My Opera is closing 3rd of March

All are systems in systems

Tất cả là các hệ thống trong các hệ thống

SÁU CỬA VÀO ĐỘNG THIẾU THẤT-Bồ-đề Đạt-ma

SÁU CỬA VÀO ĐỘNG THIẾU THẤT-Bồ-đề Đạt-ma
Trúc Thiên Dịch

Trong các ngành Phật giáo, Thiền đứng riêng một chân trời cùng tuyệt, chủ trương chỉ thẳng vào nơi tánh, thấy thẳng nơi tự tâm để tức khắc thành Phật, khỏi phải khổ tu nhiều kiếp. Do đó, Thiền được gọi là tối thượng thừa, nghĩa là cỗ xe tối thượng đi thẳng vào nước Phật. Ai nương cỡi, ai "thừa" cỗ xe ấy tức thành Phật. Nói thế không có nghĩa là cỗ xe lớn nhất so với những cỗ xe khác, xe dê của Thanh văn, xe nai của Duyên giác, xe trâu của Bồ tát v.v... Trái lại tối thượng thừa đích thực là "không còn thừa nào để mà thừa", nên nói suốt ngày "thừa" mà vẫn như chưa hề "thừa". Có thừa như thế mới gọi là Phật thừa - cỗ xe Phật. Mất hết điểm so sánh, Thiền mất luôn chỗ đứng giữa các hệ phái. Nói một cách khác, vì mất tất cả nên được lại tất cả. Thiền đương nhiên bao dung tất cả trong một sức chứa vô lượng vô biên: sức chứa của cái không. Nên Thiền, tức là Ðại Ðồng. Và tối thượng thừa tức là vô thừa. Kinh nói : "Lấy vô thừa làm Phật thừa" là nhằm hiển thị cái lý đại đồng ấy vậy.
* * *
Trong tinh thần ấy, sáu cửa vào động Thiền không còn là cửa theo như chúng ta thường quan niệm. Thật vậy, phàm nương vào cửa đạo, mượn phương tiện tìm chân lý, ắt dễ kẹt ở cửa, dễ chấp lầm phương tiện làm chân lý. Giữa người và chân lý có một màn ngăn, nên thiền ví mọi "cửa pháp" như chiếc giày mang ở chân: muốn gãi chỗ chân ngứa, hóa ra ta chỉ gãi trên chiếc giày. Muốn được đã ngứa, phải gãi thẳng vào da trần. Muốn thấy sự thật, phải tiếp nhận thẳng sự thật. Thiền Linh Sơn của đức Phật gọi thế là biệt truyền - truyền riêng. Thiền Thiếu Lâm của Ðạt Ma gọi thế là trực chỉ - trỏ thẳng. Và cửa vào đạo hóa ra cửa - không - cửa. Và pháp môn thiền hóa ra pháp - không - pháp. Chính cái pháp không pháp ấy, đức Phật đã mật truyền cho tôn giả Ca Diếp trong bài kệ phó chúc:
Pháp bổn pháp vô pháp,
Vô pháp, pháp diệt pháp.
Kim phó vô pháp thời,
Pháp pháp hà tằng pháp.
* * *
Vậy thực chất của sáu cửa là gì? Ðó là:
- Tâm kinh tụng: tụng về bộ Bát nhã Tâm kinh.
- Phá tướng luận: luận về phép phá tướng.
- Nhị chủng nhập: hai đường vào đạo.
- An tâm pháp môn: phép an tâm.
- Ngộ tánh luận: luận về phép thấy tánh thành Phật
- Huyết mạch luận: luận về mạch máu của đạo Phật.
Cửa thứ nhất mở vào tâm - mạch sống của đạo Thiền. Quả đúng như lời người xưa nói:

"Thiền là tên gọi của tâm, tâm là bổn thể của Thiền".

