Nghìn Trùng Xa Cách

Subscribe to RSS feed

Chào buổi sáng Chủ Nhật tới mọi người nhé!

ÔNG LÃO ĐÁNH CÁ VÀ CON CÁ VÀNG

ÔNG LÃO ĐÁNH CÁ VÀ CON CÁ VÀNG

Có 2 vợ chồng ông lão đánh cá nghèo khổ sống trong một túp lều bên bờ biển. Ngày ngày, ông lão ra biển thả lưới đánh bắt cá.
Một hôm, ông lão quăng nhiều mẻ lưới mà không bắt được gì. Đến mẻ lưới cuối cùng, ông bắt được một con cá vàng nhỏ xíu. Cá vàng khẩn thiết cầu xin ông lão đánh cá, nếu ông thả nó về biển thì nó sẽ đáp ứng mọi yêu cầu của ông. Ông lão đánh cá vui vẻ thả Cá vàng về biển mà không đòi hỏi gì.
Khi ông lão đánh cá trở về nhà thì thấy vợ đang giặt quần áo trong chiếc chậu gỗ đã vỡ một miếng. Ông kể cho bà vợ nghe chuyện đánh được con Cá vàng. Bà vợ nghe xong, nói:
- Sao ông không đòi nó cho một cái chậu gỗ mới?
Ngày hôm sau, ông lão đánh cá đi ra biển gọi Cá vàng, Cá vàng ngoi lên mặt nước. Ông lão bảo cá:
- Cá vàng ơi, mụ vợ ta bắt ta phải xin một chiếc chậu gỗ mới.
Cá vàng nhận lời, bảo ông lão cứ yên tâm trở về. Khi ông lão về đến nhà thì thấy nhà đã có một chiếc chậu mới. Bà vợ lại bảo:
- Ông nên đòi thêm một ngôi nhà thật đẹp nữa.
Ngày hôm sau, ông lão đánh cá lại đi ra biển, bảo Cá:
- Cá vàng ơi, bà vợ ta lại muốn có một ngôi nhà mới.
Cá vàng nhận lời. Ông lão đánh cá trở về nhà, bà vợ ông lại đòi hỏi:
- Ông hãy đi bảo con Cá vàng rằng, tôi muốn được làm nữ hoàng.
Ông lão lại đi ra biển một lần nữa, gọi Cá vàng và bảo:
- Cá vàng ơi, bà vợ ta không để cho ta yên. Bà ta muốn được sống trong cung điện.
Cá vàng lại một lần nữa đáp ứng đòi hỏi của bà vợ.
Khi ông lão về đến nhà thì bà vợ đã lên làm nữ hoàng, nhưng bà ta vẫn chưa thoả mãn:
- Ông hãy đi bảo con Cá vàng rằng, tôi muốn làm long vương dưới biển kia, và hàng ngày Cá vàng sẽ phải nghe tôi sai bảo.
Ông lão đánh cá đi ra biển lần thứ 4 để tìm Cá vàng. Cá vàng ngoi lên mặt nước, nghe lời của ông lão đánh cá, nó không nói gì, quẫy đuôi một cái rồi biến mất vào đại dương sâu thẳm.
Ông lão đánh cá trở về nhà, thấy cung điện nguy nga đã biến mất. Trước căn lều cỏ, bà vợ ông đang giặt quần áo bằng chiếc chậu vỡ.

Lời bàn:
Không biết điểm dừng, tham muốn vô độ rồi sẽ dẫn đến những kết cục không tốt đẹp.

