớm ghiếc, cùng màu đen như mực phủ dính cây cối và loang trên mặt đất, đường đi. Xóm dưới chở người chết và bị thương bết bải ngang qua nói rõ thêm: Khi tàu nổ, chúng tôi như ở dưới vồng lửa, hàng loạt mảnh này bay cao và xa lắm. Tiếng nổ rất mạnh, nhà nào cũng bay mái, trụt ngói, có nhà bị sập xuống. Đường sá ngổn ngang gạch ngói, bờ lô, tồn, gỗ, có mấy tấm cửa lớn nhà ai cũng nằm vứt giữa đường dầu.

Lại vào nhà, tôi lấy nồi cơn dở sống dở chín lẫn bụi cát đem ra, hốt vứt bỏ mặt trên, lấy phần dưới để ăn với muối đen lấm bụi. Bốn người còn lại đây xắn cơm chia nhau từng cục cầm tay, chẳng cần đũa chén gì, vừa ăn vừa nói chuyện, tính cách xếp đặt và lo việc sắp tới. Vợ con tôi ở lại nhà ôn mệ đêm nay rất hay, vì tuy không cách xa mấy nhưng địa điểm nhà ôn mệ có lẽ không thuận chiều hơi nổ nên chẳng không đến nỗi nào, còn nơi đây, nếu có tiếng nổ nữa cho dù nhỏ cũng sập ngay vì nhà đã rung rinh, hơn nữa súng đạn máy bay luôn đe dọa.

Lúc này ngoài cổng xóm khoảng 30 người kéo nhau đi, cầm theo đèn lên phố tránh nạn, ai cũng nói cứ đi là chắc hơn, khỏi lo đêm nay. Nhưng đoàn người chỉ đi một đoạn rồi trở lui, nói đường cấm không cho đi. Tôi chẳng có ý đi đâu, cứ tìm nơi bảo đảm trong nhà nằm tạm, vừa trông chừng đồ đạc. Tôi trải chiếu nằm dưới đất với hai con tại góc nhà lớn, cận bếp, nơi đây có gác, yên tâm chẳng có gì trên đầu rơi nhầm, nhìn lên toàn trời mây, nên lấy tấm trần che tạm. Vú già liều hơn, nằm trên ghế ngay giữa nhà mà ngủ.

Tôi quên được vài giờ trong đêm, rồi bừng tỉnh lại, rõ ràng đang mình sống trong ác mộng!

Sự dọn tạm cũng kéo dài cả tháng, còn sữa tạm, kéo dài 3 tháng, sau mới ngưng làm nề và mộc. Nhiều người thông cảm cảnh khổ này tự nguyện làm mạnh thường quân. Buổi sáng, sau đêm nổ, anh Tùng ở CD, bạn tôi, nấu cơm đem đến cho, anh cho độ 3 gia đình, cơm muối nhưng sâu đậm nghĩa tình. Lúc lâm cảnh ngộ mà được người lưu tâm giúp đến, dù bữa ăn hay tiếng hỏi chia buồn thật lòng vô cùng cảm quý.

Tôi cùng anh T về tận chỗ tàu nổ, để có thể cùng chia sớt nỗi tang thương với láng giềng. Từng lớp người lên xuống thăm hỏi, con đường đầy bụi ngột thở. Vùng xảy ra tai họa trải rộng nhưng nặng nhất khoảng nửa cây số trở lại. Nơi tàu Mỹ phát nổ giờ đây chỉ còn chường lên những mảng sắt lặng lẽ, mặt sông hương im lìm. Cây cỏ, đất đá đã trở màu, bê, rạp bùn và dầu nhuộm lấm lạ lùng. Ngay đến chùa Triều Châu, Phước Kiến kiến cố cả trăm năm còn sụp đổ. Toàn cảnh đau xót không thể nói.

Long Hồ Nguyễn Hữu Chung

Hồi ký Long Hồ Nguyễn Hữu Chung (1)

Write a comment

New comments have been disabled for this post.

February 2014
M T W T F S S
January 2014March 2014
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28