Tâm đây là tâm của tông Bát nhã. Tông Bát nhã là "không tông", tông phái của cái "không". Cái không Bát nhã siêu việt và viên dung cả "hữu" và "vô", của trí thức suy luận để hiện thực ở trung đạo không nghĩ bàn được. Ðó là cảnh giới tuyệt đối, không mảy tướng mạo, nên để vào đó, hành giả đừng mong bám víu vào bất cứ gì, dù là một ý thoáng:
Tịch diệt thể vô đắc
Chân không tuyệt thủ phan.
(Thể Niết bàn không chứng đắc
Chân không chặt đứt tay leo)
Cửa thứ hai là cửa phá tướng: phá tất cả những gì do khối óc và bàn tay con người tạo ra để biểu thị chân lý, nhưng đồng thời cũng chôn vùi luôn chân lý dưới khối phù hiệu, công thức, nghi thức. Kinh nói: "Lìa hết tướng tức là Phật". Mà Phật tức là tâm. Nên phá tướng tức trả tâm về cho bổn thể nguyên thủy. Tự nơi bổn thể ấy "tự nhiên hằng sa công đức, thảy thảy trang nghiêm; vô số pháp môn, mỗi mỗi thành tựu; vượt phàm chứng thánh, mắt thấy chẳng xao, chốc lát ngộ liền, há cần nhọc sức".
Cửa thứ ba là nhị chủng nhập. Chỉ riêng về phép "Báo oán hạnh" chẳng hạn, Thiền dạy rằng khi gặp khổ cứ vui chịu, đừng than trời trách người. Mắc nợ thì trả nợ, đó là lẽ công, cần sòng phẳng. Sòng phẳng mà không oán trách, đó là hành đạo trên "Sự". Hành sự mà lòng không loạn động, đó là tựu "Lý". Trên hiện tại lý với sự chẳng khác nhau, nên khổ mà không oán trách, đó là giải thoát: giải thoát ở hiện tại, bằng những hành động thích ứng với hiện tại. Chỉ có hiện tại là thực, cần tác động vào đó, ngoài ra quá khứ và tương lai đều là vọng tưởng.
Cửa thứ tư là phép an tâm. Sách chép khi Huệ Khả đến viếng Ðạt Ma có bạch rằng:
- Tâm con không an. Thỉnh Hòa thượng cho con được an tâm.
Ðạt Ma bảo:
- Ngươi đưa tâm đây thầy an cho.
- Con tìm mãi mà không thấy tâm đâu cả.
Ðạt Ma kết luận:
- Vậy là tâm nhà ngươi đã an rồi đó.
Câu chuyện biểu thị căn bệnh lo âu truyền kiếp của hầu hết chúng ta, một thứ angoisse existentielle thúc dục chúng ta chạy khắp phương trời, khắp kim cổ, tìm đường giải thoát. Chính cuộc chạy lăng xăng ấy, ta tạm gọi là cầu đạo, tìm chân lý. Nếu bất thần ta dừng lại như Huệ Khả ắt toàn thể trời đất và nhân sanh bỗng dưng thức tỉnh trên một thực tại phi thường; thức tỉnh trên tâm: ta không có tâm (hoặc bản ngã) nào khác hơn là ý nghĩ; thức tỉnh trên bệnh bất an: ta không có bệnh nào khác hơn là mặc cảm; thức tỉnh trên thời gian: ta không có thời gian nào khác hơn là hiện sanh. Ðó là ý nghĩa của bài kệ chứng đạo sau đây của Huệ Khả:
Ba thuở cầu tâm, tâm chẳng có,
Tấc lòng kiếm vọng, vọng hoàn không.
Vọng nguyên không xứ tức Bồ đề,
Ðó mới gọi là chơn đắc đạo.
Cửa thứ năm là ngộ tánh luận, chỉ thẳng phép thấy tánh thành Phật, tự thành Phật, tự ý thức cốt Phật bổn lai của chúng ta bị vùi sâu từ vô lượng kiếp dưới lớp chiêm bao, nói đúng hơn, dưới từng lớp mặc cảm làm điên đảo cuộc sống: mặc cảm tự ti, phạm tội, sa đọa vĩnh viễn, tội tổ tông v.v... Bung ra khỏi khối chiêm bao, nhô lên khỏi vũng mặc cảm thì là gì? Là thức tỉnh trên cái hiện tiền: đương xứ tức chân.
"Phàm phu đang sống sợ chết, vừa no lo đói, mê hoặc làm sao! Còn những người đích thực là người - những bậc chí nhân - chẳng tính việc trước, chẳng lo việc sau, chẳng náo động ở hiện tại nên không lúc nào chẳng thuận đạo".
Cửa thứ sáu là huyết mạch luận. Phật ở đây được trả về cho thế giới đại đồng như một sức mạnh thuần túy của cuộc sống, một trái tim của vũ trụ, một nguồn sống bất sanh bất diệt, thấm nhuần tất cả, cả đến cỏ cây vô tri. Phật là người không là gì hết.
Phật thị nhàn nhân,
Phật bất thị Phật,
Mạc tác Phật giải.
Phật là toàn thể, không thể chia chẻ. Nếu làm Phật giải Phật, tức chia chẻ Phật, ắt mắc bệnh phân tâm - và mất luôn thiên đường. Bằng hòa đồng với nguyên khối thì tánh tức là tướng, bổn thể tức là hiện tượng, tâm tức là động, động tức là dụng v.v... Nói tóm lại, không gì chẳng là đạo, không gì chẳng là Phật. Tất cả đều rỗng rang, đều tự tại, đều không phàm thánh gì hết; "quách nhiên vô thánh". Ðó mới thực là trang nghiêm nước Phật.
Giờ đây, sáu cửa động đã rộng mở, mời chúng ta bước vào.
Nhưng thôi, khỏi cần vào sáu cửa. Ta chỉ vào bất cứ một cửa nào đó thôi, tùy theo duyên cảm. Sáu cửa đều trổ về một cửa. Một cửa bao hàm luôn sáu cửa.
Nhưng vào, xin nhớ ra. Ðó là điều tối cần.
Nếu ra không được thì cửa nào cũng là cửa tử. Còn ra được thì sao?
Không biết.
Xin để cho người biết - hòa thượng Phật Quả Viên Ngộ - lên tiếng nói:
"Chư Phật chẳng từng xuất thế, củng không một pháp trao cho người. Tổ sư (Ðạt Ma) chẳng từng qua đây, cũng chưa hề lấy tâm truyền thọ. Bởi người đời nay không rõ nên mảng lo cầu ngoài. Sao không biết tự dưới gót chân mình chặt đứt hết đại sự nhân duyên, hiền thánh đừng dính níu? Chỉ nên như ta nay thấy mà chẳng thấy, nghe mà chẳng nghe, nói mà chẳng nói, biết mà chẳng biết.Cầu gì mới được chứ?"
1. MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT ÐA TÂM KINH
2. QUÁN TỰ TẠI BỒ TÁT
3. HÀNH THÂM BÁT NHẢ BA LA MẬT ÐA THỜI
4. CHIẾU KIẾN NGŨ UẨN GIAI KHÔNG
CỬA THỨ NHÌ: PHÁ TƯỚNG LUẬN
Ðáp: Chỉ nói pháp quán tâm thâu nhiếp trọn các pháp mới thực là cực kỳ tỉnh yếu.
Hỏi: Các đại Bồ tát nhờ giữ ba giới tu tịnh thực hành sáu độ, mới thànhPhật đạo. Sao nay nói người học chỉ cần quán tâm chẳng tu giới hạnh, thì thành Phật thế nào được?
Ðáp:Ba giới tu tịnh tức là tâm chế phục ba độc:
Chế phuc tâm ba độc thành vô lượng thiện tụ.
Nói "tụ" là nói "hội" vậy.
Pháp lành vô lượng hội khắp ở tâm, nên gọi là ba giới tụ tịnh.
Nói sáu độ Ba la mật, tức nói tịnh sáu căn.
Người Hồ nói "ba la mật" (3), người Hán nói "đạt bỉ ngạn", tức đến bờ bên kia. Sáu căn thanh tịnh, chẳng nhuốm sáu trần, tức qua sông phiền não, đến bờ Bồ đề, nên gọi là sáu ba la mật.
Còn trì trai ấy cần hiểu rõ, nếu không thông đạt ắt uổng công tu.
Nói "trai" là chay, tức nói "tề" là sắp xếp vậy: sắp xếp thân tâm cho thẳng (tề chánh), đừng cho cong vạy.
Nói "trì" là giữ, tức nói "hộ" là giúp: ở nơi giới hạnh cứ theo pháp mà hộ trì, ngoài cấm sáu tình, trong ngăn ba độc, siêng năng tỉnh xét, thân tâm thanh tịnh. Có hiểu như vậy mới là chay lạt.
Còn ăn cũng có năm thứ ăn:
- Một là ăn thức vui của pháp - pháp hỷ thực - đó tức là y giữ chánh pháp, vui mừng vâng làm.
- Hai là ăn thức ngon của thiền - thiền duyệt thực - đó tức là trong ngoài lọc sạch, thân và tâm vui đẹp.
- Ba là ăn thức ăn của niệm - niệm thực - đó tức là thường niệm chư Phật, tâm và miệng hợp nhau.
- Bốn là ăn thức ăn của nguyện - nguyện thực - đó tức là trong lúc đứng, đi, nằm, ngồi luôn phát nguyện lành.
- Năm là ăn thức ăn của giải thoát - giải thoát thực - đó tức là tâm thường thanh tịnh, chẳng nhuốm bụi tục. Ăn năm món ăn ấy gọi là giữ giới chay lạt.
Người nào không ăn năm món ăn thanh tịnh như trên, mà cứ rêu rao là trai giới, thì không đâu có được... Ðó chỉ là phá chay. Mà đã phá thì sao rằng phước được?
Kẻ mê trong đời không ngộ được lẽ ấy, thả lỏng thân tâm, làm đủ việc dữ, ham muốn bốn tình chẳng chút thẹn thùng. Chỉ dứt có ăn ngoài mà tự coi là chay lạt, thật không đâu có được.
Việc lễ bái thì nên biết pháp, như thế này: trong là lý phải sáng tỏ; ngoài là sự biết quyền nghi. Có hiểu được như vậy mới gọi là y pháp.
Phàm nói "lễ" tức nói "kính" nghĩa là coi trọng.
Phàm nói "bái" tức nói "phục" nghĩa là cúi xuống.
Sở dĩ thế vì có cung kính chân tánh, khuất phục vô minh, mới gọi là lễ bái.
Nếu dứt hẳn được ác tình, hằng gìn thiện niệm, tuy chẳng xứng tướng, ấy gọi là lễ bái.
Tướng ấy, tức là pháp tướng.
Thế Tôn muốn khiến cho thế tục tỏ lòng nhún thấp mới dạy lễ bái, tức là ngoài thì thân sụp xuống, trong thì lòng kính thêm, giác ngoài sáng trong, tánh tướng cùng hợp.
Nếu không làm theo lý pháp ấy mà chỉ chấp trước cầu ngoài, trong ắt buông lung theo tham si, mãi gây nghiệp dữ, ngoài ắt nhọc nhằn thân tướng mà chẳng ích gì, đội lốt uy nghi, không thẹn với thánh, dối gạt với phàm, chẳng khỏi luân hồi, há thành công đức được sao?
Hỏi: Như lời kinh nói: "Dốc lòng niệm Phật, chắc được vãng sanh qua cõi Cực Lạc phương Tây, chỉ cần theo một cửa ấy tức được thành Phật", sao còn nói quán tâm để cầu giải thoát là gì?
Ðáp: Phàm nói niệm Phật, cốt cần niệm chánh. Rõ nghĩa là chánh, không rõ nghĩa là tà. Niệm chánh chắc được vãng sanh, niệm tà sao qua đó được?
Nói "Phật" là nói "giác", tức tỉnh biết, tỉnh biết để thấy rõ chân tâm, đừng khiến niệm dữ lừng lên.
Nói "niệm" là nói "ức", tức gìn nhớ: gìn nhớ giữ giới hạnh, chẳng quên tinh tấn. Có hiểu như vậy mói gọi là niệm. Cho nên niệm cốt ở tâm, chẳng ở lời nói.
Mượn nơm đơm cá, được cá cần quên nơm.
Mượn lời cầu ý, được ý cần quên lời.
Ðã xưng niệm Phật trên danh từ, nên biết niệm Phật trong đạo lý.
Nếu tâm không thực, thì miệng niệm tụng tiếng suông, ba độc chất chồng, nhân ngã chèn lấp.
Ðem tâm vô minh hướng ngoài cầu Phật, nhọc sức ích gì.
Vả, tụng với niệm, nghĩa lý còn khác nhau xa.
Tại miệng, gọi là tụng.
Tại tâm, gọi là niệm.
Thế mới biết:
Niệm theo tâm khởi, đó là giác hạnh - cửa huyền.
Tịnh theo miệng ra, đó là âm thanh - tướng dối.
Nên biết chư thánh ngày xưa tu niệm Phật, phải đâu nói ngoài miệng, chính là tìm xét trong tâm.
Tâm là nguồn của mọi pháp lành.
Tâm là chủ của muôn công đức.
Niết bàn thường vui do tâm mà ra.
Ba cõi lăn lóc cũng theo tâm dậy.
Tâm là cửa, là ngỏ của đạo xuất thế.
Tâm là bến, là ải của đạo giải thoát.
Cửa ngỏ đã biết, há lo khó vào?
Bến ải đã rõ, há ngại chẳng thông?
Cho nên nhiếp tâm được thì trong chiếu soi; giác quán được thì ngoài tỏ sáng.
Dứt ba độc khiến ngàn thuở tiêu tan.
Nhốt sáu giặc khiến bặt đường phá rối.
Tự nhiên hằng sa công đức, thảy thảy trang nghiêm.
Vô số pháp môn mỗi mỗi thành tựu.
Vượt lên phàm, chứng vào thánh, mắt chẳng động xao.
Ngộ tại chốc liền, đợi gì lâu lắc.
Cửa chân sâu kín, thuật đủ được sao, đây chỉ trình bày sơ phép quán tâm đôi phần vậy.
Và kệ nói rằng:
1.- Ngã bổn cầu tâm tâm tự trì,
Cầu tâm bất đắc đãi tâm tri.
Phật tánh bất tòng tâm ngoại đắc,
Tâm sanh tiện thị tội sanh thì.
Ta vốn cầu tâm tâm tự trì,
Cầu tâm chớ khá đợi tâm tri.
Tánh Phật ngoài tâm không chứng được,
Tâm sanh thì tội phát liền khi.
2.- Ngã bổn cầu tâm bất cầu Phật,
Liễu tri tam giới không vô vật.
Nhược dục cầu Phật đản cầu tâm,
Chỉ giá tâm tâm tâm thị Phật.
Ta vốn cầu tâm chẳng cầu Phật,
Rõ ra ba cõi không một vật.
Ví muốn cầu Phật thà cầu tâm,
Chỉ tâm tâm tâm ấy tức Phật.
GHI CHÚ:
(1) Người Tàu ngày xưa gọi lầm chung một số sắc dân xung quanh nước Tàu là Hồ, rợ Hồ (Perse), như tiếng Ấn gọi là Hồ ngữ, sư Ấn gọi là Hồ tăng.
(2) Assamkhya.
(3) Paramita.
(4) Nhũ mi: chất tinh túy nhất rút ra từ chất sữa bò, dê, thường gọi là đề hồ (crème).
CỬA THỨ BA: NHỊ CHỦNG NHẬP
Phàm vào đạo có nhiều đường nhưng nói cho cùng thì không ngoài hai đường này:
Một là lý nhập.
Hai là hạnh nhập.
I. LÝ NHẬP: là mượn "giáo" để ngộ vào "tông", tin sâu rằng tất cả sanh linh đều chung đồng một chân tánh, chỉ vì khách trần bên ngoài và vọng tưởng bên trong che lấp nên chân tánh không hiển lộ được.
II. HẠNH NHẬP: là nói về bốn hạnh, ngoài ra các hạnh khác đều bao gồm trong ấy.
Bốn hạnh là gì?
- Một là báo oán hạnh.
- Hai là tùy duyên hạnh.
- Ba là vô sở cầu hạnh.
- Bốn là xứng pháp hạnh