BỌ NGỰA BẮT VE SẦU, CHIM SẺ RÌNH SAU LƯNG

Thời Xuân Thu, Ngô Vương là một vị vua vô cùng ngang ngược, các vị đại thần đều khó mà thuyết phục được ông.
Một lần, Ngô Vương chuẩn bị tấn công nước Sở, nói rằng nếu ai can gián thì sẽ giết chết người đó. Các vị đại thần biết được tin này đều rất lo lắng, bởi nếu nước Ngô đem quân đi đánh giặc nước khác thì chính nước Ngô có thể bị một nước khác mạnh hơn tấn công. Thế nhưng, không vị đại thần nào dám can ngăn Ngô Vương.
Trong số các vị đại thần, có một người tính tình chính trực. Trở về nhà, ông vẫn lo lắng không yên về chuyện này, nhưng không biết phải can ngăn vua như thế nào. Ông sốt ruột đi đi lại lại trong hoa viên. Bỗng nhiên, ông nhìn thấy một con bọ ngựa đang rình bắt một con ve sầu, đằng sau bọ ngựa có một con chim sẻ đang nhìn chằm chằm vào nó. Nhìn cảnh ấy, ông liền nghĩ ra một cách để khuyên can vua.
Sáng sớm hôm sau, vị đại thần đến ngự hoa viên. Khi Ngô Vương đi tới, ông giả vờ không trông thấy, trong tay cầm một cái súng bắn chim, nhìn chăm chú vào một cái cây. Ngô Vương rất tức giận, hỏi:
- Mới sáng ra khanh đã đến đây làm gì? Tại sao nhìn thấy bản vương mà không quỳ?
Vị đại thần làm ra vẻ vừa nhìn thấy nhà vua, vội vàng nói:
- Vừa rồi thần mải nhìn con ve sầu và bọ ngựa trên cây nên không biết bệ hạ đến. Xin bệ hạ thứ tội.
Ngô Vương tha tội vô lễ cho ông ta, tò mò hỏi:
- Con ve sầu bà bọ ngựa trên cái cây này có gì đáng để xem vậy/
Vị đại thần đáp:
- Thần nhìn thấy một con ve sầu đang uống sương, không đề phòng một con bọ ngựa đang cong mình chuẩn bị tấn công nó. Nhưng con bọ ngựa không ngờ rằng có một chú chim sẻ cũng đang rình bắt mình, còn con chim sẻ lại không biết rằng trong tay thần đang cầm súng bắn chim định bắn nó.
Ngô Vương nghe xong, ngẫm nghĩ rồi cười:
- Ta đã hiểu ý của khanh rồi.
Cuối cùng, Ngô Vương quyết định không tấn công nước Sở nữa.

Lời bàn:
Nếu chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt mà không tính đến cái hoạ ẩn nấp phía sau thì sẽ khiến mình rơi vào cái thế hiểm nguy.

Ăn ốc nói mò

Mới nghe qua dường như có thể giải thích thành ngữ ăn ốc nói mò nhờ vào quan hệ nhân quả: "ăn ốc thì nói mò" hay "Vì ăn ốc nên nói mò", tương tợ như hiểu các tổ hợp từ ăn ốc lạnh bụng, uống rượu nhức đầu, hút thuốc khàn giọng... song, cái ý nói mò (tức nói đoán chừng, hú hoạ, không chắc trúng, vì không có đủ căn cứ để nói) câu ăn ốc nói mò lại chẳng có mối liên hệ nào với việc ăn ốc cả. Nói cách khác, ở đây giữa ăn ốc và nói mò không có quan hệ nhân quả. Vậy thì , ăn ốc nói mò kết hợp với nhau theo quan hệ gì? và thành ngữ ăn ốc nói mò đã xuất hiện như thế nào?

Có người cho ăn ốc nói mò có xuất xứ ở việc uống rượu ăn ốc ở các quán đầu làng. Rượu vào lời ra. Người quá chén thường nói năng lung tung, hết chuyện này sang chuyện khác, đúng ,sai, hay, dở , tục, thanh, không để ý tới. Cách giải thích này xem ra có một ít lý lẽ, song chưa thể yên tâm được. Nói mò trong ăn ốc nói mò không phải nói lung tung, chuyện này sang chuyện nó như người say rượu, mà là nói hú họa, đoán chừng về một điều cụ thể, vốn xác thực nhưng không biết hoặc chưa biết chắc chỗ đúng của điều cần nói là đâu.

Cũng có người nghĩ tới quan hệ điều kiện giả định giữa việc ăn ốc và việc mò ốc: "Muốn ăn ốc phải mò ốc" để cắt nghĩa xuất xứ của ăn ốc nói mò. Nhưng tại sao ý "muốn ăn ốc phải mò ốc" lại liên hội được với ý "nói mò, nói hú hoạ, nói không có chứng cứ" câu ăn ốc nói mò đã nêu trên.

Chúng ta thử tìm hiểu nguyên lai của thành ngữ này theo một hướng khác. Như đã biêt, trong tiếng Việt có một từ mò là động từ (mò ốc, mò cua...) và một từ mò là trạng từ (nói mò, đoán mò.. ) Mò trong ăn ốc nói mò chính là từ mò trạng từ, chỉ cách thức hành động. Như vậy, giả định có quan hệ điều kiện giữa ăn ốc và mò ốc nêu trên là không có lý. Điều cần làm ở đây là, vậy thì (nói ) mò đã đi vào ăn ốc nói mò bằng con đường nào?

Trong lời ăn tiếng nói của dân gian, bên cạnh ăn ốc nói mò chúng ta còn gặp các cách nói ăn măng nói mọc, ăn cỏ nói bay. ăn măng nói mọc dùng chỉ sự bịa đặt, dựng chuyện, vu khống, ăn cò nói bay nói về thói chối bay, chối phắt, coi như không có, không biết điều đó có xảy ra thật. Ở hai cách nói này, gánh nặng ý rơi vào các vế sau, (nói mọc, nói bay), giống như cách nói ăn ốc nói mò. Và, vế đầu (ăn mặng, ăn cò) dường như chỉ giữ chức năng cấu tạo hình thái chứ không mang chức năng hiểu ý. Đây là một loại cấu trúc độc đáo, rất hiếm thấy trong thành ngữ tiếng Việt. Có thể hình dung cơ chế tạo lập kiểu cấu trúc như sau:

1. Có một "từ" A biểu thị một hiện thực. Ví dụ "mọc" trong thành ngữ ăn cò nói bay.. ăn măng nói mọc biểu thị tính hay vu khống, dựng chuyện ở một loại người nào đó.

