Trung Thu 2010
Thursday, September 23, 2010 9:19:55 AM
crazyoldman
Sunday, June 6, 2010 1:21:02 PM

Đang vẻ bức tranh nhìn từ phòng mình nhìn ra biển Nha Trang ( khi về Đà Lạt sẽ tặng lại cho nhà sáng tác Nha Trang )
.jpg)
Trên tàu đi ra đảo

Và bức tranh thứ hai : " Ngư Dân " ( tặng cho Bùi Quân Bảo , cháu của Bùi Giáng )

Đi nhậu với nhà thơ Khổng Vĩnh Nguyên

MPK và Khổng Vĩnh Nguyên

Nhà thơ " Cô đơn " - Phạm Ngọc Nam . Khi mình chụp hình này vẫn không chịu vì xa xa vẫn có hai cây dừa . Ý ông Nam thì chỉ thích có một cây , nhưng mình thấy hai cây mới đẹp.

Về " Nha Trang Xưa " chụp chung với chó

Max nested elements reachedMax nested elements reached

Max nested elements reachedMax nested elements reached
Sunday, June 6, 2010 1:19:46 PM
Lâu lắm rồi không viết blog , qua nữa tháng dự trại sáng tác ở Nha Trang - quen được nhiều nhân vật mà cuộc đời và tác phẩm của họ đã làm mình nể phục . Trong số đó phải kể tới nhà thơ lão thành Tôn Phong . Xin mượn bài viết của tác giả Ngô Minh để giới thiệu nhà thơ tài hoa nhưng cuộc đời thì ... đầy sóng gió này
Người yêu thơ thành phố biển Nha Trang và miền Trung ai cũng mến mộ thơ Tôn Phong. Nhà thơ rất đẹp lão. Ông vóc dáng to cao, phong độ, tóc râu trắng như cước, đôi mắt sáng long lanh.
Buổi sáng nào ông cũng ngồi nhâm nhi ly cà phê sữa nóng, để nhìn người qua đường. Ngồi với vạn bè thì đọc thơ sang sảng. Ông làm thơ tặng nhà thơ Hữu Loan ngày tái ngộ: Bè bạn thương anh đi cày/ anh em thương anh gánh củi/ Anh gánh cả đời mình đá nặng/ còng lưng miếng ăn và thơ ca... Ông làm thơ tặng hương hồn Lưu Quang Vũ:
Có loài chim gọi mặt trời không mỏi
Vẽ cánh bay trên vườn cấm địa đàng
Khát hạt sương trái tim chùm táo ngọt
Tiếng kêu yêu huyết đọng thành trang
Ông làm thơ nhân ngày giỗ đầu Phùng Quán, thơ tặng bạn Đông Trình, Thanh Hồ, thơ tặng con tặng vợ, thơ tình tặng những bóng hồng. Ông làm thơ gửi Huế thân yêu quê ông v.v... Thơ Tôn Phong da diết tình yêu và tâm trạng: lãng đãng đời/lãng đãng thơ/ tóc râu lãng đãng bơ phờ thời gian... (Thơ trong cơn say).
Mới gặp ông lần đầu ai cũng ngỡ đây là một người phong lưu giàu có lắm. Nhưng gần gũi ông mới ông chỉ giàu tình yêu, giàu bạn bè, giàu thơ, còn cuộc đời ông nghèo rớt mùng tơi.
Vâng, ông là người dưới đáy cuộc đời, đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của từ này! Nhưng điều lạ lùng là suốt mấy chục năm không nhà cửa, bán chè chén ở ga, “kiếm ăn từng bữa toát mồ hôi”, nhưng ông không hề bỏ thơ! Ông bảo: “Với mình thơ là người bạn thủy chung nhất, người bạn luôn biết sẻ chia, an ủi”.
Vâng, nói như Phùng Quán, ông đã “ vịn thơ mà đứng dậy”! Làm thơ đầy mấy sổ tay, nhưng chẳng gửi in đâu cả. Nhờ bạn bè góp tiền, góp sức, năm 1992, khi ông 60 tuổi, Tôn Phong mới ra tập thơ đầu tay của mình có tựa đề là Mộng du. Mười hai năm sau (2004), bạn bè trong Nam ngoài Trung một lần nữa lại góp tiền in cho ông tập thơ Cổ tích buồn. Họ còn “dọa” sang năm sẽ in tiếp cho ông tập nữa... Vừa mới xuất bản tập thơ Cổ tích buồn đã được Hội Văn học nghệ thuật Khánh Hòa trao giải thưởng. Ông có bài thơ “Trắng” ám ảnh tôi như chính cuộc đời ông vậy:
Nỗi trắng, trắng sao, trắng lạnh lùng
hai bàn tay trắng, trắng hư không
đã nhiều đêm trắng chong mắt trắng
trắng nguyện không thành trắng cố nhân.
Vâng, trắng đến tận cùng sự trắng! Trắng rợn cõi người! Thời bao cấp, tôi làm báo Thương mại, trong một chuyến vô công tác ở Nha Trang, tình cờ được làm quen với ông. Câu chuyện của cuộc đời Tôn Phong như là định mệnh đối với người thơ giữa cõi đời đen bạc, cay nghiệt và phong trần lắm.