2. TÙY DUYÊN HẠNH
Chúng sanh đều do duyên nghiệp chuyển thành, chẳng có cái tôi. Mọi nỗi khổ vui đều do nhân duyên sanh. Nếu nay được quả báo tốt, hưởng đủ vinh dự, ấy là do nhân lành thuở trước cảm nên, nay mới được vậy. Hễ hết duyên thì lại hoàn không, mừng vui nỗi gì? Ðược mất đều tùy theo duyên, nhưng tâm người không vì vậy được thêm hoặc bớt mất.
Nếu thấu đáo được vậy thì gió vui chẳng động, lặng lẽ mà thuận đạo, nên nói là hạnh tùy thuận theo duyên nghiệp.

CỬA THỨ TƯ: AN TÂM PHÁP MÔN
Khi mê, người đuổi theo pháp.
Lúc tỉnh, pháp đuổi theo người.
Tỉnh, ấy tâm thức thâu nhiếp vật sắc.
Mê, ấy vật sắc thâu nhiếp tâm thức.
Chỉ một chút phân biệt cân nhắc của tâm là tự nơi mình mọi hiện tượng đều là mộng cả

CỬA THỨ NĂM: NGỘ TÁNH LUẬN
Phàm là đạo, phải lấy sự tịch diệt làm thể, còn tu lấy sự lìa tướng làm tông.
Kinh nói: lìa tất cả mọi hình tướng tức gọi là chư Phật.
Nên biết tướng là có tướng mà không tướng, không thể thấy bằng mắt, chỉ biết được bằng trí.
Kinh nói: Hang ổ của năm uẩn là tên gọi của thiền viện.
Chiếu sáng bên trong mà mở thông suốt, tức là cửa đại thừa.
Chẳng nhớ tưởng một pháp nào mới gọi là thiền định.
Ví hiểu rõ lời ấy thì đứng, đi, nằm, ngồi thảy đều thiền định cả.
Biết tâm vốn không, đó gọi là thấy Phật.
Khi mê thì thấy có thế gian cần thoát ra.
Khi ngộ thì không có thế gian nào để thoát ra cả.
Kinh nói: Pháp bình đẳng ấy phàm phu không thể vào, bậc thánh cũng không thể hành được.
Pháp bình đẳng ấy chỉ có hàng Bồ tát lớn và chư Phật Như lai mới hành được.
Nếu thấy sống khác với chết, động khác với tịnh, đó gọi là chẳng bình đẳng.
Chẳng thấy phiền não khác với Niết bàn, ấy gọi là bình đẳng
Tại sao vậy?
Vì phiền não với Niết bàn đều chung đồng một tánh không vậy.
Do đó, hàng tiểu thừa vọng dứt phiền não, vọng vào Niết bàn, nên trệ ở Niết bàn.
Hàng Bồ tát, trái lại biết rõ tánh không của phiền não, tức chẳng lìa bỏ cái không, nên lúc nào cũng ở tại Niết bàn.
Phàm nói Niết bàn: Niết là không sanh, bàn là không tử.
Vì phàm phu mỗi mỗi đều có xu hướng sanh tâm nên gọi là "có".
Hàng tiểu thừa, mỗi mỗi đều có xu hướng diệt tâm nên gọi là "không".
Hàng Bồ tát và Phật chưa từng sanh tâm, chưa từng diệt tâm nên gọi là "chẳng phải có tâm, chẳng phải không tâm".
Tâm chẳng có chẳng không gọi là trung đạo
Bởi vậy đem tâm học pháp thì tâm pháp thảy đều mê.
Chẳng đem tâm học pháp ắt tâm pháp thảy đều ngộ.
Phàm mê là mê ở ngộ.
Còn ngộ là ngộ ở mê.
Bậc chánh kiến hiểu tâm vốn "không vô" tức vượt lên mê ngộ.
Kinh nói: "Không thấy tướng gọi là thấy Phật", tức là lìa hình tướng của tâm. "Lìa Phật không tâm" là nói Phật từ tâm ra.Tâm có thể sanh Phật, nên Phật theo tâm sanh, nhưng Phật chưa hề sanh ra tâm bao giờ.

CỬA THỨ SÁU: HUYẾT MẠCH LUẬN
Nếu biết tâm mình là Phật, thì chẳng nên tìm Phật ngoài tâm.
Phật chẳng độ Phật.
Ðem tâm tìm Phật tức không hiểu Phật.
Kẻ nào tìm Phật ở ngoài, kẻ ấy hoàn toàn chẳng biết tâm mình là Phật.
Cũng đừng đem Phật ra lạy Phật.
Ðừng đem tâm ra niệm Phật.
Phật chẳng tụng kinh.
Phật chẳng giữ giới.
Phật chẳng phạm giới.
Phật chẳng giữ chẳng phạm, cũng chẳng tạo lành, tạo dữ.
Nếu muốn tìm Phật phải cần thấy tánh.
Tánh tức Phật.
Nếu chẳng thấy tánh thì chay lạt, giữ giới đều vô ích.
Niệm Phật thì được nhân tốt.
Tụng kinh thì được thông minh.
Giữ giới thì được sanh lên cõi trời.
Bố thí thì được phước báo.
Nhưng tìm Phật bằng những cách ấy quyết chẳng được vậy.