2. Do nhu cầu diễn có tính hình ảnh, gây ấn tượng mạnh mẽ hơn, người ta đãtạo ra lối nói mới dựa trên khuông mẫu của cach nói đã có trước trong ngôn ngữ. Cách nói mới này được xây dựng theo nguyên tắc.

a) Tìm trong ngôn ngữ một từ (B) có quan hệ hợp lý với A, sao cho được một quan niệm khi kết hợp với A (theo trật tự AB hoặc BA) hợp với lý lẻ nhận thức người bản ngữ. Ví dụ: nếu A là mọc thì B phải là măng (trăng, răng...) vì nói măng mọc hay trăng mọc, răng mọc...) đều có thể quan niệm được. Còn nếu A là bay thì B phải là cò (bay chim, cò, lá...) vì nói chim bay (cò bay, lá bay ) đều hợp lý.

b) Tùy theo đặc tính phạm trù của điều được nói đến và của hiện thực do B biểu đạt tìm một hình thức (từ hoặc tổ hợp từ) có khả năng tương kết với AB (BA) theo luật này hay khác (chẳng hạn , đối với điệp) để tạo thành khuôn cách nói mới Chẳng hạn, điều được nói tới trong ăn măng nói mọc (ăn ốc nói mò, ăn cò nói bay,...) có thể quy vào phạm trù ứng xử nói năng, do đó, các từ được chọn làm các yếu tố cấu trúc có thể là ăn nói, lời lẽ, nói năng.. Vì B là từ chỉ sự vật thuộc phạm trù cái ăn được, nên người nói đã chọn từ ăn nói trong số các từ trên tương kết với mặng mọc nhờ luật đối và điệp tạo thành ăn măng nói mọc giống như dân gian đã dùng cáctừ ong bướm và lả lơi để tạo ra thành ngữ bướm lả ong lơi hoặc dùng các từ đi về và mây gió để tạo ra đi mây về gió. Ăn cò nói bay và ăn ốc nói mò đều được tạo thành theo con đường nói trên.

Cuộc Đời

Cuộc đời là một khái niệm trừu tượng, khó có định nghĩa cụ thể. Hiểu theo cách chiết tự ngôn ngữ thì "cuộc" là "sự việc có nhiều thành phần tham gia, diễn ra theo một quá trình nhất định" và "đời" là "một khoảng thời gian sống của một sinh vật". Theo quan điểm Phật giáo, mỗi cuộc có sự sống bị phân cách bởi "cái chết", tạm gọi là "một đời", và có ý niệm "đời đời, kiếp kiếp".
Ý nghĩa cuộc đời: Có nhiều ý nghĩa trong cuộc đời của một con người (ở đây chủ yếu đề cập đến cuộc đời con người): hạnh phúc, đau khổ, ham muốn, suy tư, danh vọng... Bản chất của thế giới là hướng đến "cái biết". Cái biết diễn biến tương đối theo một tiến trình vô tận: qua một kiếp, một đời là qua bốn chặng sinh tử ở trên.

Hạnh Phúc

Hạnh phúc là một trạng thái cảm xúc của con người khi được thỏa mãn một nhu cầu nào đó mang tính trừu tượng.
Hạnh phúc là một cảm xúc bậc cao, được cho rằng chỉ có ở loài người, nó mang tính nhân bản sâu sắc và thường chịu tác động của lý trí
Hạnh phúc, sung sướng là hai từ gần nghĩa, đều chỉ cảm giác thoải mái khi đạt được một giá trị, một mục đích, một kết quả... nhưng điểm khác nhau nằm ở tính hữu hình hay vô hình của giá trị, của mục đích, của kết quả đạt được đó. Chẳng hạn, tình yêu, sự thành công, sự nổi tiếng, sự yêu mến... mang lại hạnh phúc. Còn tiện nghi sinh hoạt, sự giàu có... mang lại sung sướng. Ngoài ra, còn phải kể đến cảm giác sung sướng khi được thỏa mãn các bản năng cơ bản như ăn uống, vui chơi giải trí, sinh hoạt tình dục...
Một so sánh tương đối giữa hạnh phúc và sung sướng là hạnh phúc liên quan đến lý trí và sung sướng liên quan đến bản năng
May 2013
M T W T F S S
April 2013June 2013
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31