Lúc đó, gia đình ông như “người ngoài cuộc đời”, không biên chế, không lương bổng, không việc làm, không chỗ nương thân... Chỗ ở thì xin che tạm mái tranh vào một góc hiên nhà một ông đại tá nghỉ hưu, vừa đủ chỗ kê cái giường đôi, anh gọi là “lều”.
Năm sau ông đại tá vì lý do gì đó không cho trú nhờ nữa, thì sang trú ở góc sân nhà người khác. Ông kể rằng, từ năm 1975 vào Nha Trang cho đến năm 1992, ông đã 13 lần che lều trú ở sân nhà người khác như thế. Mỗi lần mưa gió cả nhà ướt như chuột lội. Trên đầu ễnh ương dóng dả/ Dưới chân rền rĩ dế kêu/ Nằm trong xó tối căn lều/ Cứ tưởng thân mình như đã.../ Bỗng từ mái tranh mưa dột/ gió lùa lạnh buốt sống lưng/ dậy ngồi xo ro tựa cột/ hóa ra sự sống chưa dừng (Viết vào đêm lều dột).
Có thời gian 3 tháng ròng không ai cho trú, cả nhà ông phải trải chiếu rách nằm ngủ ngay trên hè phố Nha Trang! Có lần đang đêm tôi kiếm chai rượu gạo về để uống với ông cho vui. Nhưng ông bận đi “bán nước chè”* (trà chén) ngoài ga. Tôi phải nhét chai rượu vào chỗ lỗ tường nơi giường ngủ của vợ chồng ông!
Ban ngày và nhiều đêm trắng ông và ba đứa con Tôn Khoan, Tôn Toại, con gái Tôn Nữ Minh Tuệ phải lên Ga Nha Trang bán chè chén. Mới giải phóng đưa con vào Nha Trang không có việc gì làm để kiếm sống, ông phải nghĩ ra nghề “bán chè chén” cho hành khách trên tàu hỏa. Ông sắm cho các con mỗi đứa một “bộ đồ nghề” gồm cái khay gỗ, mấy cái chén thủy tinh, ấm trà, cái bếp quạt than đun nước bằng sắt treo.
Nhưng muốn bán được chè chén ở ga không phải dễ. Vào ga không có vé bảo vệ không cho vào, mua vé thì tiền đâu, nên đành phải chui lủi. Nhiều bữa đứa con gái chín tuổi của ông bị bảo vệ ga đánh đuổi: ”Bán nước suốt ngày trời/ may kiếm được bữa vơi/ lỡ người ta bắt được/ đánh đau quá cha ơi !”, rồi “Ra ga người đánh đuổi/ Về nhà sợ mẹ la/ dáng con đi lủi thủi/ cha bưng mặt khóc òa “.
Tôn Phong kể rằng, ngay cả ông, râu tóc bạc trắng cũng nhiều lần bị nhân viên ga mắng nhiếc thậm tệ. Vì miếng cơm manh áo, họ mắng mấy mình cũng im lặng, nhịn nhục để kiếm dăm ba lon gạo nuôi con! Nhưng vào được ga chưa phải là khổ, khổ nhất là khi chờ đợi tàu đến.
Hồi đó một ngày có 6 chuyến tàu vào Ga Nha Trang. Tức là chờ thật lâu mới đón được một đoàn tàu, nếu ngủ quên thì hết bán. Thế là con ngủ, cha thức ngồi nghĩ thơ. Ông toàn làm thơ như thế. Gạch xóa sửa chữa luôn ở trong đầu. Sau đó mới chép lại vào sổ tay. Vừa nghĩ được tứ thơ, tàu hú còi là thơ tan biến vào mây gió! Có lần mải nghĩ thơ, bảo vệ ga đến bên mà không hay biết, nên cha con ông bị phạt.
Thế là đi toi tiền lời một ngày bán nước. May là hồi đó tàu đi chậm, lại dừng ở sân ga lâu, nên người uống chè chén trên tàu cũng như dưới sân ga nhiều. Một lần vào ga đưa người nhà lên tàu ra quê Quảng Trị, nhà thơ Triệu Phong gặp Tôn Phong và các con đang bán chè chén. Nhà thơ xúc động viết: Khuya khoắt sân ga/còi tàu khản đặc/những tiếng rao hàng/không còn lời đáp... Mưa nghiêng đèn vàng/ ông hát thơ mình/câu thơ bầm tím/quất vào giá băng. Bởi thế mà:
Uống rượu đọc thơ mềm môi bạc tóc
đi giữa cõi người khó hơn vượt thác!