Nếu tự mình không sáng tỏ, cần tham vấn các bậc thiện trí thức để thấu rõ nguồn gốc sanh tử.
Nếu không thấy tánh thì chẳng được gọi là thiện trí thức.
Nếu chẳng được vậy thì phỏng có giảng nói được mười hai bộ kinh vẫn không thoát khỏi vòng sanh tử, vẫn chịu nỗi khổ trong ba cõi không hẹn ngày ra.
Xưa có Tỳ kheo Thiện Tinh (1) tụng làu làu mười hai bộ kinh, nhưng vẫn không thoát sanh tử luân hồi, chỉ vì không thấy tánh. Thiện Tinh kia còn vậy, huống nữa người đời nay mới giảng được năm ba bộ kinh đã coi đó là pháp Phật thì là kẻ ngu vậy.
Nếu không thấu rõ được tự tâm thì tụng đọc kinh sách gì cũng chỉ là hư văn, không dùng vào đâu được.
Nếu cốt tìm Phật, trực tiếp cần thấy tánh.
Tánh tức là Phật.
Phật là người tự tại, là người vô tác.
Nếu không thấy tánh thì suốt ngày lăng xăng cầu cạnh, tìm kiếm Phật ở ngoài, đời nào gặp được, dù rằng rốt cuộc không một vật nào khá hơn.
Nếu cần thông hiểu nên tham vấn bậc thiện trí thức, nên thiết tha mà tu, công khó mà cầu, đem tâm hội giải lớn vấn đề lớn về sanh tử, đừng bỏ trôi suông, tự phỉnh mình vô ích.
Ví châu báu chất cao như núi, bà con nhiều như cát sông Hằng, mở mắt thấy đó, nhắm mắt thấy gì đâu? Mới hay mọi pháp hữu vi đều là mộng mị. Nếu chẳng gấp tìm thầy, ắt uổng kiếp sống buông xuôi trong khi tánh Phật mình vẫn sẵn có.
Nếu không nhờ thầy, quyết chẳng sáng tỏ được.
Không thầy mà ngộ, điều ấy hiếm lắm.
Nếu tự mình nhờ cơ duyên tốt mà thông suốt được thánh ý, đó là hàng thắng học, sanh ra đã biết.
Nếu chưa thông rõ, nên siêng năng khổ học, nương theo giáo phương (2) để chứng ngộ.
Nếu tự mình sáng tỏ được thì chẳng cần học, khác với kẻ mê trắng đen không phân rõ lại còn lếu láo tuyên lời Phật dạy, báng Phật chê pháp. Các vị ấy nói pháp như mưa: đó là ma nói, chẳng phải Phật nói. Thầy là vua ma, học trò là dân ma.
Kẻ mê mặc sức múa máy theo người, phút chốc đọa sanh tử. Ðó là những người không thấy tánh xưng càn là Phật. Hạng chúng sanh ấy phạm tội lớn, phỉnh gạt tất cả chúng sanh đưa vào vòng ma giới.
Nếu không thấy tánh thì dù giỏi nói mười hai bộ kinh vẫn là ma nói. Ðó là hàng bà con của nhà ma, chẳng phải học trò của nhà Phật.
Ðã chẳng phân rõ trắng đen, bằng vào đâu mà thoát sanh tử?
Nếu thấy tánh tức là Phật.
Không thấy tánh tức là chúng sanh.
Nếu lìa tánh chúng sanh thì không có tánh Phật nào khác chứng được.
Phật nay tại nơi đâu?
Tánh chúng sanh tức là tánh Phật vậy.
Ngoài tánh không Phật.
Phật tức là tánh.
Trừ tánh ấy ra, không Phật nào có được.
Ngoài Phật, không tánh nào có được.
Hỏi: Nếu không thấy tánh thì niệm Phật, tụng kinh, bố thí, giữ giới, tinh tấn, rộng ban điều phước lợi có thành Phật được không?
Ðáp: Không được.
Lại hỏi: Sao không được?
Ðáp: Nếu có chút pháp nào chứng được thì đó là pháp hữu vi - pháp nhân quả, pháp thọ báo, pháp luân hồi. Không sáng tỏ lẽ sống chết, đời thuở nào thành được Phật đạo?
Thành Phật cần thấy tánh.
Nếu không thấy tánh thì nói gì về nhân quả vẫn chỉ là pháp ngoại đạo.
Nếu là Phật, chớ tập pháp ngoại đạo.
Phật là người không nghiệp, không nhân quả.
Nói có chút pháp nào đó có thể thành được quyết là phỉ báng Phật. Dựa vào đâu mà thành được chứ? Ðó là sự chấp trước ở một "tâm", một "năng", một "giải", một "kiến", điều ấy Phật có hứa bao giờ đâu.
Phật không giữ, không phạm giới.
Tâm tánh vốn không cũng chẳng dơ sạch.
Các pháp đều không tu không chứng, không nhân không quả.
Phật chẳng giữ giới.
Phật chẳng tu hành.
Phật chẳng tạo dữ.
Phật chẳng tinh tấn
Phật chẳng biếng lười.
Phật là người vô tác.
Cho nên đem tâm trụ trước ra thấy Phật, không đâu hứa có vậy.
Phật chẳng là Phật.
Nếu không thấy được nghĩa ấy thì bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, đều không tỏ được bổn tâm.
Nếu không thấy tánh thì bất cứ lúc nào, bất cứ nghĩ gì hoặc không nghĩ gì, đều là kẻ đại tội, là người si, đắm giữ cái không vô ký, ngầy ngật như người say, chẳng rõ phân tốt xấu.
Nếu muốn tu pháp vô tác, trước cần thấy tánh, sau đó tự nhiên dứt lo.
Nếu không thấy tánh mà thành được Phật đạo, không đâu có được.
Có người phá bỏ lẽ nhân quả, thẳng tay tạo nghiệp dữ, nói càn tất cả là không, tạo ác không gì hơn, hạng người ấy đọa địa ngục vô gián mãi mãi không hẹn ngày ra.
Nếu là người trí, chớ có lối kiến giải như vậy.
Hỏi: Nếu trong bất kỳ lúc nào, bất cứ cử chỉ hành động nào cũng đều là tự tâm, sao trong khi mang sắc thân vô thường này tôi không thấy được bổn tâm?
Ðáp: Bổn tâm luôn ở trước mắt, tại ngươi không chịu thấy?
Hỏi: Tâm ở trước mất sao tôi không thấy?
Sư hỏi: Ngươi thường nằm mộng chứ?
Ðáp: Thường nằm mộng.
Hỏi: Trong khi ngươi nằm mộng thì đó là bổn thân ngươi chứ?
Ðáp: Ðúng là bổn thân tôi.
Lại hỏi: Lời nói và việc làm của ngươi trong lúc ấy có khác hay chẳng khác với chính ngươi?
Ðáp: Chẳng khác.
Sư nói: Nếu chẳng khác thì thân ấy tức là pháp thân ngươi, pháp thân ấy tức là bổn tâm ngươi.
Tâm ấy từ vô số kiếp đến nay vẫn y như hiện giờ, chẳng sai khác, chưa từng có sống chết, chẳng sanh chẳng diệt, chẳng thêm chẳng bớt, chẳng sạch chẳng dơ, chẳng tốt chẳng xấu, chẳng qua chẳng lại, cũng không phải trái, cũng không tướng nam nữ, cũng không tăng tục, già trẻ, không thánh phàm, cũng không Phật không chúng sanh, không tu chứng, không nhân quả, không gân cốt, không tướng mạo, giống như hư không , nắm chẳng được, bỏ chẳng được, núi sông tường đá không ngăn nổi, ẩn hiện qua lại thần thông tự tại, vượt núi ngũ uẩn, qua dòng sanh tử, không một nghiệp nào trói buộc được pháp thân ấy.
Tâm ấy vi diệu khó thấy.
Tâm ấy chẳng giống sắc tâm.
Chính từ trong ánh sáng của tâm ấy ứng dụng lên tất cả hành động, tay đưa chân bước.
Cũng như hỏi về số cát sông Hằng thì ai trả lời được, đành trơ như người gỗ. Cũng vậy, tâm là thọ dụng của chính ngươi, sao ngươi không biết lại đi hỏi người khác
