Biết tin anh "Về với ngô khoai " từ cách đây vài ngày trước khi Hoàng Quốc Việt từ Bình Phước gọi về , nhưng còn bận " Lùa bò trong sương " ở cái đất trời sương khói mờ mờ nhân ảnh này để ráng viết tiếp vài nốt nhạc thừa của đời mình trên mãnh đất " Đà Lạt khói sương " nên không về được với anh để cùng hát lời chia tay cuối cùng , ruột gan cứ bời bời thương nhớ . Nhớ lắm...một đêm mơ !.Tại sao tôi vẫn cứ nghĩ đêm hôm đó như một đêm mơ vì tôi và anh đã đi trong khói sương của đất , của trời để tìm về cái tổ chim bộn bề chăn chiếu của MPK và... gần như một đêm trắng để cả ba rút ruột nhã tơ kể về mình , về người , về đời , và có khi là cả cái vũ trụ nhân sinh bềnh bồng sương khói này nữa . Hình như cuộc đời anh có duyên kiếp với sương nên từ trẻ anh đã bị sương mê hoặc ( anh đã từng lùa bò trong sương còn gì) . Hôm đó đứng trước balcon nhà MPK , nhìn về phía trước là cả thành phố Đà Lạt chìm trong một thung lũng sương ,sương giăng kín mọi nơi ,sương phủ lên nóc nhà , sương tràn ra phố ,sương len vào cả hồn người nên anh nói : " Tớ nhìn sương như thế này cứ muốn bay , cậu ạ ! " , trong lan man men rượu tôi cũng nghĩ như anh , bay thì chắc cũng không sao , sương dày đặc , sương cô đọng như một tấm thãm mềm màu trắng tinh khiết , nên có nhảy ra khỏi balcon để rơi vào cái nơi êm ái đó thì chắc cũng không sao, nhưng một thoáng về Vũ Hữu Định như lôi kéo về thực tại ( hình như Vũ Hữu Định muốn bay nên hôm sau người ta phát hiện Vũ Hữu Định chết vì té lầu ). Rồi lại ở cùng nhau thâu đêm và ca hát... cuộc đời hình như chỉ còn thi ca mới làm vơi đi những nỗi sầu , tôi biết cuộc đời anh chìm nỗi lắm . Có lúc anh chỉ thấy trước mặt mình chỉ là cái chết , cái chết đồng hành với căn bệnh tim bẩm sinh. Thế mà anh đã vượt qua cơn sinh tử hằng chục năm trời bằng áo giáp của thơ ca . Anh đi qua cuộc đời với thân phận của một kẻ hát rong , cứ hát , cứ làm thơ, cứ thoả ước mơ đi hát dạo .cứ lang thang lãng tử như một kẻ bị trời hành.Mấy hôm rồi nghe tin anh chết ,tôi không vội vàng thưa chuyện với anh mà cứ lang thang tìm trên mạng để xem thử người đời còn mấy kẻ nhớ đến anh , nếu không có cái vụ lôi thôi Trần Quang Lộc thì tôi đồ rằng anh ra đi cũng như một kẻ vô danh . Thôi thì cứ kệ , bao nhiêu người chết không tên tuổi nhưng họ đã xây dựng nên cả cơ đồ này. Nhưng hôm nay anh ra đi cũng đàng hoàng khí thế ,vẫn rất...rất nhiều người thương nhớ đến anh
Bụi, và cát, và hương quyến rũ Hoàng Quý ( 8/5/2009 2:01:29 PM )
1. Vào một đêm mùa đông cuối tháng chạp năm 2001, trong một khách sạn nhỏ ở Hà Nội, tôi, hoạ sĩ - nhà thơ Nguyễn Trần Thái và thi sĩ Trần Quốc Thực tề tựu trò chuyện.Cái đêm cuối chạp ấy rét như cả năm dồn tụ và vón cục những tê buốt lại. Chỉ Nguyễn Trần Thái là đã ngà ngà, lơ mơ ngủ và vùi gần kín đầu trong chiếc chăn bông không lấy gì làm dày dặn. Anh Trần Quốc Thực đêm ấy so ro và chậm rãi, đọc cho tôi nghe vài bài thơ trong tập Tháp Cúc, tập thơ in sau đó ít năm. Đang đọc mạch lạc, bỗng anh thoắt dừng, bất ngờ hỏi: Hoàng Quý có đọc nhiều thơ của những tác giả miền Nam viết trước 1975 không? Mình được đọc ít quá. Sách rất thiếu. Sách của những nhà thơ miền Nam trước 1975 rất khó kiếm. Tôi nói với anh rằng cũng đọc nhưng không nhiều lắm. Anh thở dài, và bảo: Phải cố tìm mà đọc. Nhiều bài thơ, nhiều tác phẩm cả văn xuôi và thơ rất có giá trị văn học. Mình làm biên tập ở báo Văn nghệ, công việc tuy không quá bận nhưng sức khoẻ kém lắm rồi, dạo này phổi rất tệ, đọc ít dần, như thế thực không hay lắm đâu… Anh nhìn đăm đắm bầu trời nhớp nhoá mưa bấc phía ngoài cửa sổ hẹp, bỗng thở dài, bỗng đọc: “Đồi trăng một cụm tóc phơi Thưa em uống rượu tả tơi một mình Đồi trăng một cụm phơi mình Thưa anh tầm thể đã nghìn xuân qua Đồi trăng u uất chưa bưa Bữa qua tôi uống thêm mùa uất u Đồi trăng không ngớt vi vu Bữa nay tôi ngậm sương mù thở than Đồi trăng mỏng diệu diệu vàng Hồn bay, bay giữa hai hàng hoa lê Lên đồi khăn áo lê thê Áo trăng quá lạnh tôi về giết trăng” Nguyễn Trần Thái tung chăn choàng tỉnh, bật dậy, la: Thơ ai hay quá vậy? Lên đồi khăn áo lê thê / Áo trăng quá lạnh tôi về giết trăng là hai câu thơ hay dựng tóc; còn hai câu kế trên đẹp như một tác phẩm hội hoạ của một danh hoạ tài ba! Anh Thực ho húng hắng, rồi cười buồn: Hay quá phải không? Mình nghe người ta đọc một lần, người đọc cũng không biết thơ của ai. Mình dò hỏi nhiều nguồn vẫn chưa biết ai là tác giả. Lúc đầu, mình đã nghĩ thơ của người này có cái gì đó giống thơ Hàn Mặc Tử, lại có cái gì đó rất Bùi Giáng. Nhưng, đọc kỹ nhiều lần thì càng thấy rằng không phải vậy. Tất nhiên là chỉ bài này, hoặc là 12 câu mà mình biết chứ những bài khác thì đâu đã biết. Người thơ này phải là một nhà thơ có tài. Mà cũng không rõ bài thơ chỉ bấy nhiêu thôi, hay còn nữa mà người đọc cho mình nghe cũng không nhớ. Nếu bài thơ kết ở đó thì đã rất hay rồi…khí thơ nghe lạnh mà vẫn trong, các ông ạ! Đêm đó, chúng tôi thức trắng. Trần Quốc Thực còn đọc khá nhiều thơ của Bùi Giáng, Thanh Tâm Tuyền và vài nhà thơ miền Nam khác mà anh yêu thích. Riêng tôi, 12 câu thơ của tác giả “bí mật” nọ cứ ám ảnh, và ám ảnh rất thường khi sau này. Khi thi sĩ Trần Quốc Thực đã bỏ bạn bè về một trời khác, thì ngoài thơ của anh mỗi lần tôi đọc lại, tôi lại nhớ tới 12 câu thơ anh đã đọc cho tôi và Nguyễn Trần Thái nghe đêm nào. Cũng như anh, tôi đã cố công dò tìm cho ra ngọn nguồn mà đành chịu. 2. Đầu tháng bảy năm nay, nhà nghiên cứu lịch sử kiêm phó Chủ tịch Hội Văn nghệ Bình Phước Phan Văn Dõng điện thoại xuống Vũng Tàu hỏi tôi: - Anh có thu xếp đi một chuyến Bình Phước được không? Giữa tháng này chúng tôi mở Trại sáng tác Văn học Nghệ thuật lần thứ II. Cố mà gác mọi việc lên với tụi mình. Ở trên này có A Khuê và Trung Đức biết anh đấy! Và thế là tôi có điều kiện cho một chuyến đi mới, bổ ích và rất đặc biệt. Anh Dõng bố trí cho tôi và nhạc sỹ A Khuê ở chung một phòng, phòng 406 của khách sạn Mỹ Lệ, một khách sạn đẹp nhất của thị xã Phước Long - mà cũng có lẽ là đẹp nhất của Bình Phước. Tôi và nhạc sỹ A Khuê luôn luôn ngồi kề cận nhau dù trên xe, hay trong các bữa ăn của đoàn. Hằng đêm, khi về đến khách sạn thì thôi rồi, thức, đọc thơ, hát, chụm đầu không ít lần xuống những khuông nhạc. Chúng tôi thường nói tếu: Rồi sẽ đến lúc được ngủ mãi. Vì thế có dịp ở với nhau sướng thế này cứ phải thức cái đã! Đến Điểu Đức - anh bạn nhạc sỹ rất trẻ người S’tiêng nhập đoàn sau, ở cùng phòng 406 theo đề nghị của tôi cũng được một phen bội thực thơ, bội thực thức và bội thực chuyện...tào lao. Đêm cuối của chuyến đi, nhạc sỹ A Khuê bỗng hỏi: - Em đã đọc thơ thằng này chưa…Rồi anh đọc Em Pleiku má đỏ môi hồng / Ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông. Tôi reo lên: Thơ Vũ Hữu Định! Rồi đọc nối luôn Nên mắt em ướt và tóc em ướt / Da em mềm như mây chiều trong. Như chạm mạch, tôi say xưa đọc thêm mấy câu khác: “Chiều khó thở ngồi bên quán xép Một miếng khô, một xị rượu nồng Nhai là nói với đời lận đận Uống là nghe sầu chảy long đong” (Thơ Vũ Hữu Định) A Khuê khoái quá, cười sang sảng, rồi bảo: Em thuộc cả thơ thằng Định, thằng bạn tri kỷ của anh là anh sướng quá. Vũ Hữu Định lận đận lắm. Nó chết buồn quá, khi tuổi mới vừa 40, chết vào tháng giêng, tháng vừa xuân năm