Đường vào Triết học và Đạo học 2
Monday, May 14, 2012 6:22:31 AM
Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ
Chương 12-CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT
Mục đích của Triết học và đạo giáo cốt là tìm ra con đường giải thoát cho con người. Cái hay của một môn học là làm thế nào để người sau nếu đi theo đúng những đường lối đã chỉ dẫn, cũng sẽ tìm ra được kết quả y như là người đã khám phá ra nó đầu tiên. Cho nên nếu Chúa Jesus, nếu Phật là những vị giáo chủ chân thực, thì chẳng qua cũng chỉ là những người tiên phong đã tìm ra được một phương trình, một phương thức giải thoát cho con người, mà chính các Ngài đã dùng để tự giải thoát mình. Chúng ta là những người đi sau, khi khảo lại những tư tưởng, những đường lối của các bậc đàn anh đi trước, phải làm sao để những tư tưởng ấy ngày một thêm sáng láng, những đường lối ấy ngày một thêm rõ ràng, để càng ngày càng thêm nhiều người cũng thành Chúa, thành Phật như các Ngài. Còn nếu quả thực các Ngài xuống trần để đi thu nạp thêm một số nô lệ, một số bầy tôi chuyên môn nịnh hót, xưng tụng các Ngài, thì riêng tôi, tôi thấy các Ngài quả là đã làm hư hỏng gian trần.
Tôi phải nói ngay rằng Chúa hay Phật đều là những người hết sức khiêm tốn. Một hôm Chúa Jesus vì xưng: «Ta và Cha ta là một», nên bị người Do Thái vác đá ném. Ngài liền trích dẫn câu Thánh Vịnh 82 để bào chữa
Như vậy, Ngài đã long trọng tuyên bố rằng mọi người đều là Chúa, đều có khả năng trở thành những Con Thiên Chúa. Chính vì thế mà Ngài cho rằng khi xưng mình là Con Thiên Chúa, thì chẳng có chi là phạm thượng
Bản Kinh Thánh Nguyễn Thế Thuấn dịch: «Các ngươi là thần.» Nhưng bản Thánh Kinh King James Version thì dịch: «Ye are gods»; bản Bible de Jerusalem bằng Pháp văn dịch: «Vous êtes des dieux».
Xưa nay không ai dám dịch: Các ngươi đều là Chúa. Nhưng tôi dám dịch như vậy, vì dựa vào toàn bộ thông điệp của Chúa Jesus. Thông điệp ấy như sau:
1) Ngài cho rằng Ngài và chúng ta đều là con một Thiên Chúa, vì thế mới lập ra kinh Pater Noster (Lạy Cha chúng tôi) (Mat. 6:9- 13).
2) Nếu ở trên đây ta dịch: Các ngươi là thần, thì Chúa Jesus cũng chỉ gọi Đức Chúa Cha là Thần (John 4:24).
3) Nếu Ngài xưng mình là một với Thượng Đế, thì Ngài cũng cầu xin, cũng ước nguyện cho mọi người được nên một với Thượng Đế như Ngài (John 17:21)
4) Ngài cũng tuyên xưng nếu ta yêu được kẻ thù của ta, thì ta cũng được gọi là Con Thiên Chúa (Mat. 5:45)
5) Ngài cho rằng nếu chúng ta có niềm tin về giá trị và thân thế của mình, thì cũng làm được những phép lạ như Ngài, hoặc hơn Ngài (Mat. 17:20. Luke 17:6; Mat. 21:21. John 13: 12)
6) Ngài cho rằng vì Thiên Chúa là Thần, nên ta phải thờ Ngài bằng thần (John 4: 24). Hơn nữa Ngài đoan quyết rằng: Muốn vào Nước Trời, con người phải sinh lại bằng thần (John 3: 5). Thế tức là con người muốn vào nước Trời, trước tiên phải thành Thần.
7) Thánh Paul cũng chủ trương con người sẽ trở thành những con Thiên Chúa mai sau, sẽ đạt tới tầm kích chúa Kitô, để Chúa Kitô sẽ trở thành Người Anh Cả của vô vàn đàn em (Eph. 4:13. Rom. 8:18- 30).