Pháp thân thường trụ, nhưng không chỗ trụ. Pháp thân Như lai hằng còn không đổi khác, nên kinh nói: Chúng sanh nên biết bổn tánh Phật vốn sẵn tự có đủ đó,
Ca Diếp chính là người ngộ được bổn tánh này.
Bổn tánh tức là tâm.
Tâm tức là tánh.
Tức chung đồng với tâm chư Phật.
Phật trước Phật sau chỉ truyền tâm ấy.
Trừ tâm ấy ra, không Phật nào có thể được.
Chỉ cần biết tự tâm.
Ngoài tâm: rốt không có Phật nào khác.
Kinh nói: Phàm cái gì có tướng đều là dối trá.
Lại nói: chính tại nơi đây mới là có Phật.
Tự tâm là Phật.
Ðừng nên đem Phật lễ Phật như vậy.
Ví bỗng dưng hiện ra trước mắt tướng mạo Phật cùng Bồ tát, quyết đừng nên kính lạy.
Tâm mình vốn không tịch, không hề có những tướng mạo ấy.
Nếu giữ tướng tức là ma, rơi vào nẻo tà, chẳng qua đó là những bóng dáng do tâm dấy lên, đừng nên lễ lạy.
Người lạy ắt không biết.
Người biết ắt không lạy.
Tâm mình vốn thanh tịnh: không đâu có thể có những tướng mạo như trên. Cho đến các loại tướng của thiên long, dạ xoa, quỷ thần, Ðế thích, Phạm vương cũng chớ nên đem lòng kính trọng, cũng chớ sợ sệt.
Tâm mình vốn không tịch. Tất cả tướng mạo đều là vọng tưởng. Chớ nên giữ tướng.
Nếu mống lòng thấy Phật, thấy pháp cùng các thứ tướng mạo của Phật, Bồ tát khởi lòng kính trọng, đó là tự mình đọa vào địa vị của chúng sanh.
Hỏi: Tại sao không nên bái lạy chư Phật và Bồ tát?
Ðáp: Các loài thiên ma ba tuần, a tu la cũng có thể dùng phép thần thông tạo ra tướng mạo Bồ tát, biến hóa đủ cách, toàn là ngoại đạo, nào phải là Phật đâu. Phật là tự tâm, chớ lầm bái lạy.
Phật là tiếng của nước Tây Thiên Trúc (Ấn Ðộ), tại đây (Trung Quốc) gọi là giác tánh.
Giác tức là linh giác: ứng đối với cơ duyên, tiếp xúc với sự vật (ứng cơ tiếp vật). Ngẩng mày nheo mắt, cử động tay chân, đều do tánh linh giác của chính mình.
Tánh tức là tâm.
Tâm tức là Phật.
Phật tức là đạo.
Ðạo tức là thiền.
Chỉ một chữ thiền, thánh và phàm chẳng suy lường nổi.
Thấy thẳng tánh mình thì gọi là thiền.
Nếu chẳng thấy tánh, tức không phải thiền.
Phật trước Phật sau chỉ nói thấy tánh.
Muôn vật đều vô thường.
Nếu không thấy tánh lại nói càn rằng "ta được quả chánh đẳng chánh giác", ấy là kẻ đại tội.
Trong hàng mười đệ tử lớn của Phật, ngài A Nan là "đệ nhất đa văn", ở với Phật mà không thông hiểu gì hết, chỉ cốt học nhiều.
Hạng Thanh văn và Duyên giác, cùng ngoại đạo cũng không hiểu Phật, chấp vào mấy từng tu chứng, đọa vào nhân quả, chịu báo chúng sanh, không tỏ sanh tử, đi ngược ý Phật, đó là chê bai Phật, tội không gì hơn.
Nếu thấy tâm mình là Phật thì không cần cắt tóc cạo râu.
Hàng áo trắng (1) vẫn là Phật.
Nếu không thấy tánh, cắt tóc cạo râu, vẫn là ngoại đạo.
Hỏi: Hàng áo trắng có vợ con, dâm dục không trừ, bằng vào đâu thành Phật được?
Ðáp: Tôi chỉ nói thấy tánh, chẳng nói dâm dục. Chỉ cần thấy được tánh mới vỡ lẽ rằng từ vô thỉ dâm dục vẫn là không tịch, chẳng có gì phải dối trá dứt trừ, mà cũng chẳng mắc vào dục lạc. Tại sao vậy? Vì tánh của mình vốn thanh tịnh, dù nó trụ ở sắc thân năm uẩn. Tánh ấy bổn lai thanh tịnh, không gì có thể nhuốm dơ được. Pháp thân bổn lai tự nó có, không do ai ban cho, không đói khát, không lạnh nóng, không bịnh, không ân ái, không bà con, không khổ vui, không xấu tốt, không dài ngắn, không mạnh yếu. Bổn lai không một vật nào khá được, vì chấp có sắc thân này nên mới có đủ tướng nóng lạnh, đói khát, chứng bịnh đủ thứ. Nếu chẳng chấp thì mặc tình đi đứng, được tự tại giữa dòng sống chết, chuyển vận tất cả pháp, cùng với thánh nhân tự tại vô ngại như nhau, không đâu chẳng an.
... Nếu thấy tánh, chiên đà la (2) cũng thành Phật được.
Hỏi: Chiên đà la gây nghiệp giết chóc, sao gọi là thành Phật được?
Trời Tây hăm tám Tổ sư Thiền đều lần lượt truyền tâm ấn cho nhau.
Ta nay tới xứ này cũng chỉ vì truyền một tâm ấy không luận về giới thí, tinh tấn, khổ hạnh, cả đến việc vào nước lửa, lên lưỡi gươm, chay lạt ngày một lần, ngồi hoài không nằm, thảy thảy chỉ là pháp hữu vi của ngoại đạo.
Ví ý thức được tánh linh giác của chính mình trong mọi cử động hành vi, tức ý thức được tâm Phật.
Nếu biết giận vui vẫn là tánh không thì chỉ cần đừng chấp tức thoát khỏi mọi nghiệp.
Nếu tụng kinh mà không thấy tánh, điều ấy quyết không bằng vào đâu cả, mà nói mấy vẫn không cùng.
Nếu sợ lẽ chánh tà trên, chẳng qua chỉ đôi phần thôi vậy.
GHI CHÚ:
(1) Áo trắng: người tu tại nhà.
(2) Chiên đà la: hạng hèn mạt ở Ấn độ, coi như thú vật, ai thấy cũng phải tránh sa sợ nhiễm dơ, chuyên sống về nghề hàng thịt, giết trâu bò.
(3) Bài kệ này báo trước hậu vận của đạo Thiền. Một hoa (hoa Ấn độ) là Bồ Ðề Ðạt Ma; năm cánh (cánhTrung hoa) là năm vị tổ kế tiếp truyền tâm ấn Phật: Huệ Khả, Tăng Xán, Ðạo Tín, Hoằng Nhẫn và Huệ Năng. Sau Huệ Năng là thời kỳ "tự nhiên trái kết thành", thiền phong lên như vũ bão với các Sư Huyền Giác, Thạch Ðầu, Bàng Uẩn, Mã Tổ, Lâm Tế v.v... không học mà ngộ, không tu mà chứng.
(4) Bài tụng này báo trước ngày Tổ Ðạt Ma viên tịch. Ba câu chiết tự chữ NGÔ là ta, do chữ NGŨ (năm) - KHẨU (MIỆNG) thành chữ NGÔ (ta). Ý nói "ta" sẽ thâu thần vào cõi Niết bàn tịch diệt (vô bỉ ngã) vào ngày 9 (cửu) tháng 10 (thập), nhằm năm Bính Thìn (536) triều nhà Lương, năm Ðại Thông thứ 2. Ðó là ngày vía của Tổ Ðạt Ma.
CĂN BẢN PHÁP của THIỀN ÐẠT MA
- I -
Ðạt Ma xa trông xứ này có chân khí đại thừa bèn phăng phăng cỡi sóng sang đây truyền riêng tâm ấn, vạch rõ bùn mê, mở pháp "Chẳng lập văn tự, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật".
Võ Ðế từng đắp cà sa, tự giảng kinh Phóng Quang Bát Nhã, cảm đến hoa trời ngổn ngang rơi xuống đất hóa vàng, biện đạo nêu Phật, dạy bảo thiên hạ, cất chùa độ tăng, dựa theo giáo nghĩa (4) tu hành, người người tôn là vị thiên tử có tâm Phật.