Tân Dậu (1981) ngay bên bờ sông Hàn của thành phố Đà Nẵng, cái thành phố mà thuở bé nó và anh đi đâu cũng có nhau. Anh kể cho tôi nghe rất nhiều những năm tháng trôi vô định cùng Vũ Hữu Định. Anh còn kể và đọc thơ của một người bạn rất thân nữa là Phạm Phú Hải (tác giả tập thơ Gánh Nước Tưới Sông). Anh khen Trần Quang Lộc - bạn cùng nhóm các anh ngày nào, rằng Trần Quang Lộc là một nhạc sỹ tài hoa. Nhưng tôi không thấy anh nhắc lời về cái hành vi “lờ ca từ” từ thơ của anh mà dư luận đã một dạo rất phản ứng. Khi tôi cố tình động chút ít vào sự kiện ấy, anh chỉ buồn buồn, rồi bảo: Cả thơ mình, ca từ mình viết cũng có ít nhất không dưới 13 lần trong nhạc Trần Quang Lộc chứ có riêng gì “Về đây nghe em” đâu. Nhưng thôi, chuyện đã qua rồi, mình cũng muốn gặp lại nó vì gì thì gì nó cũng đã từng là bạn của tụi mình… Sang đầu tháng 8, tôi trở lại Bình Phước một lần nữa. Sáng hôm tiễn tôi ở bến xe khách thị xã Đồng Xoài, nhạc sỹ A Khuê đưa cho tôi một tập thơ mà anh photo từ những tờ bản thảo anh còn giữ được. Anh bảo: - Hồi trẻ, anh làm nhiều thơ lắm. Chả biết hồi ấy chữ ở đâu mà lắm thế. Viết cứ như một thằng mộng mị…Em mang những bài thơ cũ này của anh về và đọc xem thế nào! Năm 1999, cũng nhờ bạn hữu, Nhà Xuất bản Trẻ in cho anh tập thơ “Lùa bò trong sương”, còn tập “Vàng bay” do Nhà Xuất bản Da Vàng ở Đà Nẵng in năm 1970 thì anh chả còn tập nào trong tay nữa. Tôi cảm động cất những bản photo anh đưa vào đáy chiếc ba lô và hứa sẽ đọc. Và, tôi đã đọc đi đọc lại như bị ma ám suốt mấy đêm liên tiếp. A Khuê không chỉ là một nhạc sỹ có tài mà tôi đã biết. A Khuê còn là một nhà thơ, đúng hơn, là một thi sỹ - nhạc sỹ tài hoa, dấn thân cho cả nhạc lẫn thơ với ý nghĩa đúng đắn nhất của những từ này! 3. Thơ A Khuê là một thứ thơ được sinh ra trong lòng của người thi sỹ luôn luôn biết cách “uống chữ, uống đời rồi nhả tơ vàng” để rồi tự chuốc ngất say ngư hơn cả uống rượu. Và, cũng chỉ sinh ra ở “loài thi sỹ” bị mắc một căn bệnh trầm kha rất đỗi đáng yêu là bệnh “viêm xê dịch mãn tính”. Bởi thế, họ không ở đâu cho yên. Bởi thế họ rất biết cách tự vui thích và biết cách tự trào; rất biết gửi hồn mình, ẩn hồn mình trong mê trận chữ, biết “điều” chữ “đi” uyên náo cả lòng người. Đây nhé: Ra đi hồn không áo Ngỡ dòng sống là đây Con ngươi tôi trâng tráo Chẳng có một bóng mây (Sầu riêng - Trong: Bụi cát ra hương) Đây nữa: Rồi khi không ta dẫn hồn đi trốn Chân trên cỏ chân lẫn cỏ sương bay (Long lanh hương - Trong: Bụi cát ra hương) Và, đi đến độ: Bỏ xứ con đi Đường trời xa lạ …Con ngươi của mẹ Nhấp nháy mặt trời Con đi trong nắng Máu rờn rợn trôi (Mẹ tàn phai - Trong: Bụi cát ra hương) Thật là một cuộc đi nhiều kinh hoàng, mang nỗi buồn cuộc đi cũng rờn rợn kinh hoàng! Con đi trong nắng / Máu rờn rợn trôi là những câu thơ viết về một sự đi trong cái kiếp nạn của đời người, của chính anh rất hay và rất gợi, không bình được. Đọc và đọc, và không nên bình. Tôi nghĩ thế! Nhưng, liệu có phải người thi sỹ này đi chỉ nhằm cho một cuộc rong chơi bất cần đời? Không đâu! Ta có thể gặp anh lòng nhiều trĩu nặng khi thác lời những người hành khất để cất lên một điệu ca buồn, buồn đến nhức nhói, buồn đến tái tê: Tóc dài phất phới / Để tang đời ư /…Áo quần bẩn thỉu / Ta thù đời ư / Bao lời xua đuổi / Ta thương người ư / Ngồi nói một mình / Ta cao ngạo ư / Nằm ngủ trần truồng / Ta điên khùng ư (Khất hành ca - Trong: Lùa bò trong sương). Ở lời mà anh nói thác cho những kiếp hành khất là một loạt các câu hỏi gấp gáp mà nào có dễ trả lời! Thương những kiếp mỏng ở cõi người, nhưng anh cũng biết rằng lòng anh dẫu có như Hồ nguyệt đọng cũng chỉ có thể Ném hòn sỏi đơn sơ và bất lực. Trong bụi, cát tơi bời của cuộc đi, sự vật lộn, sự dằn vặt trong tâm hồn chính nhà thơ đã không dưới một lần anh buộc phải kêu to rôi tự thán: Ta là không bóng không hình nàng ơi / Sao ta đày ải cuộc đời trăm nơi / Ta còn đây hay ta mất hút / Trong nhà lớn bao la cuộc đời (Thiên thần không bóng không hình -Trong: Lùa bò trong sương). Phải chăng, mỗi khi như thế, mỗi khi lòng anh cô quạnh và nhiều bất lực, anh lại tự để cho lệ mình rơi rớt đầm đìa: Buồn trên sông khóc trên sông Cũng không đủ lệ một dòng cho ai …Nằm bên cỏ dại thầm thì Thương chưa hề yêu chưa hề thương yêu Sao đâu sao đâu đìu hiu Áo trăng ta lạc giữa chiều rồi chăng (Lẻ loi - Trong: Lùa bò trong sương) Rồi anh chia sẻ: Dù rằng máu vẫn nguôi ngoai Đêm đêm tiếng thở lạnh dài hư vô …Tay cầm nguyệt đã tinh khôi Vàng - một - phím - vàng - hai - rơi - ngõ - vàng (Nỗi lòng chia sẻ - Trong: Lùa bò trong sương) Cố thi sỹ - nhà phê bình văn học Trịnh Thanh Sơn có lần tâm sự với tôi rằng: Thơ hay hình như phần nhiều bật lên trên miệng vực của những nỗi buồn. Có lẽ đây cũng không chỉ riêng là nhận định của cố thi sỹ họ Trịnh. Tôi đồng tình rằng, cái có thể là “quy luật” sinh ra thơ hay mà cố thi sỹ đúc rút, tâm sự với tôi bởi ông đã trải và nghiệm khi đọc hàng núi sách và trò chuyện với rất nhiều thi bá, thi hữu ông gặp trong mấy mươi năm sống, đọc và viết. Khi đọc thơ A Khuê, càng đọc tôi càng sửng sốt thấy các bài thơ hay của thi sỹ luôn luôn đi ra từ những nỗi buồn. Ví dụ, khi A Khuê tạ ơn tháng ngày ân huệ mà cuộc sống ban tặng, anh viết ra một thứ thơ đẹp và buồn tráng lệ đến thế này: Hồn như vĩ cầm lệ Kêu réo qua từng ngày Từng ngày bao ân huệ Như tháng tháng mây bay (Không ngờ - Trong: Bụi cát ra hương) Hoặc cả ngay khi A Khuê gửi lời, gửi lòng anh cho một người con gái dù là gái giang hồ thì câu chữ tài tình anh viết vẫn luôn bật lên từ thẳm sâu buồn: Người em gái tóc giang hồ bạc phếch Ta và em đôi mắt thở rất gần Hồn xơ xác nằm im trong bụi trúc Nghe xa xăm tiếng thở của vô cùng (Người con gái giang hồ - Trong: Bụi cát ra hương) Tôi đã đọc rất kỹ 80 trang photo mà nhạc sỹ - thi sỹ A Khuê đưa cho tôi hôm anh tiễn tôi ở bến xe thị xã Đồng Xoài. Chỉ mới 80 trang anh đưa, với 60 bài thơ (có lẽ là chưa đầy đủ - thuộc hai tập thơ khác nhau: Tập “Lùa bò trong sương” và tập “Bụi cát ra hương” anh đang viết dở dang rồi có thể mất hứng, có thể vì một lý do nào đó không viết thêm nữa) trải dài gần 40 năm chuyên chú với thơ trước khi bị bảy nốt ma mị của âm nhạc lôi kéo. Ở bất cứ bài thơ nào của anh cũng có thể tìm được những câu thơ bậc thi sỹ! Tuy nhiên, quan trọng hơn là thơ A Khuê luôn mang một thi tâm rất nhất quán. Thơ anh buồn mà trong, khi vui cũng không vì thế quá tưng bừng, và khi chất chứa những cay đắng (người mà không có đôi khi cay đắng thì mới là cái giống lạ!) thơ anh cũng không rơi vào lối nói nhiều gào thét. Trái lại, bất kể thế nào, bất kể hoàn cảnh nào anh cũng luôn luôn giữ cho tư thế “đi” trong bụi và cát của đời thơ và có khi là đời anh một tư thế, một hồn chữ luôn luôn sang trọng, điềm tĩnh. Đó cũng là một phẩm cấp thi sỹ chăng? Nhà thơ tình của thế kỷ XX Xuân Diệu đã từng nói đại ý: Anh nói rằng anh bình thơ rất giỏi ư? Tôi chưa tin! Hãy trích dẫn dẫu chỉ một câu thơ hay tôi sẽ tin và tin hơn cả những lời bình! Thơ A Khuê thật nhiều câu hay. Chữ trong thơ anh nhiều khi loé sáng và rất lạ, rất bất ngờ. Anh diễn tả cái sự anh yêu một cô gái đến mức: Bình minh đỏ rực lên rồi Môi cô hạt máu Khóc lời tôi chăng Thì xin cô hãy nhớ rằng Trong tôi dòng máu vẫn hằng chảy ra (Nón