8) Ước vọng xưa của người Công giáo là sẽ trở thành đấng Kitô khác (Alter Christus).
9) Sách Khải Huyền hứa cho những người đắc đạo sẽ được ngồi tòa Thiên Chúa như Chúa Jesus (Rev. 3:21).
Trong tiếng Anh có chữ ATONEMENT: Chữ này thường được hiểu là Sự Chuộc tội do một đấng Cứu Thế.
Nhưng thực ra chữ ATONEMENT gồm 3 chữ: AT - ONE- MENT: Tức là Kết hợp nhất như (với Thượng Đế).
Nếu ta hiểu GIẢI THOÁT là kết hợp nhất như hoặc là với Thượng Đế như kiểu nói Âu Châu, hoặc là với Đại thể vũ trụ, với Atman- Brahman như kiểu nói Ấn giáo; hay với Như Lai, với Chân tâm, Phật tính theo kiểu Phật giáo, thì ta thấy rằng: Con người chỉ khi đạt tới giải thoát mới trở thành bất tử.
Theo tôi đó là cách hiểu hai chữ giải thoát một cách đứng đắn nhất
Vậy con người sinh ra đời này cốt là để thực hiện Chân Ngã, thực hiện Thiên Chúa nơi mình, để thành Chúa, thành Phật; chứ không phải để lạy Chúa; lạy Phật. Srila Prabhupada, một đạo sư Ấn Độ nói: «Mục đích cuộc đời là để thành Chúa, thành Thần, nhưng các khoa học gia không biết chuyện đó. Xã hội nhân quần hiện nay bị hướng dẫn bởi những kẻ mù, kẻ điên. Những người mang danh là chuyên viên, khoa học gia, triết gia, đều không biết mục đích chân thực của cuộc đời. Còn chúng nhân thì cũng đui mù như vậy. Thế là một người mù dẫn một lũ mù, thì làm sao mà đạt được kết quả. Không thể nào như vậy được. Chúng ta phải đi tìm những người đã giác ngộ, mới có thể tìm ra được chân lý.»
NHỮNG ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐẠT GIẢI THOÁT
Xưa nay bàn về giải thoát không biết cơ man nào là người. Nhưng vấn đề vẫn hết sức mơ hồ, vì nó đòi hỏi một điều kiện là người đạo sĩ phải chứng nghiệm giải thoát nơi chính bản thân. Tu chứng giải thoát không phải là súc tích kiến văn, mà chính là giác ngộ tâm linh, hồi quang phát huệ.
1. CHỨNG NGHIỆM TỰ TÍNH
Điều kiện tiên quyết là nhận ra được rằng mình có THIÊN TÍNH, có PHẬT TÍNH. Bất kể những phương tiện đã dùng là những phương tiện gì: sống đời tu trì, khổ hạnh; quán tưởng, thiền định; mặc khải, giác ngộ nhưng kết quả chỉ là một: Thấy rằng mình với Đại thể vũ trụ chỉ là Một chứ không hai, thấy rằng trong cái thân tứ đại của mình, có Đại thể vô biên, làm căn cơ vũ trụ và muôn loài, muôn vật.
Huệ Năng viết về ngộ Đạo như sau:
«Đạo do tâm ngộ, há ở việc ngồi thiền sao? Kinh nói: Kẻ nào chỉ thấy Như Lai ở hình tướng, hoặc ngồi, hoặc nằm, ắt hành tà đạo. Vì sao vậy? Vì Như Lai không từ đâu đến cũng chẳng đi về đâu, không sanh, không diệt. Nhận ra cái thể không đến, không đi, đó là Như Lai thanh tịnh thiền. Nhận ra cái lẽ vạn vật đều không tịch đó là Như Lai thanh tịnh tọa.