Thoạt tiên gặp Ðạt Ma, Võ Ðế hỏi: "Trẫm cất chùa độ tăng, có công đức gì?" Ma đáp: "Không công đức".

BẠT: HUYỀN THOẠI BỒ ÐỀ ÐẠT MA
Sống là đạo, ngoài ra không có đạo nào khác. Ðạo nào khác đều tìm thánh bỏ phàm, đều ham ngộ ghét mê, đều bỏ đời cầu đạo, đều tự trói buộc mình:
"Bất dữ phàm thánh đồng triền,
Siêu nhiên danh chi viết Tổ"
(Chẳng cùng phàm thánh sánh vai,
Vượt lên mới gọi là Tổ).
Cho nên bất cứ phương tiện nào của cuộc sống cũng là đạo. Bắt nguồn tự vách núi Tung Sơn, đạo sống Thiền thấm nhuần khắp giải đất Á Ðông, nung sanh lực cho mấy ngàn năm văn hóa.

Cho nên uống trà cũng là đạo, trà đạo: trà thiền nhất vị
Võ thuật cũng là đạo, nhu đạo: đạo lấy mềm thắng cứng.
Cắm hoa, viết chữ, bắn cung cũng là đạo, đạo luyện phép vô tâm, để cho sự vật tự nó sắp xếp một cách viên mãn nhứt.
Cho đến xách nước, bửa cũi cũng là đạo:
Bửa củi là diệu dụng,
Xách nước ấy thần thông.
(Bàng Uẩn)
Im lặng cũng là đạo:
Ði cũng thiền, ngồi cũng thiền,
Nói, im, động tịnh thể an nhiên.
(Huyền Giác)


Sau khi Tổ viên tịch, vấn đề giải thoát được nêu lên với tất cả tinh thành của hàng đệ tử. Người ta tự hỏi nhau: "Tổ truyền gì cho Huệ Khả? Bí quyết của pháp Phật là gì? Huyết mạch của đạo thiền là gì? Thực chất của giác ngộ là gì? v.v...". Bao nhiêu câu hỏi nóng hổi đặt dài theo bước chân người cầu đạo suốt mười lăm thế kỷ, và có thể đúc kết lại trong câu hỏi độc đáo sau đây của phép tu thiền: "Như hà nhị Tổ sư lai ý". (Ý nghĩa tối yếu của việc Tổ sư qua Tàu là gì?).

