My Opera is closing 3rd of March

All are systems in systems

Tất cả là các hệ thống trong các hệ thống

Subscribe to RSS feed

Đường vào Triết học và Đạo học-Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

07 VAN DE THIEN AC

– Phật giáo thì cho rằng những sướng khổ ta gặp trên đời đã được qui định do luật nhân quả, hay duyên nghiệp (karma). Và cũng tương tự như Bái Hỏa giáo dạy con người phải có tư tưởng hay, lời nói hay, hành động hay; Phật giáo cũng dạy phải tu THÂN, KHẨU, Ý. Thân, Khẩu, Ý là Tam Nghiệp.
THÂN chính là HÀNH ĐỘNG. Hành động hay là không sát sinh; không trộm cắp; không tà dâm. Trai gái đối xử với nhau phải theo đúng đạo lý.
KHẨU là kiểm soát lời ăn, tiếng nói. Không nói bậy, nói sai. Không ăn nói suồng sã, lả lơi. Không nói lời ác khẩu, hại người, khinh người.
Không nói lời hai ý, tráo trở, mập mờ...
Ý là kiểm soát tâm tình, ý chí. ý ngay là không hà tiện, không tham lam.
Ý ngay là không giận dữ; Ý ngay là không có tà kiến, không có tư tưởng sai lầm. Tóm lại Ý NGAY là không THAM, SÂN, SI.
Chân Như là Thực tướng của Vũ Trụ, là Lý của vũ trụ. Thuận Lý đó là Thiện. Nghịch Lý đó là Ác.
Phật giáo có Tam Bảo:
– Nhìn nhận ra được Bản thể của vũ trụ là Phật bảo.
– Nhận định ra được Hiện tướng của Vũ trụ là Pháp bảo.
– Biết khai thác cái Diệu dụng của vũ trụ là Tăng bảo.
Như vậy qui y Tam Bảo là Sống Thuận theo các Định Luật của Vũ Trụ, của Thiên Nhiên.
Quan điểm của Phật giáo về vấn đề Thiện, Ác mà tôi vừa trình bày trên, thực ra không phải là ý riêng của tôi, mà chính là của Linh mục dòng Tên, Léon Wieger đưa ra, sau khi đã tham cứu sâu xa về Phật giáo. Tóm lại, Thiện đối với Phật giáo, cũng là đi tìm những định luật đất trời để mà theo, mà giữ. Phật giáo gọi đó là Dharma.
Nhưng công bằng mà nói thì Phật giáo cũng rất bi quan, thấy đâu đâu cũng chỉ là «Bến mê, Bể khổ», coi con người lúc nào cũng như bị «mũi tên độc» của Sinh, Lão, Bệnh, Tử cắm vào người.

Riêng tôi, vì không phải là Phật tử, nên tôi lại ưa cái phong thái «tiêu diêu» của Trang tử hơn; tôi lại mơ ước một ngày xa xăm nào đó trần hoàn sẽ thành tiên cảnh. Tư tưởng này càng ngày càng ám ảnh tôi, nhất là những khi ăn uống thoải mái rồi, ra công viên Mỹ, ngồi chơi với những con vịt, con chim, con ngan, con ngỗng, và chia sẻ cuộc sống vô tư, thanh thản của chúng...

– Lão giáo không đặt vấn đề tại sao có Thiện, tại sao có Ác. Chương hai Đạo Đức Kinh rằng: Thiện, Ác chỉ là hai phương diện của một cuộc đời. Ở trong thế giới tương đối này, hễ đã có Thiện thì phải có Ác, có Đẹp thì phải có Xấu, có Cao thì phải có Thấp, có Dễ thì phải có Khó.
Chương 2, Đạo đức kinh viết
Người đời thấy Đẹp biết khen,
Thế là cái XẤU đã chen vào rồi.
ĐIỀU HAY đã rõ khúc nhôi,
Thời đà DANG DỞ, LÔI THÔI sinh dần.
Mới hay: KHÔNG, CÓ chuyển vần,
Dễ sinh ra KHÓ; VẮN nhân thành DÀI,
THẤP, CAO, tùy ngó ngược xuôi,
Tiếng ca TRẦM, BỔNG, dòng đời TRƯỚC SAU...
Trang tử cho rằng: tất cả những gì THIÊN NHIÊN là hay, là đẹp; tất cả những gì NHÂN TẠO là họa với hại.
Trong thiên Mã đề, Nam Hoa kinh, Trang tử đại khái đã viết:
«Kìa thiên hạ ung dung tự tại,
Sống đơn sơ, vui với muông chim,
Sống đời thuần phác, tự nhiên,
Thung dung, cùng Đạo một niềm sắt son,
Vì đâu đã mỏi mòn, nhớn nhác?
Vì đâu nên tan tác, phân ly?
Bầy ra nhân nghĩa mà chi,
Để cho thiên hạ suy vi, tần phiền.
Gỗ không nát, sao nên được chén?
Ngọc không tan, sao vẹn chương khuê?
Đạo tan, Đức nát, ê chề,
Mới bày ra được những bề nghĩa nhân.
Loạn năm sắc, mới văn, mới vẻ,
Rối thanh âm, bày vẽ đàn ca.
Ai làm đạo đức xác xơ,
Lập ra nhân nghĩa vẩn vơ hại đời?
Lập nghi lễ, hình hài trói buộc,
Lập nghĩa nhân, bày chước ủi an,
Lòng người vì thế ly tan,
Khôn ngoan càng lắm, gian ngoan càng nhiều...»
Luận điệu này cũng được Trang tử lập đi, lập lại trong các chương Biền mẫu, Khư khiếp của Nam Hoa kinh.
Lão tử đã tiên đoán được những tai họa mà các người làm chính trị sau này sẽ gây nên: Trong đời Staline, tối thiểu đã bắt giam 7 triệu người, và giết tối thiểu 1 triệu người; Hitler đã thiêu sinh 6 triệu dân Do Thái; Mao Trạch Đông đã sát hại nhiều triệu dân; Khmer Đỏ đã giết hàng triệu dân Cao Mên, v.v...