cỏ theo người - Trong lùa bò trong sương) Hoặc là cái cách anh diễn đạt “cái sự bay” lay thức hồn anh cũng thật khác thường, cái sự bay không tới cao sang mà lại tới một bày cò con thì càng bất ngờ làm sao: Nếu ta mọc cánh mà bay Thì ta bay tới một bày cò con Bay tàn phai bay héo hon Bay đi tứ xứ tìm hồn duyên xưa (Nỗi lòng chia sẻ - Trong: Lùa bò trong sương) Và, cũng để chứng minh rằng trong thơ A Khuê lao động chữ luôn cật lực nhằm tìm ra cách diễn đạt sống động, mới mẻ có thể thấm vào tâm cảm người đọc. Ví dụ, trong bài “Tỳ bà xanh” anh tả các ngón tay lảy dây bấm phím như dốc tất thảy tim gan phổi óc ngỡ cháy thành khói thiêng mộng mị, ảo diệu đến thế này: …Má hồng Cô bé tỳ bà câm Chặt năm ngón tay Chặt năm ngón tay đốt trầm Đàn khói lộng Tan tành tình trăm năm Giời ạ! Đàn đến độ như đã Chặt năm ngón tay đốt trầm thì câu chữ thế còn biết tìm khác thế nào cho hay hơn nữa đây! Tuy nhiên, cũng có thể thấy dù đã rất thành công, nhiều ấn tượng từ nhiều câu thơ, bài thơ độc đáo như một đặc sản A Khuê, cũng không phải không có những bài (trong số bài anh photo tặng tôi) anh viết quá gần Hàn Mặc Tử ở ảnh hình, quá gần Bùi Giáng ở cách nói. Cũng tất nhiên như một lẽ thường thôi mà, nhiều thi sỹ tài hoa vẫn ít nhiều ảnh hưởng những ngọn nguồn, những trào lưu, những giọng điệu tương hợp với sở ý mình. Ví như: Các em phải hiểu cho nhiều / Đời ta bụi gió đã nhiều lất lây /…Dạ thưa trời đất vốn là / Bụi bay cát chạy vốn là bụi bay cũng chừng hơi hơi tí ti Bùi Giáng phải không, anh A Khuê? 4. Đêm nay, tôi ngồi đọc lại 60 bài thơ trong 80 trang photo mà thi sỹ - nhạc sỹ A Khuê tin cậy trao cho. Tôi mang một cảm giác nhiều tiếc nuối vì người thi sỹ tài hoa này bây giờ làm thơ ít quá. Hay anh bỏ thơ mà đi? Hay ngược lại? Như thế liệu có thiệt cho thơ Việt chúng ta chăng khi mỗi năm có đến hàng ngàn tập thơ in la liệt. Trong số đó thơ thứ thiệt, thơ đặc sản như cỡ A Khuê và một số thi tài khác đốt đuốc giữa ban ngày cũng chỉ lác đác. Chao ôi! Cái sự mọi ai đều thích in thơ chưa hẳn đã là điều dở - tất nhiên! Có chăng, cái thứ phẩm của món “thơ giả thơ” (chữ của nhà thơ Inrasara) mới làm cho mâm tiệc thanh cao và uyên ảo của Thơ (viết hoa) là phải chịu “hầm bà làng”. Điều này lại phải cậy nhờ mấy ông xuất bản và kêu gọi cả sự tỉnh ra của các ông các bà nhiều ngộ tưởng. Nhưng, tôi có thêm một niềm vui bất chợt trong đêm nay. Ở cái khe bàn tôi ngồi viết lấp ló một tờ rơi. Tôi nhặt lên, không tin vào mắt mình nữa. Đây này, anh Thực ơi! Đây này, cái bài thơ anh đọc cho em và Nguyễn Trần Thái nghe vào đêm đông cuối chạp năm nào chính là thơ của thi sỹ - nhạc sỹ A Khuê mà em đang có trong tay. Nó chính là bài thơ thứ 61 em cẩu thả để gió cuốn vào khe bàn. Anh Thực có biết không, cái người thơ mà chúng ta tìm có một đời sống vui chậm, buồn trước. A Khuê từng là một tay chăn bò thuê thứ thiệt nhiều năm trên núi đồi miệt Long Khánh. A Khuê cũng từng cùng vợ và tám đứa con nheo nhóc thử kiếp “thuần nông” trên các cánh đồng cò bay cò sã cánh tít hút Sóc Trăng. A Khuê có tới chừng 10 năm cấy lúa nhưng gặt rạ gặt rơm vì thất mùa nhiều gấp ba lần được. A Khuê vật vã thợ hồ, đốn củi, đốt than nuôi một đàn con đang sức tằm ăn rỗi. Bụi thế, cát thế mà thơ cứ ăm ắp mộng mị, cứ bay hương, bay những hương mê quyến rũ như chưa hề buồn chán bao giờ. Bài thơ có 12 câu anh đọc vào đêm đông ngày ấy chính là bài Đồi Trăng Uống Rượu anh Thực ạ. Cũng đúng là bài thơ chưa dừng ở câu Áo trăng quá lạnh tôi về giết trăng. Nó còn những sáu câu trong khổ kết. Sáu câu còn lại của bài thơ trọn vẹn Đồi Trăng Uống Rượu là khúc vĩ thanh rất nhiều tươi sáng. Trần Quốc Thực ơi! Dù ở tận trời nào thì cũng hãy về quanh đây cho em được đọc nốt sáu câu kết mà anh dự cảm rằng có thể bài thơ chưa kết thúc. Nó thế này: Giết trăng tôi lại lên đồi Ngơ ngơ ngác ngác tôi ngồi nhớ trăng Đồi trăng đỏ tôi mê man Ôi tôi biết cõi phai tàn sau lưng Đồi trăng uống rượu vô cùng Xin thưa trời đất tôi mừng tôi say Bài thơ đã hết thật rồi! Tôi đốt một nén trầm rồi ba lần đọc to những câu thơ A Khuê như thể vẫn còn bên tôi một Trần Quốc Thực gan ruột với thơ giữa buốt rét đêm nào Hà Nội…
Thành phố Vũng tàu Đêm 13 rạng ngày 14.08.2008 H.Q
Tôi vẫn nhìn thấy anh ở đâu đó trên cỏi đời cô quạnh …mới đây thôi - mới đây thôi ngồi café với anh ở 81 tôi ghẹo anh rằng : bắt chăn bò phải chăn bò – cho a – khuê mới được còn a- khuê . anh cười hiền . . .
Và cũng mới đây thôi . Đà lạt mưa như chưa bao giớ mưa như thế
Buổi sáng điện thoại réo vang trời . có ai đó thét lên trong máy : A- Khuê đây . NTC đang ở đâu ghe quán Tùng Dương nhậu chơi !
Nhậu ? một A- Khuê không dám đụng đến một li . chỉ Café thôi Akhue nhìn anh em nhậu . hôm ấy có mây cô nàng xinh đẹp A- khuê ôm đàn hát vang trời . . . làm cho trời cũng dổ mưa . . . mưa cho đến tối mịt . đà lạt trập trùng sương khói. Mấy anh em Akhue . Mpk. Văn Cầm . việt hoàng . NTC dìu nhau ra quán Atitar – nghệ sĩ – uống tiếp. uông đến khuya lắc khuya lơ . Akhue về nhà Mpk hát hò cho đến sáng . Đến sáng sớm . trời vẵn còn mưa gió – điện thoại lại reo lên : NTC dậy chưa ra uống Café . trời đất ơi A- khuê ơi là A- Khuê
Vậy mà bây giờ anh đã đi rồi . tin trên VCV sáng nay . Akhue đã ra đi rồi
A-Khue đã bỏ cái cuộc đời tươi đẹp buồn phiền nầy mà đi rồi . tôi vẫn nhớ ước mơ của A- Khuê . “ ước gì mai nầy mình sẽ về Đà Lạt và lùa bò trong sương. . . “ thì anh đã về rồi dó A- Khuê ơi . . . /
Nhà thơ A Khuê sinh năm 1948 tại Tứ Kỳ, Hải Dương, đã qua đời do tai biến cấp tính lúc 20g30 ngày 13-8-2009 tại Bệnh viện tỉnh Bình Phước, hưởng thọ 61 tuổi.
Ông sinh trưởng trong một gia đình có truyền thống nghệ thuật với bố là danh cầm violon Hoàng Liêu, anh trai là nhạc sĩ Hoàng Lương. Như ông từng kể, thuở nhỏ ông thường bị cha bắt học vĩ cầm, thuở thanh niên lại từng có thời gian chơi nhạc kiếm sống. Thế nhưng công chúng vẫn quen ông như một thi nhân với gia tài hơn ngàn bài thơ, trong đó nổi tiếng nhất là tập Lùa bò trong sương và tập Vàng bay.
Với nhạc, ông cũng đã có gần 300 ca khúc song công chúng lại không có dịp thưởng thức các tác phẩm này. Đời sống kinh tế quá khó khăn đã không cho ông cơ hội giới thiệu chúng đến bạn yêu nhạc trừ một số bài như Tình thiên thu, Nhánh hoa xưa (thơ Trương Đình Tuấn), album Mặt trời đã lên (in chung với nhạc sĩ Bạch Cung Thạnh).
Lễ động quan diễn ra lúc 7g ngày 16-8-2009. An táng tại nghĩa trang nhân dân thị xã Đồng Xoài.
PHẠM THÀNH NHÂN
--------------------------------
Linh cảm
(Tặng A Khuê sau một cơn đau tim)
Ta bệnh ta nằm như con cúi rơm Chiếu thay mền Sách thay gối Chiếc bình trà cạn dần
Ta nhăn mặt cắn vầng trăng xếch ngược Con kiến bò trong túi áo ra Ta bệnh ta nằm với bóng ta Con chữ nhập nhoè đom đóm Tim thắt Vầng trăng rớm máu Rạn nứt chiếc bình trà Quờ tay chạm hư không
Nhắm mắt Còn mong tiếng người gõ cửa
Nguyễn Ngọc Vũ (*)
(*) Nguyễn Ngọc Vũ - nhà báo, người bạn vong niên của thi sĩ A Khuê ở Bình Phước. Bài thơ này do Nguyễn Ngọc Vũ viết tặng A Khuê sau một cơn đau tim. Trong nhiều năm qua thi sĩ A Khuê chống chọi với căn bệnh này trong nghèo khó, nhưng cuối cùng cũng không qua khỏi.
Nhắm mắt/ Còn mong tiếng người gõ cửa thật đúng với tính cách yêu thương cuộc đời quá đỗi của A Khuê.