PHỤ LỤC TIỂU SỬ SƯ BỒ ÐỀ ÐẠT MA
Tổ thứ 28 Bồ Ðề Ðạt Ma (Bodhidharma) là người nước Quốc Hương, thuộc Nam Thiên Trúc (Dekhan), tức Ấn Ðộ, con thứ ba của vua Chí Vương, dòng Sát đế lỵ, tên tục là Bồ Ðề Ða La (Bodhitara).
Nhân đến Quốc Hương thọ lễ cúng dường của nhà vua, Tổ thứ 27, Bát Nhã Ða La (Prajnâtara) gặp Bồ Ðề Ða La, nhận thức ở vị hoàng tử này nhiều nét đặc biệt, mới thử bảo cùng hai anh biện luận về chữ Tâm. Thấy Bồ Ðề Ða La phát minh được yếu điểm của tâm, Tổ mới kêu đến và nói: "Hoàng tử đối với chư pháp đã được thông lượng, mà Ðạt Ma có nghĩa là thông đạt rộng lớn, vậy hoàng tử nên lấy tên là Bồ Ðề Ðạt Ma". Hoàng tử nhận và bái tổ thứ 27 làm thầy.
Nhớ lời Tổ dặn phải xuất dương mới thành đạo nghiệp vĩ đại, Bồ Ðề Ðạt Ma vào độ gần tám mươi tuổi xuống thuyền ra khơi Nam Hải. Triều nhà Lương bên Trung Quốc, năm Phổ thông thứ 8, nhằm mồng một tháng mười năm Ðinh Mùi (520) sau T.C.), thuyền đến Quảng Châu, thứ sử tỉnh nầy lấy lễ nghinh tiếp và dâng biểu về triều báo tin. Lương Võ Ðế sai sứ đi thỉnh về thành đô là Kim Lăng. Ðế hỏi:
- Trẫm từ lên ngôi đến nay, xây chùa, chép kinh, độ tăng không biết bao nhiêu mà kể. Vậy có công đức gì không?
Sư Ðạt Ma đáp:
- Ðều không có công đức.
- Tại sao không công đức.
- Bởi vì những việc vua làm là nhân "hữu lậu", chỉ có những quả nhỏ trong vòng nhân thiên, như ảnh tùy hình, tuy có nhưng không phải thật.

- Vậy công đức chân thật là gì?
- Trí phải được thanh tịnh hoàn toàn. Thể phải được trống không vắng lặng, như vậy mới là công đức, và công đức này không thể lấy việc thế gian (như xây chùa, chép kinh, độ tăng) mà cầu được.