2. PHẢI CÓ BẢN ĐỒ
Cũng như muốn di chuyển trong một thành phố cho khỏi lạc, chúng ta phải có bản đồ của thành phố ấy, muốn tìm cho ra con đường giải thoát, chúng ta cũng cần có một bản đồ. Từ nhiều năm nay, tôi đã cố vẽ ra một đồ bản về các tầng lớp trong con người. Tôi đã vẽ các tầng lớp trong con người thành bảy vòng tròn đồng tâm như sau:
1. Vòng trong cùng là Thái Cực, hay Chân Ngã, hay Bản thể Vũ trụ, hay Đại Linh Quang.
2. Vòng thứ hai là Khí (Pneuma, Animus), hay Hồn Thanh hướng về Chân Thiện, Mỹ (HỎA = FIRE).
3. Vòng thứ 3 là Trọc Hồn (anima, soul), gồm thất tình, lục dục, chịu ảnh hưởng của từ trường, từ lực, mà người xưa gọi là sống trong vòng duyên nghiệp, sắc tướng hay thanh sắc (KHÍ = AIR).
4. Vòng thứ 4 gọi là vòng Trí Não (intellect), cơ quan sinh ra tâm tư, niệm lự (THỦY = WATER).
5. Vòng thứ 5 là vòng thể xác, ngũ quan (ĐỊA = EARTH).
6. Vòng thứ 6 tượng trưng cho gia đình, quốc gia, xã hội (Vòng lợi danh, và ái tình, duyên nợ).
7. Vòng thứ 7 bên ngoài tượng trưng cho ngoại cảnh vật chất, cho các nghề nghiệp, cho các phương cách ta dùng để khai thác ngoại cảnh; nó bao gồm ngoại cảnh, từ bàu khí quyển quanh mình, đất đai, vạn hữu quanh mình cho tới các giải tinh cầu xa nghìn triệu năm ánh sáng (Vòng hồng trần; trần ai, tục lụy).
Chúng ta là LINH QUANG, phát xuất từ Đại Linh Quang (Vòng 1), dần dần khoác lấy thân Tứ Đại (Hỏa = Fire; Khí = Air; Thủy = Water; Thổ = Earth), vướng mắc vào những vòng duyên nghiệp, lợi danh, trần ai, tục lụy, nên như ăn phải cháo lú, quên mất giá trị siêu linh của mình, quên mất đường về. Mục đích vẫn là vòng trong cùng, tượng trưng cho Khối Đại Linh Quang, bản thể vũ trụ và con người. Khi ta hiểu rõ như vậy, ta sẽ thấy những lời sau đây của Chúa Jesus không có gì là bí ẩn nữa: «Ta từ Cha ta mà ra, xuống hồng trần này, rồi lại thoát hồng trần, trở về với Cha.» (John 16: 28); và ta cũng nhìn ra đâu là vòng duyên nghiệp, đâu là thân tứ đại giả hợp, đâu là trần ai, tục lụy.
Giải thoát là trở về được Trung Cung (Vòng Thái cực, vòng 1).
Luân hồi là luân lạc trong các vòng ngoài từ 2 đến 7...
Nếu ta cắt 7 vòng trên ra thành 1 hình chóp nón, ta sẽ thấy vòng trong cùng trở thành cái chóp, cái ngọn; vòng ngoài cùng sẽ trở thành cái đáy, cái chân. Suy ra càng gần ngọn, càng khinh thanh, càng nhẹ nhàng; càng gần chân, gần đáy, càng nặng nề trọng trọc. Nói thế có nghĩa là muốn trở về Trung Cung, Thái Cực, trở về Bản Thể, phải gạn đục, khơi trong tâm hồn.
3. HAI HƯỚNG ĐI, HAY HAI CON ĐƯỜNG
Chúng ta hãy vẽ bảy vòng tròn trên thành 7 vòng tròn đồng tâm, rồi lại vẽ hai con đường từ TÂM ra BIÊN, và từ BIÊN vào TÂM. Ta gọi con đường từ TÂM ra BIÊN laø con đường ÂM, đường TRỤC VẬT, đường PHÓNG NGOẠI, đường TỤC LỤY, ĐỌA ĐẦY; còn con đường từ BIÊN về TÂM là con đường siêu thăng, con đường đưa tới hạnh phúc vĩnh cửu, con đường sinh thánh, sinh thần, qui nguyên, phản bản. Vẽ xong, ta sẽ hiểu hết bí quyết của người xưa, từ Đông sang Tây, khi bàn về 2 con đường hướng ngoại và hướng nội.