Thứ Bảy, 15/08/2009 12:54 Nhà thơ - nhạc sĩ A Khuê: "Chắp tay cùng lạy cuộc đời"Nhà thơ - nhạc sĩ A Khuê “đã thôi” lùa bò trong sương(TT&VH) - Như tin TT&VH đã đưa, nhà thơ - nhạc sĩ A Khuê (sinh năm 1948) đã qua đời lúc 20h30 ngày 13/8/2009 do cơn tai biến cấp tính vào buổi sáng cùng ngày, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho gia đình và sự bỡ ngỡ của bạn bè trong giới văn nghệ. Tuy nhiên, nếu ai từng tiếp xúc và trò chuyện với A Khuê nhiều lần, thì sẽ thấy trong suy nghĩ của ông, vốn có sự hòa quyện của tinh thần Lão - Trang với đức tin Ki Tô giáo, rằng mỗi ngày sống là một tặng phẩm của niềm vui. Bởi chính A Khuê cũng không nghĩ rằng mình sống lâu đến như vậy!
Nguyện chết cùng ngày, cùng tháng với Sơn Nam
Tôi còn nhớ, khi triển lãm Người ở biển của Lê Kiệt diễn ra ở hành lang Bích Câu, Cung Văn hóa Lao động TP.HCM năm 2001, trong tiệc rượu buổi chiều, ngồi chung bàn với A Khuê là nhà văn Sơn Nam (1926-2008) và một vài người khác, Sơn Nam đã nói một câu mà bây giờ nghiệm lại thấy thật trùng hợp. Đại ý rằng: Tôi tưởng cậu chết rồi chứ, nghe tin bệnh tim của cậu tái phát và đã qua đời trên Long Khánh. Vừa rồi đọc chuyên đề về chuyện Trần Quang Lộc “đạo thơ” A Khuê trên báo, tôi mới hay cậu còn sống, thiệt là vui. Tuy nhiên, nói thì nói vậy, chứ hình như cậu đợi tôi cùng chết cho có đôi phải không?
A Khuê. Ảnh: Quốc Việt
Lời nói nhiều phần đùa của Sơn Nam vài lần được A Khuê nhắc lại ở đây đó, và nay thì đã ứng nghiệm, khi mà hôm kỷ niệm 1 năm ngày mất của Sơn Nam (13/8) ở TP.HCM cũng là ngày A Khuê bất ngờ ra đi ở Bình Phước. Hồi năm ngoái, trong đám tang của Sơn Nam, A Khuê cũng đã từng đùa kiểu văn nghệ rằng: Tôi với anh nguyện chết cùng ngày cùng tháng cùng năm, vậy mà anh đi trước, còn tôi thì phải ở lại. Nay thì cả hai đã được đi cùng ngày cùng tháng, quả là có những lời nói đùa nhưng trở thành hiện thực.
Bệnh tim và cái chết trong thơ A Khuê
Linh cữu A Khuê hiện quàn tại tư gia ở tổ 1, khu phố 1, phường Tân Đông, thị xã Đồng Xoài, lễ động quan lúc 7h ngày 16/8 và đưa đi an táng tại Nghĩa trang Nhân dân, tỉnh Bình Phước.
Trong thơ, A Khuê luôn đề cập đến cái chết như một ám ảnh thường nhật, trong bài Gõ quan tài làm vui ông viết: “Cho tôi miệng hót ba hoa / Thà tôi chết giữa chiều tà có hơn”. Từ trước 1975, khi còn đi “giang hồ” hay giao du với những bạn bè văn nghệ như Trần Quang Lộc, Vũ Hữu Định, Phạm Phú Hải, Đoàn Huy Giao, Đynh Trầm Ca, Đinh Thiên Hùng... A Khuê đã từng bị bác sĩ Mỹ trả về vì bệnh tim hết thuốc chữa. Trong nhóm bạn, ai cũng tưởng ông sẽ ra đi trước, vì có lúc “thân thể đã tím bầm như củ khoai chúa” - như chính tâm sự của A Khuê. Vậy mà Vũ Hữu Định, Đinh Thiên Hùng, rồi Phạm Phú Hải... đi trước, còn A Khuê vẫn cứ “gan lì” với cuộc mưu sinh quá nhiều lận đận.
Khi đến Long Khánh sống từ cuối những năm 1980, A Khuê đã có lần muốn tự tử, khi quyết định uống rượu say (dù trong đời rất ít lần uống rượu) và chạy lên đồi trong một ngày mưa to, với suy nghĩ rằng tim đang hở van mãn tính, sẽ trụy tim mà chết. Ông bị ngất xỉu giữa đồi cỏ, khi tỉnh dậy thì trời đã tối, người lạnh cóng. Sau lần trở về đó, A Khuê luôn nghĩ rằng mình phải sống như bề trên đã an bài; ông thêm tin rằng mình đang được sống những ngày quý báu.
Một sự nghiệp dang dở
A Khuê xuất bản tập thơ đầu tay tại Đà Nẵng năm 1970, bằng tiền bán chiếc xe máy Suzuki. Tác phẩm này chất chứa tinh thần và quan niệm của Lão - Trang, Ki Tô giáo và hiện sinh, một hình dung về cái chết ở tuổi 20. Trong bài Chắp tay quỳ, A Khuê viết: “Chắp tay quỳ lạy cuộc đời / Đã mang ta tới cõi người tử sinh (...) Chắp tay quỳ lạy mồ chôn / Hãy chôn ta với chập chùng vàng bay”.
Một tập thơ chỉ diễn tả về chuyện giấy tiền vàng bạc bay trong gió, kể về một đám ma, kể ra cũng là một suy nghĩ lạ.
Nhiều lần A Khuê tâm sự, khoảng hai chục năm cuối đời ông ít làm thơ, nhưng nếu in hết số thơ đã làm, chắc cũng phải trên 10 tập. Đến nay, thì phần lớn bản thảo thơ của ông đã bị thất lạc, do lúc trước chỉ viết tay hoặc đánh máy một hai bản, lại sống rày đây mai đó.
Năm 1999, sau sự kiện Trần Quang Lộc phổ thơ A Khuê, mà tiêu biểu là bài Về đây nghe em, nhưng “quên” đề tên đã bị báo chí “nêu” thì bạn bè mới hay tin A Khuê còn sống (!). Tập Lùa bò trong sương (NXB Trẻ) 43 bài, do bạn bè gom góp xuất bản, nhưng cũng không tiêu biểu vì do bản thảo ly tán. Tháng 9/ 2000, trong tậpTrước sân nhà (NXB Trẻ) gồm 17 tác giả, một số bài thơ khác của A Khuê đã được giới thiệu.
Sau sự kiện bị đạo thơ và đột xuất lên báo lần ấy, cùng với tinh thần vui sống sẵn có, A Khuê như hồi sinh một lần nữa, ông chuyển hẳn sang viết ca khúc. Năm 2004 cùng với nhạc sĩ Bạch Cung Thạnh ra album đầu tayMặt trời đã lên. Trong một phỏng vấn trên báo TT&VH trước đây, A Khuê tâm sự về thời trai trẻ của mình rằng: “Thời ấy bạn bè ới một tiếng là đi, không cần biết có tiền hay không. Thế rồi tôi cũng làm đủ các nghề hát hò, phiên dịch, chấm công thợ, chơi nhạc trong các quán cà phê, đám cưới... nhưng làm gì cũng chỉ được vài tháng. Con người tôi là vậy. Nhưng nhờ thế mà mình tích lũy được vốn sống”.
Trong một hai năm gần đây, bạn bè nói rằng A Khuê “tham sống” thấy rõ, vì ông đang loay hoay tìm cách xuất bản tuyển tập khoảng 300 ca khúc đã hoàn tất. Rồi khi về làm tại Đài PT-TH Bình Phước, cuộc sống của gia đình có đôi chút ổn định hơn, ông lại muốn sống thêm để nhìn đứa con cuối cùng lập gia đình. Ông có 8 người con, 6 gái 2 trai, đến ngày qua đời, ông đã có 5 con rể và rất nhiều cháu ngoại.
Nhớ A- Khuê! Triệu Từ Truyền
vừa buông gánh tuổi đầy
nhặt dọc đường mơ ước
bầy chữ đi đêm ngày
về xuôi rồi lên ngược
nuôi chữ trong ca khúc
uống hết dòng đam mê
chăn dắt thơ du mục
đồi cỏ nhớ A- Khuê
bây giờ thôi về đây
chữ chia xa nốt nhạc
thơ bay theo bóng mây
nhạc trôi theo dòng thác
giã biệt một hành tinh
rồi ngắm toàn vũ trụ
nhập vào dòng tâm linh
A- khuê vừa đoàn tụ!
Đồng Xoài, 14.8.2009
Báo CAND, 16/11/2008, 16:37 (GMT+7)
Về đây nghe… A Khuê
Nghe anh kể bố anh là nhạc sĩ, danh cầm violon Hoàng Liêu nổi danh một thời, anh trai là nhạc sĩ Hoàng Lương hiện ở Vũng Tàu, còn anh lại bỏ qua cái tên Hoàng Phúc và dùng A Khuê làm danh xưng. Đột nhiên tôi hỏi vì sao lại có tên Khuê. Anh ghé tai tôi nói nhỏ làm như rất sợ vợ mặc dù chị chẳng có nhà, anh lẩm bẩm nói: "Đó là tên cô gái mà tôi yêu hồi 15 tuổi".
Vậy là sau nửa thế kỷ lận đận, nay đây mai đó, thi sĩ A Khuê đã chịu cùng vợ con về sống trên đồi cao, thuộc thị xã Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Đã 10 năm ngụ cư cứ tưởng gia đình anh được mở mày mở mặt ở cái xứ sớm lạnh giá, trưa lại nóng như rang, như đốt này, thế mà nhà cửa vẫn tuềnh toàng, với bốn bức tường xây tạm gọi là cho hình thành cái phòng ở.
Không hiểu bởi cái duyên cớ gì mà tôi mấy lần định mò mẫm lên với anh; và rồi cuối cùng, cũng đã ngồi đối diện với anh bên cạnh cái cửa sổ búi xùi nhỏ bé, vào một buổi trưa oi ả. Chợt trong lòng tôi lại vang lên lời thơ của anh trong bài hát "Về đây nghe em" do Trần Quang Lộc phổ nhạc. Và đúng là tôi đã về đây nghe "Kể chuyện tình bằng nồi ngô khoai. Kể chuyện tình bằng hạt lúa mới..." cùng anh.
Tôi giục anh đàn hát cho tôi nghe một ca khúc mới nhất về tình yêu. Nhưng mà nghe sao trầm buồn làm vậy. Sang trọng đấy nhưng lại ai hoài và nghe như văng vẳng đâu đó tiếng chuông nhà thờ ngân vang. Cái nốt kết bài hát cùng lời thơ của anh uẩn khúc như tiếng thở dài vậy.