Vua lại hỏi:
- Nghĩa tột của thánh đế là gì?
- Một khi tỉnh rõ, thông suốt rồi thì không có gì là thánh.
- Ai đang đối diện với trẫm đây?
- Tôi không biết.
Sau câu chuyện đối đáp này, Sư biết tâm vua không khế hợp được với pháp mình,
Thần Quang khóc, bạch:
- Cúi xin Hòa thượng từ bi mở cửa cam lộ, rộng độ quần sanh.
- Diệu đạo của chư Phật phải nhiều kiếp tinh tấn, cần mẫn làm cho được những việc khó làm, nhẫn cho được những điều khó nhẫn, hàng đức nhỏ, trí nông, lòng đầy khinh khi, kiêu ngạo, há chịu nổi nhọc nhằn khổ cực sao mà muốn học phép chân thừa.
Thần Quang nghe Sư quở, bèn lấy dao bén, tự đọan cánh tay trái, để chứng minh lòng thành khẩn cầu đạo của mình. Sư biết gặp được "pháp khí" (nghĩa là một khí dụng tốt để truyền bá chánh pháp).
Bèn nói:
- Chư Phật, lúc phát tâm cầu đạo, dám vì pháp bỏ thân, nay ông chặt tay trước mặt tội, vậy ông muốn cầu gì?
Nói xong Sư bèn đổi tên Thần Quang ra Huệ Khả.
Thần Quang bạch:
- Có thể nghe pháp ấn của chư Phật chăng?
- Pháp ấn của chư Phật, không phải tùng người mà được.
- Nhưng tâm tôi chưa được an bình thì làm thế nào? Xin Sư cho tâm tôi được an bình.
- Thì ông đưa tâm đây. Sư đáp, ta sẽ cho.
- Tôi tìm tâm mãi mà chưa được.
- Thế là ta đã an tâm cho ngươi rồi.
Chín năm trôi qua, từ khi Sư đến Trung Quốc, Sư có ý muốn hồi hương, cho nên kêu các đệ tử nói: "Giờ ta ra đi sắp tới, vậy mỗi đệ tử hãy nói cho ta nghe sở đắc của mình".
Ðạo Phó bạch:
- Theo chỗ thấy của tôi, muốn thấy đạo phải chẳng chấp văn tự, mà cũng chẳng lìa văn tự.
Sư đáp:
- Ông được lớp da của tôi rồi.
Tổng trì Ni nói:
- Chỗ giải của tôi như cái mừng vui thấy nước Phật (tâm) bất động, thấy được một lần, sau không thấy lại nữa.
Sư nói:
- Bà được phần thịt của tôi rồi.
Ðạo Dục, một đệ tử khác, bạch:
- Bốn đại vốn không, năm uẩn chẳng phải thật có, vậy chỗ thấy của tôi là không một pháp nào khả được.
Sư đáp:
- Ông được bộ xương của tôi rồi.
Rốt hết, tới phiên Huệ Khả. Huệ Khả lễ bái Sư rồi đứng ngay một chỗ, không bạch không nói gì cả. Sư bảo:
- Ông được lớp mỡ trong ống xương tôi rồi.
Rồi ngó Huệ Khả, Sư nói tiếp:
- Xưa Như Lai trao "Chánh pháp nhãn tạng" cho Bồ tát Ca Diếp, từ Ca Diếp chánh pháp được liên tục truyền đến ta. Ta nay trao lại cho ngươi; nhà ngươi khá nắm giữ, luôn với áo cà sa để làm vật tin. Mỗi thứ tiêu biểu cho một việc, ngươi nên khá biết.
Huệ Khả bạch:
- Thỉnh Sư chỉ bảo cho.
Sư nói:
Trong, truyền pháp ấn để khế chứng tâm; ngoài, trao cà sa để định tông chỉ. Ðời sau, trong cảnh cạnh tranh, nếu có người hỏi ngươi con cái nhà ai, bằng vào đâu mà nói đắc pháp, lấy gì chứng minh, thì ngươi đưa bài kệ của ta và áo cà sa ra làm bằng. Hai trăm năm sau khi ta diệt rồi, việc truyền y dừng lại. Chừng ấy, đâu đâu người hiểu đạo và nói lý rất nhiều, còn người hành đạo và thông lý rất ít, vậy ngươi nên cố xiển dương đạo pháp, đừng khinh nhờn những người chưa ngộ. Bây giờ hãy nghe bài kệ của ta;
Ngô bổn lai tư thổ,
Truyền pháp cứu mê tình.
Nhất hoa khai ngũ diệp,
Kết quả tự nhiên thành.
Dịch:
Ta đến đây với nguyện,
Truyền pháp cứu người mê.
Một hoa nở năm cánh,
Nụ trái trổ ê hề.
Sư lại nói thêm: "Ta có bộ kinh Lăng Già bốn cuốn, nay cũng giao luôn cho ngươi, đó là đường vào tâm giới, giúp chúng sanh mở được cửa kho tri kiến của Phật. Ta từ Nam Ấn sang đến phương Ðông này, thấy Xích Huyện Thần Châu có đại thừa khí tượng, cho nên vượt qua nhiều nơi, vì pháp tìm người. Nhưng bao nhiêu cuộc gặp gỡ không làm ta mất lòng, bất đắc dĩ phải ừ hử vậy thôi. Nay được ngươi để truyền thọ y pháp, ý ta đã toại! Nói xong, Sư cùng đệ tử đến chùa Thiên Thánh lưu lại ba hôm.
Có người tên là Thành Thái, tự Dương Huyễn, sớm mộ phương tu thành Phật, đến hỏi:
- Nghe Sư bên Tây Thiên, thừa tiếp pháp ấn làm Tổ, vậy xin dạy cho con biết con đường đưa đến vị Tổ như thế nào?
Sư đáp:
- Sáng rõ Phật là tâm, nói làm cho phù hợp, đó gọi là Tổ.
- Ngoài ra còn gì không?
- Nên sáng tâm người, biết rành kim cổ, chẳng chán có không, đối pháp chẳng nắm, chẳng hiền chẳng ngu, không mê không ngộ. Giải được như thế, đáng xưng là Tổ
Sư biết lòng Thành Thái đã đúng mức, liền nói bài kệ như sau:
Diệc bất đổ ác nhi sanh hiềm,
Diệc bất quán thiện nhi cần thố.
Diệc bất xả trí nhi cận ngu,
Diệc bất phao mê nhi tựu ngộ.
Ðạt đại đạo hề quá lượng,
Thông đạt tâm hề xuất độ,
Bất dử thánh phàm đồng triền,
Siêu nhiên danh chi viết Tổ.
Dịch:
Cũng đừng thấy dữ mà sanh chê,
Cũng đừng thấy lành mà ái mộ.
Cững đừng bỏ trí mà gần ngu,
Cũng đừng buông mê mà cầu ngộ.
Ðược vậy thì:
Ðến đại đạo rộng vô lượng,
Thông Phật tâm muôn cứu độ.
Chẳng ước thánh phàm sánh vai,
Vượt trên đối đải gọi là Tổ.
Thành Thái nghe kệ nửa vui nửa xót, bạch:
- Xin Sư ở lâu thế gian để hóa đạo quần chúng hữu tình.
- Ta sắp đi đây, không thể ở lâu; người đời căn tánh muôn sai, ta đã gặp nhiều hoạn nạn rồi.
- Ai làm hại Sư, xin cho biết, đệ tử nguyện trừ.
- Ai đã đem bí mật của Phật ra truyền để lợi ích quần mê, nay hại người để mình an, làm sao có lý ấy đặng?!
- Sư chẳng nói, lấy gì tiêu biểu cho sức thông biết khắp cùng của Sư?
Sư không đáp, đọc một bài kệ sau đây có tính cách như một bài sấm:
Giang tra phân ngọc lãng,
Quản cự khai kim tỏa.
Ngũ khẩu tương cộng hành,
Cửu thập vô bỉ ngã.
Dịch:
Thuyền lướt, chia sóng ngọc,
Ðuốc nêu, mở khóa vàng.
Năm miệng đồng cùng khứ
Chín, mười hết ta, chàng.
Tổ Bồ Ðề Ðạt Ma được nhà vua phong là Viên Giác Thiền Sư, còn ngọn tháp của Tổ gọi là Không Quán. Thiền tông Trung Hoa tôn Tổ làm Sơ Tổ.
CHÁNH TÍN (Viết theo sách Truyền Ðăng Lục)
------
Hỏi: Nếu không thấy tánh thì niệm Phật, tụng kinh, bố thí, giữ giới, tinh tấn, rộng ban điều phước lợi có thành Phật được không?
Ðáp: Không được.
Lại hỏi: Sao không được?
Ðáp: Nếu có chút pháp nào chứng được thì đó là pháp hữu vi - pháp nhân quả, pháp thọ báo, pháp luân hồi. Không sáng tỏ lẽ sống chết, đời thuở nào thành được Phật đạo?

------
. Chính chỗ đó mà ngày xưa các vị Tổ đã từng dạy nhau, như ngài Huệ Hải mà chúng ta học vừa rồi, Ngài
tới Mã Tổ Ngài cũng hỏi về Phật pháp.
Mã Tổ nói: Ta không có pháp dạy người mà hỏi cái gì? Mỗi người tự có kho báu dẫy đầy không chịu trở về tìm rồi đi hỏi chi?
- Cái gì là kho báu của Huệ Hải?
- Cái ông hỏi ta đó.
----
nên ngoài tâm mà tìm Phật. Phật không có độ Phật. Đem tâm mà tìm Phật, mà
không biết mình có Phật thật, chỉ là tìm Phật ở bên ngoài thì trọn là không biết tự
tâm là Phật.
Cũng không có được đem Phật mà lễ Phật.
Chẳng được đem tâm mà niệm Phật.
Phật chẳng tụng kinh.
Phật chẳng trì giới.
Phật chẳng phạm giới.
Phật không có trì, phạm cũng không có tạo nghiệp ác. Nếu muốn tìm Phật
thì phải thấy cái tánh của mình. Tánh tức là Phật. Nếu chẳng thấy tánh thì niệm
Phật, tụng kinh, trì trai, giữ giới, đều vô ích cả.
---
Cho nên ở đây Ngài mới nói lại:
Niệm Phật thì được nhân quả.
Tụng kinh thì được thông minh. (Được chớ sao không được.)
Trì giới thì được sanh cõi trời.
Bố thí thì được phước báo.
Nhưng mà tìm Phật thì trọn không thể được.
Lấy những cái đó mà tìm Phật thì trọn không thể được. Làm những cái đó
ó lợi ích rõ ràng, mà nói làm cái đó để tìm Phật thì thôi, chưa được đâu.
----
Hỏi: Nếu chẳng thấy tánh, niệm Phật, tụng kinh, bố thí, trì giới, tinh tấn,
rộng làm những điều phước lợi, được thành Phật chăng?
Đáp: Chẳng được.
Nếu chẳng thấy tánh làm tất cả điều đó không thành Phật được.
Hỏi: Nhân sao chẳng được?
Đáp: Có một ít pháp có thể được, ấy là pháp hữu vi, là nhân quả, là thọ báo,
là pháp luân hồi chẳng khỏi sanh tử thì khi nào mà thành được Phật đạo?

THIẾU THẤT LỤC MÔN-THÍCH THANH TỪ

Pháp Bảo ĐànDaisetz Teitaro Suzuki- Trúc Thiên

Write a comment

New comments have been disabled for this post.

February 2014
M T W T F S S
January 2014March 2014
1 2
3 4 5 6 7 8 9
10 11 12 13 14 15 16
17 18 19 20 21 22 23
24 25 26 27 28