Khi không bán chè chén ở ga thì cả mấy cha con đi nhặt chai bao bán cho mấy bà đồng nát. Túi nhỏ trắng trong/phập phồng ngực đất/Tôi cúi nhặt... Ngày ngày/tôi gom nhặt/chồng chất trắng trong/ những ai đã vứt (Trắng trong). Thời kỳ đó, ngoài vài thân hữu, ở Nha Trang không ai biết có một người thơ tên là Tôn Phong. Ông âm thầm làm nhiều thơ buồn về cuộc mưu sinh lận đận của gia đình mình. Làm xong chép vào sổ tay, mang theo bên người như một bảo vật. Thơ ông khi thì kêu lên: “Xin đừng đánh con tôi/đừng chửi già hiếp trẻ/miếng ăn chừ khó lắm... Khi thì ngẫm nghĩ chua chát :
Vì người khô khát mới ra đây
Ấm lạnh nào ai nước nước này
Dưới đất kẻ kêu chân vắt cổ
Trên toa người gọi miệng liền tay...!
(Bán nước)
Nhà thơ Tôn Phong sinh năm 1930, người Huế, dòng Tôn Thất. Ở miền Bắc ngày mới giải phóng họ Tôn Thất là họ vua chúa triều Nguyễn “bán nước”, thuộc loại không được tin dùng, thậm chí còn bị nghi ngờ, nên đa số nhà văn, nhà thơ phải đổi họ hay chữ lót đi để không ai phát hiện ra. Ví dụ Nguyễn Phước Vĩnh Tôn, tức nhà thơ Hải Bằng, đổi thành Văn Tôn. Tôn Nữ Ngọc Trai đổi thành Nguyễn Thị Ngọc Trai, Tôn Thất Phong, thành Tôn Phongv.v…
Năm 18 tuổi, ông tham gia bộ đội Việt Minh ở đơn vị 321 Huyện đội Phú Lộc, Thừa Thiên - Huế. Ông bị thương trong lúc chiến đấu ngay tại quê hương mình. Năm 1954, ông tập kết ra Bắc ở nông trường quân đội ở Thanh Hóa. Năm 1961, Tôn Phong và Phùng Quán gặp nhau. Hồi đó, sau vụ “nhân văn”, Phùng Quán đi lao động cải tạo tại Nông trường Thắng Lợi ở Thọ Xuân, Thanh Hóa. Phùng Quán ở đội 6 khai hoang, Tôn Phong ở đội canh nông Ngọc Anh. Gặp nhau hai người đồng hương, lại cùng lứa, nên thân nhau ngay.
Sau đợt gặp Phùng Quán đó, Tôn Phong bị tù 6 năm vì “truyền bá tư tưởng nhân văn giai phẩm”. Ra tù anh mất hết biên chế, mất chế độ thương binh, hai bàn tay trắng, không đồng xu dính túi, một mình cuốc bộ 75 cây số lên Cẩm Thủy làm nghề tiều phu kiếm sống. Ở Cẩm Thủy, chàng Tôn Thất đa tình thông minh đẹp trai ấy phải lòng cô Dương Thị Tám, lúc đó là đảng viên, chủ nhiệm Hợp tác xã mua bán xã. Do lấy một người từng đi tù vì “nhân văn”, chị Tám cũng bị mất đảng, mất chức Chủ nhiệm hợp tác xã.
Sau ngày giải phóng miền Nam năm 1975, nhờ liên lạc được với người em gái ruột ở Nha Trang, vợ chồng Tôn Phong dắt 3 đứa con vô thành phố biển, với cái giấy thông hành duy nhất: “Tôn Phong - Người ra tù cải tạo tốt”! Cuộc mưu sinh khốn khó bắt đầu từ đó! Ở Nha Trang được mấy năm, Tôn Phong yêu đắm đuối ca sĩ Phạm Thị Ái Mỹ.
Hai người thành vợ chồng. Chị Ái Mỹ cũng bắt đầu thức đêm bán chè chén với chồng và con chồng ở ga từ đó! Năm 1986, một “sự kiện” làm thay đổi cuộc sống của gia đình ông. Ấy là sự xuất hiện của người bạn thơ tri âm là nhà thơ Phùng Quán ở Nha Trang.
Dạo đó Phùng Quán được anh Lê Quang Vịnh (lúc đó là Bí thư Huyện ủy Côn Đảo) mời tác giả tiểu thuyết Vượt Côn Đảo ra thăm đảo. Phùng Quán nhận lời, nhưng đi “đọc thơ phục vụ nhân dân” mãi sáu tháng ròng mới tới được Nha Trang. Trong các cuộc đọc thơ bốc lửa của Phùng Quán, Tôn Phong cũng tham gia đọc những bài thơ của mình. Nhà thơ Tôn Phong xuất hiện trước công chúng Nha Trang từ đó. Sau đó ông làm nhiều thơ trữ tình đăng ở Tạp chí Nha Trang, báo Khánh Hòa, tạp chí Sông Hương..., rồi ông tham gia Hội Văn nghệ Khánh Hòa.
Nhà thơ Giang Nam lúc này là Phó Chủ tịch tỉnh Khánh Hòa rất hiểu và thông cảm với tình cảnh gia đình của Tôn Phong. Nhân các chuyến đi họp Hà Nội, ông về Thanh Hóa tìm lại những người lính cùng thời với Tôn Phong, rồi từ đó tìm được cho Tôn Phong các thứ giấy tờ như Huân huy chương chống Pháp, giấy thương binh.