Khi tìm ra được rằng con đường HƯỚNG NGOẠI là con đường HƯỚNG VẬT; con đường HƯỚNG NỘI là con đường HƯỚNG THIÊN, tôi liền nhìn nhận ra con đường của THẦN, PHẬT, THÁNH, TIÊN. Mà lạ lùng thay con đường hướng nội hoàn toàn nằm gọn nơi thân thể con người.
Đức Phật cũng đã tìm ra được con đường ấy. Ngài tự thuật như sau: «Cũng như người bộ hành sau bao thuở lang thang trong cánh đồng hoang vắng rốt cuộc thấy một con đường cỏ, con đường bao người trước đã đi qua; ta bèn noi theo đó mà đi, và gặp làng mạc, cung điện, vườn tược, núi rừng, hồ sen, thành quách, và nhiều cảnh trí khác từng làm nơi an thân lập mệnh của bao người trước.»
Bái Hỏa Giáo (Zoroastrianism) bàn về hai ngả đường Thiện Ác như sau: «Thượng Đế tạo dựng nên vũ trụ, và nhân đó sinh ra lưỡng thần Thiện, Ác... Thượng Đế khuyên mọi người đi theo đường của Thần Thiện (Spenta Mainyu), đừng đi theo con đường của Thần Ác (Angre Mainyu), vì Ác mang đến chết chóc và hủy hoại; Thiện mang đến trường sinh và hoàn thiện...»
Hai lối đường HƯỚNG NGOẠI (ÂM, THUẬN), HƯỚNG NỘI (DƯƠNG, NGHỊCH) giúp chúng ta nhìn thấy lẽ nhất quán của các đạo giáo, và ta mới hiểu tại sao Thiền tông lại nói:
«Hướng ngoại mà tìm cầu,
Tất cả đều ngoan si.
Hướng nội mà tìm cầu,
Tất cả đều chân thực.»
(Đại Đức Thiên Ân, Triết học Zen I, tr. 103).
Trong kinh Tu sám yếu chỉ, nơi cuối kinh Pháp Hoa cũng lý luận rất rõ về hai hướng đi, hai con đường: Con đường hướng ngoại, trục vật dần dà sẽ đưa tới sa đọa, diệt vong. Hướng ngoại trục vật chính là MÊ CHÂN, TẠO ÁC, chính là đi ngược dòng NIẾT BÀN, đi xuôi dòng vào Bể Sinh Tử... yêu đời, luyến cảnh, để cuối cùng có thể thành một đại xiển đề gian ác, trầm luân trong vòng sinh tử, không kỳ giải thoát... Còn như nếu biết hồi hướng, đi theo con đường hướng nội, hồi quang, phản chiếu, sẽ giác ngộ, sẽ khiến cho tâm mình chuyển ngược dòng sinh tử, thuận theo đạo Niết Bàn, thấu hiểu được TÂM TÍNH BẢN TỊCH (hay PHẬT TÍNH) nơi mình. Tôi không dịch nguyên văn, mà chỉ bàn theo ý kinh, cho lời lẽ tôi được sáng sủa. Quí vị nào muốn đọc nguyên văn, xin tìm đọc kinh Thủy Sám Yếu Chỉ, nơi các trang 4b và 5a, nơi đoạn «Thuận nghịch thập tâm... Mê ngộ lưỡng phái».
Người xưa cũng nói: «Thuận tắc sinh nhân sinh vật, nghịch tắc sinh Thánh, sinh Thần.»