Khổng giáo cũng dạy phải sống theo đúng ĐỊNH LUẬT TỰ NHIÊN mà họ gọi là LỄ , còn những ĐỊNH LUẬT NHÂN TẠO mà họ gọi là LUẬT , thì có lúc phải bỏ. Có vậy, mới hiểu được những câu trong Luận Ngữ như: «Khắc kỷ phục lễ vi nhân» , hay «phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động.» (Luận Ngữ,XII, 1). Quẻ Lý, trong kinh Dịch dạy con người phải đi tìm những Định Luật Vĩnh Cửu mà theo, mà giữ. Tiếc thay sau này, mọi người thường hiểu LỄ là LỄ NGHI hay LỄ PHÉP.
III. CẢM NGHĨ CỦA TÔI VỀ VẤN ĐỀ THIỆN, ÁC
Theo tôi, THIỆN là tất cả những ĐỊNH LUẬT THIÊN NHIÊN, VĨNH CỬU con người cần tìm cho ra để mà theo, mà giữ. Những Định Luật ấy, đã được ghi tạc sẵn trong lòng sâu con người, và vạn hữu. ÁC còn, khi nào con người còn u mê, không chịu tìm cho ra những định luật trên mà theo,mà giữ. Như vậy, theo đà thời gian, ÁC ngày càng giảm thiểu.
Một trong những định luật mà người ÂU CHÂU vừa mới tìm ra là tôn trọng MÔI SINH (Environment), và bảo vệ Sinh vật. Theo được vậy, con người mới sống sung sướng, hạnh phúc.
Những nhận định trên tóm lược lại quan điểm của các đạo giáo Á ĐÔNG, và nhiều danh nhân trên thế giới.
Tôi không có chối cãi rằng thế giới này vừa có thiện, lại vừa có ác.
Chúng ta phải cải tạo xã hội. Chúng ta phải cải tạo con người. Chương trình cải tạo xã hội của chúng ta sẽ như sau:
Mỗi xã hội đều cần phải có:
– Một hệ thống điều khiển, chỉ huy.
– Một hệ thống giao thông tiếp vận.
– Một hệ thống sản xuất.
– Một hệ thống phân phát.
– Một hệ thống phòng thủ.
– Một hệ thống thay thế nhân sự.
– Một hệ thống kiểm soát.
Dịch kinh cho chúng ta những tiêu chuẩn như sau để chúng ta biết thế nào là hành động hay, thế nào là hành động dở.
– NGUYÊN: Việc chúng ta làm có tốt lành không?
– HANH: Việc chúng ta làm có được hanh thông không, hay sẽ đưa ta vào thế kẹt?
– LỢI: Việc chúng ta làm có ích lợi cho ta, cho người hay không.
– TRINH: Việc chúng ta làm có theo đúng chính lý, chính đạo không?
– CÁT: Việc chúng ta làm có hay không ? (hay nếu đem lại những giá trị tích cực)
– HUNG: Việc chúng ta làm có dở không? (dở là đem lại những kết quả tiêu cực)
– HỐI: Việc chúng ta làm có trái với lương tâm không, có làm cho chúng ta phải hối hận không?
– LẬN: Việc chúng ta làm, xã hội có chê trách không, có làm cho chúng ta xấu hổ không?
– LỆ: Việc chúng ta làm, có gì nguy hiểm cho chúng ta không?
– VÔ CỮU: Việc chúng ta làm tuy không phải là hay, nhưng cũng không phải là dở, sẽ không bị người đời chê trách, bắt bẻ...
Chúng ta có thể đem quan niệm Âm Dương của Dịch để soi sáng cho vấn đề Thiện Ác. Nhân đó chúng ta sẽ thấy cái nhìn của Dịch kinh khác biệt với cái nhìn của Siêu hình học Âu Châu.