Nhờ có thẻ thương binh, lại tham gia Hội Văn nghệ, ông được tỉnh phân phối cho căn hộ 16 mét vuông ở tầng hai một khu chung cư. Ở một năm, hai vợ chồng không sao trả được 5 triệu tiền nhà cho Nhà nước, bèn bán căn hộ để trả nợ. Số tiền còn lại mua miếng đất trong xóm khuất lấp ở Đồng Đế làm cái nhà cấp 4. Nhưng rồi lại nợ tiền làm nhà không trả được.
Hai vợ chồng lại phải bán cái nhà tự tay mình xây dựng ấy, để trả nợ. Số tiền còn mua một chiếc Chaly cũ để đi, còn lại gửi vào ngân hàng, số tiền lãi trên 350 ngàn hàng tháng, dùng để thuê một căn phòng nhỏ ở phố Nhà thờ Vĩnh Hải để sống những năm tháng cuối đời! Như vậy 75 tuổi, Tôn Phong vẫn là người không nhà. Từ hơn mười năm nay, ông không còn đi bán chè chén trên ga nữa. Các con cũng đã có gia đình riêng. Hai vợ chồng ông hàng ngày cơm rau bằng đồng lương thương binh 450 ngàn đồng còm cõi. Thế mà gặp ai ông cũng đọc thơ. Không chỉ đọc một bài mà đọc một lúc năm ba bài.
Vâng, nhà thơ Tôn Phong đến già vẫn không có bất cứ thứ của cải vật chất nào, ông chỉ có thơ. Tiếng thơ cất lên từ đáy cuộc đời da diết và thánh thiện lắm:
Một đời em một đời anh
có đem cộng lại cũng thành chiêm bao...
Ngô Minh
Sunday, June 6, 2010 1:18:32 PM
Xin được Mèo con về nhà chưa tới một tuần , cũng chưa kịp đặt tên . Mấy hôm đầu còn khoẻ mạnh , ba ngày nay tự nhiên bỏ ăn , sữa cũng chẳng màng tới . Đêm qua còn nghe tiếng kêu , sáng nay nằm yên một chổ , thậm chí không còn cử động được nữa , lông lá thì xơ xác. Tôi chạy đi hết các cửa hàng Thú Y , nhưng đến trưa thì mèo con trong tình trạng hấp hối . Chỉ tội cho con Ki . Mèo con mới về nhà có mấy ngày mà Ki đã quấn quít như anh em . Thây Mèo con trong tình trạng nguy kịch như vậy , Ki đã không rời nữa bước , từ trưa đến chiều chỉ quanh quẩn gần chỗ nằm của mèo con , vẻ lo lắng chỉ có của con người khi thấy người thân mình cận kề cái chết , thỉnh thoảng lại tru lên mà tôi nghĩ là nó đang khóc ... Một tâm trạng bất an hiện rõ ràng trên đôi mắt của nó , thấy tôi lại gần mèo con , lúc thì mắt nó như van nài cứu giúp , lúc thì sẵn sàng nổi cơn thịnh nộ khi tôi chạm đến mà theo linh cảm của nó có thể là tôi sắp sửa đem chôn bạn của nó. Tôi đang viết những dòng này thì nghe tiếng kêu yếu ớt của mèo con , Ki bật dậy như lò xo ( nếu không có nó thì chắc tôi đã đem chôn từ hồi chiều rồi ) . Nếu Mèo con qua được cơn nguy kịch này và tiếp tục sống thì chắc phần lớn nhờ tình nghĩa của con chó Ki .Các bạn xem thử đoạn video mới thấy tình cảm thât sự con Ki của tôi.
Tiện đây tôi post lại một entry cũ các bạn đọc và suy ngẫm .
Bài diễn văn của luật sư George Graham Vest tại một phiên tòa xét xử vụ kiện người hàng xóm làm chết con chó của thân chủ, được tạp chí New York Times bình chọn là bài diễn văn hay nhất trong 1000 năm qua.
Thưa các ngài hội thẩm,
Người bạn tốt nhất mà ta có được trên thế gian này, có thể một ngày nào đó sẽ trở thành kẻ thù chống lại ta. Con cái mà ta nuôi dưỡng với tình yêu thương hết mực cũng có thể là một lũ vô ơn. Những người thân thiết, gần gũi với ta nhất, những người mà ta từng gửi gắm niềm vui và danh dự có thể phụ bạc, phản bội lòng tin yêu của ta.
Tiền bạc mà ta tích góp được trong nhiều năm tháng vật lộn với cuộc đời rồi sẽ hết, nó hết vào đúng lúc mà ta cần nó nhất.
Tiếng tăm danh vọng của ta có thể tiêu tan thành mây khói bởi phút giây ta hành động dại khờ.
Những kẻ đã từng phủ phục tôn vinh ta khi ta thành đạt, có thể lại là kẻ thù đầu tiên ném đá vào ta khi ta lỡ vận.
Duy chỉ có một người bạn hoàn toàn không vụ lợi mà ta có được trên thế giới này, người bạn không bao giờ bỏ ta hay tỏ ra vô ơn đối với ta: Đó là con chó!