Năm 1968, Bà Elizabeth O'Connor cũng đã xuất bản một quyển sách nhan đề: Journey Inward, Journey Outward (Hành trình hướng nội, hành trình hướng ngoại), Harper & Row Publishers, New York xuất bản. Thư viện 24 ở Tustin có tàng bản, dưới số 289.9). Đại khái sách chủ trương: Hướng ngoại để phục vụ, hướng nội để tu chứng. Hướng nội là con đường đưa tới Nước Trời nội tâm; hướng ngoại là con đường dễ dãi của quần chúng, dần dà sẽ làm cho con người trở nên ù lì, có mắt mà chẳng biết nhìn, có tai mà chẳng biết nghe... Hướng ngoại sẽ không thể nào thực hiện được định mệnh sang cả của mình. Trời đất ra công cảnh cáo cho con người biết đàng hồi hướng, bằng muôn cách thế như cho thấy trong người bực dọc không yên, cho đêm nằm không ngủ, cho cảm thấy bất bình, không thỏa mãn, cho giận dữ, cho thấy chán chường, cho thấy đời vô ý nghĩa, v.v... Tiếc thay, nào có mấy ai, nghe thấy được những tiếng thầm, lời thiêng ấy. Tôi bái phục cao kiến của tác giả và hoàn toàn đồng ý với tác giả.
Tôi sung sướng đọc lại lời Kinh Ketha Upanishad: «Đại Ngã trổ cửa giác quan thông ra phía ngoài, cho nên người ta nhìn ra phía ngoài mà không biết nhìn vào trong lòng mình. Có vài kẻ khôn ngoan, trong khi đi tìm trường sinh bất tử, nhờ nội quan quán chiếu, đã trực diện quan chiêm được Đại Ngã.» (Sách trích dẫn IV, 1- 4; 10- 11).
Và tôi rất đắc ý, khi toát lược sách Đạt Ma Huyết Mạch Luận của Sư Tổ Đạt Ma bằng mấy vần thơ sau, từ hơn 30 năm trước đây:
Chân Tâm bao quát đất trời,
Xưa nay chư Phật chẳng ngoài Chân Tâm
Chẳng cần lập tự, lập văn,
Xưa nay chư Phật tâm tâm tương truyền.
Tâm ta gồm mọi sự duyên,
Mọi đời sau trước, mọi miền gần xa.
Tâm ta là chính Phật Đà,
Phật Đà ở tại Tâm ta chẳng ngoài.
Niết Bàn, Viên Giác, Như Lai,
Ngoài Tâm tìm kiếm công toi, ích gì.
Ngoài Tâm tìm kiếm được chi,
Niết Bàn đâu có lối về ngoài Tâm.
Tự Tâm chí chính, chí chân,
Tự Tâm là Phật, Tự Tâm Niết Bàn,
Ngoài Tâm tìm kiếm đa đoan,
Tay không bắt gió, mơ màng hư vô.
Tâm ta tạo Phật cho ta,
Bỏ Tâm tìm Phật, hỏi là tìm đâu.
Phật, Tâm; Tâm, Phật trước sau,
Ngoài Tâm tìm Phật hỏi sao chẳng lầm.
Cho nên phải biết hồi tâm,
Nội quan quán chiếu mà tầm siêu linh,
Bản Lai Diện Mục của mình,
Muốn tìm thời phải ly hình nhập tâm...
Từ hơn 30 năm nay, nhờ học Dịch và các khoa Huyền Học Đông Tây, và triền miên suy tư, chiêm nghiệm, tôi đã tìm ra được hai ngả đường nói trên.
Trong bài thơ trên, tôi mường tưởng như Trời ở trong tâm vũ trụ và trong tâm con người, nên chiều đi ra sẽ là chiều Bối Thiên (quay lưng lại với Trời), hay Nghịch Thiên. Chính vì thế mà tôi gọi là NGƯỢC.
Chiều đi vào, chiều hướng nội, sẽ là chiều Hướng Thiên, Thuận Thiên (chiều quay trở lại với Trời). Chính vì thế mà tôi gọi là XUÔI.
Trái lại nhiều người khác gọi chiều đi ra, chiều hướng ngoại, chiều đi từ Nhất đến Vạn, là chiều «đi theo dòng đời», «đi vào ngoại cảnh», hay là đi theo chiều thuận. THUẬN đây là «thuận dòng đời», nên dĩ nhiên là bị đọa lạc.