Giọng anh đã khê khàn và ngón tay đã khô khỏng trên mỗi phím đàn mà tôi nghe thấy tồi tội dường bao. Rồi tôi ngẫm nghĩ trong giai điệu dịu dàng như tâm hồn anh vậy. Ấy là những giây phút thiêng liêng trong anh đang đậu bên cánh cửa thiên đường của tình yêu. Giai điệu sâu lắng nhưng buồn rượi. Đột nhiên từ con đường dốc nhỏ dẫn lên nhà anh có tiếng xe máy rồ ầm ĩ cả đồi cao. Anh dừng tay đàn rồi nhoẻn cười nói:
- Anh bạn họa sĩ Quốc Việt lên chơi đó!
Vừa hay một đàn gà con cùng gà mẹ ríu rít chạy vào căn phòng khách trống trải này. Chúng mổ chích chích trên sàn nhà và chạy cuống quýt dưới gầm tủ mốc thếch để tìm mồi. Không biết có gì để chúng ăn ở đây cơ chứ. Căn nhà hun hút gió lùa. Đàn gà cứ vô tư đi lại trong nhà tự nhiên như ngoài vườn vậy.
Khi anh chàng họa sĩ với một bộ dạng rất ngầu giống một tên phỉ với bộ râu rậm rịt bước vào làm đàn gà chạy toé sang cửa bên. Bất ngờ tôi cũng giật mình, không phải vì anh chàng dữ dằn kia mà vì những chú gà chạy vụt mất, bay khỏi cảm xúc bâng quơ của mình
Thì ra đây là Quốc Việt, người đã thiết kế maket quảng cáo cho đêm trình diễn âm nhạc của A Khuê ở TP HCM cách đây vài năm. Tôi vội ngắm cái bảng quảng cáo với màu đen đã phai và các họa tiết đầy phá phách đúng như bộ dạng ngang tàng như A Khuê ở ngoài đời mà lại cũng dịu dàng như A Khuê trước 7 nốt nhạc của đất trời đem lại. A Khuê chẳng kể chuyện về mình nhiều nhưng họa sĩ Quốc Việt lại nói:
- Cuộc đời A Khuê khúc khuỷu lắm đó!
Rồi anh kể như thuộc lòng những năm tháng mà A Khuê tự đầy ải trong bể khổ. 6 năm theo gia đình ở Quảng Ngãi. 12 năm sinh sống ở Đà Nẵng rồi về Đồng Nai. Sau đó lấy vợ và xuống tỉnh Sóc Trăng những 14 năm để làm ruộng. Rồi bất ngờ lại quay về Đồng Nai ở đến 8 năm. Mãi tới năm 1998 cả nhà ngụ cư tại Bình Phước đến nay...
Chính A Khuê nghe anh bạn trẻ kể lại cũng thấy phát mệt, còn tôi thấy choáng ngợp vì với một người vật vã với đời như thế mà dám làm cho vợ chửa đẻ đến 8 đứa con, trong suốt tuyến đường chạy "Maratông" của 60 năm trôi qua. Tôi chợt nghĩ không khéo A Khuê là một thi sĩ kiêm nhạc sĩ tình ái này đạt kỷ lục về nhiều con nhất trong giới nghệ sĩ giang hồ chưa biết chừng. Đột nhiên tôi nhìn ra ngoái đồi, ngỡ như có ánh trăng lu xuất hiện làm tôi nhớ những câu thơ đầy ám ảnh của A Khuê:
"Đồi trăng không ngớt vi vu
Bữa nay tôi ngậm sương mù thở than
Đồi trăng mỏng diệu diệu vàng
Hồn bay, bay giữa hai hàng hoa lê"
Ma quái và u uất biết chừng nào. Cả một đời trần thế vậy còn gì. Nào làm ruộng, đốt củi, ca hát làm than, chăn bò...Và giờ đây để mưu sinh không có gì hơn với hai bàn tay trắng với cây đàn ghi ta gỗ ngây ngô trên đồi trăng.
Nếu ai có nghe ca sĩ Trần Thu Hà hát ca khúc "Tình Thiên Thu" của A Khuê mới hay anh lãng mạn và với muôn nỗi niềm dịu đắng trong lòng. Các nốt nhạc cứ mơ màng tha thiết như dứt ruột để cuốn những sợi tơ tâm hồn long lanh trong ánh trăng ngăn ngắt vàng rượi.
Và sao tôi lắng nghe một "Viễn mộng" do Tấn Minh hát, thấy day dứt nhưng lại sang trọng, trong một xứ sở tình yêu, ở một bầu trời nào đó không có thực và đúng là như anh cũng không có thực trên đời này.
Không biết anh chàng họa sĩ mê nhạc A Khuê kia mở album mới thâu khi nào mà tôi như bị hút hồn với những âm sắc kỳ lạ của giai điệu trời đất và ánh trăng chiều hôm phảng phất trên sườn đồi đầy huyền hoặc. Lúc này, A Khuê mới chịu lên tiếng:
- Nhiều lúc tôi không hiểu mình là ai nữa trên cõi đời này.
Bất chợt đám mây đen trôi qua, ánh nắng le lói từ vườn cây điều. Ngàn tia nắng như đánh thức tất cả những mụ mị trong căn nhà rỗng, mang cảm giác thiền của cái "sắc sắc không không" trên đồi cao. Đúng lúc ấy một người bạn trẻ khác của A Khuê là đạo diễn ca nhạc Việt Hoàng chạy lên và mang theo một cút rượu cùng ít đồ nhắm. Họa sĩ Quốc Việt nhìn tôi cười rồi nói:
- Gọi là ngồi với nhau cho vui thôi chứ A Khuê không thích bia rượu và ăn ít lắm
Đúng là một sự lạ, tôi thấy anh chỉ hút thuốc, mà độc mỗi loại có hình Con Mèo, chỉ với giá mươi ngàn. Tôi nghĩ chắc là thuốc rởm? A khuê ngồi im lặng bên bình rượu và chỉ nhón một hạt lạc khẽ nhai để hưởng cái bùi, thơm của trời đất trao tặng. Anh đang nghĩ gì thật khó định nhưng tôi lại ngờ rằng có lẽ lại một giai điệu tình yêu ngân lên trong trái tim đầy đam mê của anh.
Chả thế Việt Hoàng nói đến nay A Khuê có tới cả ngàn ca khúc là đúng. Rồi chính anh nhắc A Khuê lấy ra 3 tập nhạc, đã chép cẩn thận, đang chờ xuất bản và một CD gồm 36 bài được chọn lọc theo một hợp đồng bán bản quyền cho FPT, để phát sóng trên kênh nhạc số.
A Khuê nói rằng thơ trong anh đã ngủ quên suốt những mùa đông của 10 năm qua nhưng lại ẩn vào âm nhạc. Một đời nhạc đã quay về bởi đây mới chính là cái gốc mà anh đã được học để mưu sinh và sáng tạo trong quãng đời dài của mình. Âm nhạc đã ngự trị trong anh sau cái đận "thả ước mơ đi hát dạo".
Anh kể hàng chục ca sĩ đã chọn ca khúc này để biểu diễn và nó đã trở thành tiết mục tủ trong các đêm biểu diễn. Và tôi lại nghĩ, cái lý tôi lên đây, phải chăng đó là câu hát này: "Về đây mặc áo the đi guốc mộc. Kể chuyện tình bằng lời ca dao...". Và tôi đã gặp anh.
Tôi nói chuyện nhẩn nha, nghe anh kể bố anh là nhạc sĩ, danh cầm violon Hoàng Liêu nổi danh một thời, anh trai là nhạc sĩ Hoàng Lương hiện ở Vũng Tàu, còn anh lại bỏ qua cái tên Hoàng Phúc và dùng A Khuê làm danh xưng. Đột nhiên tôi hỏi vì sao lại có tên Khuê. Anh ghé tai tôi nói nhỏ làm như rất sợ vợ mặc dù chị chẳng có nhà, anh lẩm bẩm nói:
- Đó là tên cô gái mà tôi yêu hồi 15 tuổi.
Tôi phì cười vì cho là mối tình cổ tích đó chẳng thể làm bất cứ người vợ nào ghen tuông. Nhưng khi tôi hỏi còn chữ A? Thì anh chúm chím cười, rồi bộc bạch:
- Mình là người của rừng núi mà. Là con cháu của Ama Kông chẳng hạn.
Nghe vậy mọi người cười ran. Tôi nghĩ thảo nào anh có tới 8 đứa con là phải. Nhưng anh đưa ngón tay lên suỵt miệng nói vui:
- Nhưng cả đời mình chỉ có một bà thôi. Long đong khốn khổ nhưng vẫn chung thuỷ cho đến đầu bạc răng long nhé.
Lúc này A Khuê đã vui hơn, nói nhiều hơn và tôi biết rằng anh đã quên đi mọi cái lo toan thường nhật. Quên đi đàn lợn đang kêu rít lên vì đói ở phía sau nhà để làm cho tôi vui. Bên chén rượu còn thơm phức mùi nếp, anh ngồi cho vui để nói chuyện, để hát và để cười với tôi, một tay cũng một đời lang thang đây đó, về hội ngộ. Và bỗng nhiên câu hát của anh lại vang lên từ giọng hát của chính đạo diễn Việt Hoàng, nghe thân thương làm sao:
"Về đây thả ước mơ đi hát dạo
Để đời đời làm giọt sương mai
Để chào đời bằng lòng mới lớn
Để hận thù người người lắng xuống
Và tìm nhau như tìm xót xa
Trong lúc lệ đã đầy vơi..."
Tôi khe khẽ hát theo và có lẽ đó là sự kỳ ảo của thi ca đang tràn ngập trong tâm hồn của A Khuê. Bên cái dốc nhỏ như khe suối dẫn khách lên căn nhà đầy gió và nắng này, có lẽ nghe bài hát "Về đây nghe em" lúc này mới thật hay và cũng chính trên đỉnh đồi này tình khúc "Viễn mộng" của anh ngân nga óng ả mới làm thổn thức lòng người làm sao.
Tôi nhìn A Khuê mỉm cười. A Khuê nhìn tôi cũng với đôi mắt cười. Hai kẻ lang thang giang hồ thật "hạnh phúc khi đã gặp nhau"
Theo báo CAND 16/01/2008
Nhà Thơ A Khuê . Nhẹ rời cõi tạm
TT - Nếu đột ngột hỏi "A Khuê là ai?", nhiều người được hỏi chắc không nhớ ra, không biết là ai. Nhưng nếu tiếp tục bằng lời ca: Về đây nghe em! Về đây mặc áo the đi guốc mộc, kể chuyện tình bằng lời ca dao… thì lại cam đoan ai cũng biết bài hát ấy. A Khuê chính là tác giả phần ca từ của bài hát ấy.