Nó luôn ở bên ta, trong phú qúy cũng như lúc bần hàn, khi ta khỏe mạnh cũng như những ngày ta đau ốm. Nó ngủ yên trên nền giá lạnh, dù gió đông cắt thịt hay bão tuyết mưa sa, nó chỉ mong sao luôn được cận kề bên chủ. Nó hôn tay ta, ngay cả khi ta không còn gì cho nó. Nó liếm vết thương trầy xước mà cơ thể ta chịu đựng khi ta va chạm với cuộc đời tàn bạo.
Nó canh giữ giấc ngủ của ta, như thể ta là một ông hoàng, dù khoảnh khắc đó, ta chỉ là một gã ăn mày.
Dù khi ta đã tan gia bại sản, thân tàn danh liệt, nó vẫn giữ trọn lòng trung thành với tình yêu thương ta đã dành cho nó như thái dương còn mãi trên bầu trời. Nếu chẳng may số phận đá ta ra rìa xã hội, ta không bạn bè, không nhà cửa thì con chó trung thành chỉ cầu xin ta một ân huệ: cho nó đi cùng để bảo vệ ta trước nguy hiểm và giúp ta chống lại kẻ thù.
Rồi một khi trò đời đã hạ màn, thần chết đến rước linh hồn ta đi, để lại thân xác ta trong lòng đất lạnh, lúc tất cả thân bằng quyến thuộc đã phủi tay sau nắm đất cuối cùng và quay về sống tiếp cuộc đời của họ, thì khi ấy, bên nấm mồ ta, vẫn còn lại con chó cao thượng của ta, gục đầu giữa hai chân trước, đôi mắt ướt đẫm vẫn mở to cảnh giác, trung thành và trung thực ngay cả khi ta đã chết rồi.
Thế mà có kẻ đang tâm giết chết một người bạn như vậy...
Sunday, June 6, 2010 1:16:58 PM

(Dân trí) - Ngôi sao mới trên YouTube là cô gái người Ukraina - Kseniya Simonova, 24 tuổi, vừa giành giải nhất cuộc thi Ukraine's Got Talent. Nước mắt hàng triệu khán giả đã rơi khi cô thể hiện câu chuyện của mình bằng… cát.
Kseniya Simonova đã trở thành một hiện tượng trên YouTube khi kể lại những câu chuyện qua tranh cát. Tờ Guardian của Anh đã không tiếc lời khen có ý rằng có Simonova rồi thì ai còn cần Susan Boyle (“giọng ca thiên thần” giành vị trí thứ hai trong cuộc thi Britain’s Got Talent 2009) nữa?
Sử dụng một hộp ánh sáng, âm nhạc đầy cảm xúc, trí tưởng tượng và tài năng vẽ tranh trên cát, Simonova kể lại câu chuyện bi tráng thời chiến tranh vệ quốc Thế chiến II.
Câu chuyện bắt đầu bằng cảnh một cặp đôi ngồi nắm tay nhau trên chiếc ghế dài dưới bầu trời đầy sao. Rồi chiếc máy bay chiến đấu xuất hiện và cảnh tượng hạnh phúc không còn nữa. Thay vào đó là khuôn mặt một phụ nữ đang khóc, và rồi một em bé xuất hiện và người phụ nữ lại mỉm cười. Một lần nữa chiến tranh lại trở lại với những cảnh tượng hỗn loạn. Khuôn mặt trẻ trung của người phụ nữ nhanh chóng trở thành một khuôn mặt người góa phụ già nua đầy những nếp nhăn và vẻ buồn bã. Sau đó hình ảnh ấy lại biến thành đài tưởng niệm của một người lính vô danh.
Cảnh tượng này được đóng khung trong một chiếc cửa sổ như thể người xem đang ngồi trong nhà nhìn ra đài tưởng niệm. Cảnh cuối cùng là hình ảnh một bà mẹ và em bé ngồi bên trong, bên ngoài là người đàn ông ấn tay vào tấm kính nói lời tạm biệt để ra trận.
Với câu chuyện được kể lại bằng cát của mình, cô gái sinh năm 1985 đã chiếm giữ trái tim khán giả. Màn trình diễn dài 8 phút rưỡi của Simonova như thể một tác phẩm bậc thầy làm lay động sâu sắc những người dân Ukraina. Khán giả không kìm được những tiếng thổn thức khi theo dõi cát biến ảo dưới bàn tay tuyệt vời của cô.
Gần như toàn bộ 13 triệu người xem Simonova trình diễn trực tiếp qua truyền hình trong cuộc thi Ukraine's Got Talent đều khóc thổn thức. Ban giám khảo và khán giả tại studio cũng không thể ngăn những dòng nước mắt tuôn rơi.
Và không chỉ người Ukraina mới yêu thích những câu chuyện của Simonova.
Đến nay, video trình diễn của Simonova thu hút hơn 4 triệu lượt xem trên YouTube. Con số này là một hiện tượng khác thường cho một clip của một nghệ sĩ ở một nước ngoài Anh và Mỹ, đặc biệt là khi rất ít người xem có thể hiểu được những dòng thông điệp được viết bằng tiếng Ukraina.