Còn đi «ngược dòng đời», là đi vào tâm mà tìm Đạo, tìm Trời. Nên đi vào con đường này sẽ giác ngộ tâm linh, thành chân, chứng thánh, thành Tiên, thành Phật.
Con đường hướng ngoại trục vật, Dịch gọi là chiều ÂM, bắt đầu từ Cấu đến Khôn, càng ngày càng tối đen, tối sẫm.
Con đường hướng nội, để thành chân chứng thánh, Dịch gọi là chiều DƯƠNG, bắt đầu từ quẻ Phục tới quẻ Kiền. Nơi quẻ Phục, cho thấy Trời hiện ra chói lọi nơi tâm (Phục kỳ kiến Thiên Địa chi Tâm hồ? 復 其 見 天 地 之 心 乎). Nơi quẻ Kiền, cho thấy con người đã thành chân đắc đạo: DỮ THIÊN VI NHẤT 與 天 為 一 (hợp nhất với Trời).
Sau đó sẽ vào TRUNG CUNG, TRUNG ĐIỂM, bất biến, trường tồn.
Đạo Bà La Môn và Đạo Lão chủ trương rất đặc biệt là Trời, Đạo, Brahman không ở đâu xa, mà đã ở ngay giữa đầu não con người, nơi Nê Hoàn Cung (Não thất ba), theo danh từ đạo Lão; hay nơi Sahasrara tức Bông Hoa Sen Nghìn Cánh, theo danh từ Bà La Môn.
Và Mạch Đốc (chạy xuyên qua tủy xương sống) là con đường lên trời. Đạo Lão gọi đó là Thiên kinh. Còn Mạch Nhâm phía trước, hay Thần lộ, là con đường từ Trời xuống con người. Một Đạo gia muốn luyện nội đơn, thành chân, chứng thánh phải biết vận dụng Chân Khí qua Nhâm Đốc, và tụ Thần Khí nơi Nê Hoàn...
Huyệt Vĩ Lư dưới cuối xương sống, Bà La Môn gọi là Cửa Brahman (Brahmadvâra). Luân xa Sahasrara là nơi «Trời Người hợp nhất». Thóp nơi đỉnh đầu (huyệt Bá Hội), Bà La Môn gọi là Thượng Đế huyệt (Brahmarandhra = Trou de Brahman).
Hai mạch Nhâm Đốc hợp lại thành một vòng Hoàng Đạo nơi con người...
Khoa Thiên văn cả Đông lẫn Tây cũng đã đem sao trời vẽ thành hai nẻo đường ấy, trên vòng Hoàng Đạo.
Nhưng dù có vẽ lên trời, dù có ghi trong sách thánh, dù Chúa Jesus đã dạy rằng «Nước Trời không ở đây, ở đó mà đã ở sẵn trong lòng chúng ta.» (Lu. 17:21), quần chúng, như một bày cừu dại, vẫn ùa nhau đi tìm nước Trời bên ngoài, theo những tiếng chào mời đường mật, những lời hứa hẹn quàng xiên của một số thày đời!
4. BIẾT ÁP DỤNG ĐỊNH LUẬT TRỜI ĐẤT MỚI MONG GIẢI THOÁT
Định luật trời đất chính là những định luật TỤ, TÁN; VÃNG LAI; DOANH, HƯ; TIÊU TỨC; BIẾN DỊCH, TUẦN HOÀN.
Thần có Tụ, thần mới linh; Thần Tán là thần đọa lạc. Chính vì vậy mà ta thấy xưa nay, người ta ngồi thiền, hay thiền định, cốt là để thu thần, định trí.
Tu luyện phải biết lợi dụng thời gian sinh lý, tức là thời gian tuổi tác.
Trẻ thì hướng ngoại, già thời hướng nội. Trẻ thì đi ra (VÃNG 往 ); già thì đi vô (LAI 來 ).