A Khuê tên thật là Hoàng Văn Phúc. Khuê là tên cô gái anh yêu khi mới 15 tuổi. Chi tiết được tiết lộ một cách… nho nhỏ bên tai một người bạn khác vì anh rất nể vợ. Bây giờ thì có thể tiết lộ. Con người hiền lành, tôi tin rằng khó có thể gây gổ với anh vì anh… quá hiền lành. Khi chuông cửa nhà tôi leng keng bảy năm trước, một người đàn ông ăn mặc sơ sài, gương mặt không có gì ấn tượng tự giới thiệu: "Tôi là A Khuê!".
Anh đến để cảm ơn tôi về chuyện đã lên tiếng bênh vực anh trên báo những năm ấy. Chuyện cũ, tôi không muốn nhắc lại (A Khuê sau đó đã "được" ghi tên trên ca khúc Về đây nghe em của nhạc sĩ Trần Quang Lộc), chỉ nhớ hai năm sau anh lại gọi: "Tôi làm nhạc rất nhiều nhưng không biết cách nào phổ biến, anh giúp tôi chứ?". Vụ này thì tôi đành từ chối vì không có kinh nghiệm. A Khuê có vẻ buồn. Ít lâu sau tôi nghe Trần Thu Hà hát Tình thiên thu, nhạc và lời A Khuê. Tôi nghĩ dù sao anh cũng đã làm được phần nào mong ước của mình.
Nay thì A Khuê đã mất. Tác giả của tập thơ in trước 1975 Lùa bò trong sương đã "đi lùa bò", tôi thường đùa với anh như thế. Tôi chỉ nhớ mang máng vài câu thơ của anh, thứ thơ trữ tình, tiêu dao, thơ mộng như khuynh hướng thơ một thời tuổi trẻ mơ mộng:
…Ðồi trăng không ngớt vi vu Bữa nay tôi ngậm sương mù thở than Ðồi trăng mỏng diệu diệu vàng Hồn bay, bay giữa hai hàng hoa lê…
Bài thơ không nhiều người nhớ nhưng Này hồn ơi dâng cao dâng cao, mang ánh sáng hân hoan cho đời, và về đây cho nhau nụ cười yêu thương. Về đây nghe em! Về đây nghe em! Về đây cùng hát trên sông nước này… và nhặt hoa xin tạ chút ơn. Hạnh phúc khi đã gặp nhau… thì ai cũng biết. Thế là đủ. Thế là nhẹ nhõm rời cõi tạm. Ðâu phải một đời ai cũng được một lần nghe vang vọng lời hát của mình...
Đó là giỡn chơi , chứ đây mới là thật , anh em xem thử rồi cho ý kiến : Hình của hai chị em song sinh rủ nhau khỏa thân, người thì “rõ ràng trong ngọc trắng ngà, dày dày đúc sẵn một tòa thiên nhiên”, người thì “khuôn trong đầy đặn nét ngoài nở nang”, chẳng kém chị em nhà Kiều.
Đêm nay là đêm cuối cùng Huỳnh Phúc Điền còn ở lại với anh em bạn bè và công chúng yêu văn nghệ . Tiếc là không ở lại Sài Gòn để tham gia giây phút cảm động này , ngày mai Điền sẻ vĩnh biệt mọi người để về nơi chốn có lẽ bình yên hơn nhưng chắc rằng không thể nào Huỳnh Phúc Điền yêu quý và trân trọng hơn cái cuộc đời nghiệt ngã mà Điền đã toàn tâm toàn ý dành cho nó tới hơi thở cuối cùng .
Gần cả tháng trước , Trí từ ngoài Huế vào ghé qua Đà Lạt báo tin Huỳnh Phúc Điền đã được chuyển vào bệnh viện Chợ Rẫy trong tình trạng vô cùng nguy kịch vì căn bệnh ung thư gan tái phát . Ngồi uống với nhau mấy chén rượu nhắc lại những kỹ niệm ngày xưa cùng nhau lăn lộn và chia sẽ với nhau từng gói mì tôm để cố vực lại cái nền sân khấu èo uột của Đà Lạt mà nhớ tới Huỳnh Phúc Điền .Cả bọn gồm tôi . MPK , Trí Huế và Tùng ...cùng bàn với nhau phải về Sài Gòn để thăm Huỳnh Phúc Điền lần cuối . Trí và Tùng đã đi Sài Gòn trước , tôi và Phước Khùng MPK sẽ xuống sau , nhưng tôi thì lu bu với mấy giờ dạy .còn Phước khùng MPK thì bận công việc đột xuất không đi được nên cả hai cùng lần lữa chưa dứt khoát chọn ngày đi . Vì thế , cứ áy náy vì nghĩ tụi thằng Trí từ ngoài Huế còn vào thăm được , mình ở Đa Lạt cách Sài Gòn là mấy mà không cố gắng thu xếp !! .
Hôm thứ ba vừa rồi nhận được tin Huỳnh Phúc Điền đã vĩnh viễn không còn nữa , không còn lý do gì để thoái thác , hai thằng phóng lên xe Phương Trang vượt hơn ba trăm cây số trong đêm về Sài Gòn để thắp nén hương tiễn biệt và chia tay người bạn , người em tài năng nhưng vắn số lần cuối cùng .
Cách đây cũng gần hai chục năm , khoảng 91 ,92 gì thì phải . Cái thời điểm mà tôi chẳng hứng thú gì với cái công việc "Cờ đèn kèn trống" của anh công nhân viên chức ngành Văn Hoá , suốt ngày cứ phải ôm đàn , vác loa đi khắp nơi hô hào sinh đẽ có kế hoạch thì Đạo Diễn Hồng Phúc và Huỳnh Phúc Điền từ Sài Gòn lên . Hồng Phúc thì tôi quen đã từ trước vì hồi còn học ở trường Văn Hoá Thủ Đức , Hồng Phúc từ trường Sân Khấu qua dạy tụi tôi môn hình thể , sau vì cùng gu nhậu , cùng có những suy nghĩ tương đồng , lại cùng tuổii ( Canh Tý ) nên tôi và Hồng Phúc đã coi nhau như anh em bạn bè , còn Huỳnh Phúc Điền thì mới gặp mặt nhau lần đầu . Cả hai thông báo cho tụi tôi lý do lên Đà Lạt .Trước giải phóng Đà Lạt có một ngôi trường Đại Học không những nổi tiếng cả Đông Nam Á vì khung cảnh nên thơ hữu tình mà còn vì trường này còn có một đội kịch mang tên "Thụ Nhân" đã từng gây tiếng vang không những trong mà còn ngoài nước vỉ những vỡ kịch xuất sắc của mình , tiêu biểu như "Thành Cát Tư Hãn " của Vũ Khắc Hoan ... Nơi đây đã từng là bệ phóng cho những tài năng sân khấu như Phạm Thuỳ Nhân , Lê Cung Bắc v .v ... Điền và Phúc muốn cùng anh em lập một đội kịch như thế vì cho rằng thiên nhiên và con người Đà Lạt sẽ là trợ thủ đắc lực cho những tư duy bay bổng của hai anh chàng lãng tử này . Nên nhớ hồi đó , Hồng Phúc vừa đưa nhà hát Hoà Bình lên thành một địa điểm Văn Hoá tên tuổi cả nước nhờ kịch bản " Tình Nghệ Sĩ " với sự góp mặt của dàn diễn viên tên tuổi như Nguyễn Chánh Tín , Tú Trinh , Hồng Nga , Hồng Vân ...Còn Huỳnh Phúc Điền thì vừa mới ra trường , vẫn còn đi tìm khoãng trời mơ ước của riêng mình . Nhưng phía sau khuôn mặt thư sinh ấy đã ẩn hiện một kho dự trữ cho những sáng tạo sân khấu không bao giờ cạn, phía sau cặp kính cận tròn tròn ấy là một đôi mắt có thể nhìn thấy một cách tinh tế những hình ảnh của đời thường để hình tượng hoá nó bằng ngôn ngữ sân khấu .
Thế là chúng tôi bắt tay vào việc với tài sản duy nhất , niềm đam mê sáng tạo với Kịch bản : " Cuộc Chơi " , tác giả :Huỳnh Phúc Điền , đạo diễn : Hồng Phúc. Nguyên cả tháng trời lăn lê bò toài trên những mãng cỏ xanh hay dưới những tàng cây rợp mát dưới khuôn viên trường Đại Hoc Đà Lạt để mong tới ngày ra mắt sản phẩm của mình .Hồng Phúc và Huỳnh Phúc Điền tuy không có một khoản tiền thù lao nào nhưng làm việc hầu như không hề ngơi nghĩ hay có dấu hiệu mệt mõi ,ban ngày dàn dựng cho anh em diễn viên còn tối về lo hoàn chỉnh lại kịch bản . thậm chí trong từng bữa ăn , câu chuyện cũng không tách ra khỏi công việc và kịch bản .
Cứ như thế , mỗi ngày cả bọn lặn lội tổng cộng mười mấy cây số từ khách sạn Lâm Viên (nơi ăn ở ) tới trường Đại Học (nơi tập) để từng bước tiến tới ước mơ của mình . Bữa ăn ở Lâm Viên chỉ có hai phần dành cho tác giả và đạo diễn nhưng lúc nào cũng có ít nhất năm người trở lại , bọn tôi đi ăn theo phần vì vui quá không muốn về nhà , phần vì cứ gần nhau lúc nào là tranh thủ cho kịch bản tới đó .Sở dĩ phải ăn ở KS Lâm Viên vì hồi đó trường Đại Học không cho kinh phí ( Hiệu Trưởng đi công tác ) , thấy không có ai hổ trợ cái tối thiểu nhất là ăn ở nên anh Lê Kim Ngữ , một thành viên của " Thụ Nhân " cũ . làm việc tại KS Lâm Viên tranh thủ giúp đỡ phần này , nhưng chỉ giúp được cho hai nhân vật chủ chốt là Tác Giả và Đạo Diễn . Còn tập phải qua trường Đại Học , vì là Khách Sạn sợ bọn tôi la hét làm ồn , ảnh hưởng tới khách nghĩ dưỡng . Nói tới chuyện làm ồn thì có một câu chuyện khôi hài trong quá trình tập mà nhắc lại thằng nào cũng phì cười . Trong kịch bản có một cảnh tôi đóng vai một ông già mù nuôi ngựa có một thằng con trai hư hỏng nên khi đứa con trai về thăm bố ( Kiều Vũ Tín đóng) tôi đã tức giận đuổi đi . Vì nuôi ngựa nên đạo cụ của tôi là cây liềm cắt cỏ . Không biết tập dợt thế nào mà đang tập nữa chừng thì bảo vệ lên ngăn không cho tụi tôi tập , hỏi ra thì mới biết có sinh viên báo với phòng bào vệ là có một nhóm người gây chuyện đánh nhau ( chắc tại tôi la to quá ) và có sử dụng cả hung khí ( cây liềm ) .Điền phải phân bua đính chính hồi lâu thì ông bảo vệ mới hiểu ra .