Những bức tranh cát của Simonova mang đến sự bình lặng, rồi những xung đột. Một cặp đôi ngồi bên nhau trên chiếc ghế tựa bỗng chốc hóa thành một khuôn mặt phụ nữ. Một cuộc đi dạo êm ả bỗng trở thành một thảm họa. Một góa phụ đang khóc thổn thức bỗng chuyển thành chiếc đài tưởng niệm một người lính vô danh... Simonova đã giữ cho câu chuyện của mình liền mạch bằng bàn tay khéo léo "làm phù thủy" với cát...
Thành công ùa đến khiến Simonova vô cùng ngạc nhiên. Người mẹ trẻ này cho biết cô hạnh phúc được sống với chồng và cậu con trai nhỏ ở Evpatoria (một thành phố nhỏ ở Ukraina) và sẽ không đi đến các nước khác để kiếm lợi từ lượng fan khổng lồ khắp toàn cầu của mình.
“Tôi tham gia cuộc thi bởi vì tôi muốn giúp một em bé đang cần làm phẫu thuật. Tôi không định làm cả nước tôi phải khóc", Simonova tâm sự về quyết định tham dự cuộc thi Ukraine's Got Talent.
Simonova đã dùng khoản tiền thưởng gần 120.000USD để mua một căn nhà nhỏ và lập một quỹ từ thiện cho trẻ em.
Mời độc giả cùng thưởng thức video trình diễn của Kseniya Simonova trong cuộc thi Ukraine's Got đã gây sửng sốt với người hâm mộ:
Sunday, June 6, 2010 1:15:44 PM
Chiều Chủ Nhật 27/07 cùng các nhóc trường Trưng Vương đi thi ở Nhà Thiếu Nhi Tĩnh với 4 nội dung :
1/ Thi Hoá Trang Chị Hằng Chú Cuội

2/Thi Múa Lân
3/ Thi Làm Lồng Đèn
3/ Thi Vẻ Mặt nạ Ông Địa
Sunday, June 6, 2010 1:10:03 PM

Cây đàn guitar đến với chúng ta tự nhiên như tính chất của chính nó, gần gũi, giai điệu mượt mà, là chất keo gắn con người lại với nhau. Nhưng liệu ai đó trong chúng ta từng đặt ra câu hỏi, vậy liệu có phải Tây Ban Nha là quê hương thực sự của cây đàn, ta hãy bắt đầu hành trinh khám phá vùng đất, con người nơi đây, rồi qua đó tìm lại quê hương cây đàn Guitar
Trên bờ Đông Nam của vùng biển Địa Trung Hải, một khu vực kì lạ của địa cầu là Ai Cập, quê hương của một nền văn minh đồ sộ với số tuổi trên 5000 năm. Ngày nay, những đền đài lăng tẩm tại Ai Cập là dấu tích của 1 nền văn hóa và học thuật xưa nhất của loài người còn được giữ lại một cách khá nguyên vẹn. Ngược kim đồng hồ, men theo bờ biển ta sẽ đến bán đảo Sinai và vùng Israen, Lebanon, nơi đó, tại những địa điểm khá gần nhau đã phát xuất 3 tôn giáo lớn của loài người: Do Thái giáo, Thiên Chúa giáo và Hồi giáo.
Tiếp tục chuyến hành trình men theo bờ biển đi ngược về phía Bắc, ta sẽ gặp Hy Lạp với vô số hải đảo, nơi đây cũng là quê hương của 1 nền học thuật vĩ đại với số tuổi khoảng gần 3000 năm. Nền văn minh Hy Lạp là nguồn gốc toàn bộ đời sống tinh thần và hoạt động của phương Tây ngày nay. Tiếp tục đi dọc bờ biển, ta sẽ đến Ý, quê hương của Julius Caesar và nền văn minh La Mã, vốn đã làm bá chủ cả châu Âu nhiều thế kỉ. Từ Ý, ta sẽ đi qua nhiều bờ biển vô cùng xinh đẹp để đến Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, những vùng đất được thiên nhiên ưu đãi, giàu đẹp, với những con người từng khám phá và làm chủ nhiều vùng đất trên thế giới tại châu Mỹ, châu Á.
Tây Ban Nha cách Bắc Phi chỉ bằng 1 eo biển rộng không quá 20Km. Vượt qua eo biển đó là trở lại châu Phi, là Morocco với thành phố nổi tiếng Casablanca. Tiếp tục đi về phía Đông, dọc theo bờ biển ta sé gặp 3 nước Algeria, Tunisia, Libya, 3 nước Bắc Phi dường như không có gì đáng chú y. Nhưng không phải thế, tổ tiên của họ đã xây dựng 1 giai đoạn vàng son trong lịch sử châu Âu và còn để lại dấu ấn cho đến tận ngày nay. Đó là thời kỳ của sắc dân Berber tại Tây Ban Nha.