Dịch phân biệt Âm Dương, nhưng không phân biệt một cách ráo riết, triệt để; ngược lại vẫn chủ trương Âm sinh Dương, Dương sinh Âm; trong Âm có Dương, trong Dương có Âm.
Đối với Kinh Dịch, Âm Dương chẳng qua là hai phương diện, hai mặt trái phải của một thực thể. Chúng hỗ tương ảnh hưởng, tác dụng trên nhau. để sinh ra thiên biến, vạn hóa, nhưng đều qui hướng về một mục đích là phát huy vũ trụ cho đến hoàn thiện hoàn mỹ.
Cũng một lẽ, đối với Kinh Dịch, thì ở đời này Thiện, Ác, Cát, Hung đều là tương đối. Thời này cho thế này là hay, là phải; thời khác lại cho thế kia mới là hay, là phải; còn thế này lại là dở là trái.
Trang tử cho rằng: Muốn cái hay mà không muốn cái dở, nuốn trật tự mà không muốn hỗn loạn, tức là không biết định luật của trời đất.

Khảo thư tịch Âu Châu, ta thấy có hai quan niệm khác nhau về Thiện Ác:
1.- Một quan niệm tối cổ cho rằng Thiện Ác là hai Nguyên Lý song sinh do Thượng đế tối cao sinh xuất. Ta thấy dấu vết của quan niệm này trong đạo giáo tối cổ Ai Cập với lưỡng thần Osiris- Isis; hoặc trong đạo Bái Hỏa với quan niệm lưỡng thần Thiện (Spenta Mainyu) và Ác (Angra Manyu). Sách Ecclesiasticus, trong bộ Thánh Kinh Công giáo cũng cho rằng: «Thiện và Ác; Sống và Chết; Nghèo và Giàu, tất cả đều do nơi Chúa.» (Eccles. 11:14).
2.- Một quan niệm tân thời hơn coi Thiện Ác là hai thực thể hoàn toàn đối kháng, thù địch nhau.

Đạo Mani chủ trương vũ trụ có hai căn nguyên: Ánh sáng và Tăm tối. Phía Bắc là giang sơn của Ánh sáng, là nơi ngự trị của đấng Hằng cửu. Phía Nam là giang sơn của Tăm tối là nơi Satan ngự trị,
Công giáo và Tin Lành cho rằng Chúa Trời là căn nguyên sinh điều Thiện; Satan là căn nguyên sinh điều Ác.(Job 16; 2Cor.23- 14; John 8:44; John 3: 8; Apoc. 12:9).

Theo Lão tử thì trong cái hay, có cái dở; trong cái dở, có cái hay (Đạo Đức Kinh, ch. 58). Vả lại Thiện, Ác cũng chẳng khác nhau là bao nhiêu (Đạo Đức Kinh, ch. 20). Tại sao vậy? Bởi vì vạn vật ảo hóa, biến thiên. Nếu ta tách mọi sự ra khỏi vòng biến dịch, ta sẽ thấy xấu tốt khác nhau. Nhưng nếu ta lồng mọi sự vào vòng biến chuyển, ta sẽ thấy thiện cũng như ác; đẹp cũng như xấu; không có gì là cố định.

Heraclitus cũng đã viết: «Trong chu kỳ biến hóa, sống chết đắp đổi nhau. Tiên tục, tục tiên; tục sống thời tiên chết; tục chết thời tiên sống.»

Sử gia Henry Steele Commager viết: «Lịch sử cho chúng ta thấy rằng các tiêu chuẩn, các giá trị, các nguyên tắc biến đổi theo thời gian và xã hội. ở trong một xã hội, chúng biến đổi theo mỗi thế hệ...

Trang tử cũng viết đại khái rằng: «Trên phương diện Đạo thể, thì một cọng cỏ, hay một xà nhà; nàng Lệ hay Tây Thi; vui hay buồn; khôn hay dại; tất cả đều là một. Thịnh suy, thành bại chỉ là những trạng thái tương tục, luân phiên. Tất cả đều là một, nhưng chỉ có những bậc đại trí mới thấy được. Cho nên thánh nhân vượt lên trên các quan niệm thị phi, yên nghỉ trong Hóa Công, mặc cho sự vật chuyển vần xuôi ngược (Nam Hoa Kinh, chương 2).