Gian khổ cả tháng trời rồi cũng tới ngày báo cáo thành quả của mình . Nhà trường cho sử dụng hội trường Superman . Có Hội trường nhưng không có âm thanh , cả bọn phân vân . làm sao diễn được giữa hàng ngàn người mà không hề có một thiết bị tăng âm nào ? Nhưng bỏ cuộc thì tiếc công lao anh em mình tập dượt . Cuối cùng tất cả quyết định : Không có âm thanh cũng diễn . Đêm đó thành công một cách không ngờ . Dù không có âm thanh , tụi tôi vẫn diễn hết mình . Hình như hiểu tấm lòng của tụi tôi , nên sinh viên đêm đó đến rất đông nhưng họ hoàn toàn giữ im lặng cho đến hết buổi diễn .Và một yếu tố nữa để đưa tới thành công , chắc chắn là nhờ sự hấp dẫn của kịch bản mà tác giả là Huỳnh Phúc Điền và người biến giấy trắng mực đen thành hiện thực là Hồng Phúc. Sau đêm đó là một đêm không ngũ để ngày mai chúng tôi lại chia tay với Huỳnh Phúc Điền và Hồng Phúc .
Bọn tôi ở lại cố gắng duy trì thêm những đêm diễn để chờ đợi những nguồn tài trợ mà Hồng Phúc và Huỳnh Phúc Điền vận động từ Sài Gòn , nhưng vì nhiều lý do nên " Thụ Nhân " một lần nữa tan rã.
Năm 1993 , Hồng phúc và Huỳnh Phúc Điền lại một lần nữa lên Đà Lạt để đồng cam cộng khổ với bọn tôi . Đó là dịp Đà Lạt mừng 100 năm hình thành và phát triển , Hồng Phúc nhận đạo diễn chương trình khánh thành nhà Văn Hoá Thiếu Nhi Lâm Đồng , có mặt của Huỳnh Phúc Điền .
Từ đó , chúng tôi có dịp là lại gặp nhau , nhất là Hồng Phúc có nhiều lúc từ Sài Gòn , cứ mỗi đêm sau khi nhà hát Hoà Bình xuống đèn là Hồng Phúc phóng lên xe về Đà Lạt , cùng tôi ra chợ đêm ngồi giữa cái rét buốt của Đà Lạt mà nhấm nháp từng ngụm rượu của tình bạn cho đến khi những gánh rau cuối cùng được chuyển đi , báo chợ đã tan , đêm sắp hết , Hồng Phúc lại leo lên xe về Sài Gòn tiếp tục cái sự nghiệp sáng tạo của mình .
Cho đến khi Hồng Phúc ra nước ngoài đoàn tụ gia đình , thì Huỳnh Phúc Điền lại một lần nữa lên Đà Lạt trong vai trò tác giả kiêm luôn đạo diễn cho trung tâm Văn Hoá TP Đà Lạt . Trước kia . Đà Lạt không có trung tâm Văn Hoá , chỉ có trung tâm của tỉnh . Sau vì nhu cầu phát triển của thành phố nên phía sau khu Hoà Bình được sửa sang lại để làm trung tâm triển lãm và Văn Hoá . Có thời khu này do Nông Công Diễn , một hoạ sĩ của Đội Thông Tin Lưu Động phòng Văn Hoá chuyển sang quản lý , anh chàng này không hiểu vì lý do gì lại muốn có một kịch bản đứng tên trung tâm ( lâu rồi , Lâm Đồng cũng có một Đoàn kịch nói cũng có thể gọi là coi được so với nhiều Đoàn khác trong cả nước , nhưng có lẽ nhà nước nghĩ nuôi Đoàn này không có hiệu quả nên đã cho giải thể , anh em diễn viên đành phải về nhà , kẻ thì đi bàn phở , người đi chụp hình để kiếm sống , vậy mà lúc này anh chàng này lại nổi hứng muốn gây dựng lại chắc !!?) . Thế là anh chàng mời Huỳnh Phúc Điền từ Sài Gòn lên dàn dựng cho mình một kịch bản.
Điền đã đem lên kịch bản " Hạ Trắng " . Lần này đở khổ hơn lần trước vỉ được tập trong nhà chứ không phải ra ngoài trời như hồi ở bên Đại Học .Nhưng trong nhà vẫn tối om om ,vì phải tập ở trên tầng áp mái của nhà Triển Lãm . Còn chổ ở thì không xếp được vì ngoài khu triển lãm chỉ có một góc duy nhất để cho bảo vệ ở ,anh chàng bảo vệ này là diễn viên của Đoàn kịch cũ , được đào tạo chính quy hẵn hoi , từ trường Sân Khấu Hà Nội , quê Hải Phòng . Ngày giải phóng theo Đoàn Văn Công tăng cường cho chiến trường B , giải phóng xong về Đoàn kịch Lâm Đồng , có lúc đã là Phó Đoàn cho tới khi giải thể thì đi làm bảo vệ .Vì không có chổ ngũ và chắc là không có tiền thuê khách sạn cho đạo diễn nên Nông Công Diễn đã nhờ Huỳnh Phúc Điền cùng về ở với tôi .Điền thì quá dễ , chỉ muốn làm được việc còn ăn ở không thành vấn đề . Thế là 2 anh em đã có dịp cùng ở cái tổ chim của tôi.
Chỉ có hai anh em nên tôi càng hiểu Điền hơn . Điền hình như sinh ra là để dành cho sân khấu . Sân Khấu chiếm hết toàn bộ suy nghĩ của Huỳnh Phúc Điền . Điền kể : Hồi còn ở Vĩnh Long , khi nghe tin báo mình trúng tuyển vào trường sân khấu , đạp xe đạp đi trên con đường làng mà cứ nghĩ mình đang đi trong mây. Sau này vào trường rồi , thích hay muốn học cái gì cũng liên quan tới sân khấu . Điền đánh đàn guitar cũng khá hay , tập cổ điển mà đánh được bài Feste Lariant là cũng thuộc loại có hạng rồi (tremolo nghe dòn tan ) , Điền lại thích vẽ nên lúc rãnh rỗi cũng đem màu giấy ra ngồi hý hoáy , thời gian này Điền để lại mấy bức trên giấy , tuy đường nét màu sắc không như hoạ sỹ thực thụ nhưng ý tưởng thì khó ai nghĩ ra ,Điền hay vẽ thiên thần , thiên sứ ... nên sau này khi dựng video clip , tôi vẫn hay thấy hình ảnh thiên thần với đôi cánh trắng bay trong không gian của Điền . Một đạo diễn có cả tư duy về âm nhạc và cả hội hoạ đó là thế mạnh của Huỳnh Phúc Điền .
Rồi cũng tới ngày " Hạ trắng " được ra mắt . Tôi còn nhớ kịch bản xoay quanh những sinh viên học mỹ thuật , ca sỹ Nguyên Thảo bây giờ cũng có một vai trong vở này . Hình ảnh làm tôi nhớ mãi là Thảo trong một bộ váy trắng trinh nguyên bước ra từ một khung tranh , lộng lẫy và cao sang như một thiên thần . Đoạn kết vở diễn là đoàn sinh viên đi thực tập đi về hướng tương lai trên một đoàn tàu , cửa sổ đoàn tàu là những khung tranh . Suốt kịch bản , khung tranh được làm cảnh trí , lúc trở thành khung cửa ra vào văn phòng , lúc là khung cửa sổ biệt thự , lúc là bức chân dung thiếu nữ , lúc là khung cảnh núi đồi ... chỉ là những hình chữ nhật mà Huỳnh Phúc Điền biến ra muôn vàn hình ảnh để cho người thưởng lãm rơi vào muôn vàn những nghĩ suy cảm xúc . Làm việc ở Đà Lạt chỉ ngần ấy thời gian , nhưng Huỳnh Phúc Điền đã để lại trong lòng bạn bè không ít tình cảm và sự nể phục .
Sau này , như một định mệnh , tên tuổi Huỳnh Phúc Điền gắn liền với những vide clip , sân khấu ca nhạc . Nhưng tôi còn biết một Huỳnh Phúc Điền khác của sân khấu Đà Lạt . Ai đó đã nói :" Sân khấu là một thiên đường , hãy để chiếc hài bẩn ở ngoài trước khi bước vào" .Sân khấu Đà Lạt như một thiên đường đã mất và sân khấu thiên đường của Huỳnh Phước Điền đã thành sự thật , Điền đang bay trên đó với một niềm đam mê cháy bỏng như lúc nào .
Ngày mai ,chắc nhiều người sẽ khóc khi ném nấm đất cuối cùng tiễn đưa Điền ở nghĩa trang Bình Dương . Tối hôm nay tôi chia tay Điền với cảm xúc như Điền đã từng có với sân khấu . Chúc một chuyến đi xa thật bình an.
Có thể nói rằng yếu tố quan trọng nhất đã tạo ra cái cảm giác dồn dập và lôi cuốn của nhạc Flamenco là nhịp điệu . Do đó ta cần làm quen với mội số nhịp điệu Flamenco cơ bản bằng cách vỗ tay hay còn gọi là toque de palmas.
Palmas chiếm một vai trò quan trọng trong nhạc Flamenco và thường được dùng nhiều trong các màn vũ . Một nghệ sĩ palmas giỏi là người có thể biến một màn vũ tầm thường thành một cuộc biểu diễn nóng bỏng với khả năng điều khiển nhịp điệu bằng đôi bàn tay điêu luyện , vỗ theo những nhịp chỏi (syncopations) và nhịp đối (counter-rhymths).
Có 2 loại palmas , trước hết là palmas fuertes , tức là vổ tay mạnh .Khi vỗ đúng kỹ thuật , cách này sẽ tạo âm thanh chát tai , vang như sấm . Để vỗ theo cách này , bạn cần giữ tay trái hơi co vào và 4 ngón tay còn lại khép vào sao cho lòng bàn tay như một cái chén cạn . Ba ngón tay trỏ , giữa và áp út của bàn tay mặt cũng khép sát nhau và vỗ thẳng vào lòng bàn tay trái . Ban đầu mới tập thì hơi khó vỗ cho thật kêu , do đó bạn cần phải có thì giờ để tập cho thuần .