Nhắc đến Tây Ban Nha là nhắc đến những đặc trưng nổi tiếng của đất nước này như các thao trường đấu bò, tiếng đàn Tây Ban Cầm, tiếng nàng Carmen với điệu vũ Flamenco, chàng Don Joan từng làm thổn thức bao trái tim phụ nữ. Tây Ban Nha là một đất nước rộng lớn, trải dài từ phía Bắc với Đại Tây Dương xuống phía Nam với biển Địa Trung Hải, khắp nơi đều nằm trong nắng, đó là niềm hãnh diện của họ, mời gọi dân Bắc Âu thèm ánh mặt trời. Khách đến Tây Ban Nha là để thưởng thức nắng ấm và gió biển. Thế nhưng tất cả các đặc trưng Tây Ban Nha nổi tiếng trên thật ra đều chỉ xuất phát từ 1 vùng đất duy nhất, đó là Andalusia, phía Nam Tây Ban Nha. Quê hưong của cả Carmen lẫn Don Joan đều là Sevilla, thủ phủ của Andalusia.
Người ta chỉ nên xem đấu bò ở Sevilla, cùng lắm là tại Madrid, xem nơi khác “chỉ phí thì giờ”, nói như người Tây Ban Nha. Đàn Guitar và nhạc điệu Flamenco cũng là của người dân Andalusia. Do đó, nếu có dịp đến thăm Tây Ban Nha 1 lần, đừng nên đến Madrid hay Barcelona mà nên đến Andalusia để xem đấu bò và vũ điệu Flamenco. Nhất là nếu có chút tha thiết với lịch sử, với những sắc dân đã tàn lụy, phải biết đến những công trình chói lọi với nỗi lòng u uẩn còn vọng lại trong tiếng nhạc trong tiếng nhạc Flameco của người dân du mục Bohemian, hậu thân của người Berber ở châu Phi.
Đến Andalusia, đến Sevilla, người ta sẽ thấy những công trình kiến trúc của người Moor, cái tên mà châu Âu đặt cho những người Berber từ Bắc Phi đến. Thuở xa xưa ấy, người Moor đến châu Âu không phải nhờ cậy gì ai, họ đến để làm bá chủ tại Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha trong 1 thời lì dài đến 8 thế kỷ.
Vài trăm năm trước Công nguyên, vùng Andalusia bị đế quốc La Mã thống trị, khi La Mã suy tàn, các bộ tộc Bắc Phi bắt đầu di dân qua Tây Ban Nha trong khoảng thế kỉ thứ 5. Sa mạc Sahara quá khắc nghiệt và eo biển Cibratar quá hẹp làm những người Bắc Phi cầm lòng không đậu, họ bỏ quê hương ra đi, hi vọng 1 cuộc sống mới tốt đẹp hơn. Những thế kỉ đầu công nguyên, cả La Mã lẫn Bắc Phi đều theo đạo Thiên Chúa. Năm 570, nhà tiên tri Muhammad ra đời, sáng lập Hồi Giáo, nền tôn giáo này nhanh chóng lan truyền qua các nước Bắc Phi. Năm 711, những người Berber theo đạo Hồi tấn công Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha chiếm chọn cả vùng bán đảo mênh mông rộng lớn này.
Đó là thời điểm đầu thế kỷ thứ 8 mà sách vở châu Âu gọi là thời kỳ của người Moor tại bán đảo Iberian gồm Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. 1 điều rất đáng chú là các triều đại người Berber với nền văn hóa đạo Hồi vừa mới hình thành lại rất cởi mở, tiến bộ. Họ trọng thị và sống chung hòa bình với tín đồ đạo Do Thái và Thiên Chúa, xây dựng một nền văn minh rực rỡ với khoa học, nghệ thuật và kiến trúc. Trong thời bấy giờ, châu Âu còn đang ngủ mê, người châu Âu còn đang ngủ mê, người Berber phải đưa cả những trí thức Arabe qua Tây Ban Nha để xây dựng viện đại học, thư viện, nhà thương , trường học, công trình kiến trúc, thủy lợi, giao thông… Đường xá thời đó đã có cả đèn đường soi sáng. Thời bấy giờ, Hồi giáo chưa bị xơ cứng, trí thức của họ là nguồn động lực phát triển cho toàn xã hội. Thời kì vàng son đó còn để lại tới bây giờ những công trình kiến trúc tinh xảo làm ngỡ ngàng người nghiên cứu và khách du lịch, nhất là cho những ai có thành kiến không tốt về người đạo hồi. Đến Tây Ban Nha là lúc để ta đắm mình vào lịch sử đáng kinh ngạc và những cồng trình kiến trúc tuyệt vời của sắc dân Berber.