Con người chúng ta cũng có biến dịch, có tuần hoàn. Người xưa nói: «Tùy thời biến dịch, dĩ tòng Đạo.» . Chúng ta từ Đạo phát sinh, chúng ta lại biến thiên, để quay trở về với Đạo thể.
Người xưa chủ trương muốn giải thoát cần phải biết mình có hai thứ căn bản, có hai thứ tâm.
- Một là Chân tâm, hay Pháp thân, vĩnh cửu trường tồn.
- Hai là Vọng tâm, hay Hóa thân, biến thiên, ảo hóa.
Triết phái Vedanta Ấn Độ chủ trương dứt khoát rằng:
Brahman hay Atman, Linh Thần Tuyệt Đối của Vũ Trụ được che lấp nơi con người bằng 5 lần vỏ:
1. Vỏ ngoài cùng là VỎ THỨC ĂN.
2. Rồi tới VỎ SINH KHÍ.
3. VỎ TÂM TƯ.
4. VỎ TRÍ TUỆ.
5. VỎ HẠNH PHÚC.
trong cùng là ĐẠI NGÃ, nằm khuất lấp sau bức màn Vô MINH (AVIDYA).
VỎ THỨC ĂN là Thô thân (coarse body), là nhục thể.
VỎ TRÍ, TÂM, KHÍ là Tế thân (subtil body).
VỎ HẠNH PHÚC là Nhân thân (causal body). Tất cả các vỏ này đều còn ở trong vòng SINH TỬ, LUÂN HỒI (SAMSARA), trong vòng ẢO HÓA (MAYA), trong vòng MÊ VỌNG (AVIDYA), trong vòng KHÍ CHẤT (PRAKRITI).
Đạt tới BRAHMAN, ATMAN mới là CHÂN GIẢI THOÁT (MOKSA), CỨU RỖI (SALVATION), VÀ GIẢI THOÁT (MOKSA).
Muốn cho vấn đề được sáng tỏ hơn, ta sẽ so sánh CỨU RỖI (CỨU CHUỘC) và GIẢI THOÁT
* CỨU RỖI
Quần chúng thường tin rằng Chúa Jesus, hay Phật Thích Ca, hay Lão tử giáng trần là để cứu rỗi mọi người. Còn quần chúng thì không thể nào cứu rỗi được mình. Cho nên cứu rỗi là hoàn toàn dựa vào THA LỰC, dựa vào quyền năng của Thánh Thần. Bên trời Âu, thì Chúa Jesus là đấng Cứu Thế. Bên trời Đông thì Phật Di Đà là đấng Cứu Thế. Các Ngài sẽ đem những người tin theo mình lên Thiên đàng, hay vào Tịnh độ. Cho nên trong chương trình cứu rỗi, con người sau trước vẫn là con người; chỉ có ngoại cảnh là thay đổi: thay vì là ở hồng trần, con người sau khi chết sẽ lên Thiên đàng hay Tịnh thổ.
* GIẢI THOÁT
Còn các bậc thượng trí, thượng nhân, vì cảm thấy mình có Thiên tính, là Linh quang giáng trần, nên sẽ phát huy thần uy, thần lực của mình để băng qua hồng trần, vượt qua hình tướng để trở về hợp nhất lại với Đại Linh Quang. Trong chiều hướng này, Con người hoàn toàn biến thể, còn ngoại cảnh vẫn y nguyên. Con người nay đã trở thành Trời, thành Phật.
Cho nên trước hết, GIẢI THOÁT thường hàm nghĩa HỢP NHẤT, và TỰ LỰC.
Trong chương này tôi đã chứng minh: Con người có Thiên Tính.
Tôi đã vạch ra con đường để trở về với Đạo, với Trời; đã cho thấy các định luật thiên nhiên; đã cho thấy từng chặng đường; từng tầng lớp trong con người. Tôi nghĩ không thể nói rõ hơn. Bạn nào có căn cơ, sẽ thấy đầu đuôi sáng tỏ như ngọn đèn. Cái hay, cái biến ảo của nó là khi đem thực thi, áp dụng được vào cuộc đời quí bạn.