Cách thứ hai gọi là palmas sordas , nghĩa là vỗ tay nghẽn tiếng . Cuộn 4 ngón tay trái cho lòng bàn tay hơi thẳng và bàn tay mặt cũng giữ như vậy . Vỗ hai lòng bàn tay vào nhau sao cho các ngón tay mặt nằm vào giữa các ngón cái và các ngón khác của bàn tay trái . Vỗ tay theo lối palmas sordas tương đối dễ hơn palmas fuertes , tuy nhiên để có thể palmas sordas thật đều , bạn cũng cần chịu khó tập luyện .
Hai cách vỗ tay này tạo ra hai loại âm thanh riêng biệt và được dùng trong những trường hợp khác nhau . Thông thường thì người ta dùng palmas fuertes với những màn trình diễn có nhiều vũ công , khi cần phải giữ nhịp chính xác tuyệt đối cho mtộ nhóm nhiều người . Palmas sordas thì dùng để tạo những tác dụng âm thanh đặc biệt mỗi khi đổi tiết tấu , hoặc chạy theo một đoạn biến tấu guitar hay môt cậu hát của ca sĩ .Cách vỗ tay này cũng thường được dùng để đệm theo những đoạn biểu diễn vũ độc tấu bằng gót giày ,như trong điệu Alegrias.
Chúng ta bắt đầu đi vào nhịp điệu Flamenco căn bản bằng một thí dụ nhấn phách (accent) trong nhịp 4/4 . Trong những bài tập sau đây , bạn nên đánh nhịp theo cách vỗ tay palmas sordas rồi sau đó hãy dùng palman fuertes.
1- Hãy đếm nhẫm 1 - 2- 3 - 4 thật đều . Sau đó thì vỗ tay theo và cứ mỗi bốn phách thì nhấn mạnh ở phách thứ nhất.
Tiếp tục vỗ như vậy trong một hai phút cho đến khi phách mạnh ( nhấn) nghe thật rõ ràng , trong khi những phách yếu ( không yếu ) chỉ giữ nhịp cho đều .
2- Kế tiếp bạn hãy nhấn mạnh ở phách thứ nhì của mỗi ô nhịp , ghi số " 2" . Lối này tương đối khó hơn vì chúng ta ít khi nhấn ở phách 2 mà thường thì chỉ nhấn ở phách một . Tiếp tục cho đến khi bạn giữ nhịp một cách vững vàng.
3 - Áp dụng cùng phương pháp trên để nhấn mạnh ở phách 3 và 4 .
Bốn mẫu vỗ tay trên chỉ là những bài tập căn bản về nhịp điệu . Tuy nhiên trong Flamenco thì chỉ cóm â4u đầu tiên ( nhấn phách 1 ) là được dùng trong nhịp điệu Farruca .
4 - Sau khi tập kỹ những bài trên thì bạn có thể vỗ tay và nhấn các phách mạnh dễ dàng . Giờ đây bạn sẽ đi vào một nhịp địêu Flamenco thật sự tương đối phức tạp hơn những bài tập vừa qua . Đây là nhịp căn bản của 3 điệu chính trong Flamenco là Soleares , Alegrias và Bulerias .
Trước hết , một bài nhạc Flamenco là tập hợp của một số đoạn nhạc ngắn , gọi là Compas . Mỗi đơn vị căn bản này gồm 4 ô nhịp theo thể 3/4 , tc ứlà mỗi compas sẽ có 12 phách . Những phách cần được nhấn mạnh trong một compas là 3 ( ba ) , 6 (sáu ) , 8 (tám) , mười (10 ) và mười hai (12) . Riêng phách mười hai thì có thể bỏ qua và không cần nhấn mạnh ở đây .
Bên dưới phách 11 và 12 lại có ghi hai số (1 )và (2) là để đếm cho dễ vì đọc " Một" ," Hai " dễ hơn là " Mười một " , " mươi hai " . Như vậy các phách trong một compas sẽ được đọc như sau :
1 - 2 - 3 - 4 - 5 - 6 - 7 - 8 - 9 - ( 1 ) - ( 2 )
Ban đầu thì bạn nên vỗ tay chậm rồi tăng dần tốc độ , miễn sao giữ nhịp cho thật đều . Nên vỗ theo lối Palmas Sordas rồi sau đó mới chuyển qua Palmas Fuertes . Để nhớ cấu trúc của Compass này , bạn có thể chia các phách thành 2 nhóm 3 phách và 3 nhóm 2 phách như sau :
Đây là bài học đầu tiên về một nhịp điệu Flamenco căn bản trước khi ta đi vào những nhịp điệu phức tạp khác . Khi học hoặc nghe những nhịp điệu mới thì chúng ta cũng sẽ phân tích như cách trên đây .Sau đây , tôi xin giới thiệu cùng các bạn đồng hồ Flamenco mà người chơi Flamenco nào cũng bắt buộc phải nằm lòng . Các bạn chú ý , khi bắt đầu mỗi loại tiết điệu thí dụ như : Alegrias ... thì ở phách một , Bulerias ... ở phách 12 , Cabales ... lại là phách 8 , những lần sau chúng ta sẽ tìm hiểu vấn đề này
Và đây là 2 lối palmas sordas và fuertes trong compass
Nếu người Brazil có điệu Samba bốc lửa, người Argentina có điệu Tango nồng cháy thì đất nước Tây Ban Nha cũng tự hào vì Flamenco. Không chỉ dừng lại ở một điệu nhảy, flamenco đã trở thành một nét văn hoá độc đáo của xứ sở bò tót khi kết hợp cả âm nhạc, vũ điệu và ca khúc.
Tìm về nguồn gốc của nhạc Flamenco, người Gypsy ở miền nam bán đảo Iberian được coi là những người sáng tạo ra Flamenco vào khoảng trước thế kỷ thứ 18. Nhưng cũng có tài liệu cho rằng, cái tên Flamenco chỉ mới xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ 19 và nó chỉ những người digan đến từ Flanders (Châu Âu) và sinh sống ở Andalusia (miền nam Tây Ban Nha). Một điều cũng rất thú vị là chữ Flamenco bắt nguồn từ một từ lóng là flama hay flame, chỉ sự sặc sỡ trong cách phục sức của người digan. Tuy có nhiều cách lý giải khác nhau, nhưng không ai có thể phủ nhận Flamenco thật sự là một loại hình nghệ thuật độc đáo.
Flamenco được đề cập lần đầu tiên trong tác phẩm “Cartas Marruecas” của Cadalso năm 1774. Mới đầu, Flamenco dường như chỉ đơn thuần là lời hát và được vỗ tay theo giai điệu, gọi là toque de palmas. Về sau, những nhạc sĩ như Julian Arcas ( không tìm ra tư liệu hình ảnh cụ thể về Julian Arcas nên tôi chỉ lây tác phẩm của ông do Bryan Bunker thể hiện )
Julián Arcas
mới kết hợp với biểu diễn ghi-ta. Và cái nôi của dòng nhạc này có lẽ là ở Cadiz (Sevilla), nơi mở trường dạy Flamenco đầu tiên với tên gọi
Jerez de la Frontena
và Triana
vào khoảng năm 1765-1860. Thời kỳ này, điệu vũ Flamenco bắt đầu tạo được vị thế vượt trội tại các phòng khiêu vũ.
Trong suốt “thời kỳ vàng son” của nó (1869-1910), Flamenco phát triển ở những quán café âm nhạc (cafés cantante) cho đến khi hình thành nên thể loại âm nhạc hoàn chỉnh. Thể loại cante jondo, thể hiện những cảm xúc hết sức sâu lắng cũng bắt nguồn từ thời kỳ này. Còn một thể loại khác của Flamenco là Cante chico, có tiết tấu vui tươi hơn và không dạt dào cảm xúc như cante jondo.
Điệu vũ Flamenco thật sự đã đưa loại nhạc này lên đỉnh cao, thu hút sự quan tâm yêu mến của khán giả tại các quán café âm nhạc. Âm nhạc rộn ràng, tiếng dậm gót giày và tiếng vỗ tay như mời gọi, cuốn hút tất cả những ai hiện diện nơi đây. Chính vì lẽ đó, nhạc công ghi-ta và những vũ công nhanh chóng trở nên nổi tiếng.
Từ năm 1910-1955, hát Flamenco được gọi là ópera flamenca với những loại nhạc dễ hát như
Fandangos
Cantes de ida y vuelta.
Từ năm 1915, các buổi biễu diễn Flamenco được tổ chức trình diễn ở khắp nơi trên thế giới.
Đến năm 1955 kiểu hát “Flamenco Phục hưng” bắt đầu hình thành với tên tuổi vĩ của nghệ sĩ bậc thầy
Antonio Mairena.
Những vũ công và những nghệ sĩ solo (biểu diễn đơn) nổi tiếng sớm rời bỏ những quán nhỏ để đến với những nhà hát và các trung tâm hoà nhạc lớn. Nhạc công ghi-ta lúc này đã giữ vai trò chủ đạo và màn biểu diễn của họ đã đạt tới trình độ lão luyện.
Sự phát triển của Flamenco ảnh hưởng tới một số thể loại âm nhạc như Jazz, Salsa, Bossa Nova… Bản thân vũ điệu của nó cũng có sự thay đổi, đặc biệt là những vũ công nữ, họ cố gắng thể hiện cho được cái thần thái của nghệ thuật.
Ghi-ta Flamenco mới đầu chỉ sử dụng để đệm nhạc cho những vũ điệu thì về sau nó đã phát triển trở thành nghệ thuật biểu diễn, nghệ sĩ vĩ đại
Paco de Lucia
là con chim đầu đàn trong lĩnh vực biểu diễn ghi-ta Flamenco.
Càng về sau, các phương tiện truyền thông đại chúng đã mang Flamenco đến với sàn diễn thế giới nhưng sâu thẳm bên trong, Flamenco sẽ luôn là một loại nghệ thuật thân thiện với công chúng. Bạn sẽ không nghe được Flamenco đích thực nếu không phải là cùng với bạn bè, vào ban đêm tại một nơi nào đó ở miền Nam Tây Ban Nha, khi mà mọi âm thanh khác đều chùng xuống, chỉ còn lại tiếng hát, tiếng ghi-ta và những vũ công uyển chuyển thep từng nhịp điệu dưới ánh trăng.