Nền chíng trị Hồi giáo trị vì được khoảng 300 năm thì bắt đầu rạn nứt thành nhiều tiểu quốc trong khoảng năm 1031, cũng chính lúc đó, Thiên Chúa giáo bắt đầu gửi quân chinh phạt và tái chiếm các vùng đất đai Tây Ban Nha. Đó là cuộc thánh chiến lịch sử đầu tiên của 2 tôn giáo. Năm 1212, phía Thiên Chúa giáo đánh thắng 1 trận quyết định. Thế nhưng sau đó các triều đình của Hồi giáo vẫn còn triển khai hoa trái của nền văn hóa của mình gần 300 năm nữa. Mãi đến năm 1492, phía thập tự quân của Thiên Chúa giáo mới đạt thắng lợi hoàn toàn, giành lại toàn bộ châu Âu trong ảnh hưởng của mình. Người ta xem thời điểm đó là thắng lợi trọn vẹn của nền văn hóa Thiên Chúa giáo đối với Hồi giáo tại bán đảo Iberian, cũng là lúc bắt đầu cuộc đấu tranh giữa hai nền văn hóa mà ngày nay đang lâm vào giai đoạn sinh tử.
Thế kỷ 15, nền văn hóa Thiên Chúa giáo thắng thế hoàn toàn tại châu Âu và thi hành 1 chính sách khắt khe. Tín đồ Hồi giáo và Do Thái giáo bị đẩy lùi khỏi Tây Ban Nha. Một số lượng nhỏ sắc dân Berber xin ở lại, hòa nhập với các cộng đồng sắc dân khác. Họ được gọi là dân Gitanos, ngày nay còn khoảng 600.000 người. Tuy nhiên, ban đầu, họ không được dân Tây Ban Nha chính thống chấp nhận vì có màu da nâu đen, một phần vì lối sống đậm chất du mục Bohemian của họ. Bị đẩy ra ngoài lề xã hội, họ lén lút gặp những sắc dân lan bạt như họ, quê ở Arabe, Bắc Phi để vui chơi , đàn hát. Tiếng vọng sầu thẳm từ 1 nền văn hóa đã suy tàn, của nỗi sầu mất mát vang rõ trong tiếng hát của họ, đó là điệu nhạc Flamenco.
Flamenco không hề là vũ điệu đặc trưng và vui nhộn của Tây Ban Nha như nhiều người lầm tưởng. Đó là tiếng than thở về một quá khứ đã mất. Trong thời xa xưa người Berber đã đưa tiết điệu âm nhạc của họ vào Tây Ban Nha trong thế kỉ 8, hòa trộn với dân ca Andalusia, do đó, flamenco còn mang rõ âm hưởng Arabe. Nhạc Flamenco truyền thống thường chỉ có 1 giọng nam trầm, khan và buồn, vang đầy âm sắc tiếc nuối của những người mất quê hương và tình yêu của những ai bị đẩy ra bên lề xã hội. Hòa với lời ca chỉ là những nhịp vỗ tay và nhịp chân trên sàn gỗ của những con người đơn sơ, mộc mạc và nghèo nàn. Mãi đến thế kỉ 16 cây đàn Guitar, 1 nhạc cụ mộc mạc, đủ sức thể hiện nhiều cung bậc cảm xúc con người mới được hòa điệu cùng Flamenco.
Quê hương của cây đàn Guitar, thật trùng hợp và lạ kỳ lại là ở chính những vùng đất Phi châu, và chính những sắc dân di cư Berber đã đem theo nó khi đến chinh phục châu Âu vào thế kỷ thứ 8. Thế nhưng khi đế chế Hồi giáo suy tàn cũng là lúc cây đàn guitar bị chung số phận, bị coi là 1 nhạc cụ tầm thường và bị đẩy ra ngoài xã hội.
Trong tiếng ca đau đớn và phẫn uất chạnh lòng, trong tiếng nhạc guitar ngang tàng, với nhịp giày gõ giữ dội trên sàn gỗ các nàng vũ công dường như không bao giờ biết cười mạnh mẽ nhảy múa trong bộ quần áo sặc sỡ truyền thống của người Bohemian đem lại cho ta 1 ấn tượng không thể nào quên của 1 sắc dân nay đã bị bỏ quên. Bên cạnh điệu múa balet quí tộc với những dàn nhạc khổng lồ của tầng lớp thượng lưu châu Âu sang trọng là Flamenco, bộ mặt nghệ thuật của những con người thua cuộc, nghèo khổ và lang bạt. Nhưng cũng vì thế mà tấm lòng của họ với người đời và quá khứ đã mất lại chân thật hơn cả. Mất quê hương và nguồn gốc văn hóa là nỗi đau xót lớn nhất mà nhiều dân tộc trên thế giới đã phải gánh chịu, bi kịch đó vẫn cứ tiếp diễn, Sevilla tuy nhỏ nhưng chứa cả 1 lịch sử, cả một nền văn hóa muôn đời.
Viet-Guitar.vn
NGÀY CUỐI CÙNG ĐỜI TÔI
2009-04-25 05:41:56
Mời anh dự sinh nhật nhé!!! http://my.opera.com/ngaycuoicungdoitoi/blog/show.dml/3177721
| M | T | W | T | F | S | S |
|---|---|---|---|---|---|---|
|
| ||||||
| 1 | 2 | 3 | 4 | 5 | ||
| 6 | 7 | 8 | 9 | 10 | 11 | 12 |
| 13 | 14 | 15 | 16 | 17 | 18 | 19 |
| 20 | 21 | 22 | 23 | 24 | 25 | 26 |
| 27 | 28 | 29 | ||||