TÂM SỰ CỦA GT. TRỊNH BÌNH TRONG LỄ KN 50 NĂM NGÀY THÀNH LẬP BỘ MÔN
Friday, January 15, 2010 4:21:48 AM
TẢN MẠN VỀ HỌC VÀ HÀNH NGHỀ
GS.TS. Trịnh Bình
Nguyên Trưởng bộ môn Mô- Phôi học
Trường Đại Học Y Hà Nội
Nhớ đến các Thầy Cô
đặt nền móng xây dựng Bộ môn.
Trong những năm gần đây, đồng nghiệp, bạn bè có dịp ghé thăm thường có những lời ưu ái trước những thay đổi của bộ môn Mô-Phôi. Nhìn rộng ra trong trường ta, một số bộ môn y cơ sở khác cũng đã “ thay da đổi thịt” nhờ có định hướng, biết phát huy tính tự chủ trong hoàn cảnh chung khá thuận lợi hiện nay. Những thay đổi này trước đây bậc cha anh chúng ta tuy có ý tưởng và mong muốn, nhưng đã không thành hiện thực.
Điều dễ thấy nhất là bên cạnh những điều kiện phương tiện giảng dạy tương đối đa dạng và hiện đại, Bộ môn đã triển khai những phòng thí nghiệm hoạt động theo đúng nghề nghiệp của mình: bảo quản mô, nuôi cấy tế bào và kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Cả ba đều hoạt động có hiệu quả, trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ bệnh nhân thông qua sự phối hợp chủ động và bình đẳng với một số chuyên ngành lâm sàng. Cái được bao chùm lên tất cả là Bộ môn đã có một hướng phát triển đúng, phù hợp xu thế chung, và đã hình thành một đội ngũ cán bộ nghiên cứu, kỹ thuật viên trẻ đang từng bước làm chủ tay nghề. Trong những hoạt động nghề nghiệp này không thể không nói tới mức thu nhập chính đáng, thường xuyên và công bằng đối với công sức và trí tuệ đã và đang bỏ ra của mỗi thành viên tham gia. Điều này hết sức quan trọng vì đã tạo được sự yên tâm nghề nghiệp, tập trung vào nhiệm vụ đào tạo, mặt khác góp phần biến những ước mơ chính đáng của mỗi người khi bước vào ngành, vào nghề thành hiện thực. Hy vọng trong thời gian không xa, việc bổ sung những thành viên trẻ cho Bộ môn sẽ không còn khó khăn như trước đây nữa. Chi tiết của những thành quả ban đầu này chúng ta hãy nghe từ các đồng nghiệp đang làm việc ở Bộ môn đề cập tới nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập.
Thấy những thay đổi hôm nay, chúng ta không thể không nhớ tới các thầy, cô đã từng làm việc tại bộ môn, đặc biệt là những thầy cô đã đặt những viên gạch đầu tiên cách đây nửa thế kỷ.
Khóa học ngành y của tôi (1961 - 1966) được học Tổ chức học vào học kỳ II năm thứ nhất ( lúc đầu chương trình học chỉ là bốn năm rưỡi, kịp ra trường phục vụ kháng chiến chống Mỹ). Chúng tôi “mê” thầy Trương Cam Cống giảng bài lý thuyết đến mức buổi lên lớp không thấy Thầy là cả lớp xôn xao lên. Thầy giảng bài chậm dãi, dễ hiểu, đặc biệt là khi diễn đạt nội dung, Thầy luôn có những trạng từ và câu dẫn rất riêng mà chúng tôi không thể quên. Sau này, khi học chuyên khoa trong đại học (năm thứ 6), Thầy đã giảng trọn vẹn chương trình phôi học cho chúng tôi. Ngồi quanh chiếc bàn làm việc của Thầy tại Bộ môn, bốn người chúng tôi (các chị Lũy, Áng, Thịnh, và tôi), nghe Thầy giảng và minh họa trên tấm bảng đen chỉ to gần bằng mặt bàn, vừa ghi chép tỉ mỉ, vừa vẽ các hình phức tạp (được biết khi đó bản thảo cuốn Phôi thai học do Thầy biên soạn đầu tiên của Ngành đang được hoàn thiện; khi chúng tôi tốt nghiệp, cuốn Tổ chức học đầu tiên của Bộ môn cũng ra đời). Một vài tình tiết về thầy-trò làm tôi nhớ mãi: Khi vừa chăm chú diễn đạt xong một phần nội dung, quay lại nhìn chị Lũy, Thầy nói: “ Ơ, cái chị này!...”. Chị Lũy giật nảy mình... , tỉnh giấc! (chị Lũy khi đó đã ở tuổi 40, mới sinh cháu đầu..., đêm mất ngủ). Sự việc diễn ra nhiều lần, nhưng Thầy chỉ nhắc nhở nhẹ nhàng như vậy. Có nhiều lần, sau khi Thầy vẽ bảng xong, quay lại cầm điếu thuốc lá hút dở trên mặt bàn rồi hỏi tôi: “của anh hay của tôi?...”, nhưng tôi ... đâu có hút thuốc! Có khi Thầy nhặt luôn mẩu thuốc để trên bàn để... viết lên bảng, chúng tôi im phăng phắc nhìn nhau. Thầy lúc đó đã ở tuổi 57, hơn cả tuổi cha mình. Sau này, nghe các các thầy cô trong Bộ môn kể lại là thầy Cống rất hay quên trong sinh hoạt đời thường, nhưng không bỏ sót một chi tiết nào trong chuyên môn nghề nghiệp. Trong thời gian Trường sơ tán ở Thái Nguyên, thầy Cống lên giảng cho sinh viên một số buổi. Khi đó, tôi được Bộ môn sắp xếp ở cùng lán với Thầy, với hai nhiệm vụ: chú ý giấc ngủ đêm vì Thầy thường thức giấc, mộng du, và đưa Thầy đi tắm giếng bởi Thày hay bị lạc đường rừng... Được biết, thầy Trương Cam Cống là người giầu kinh nghiệm đọc các tiêu bản Giải phẫu bệnh, thường được thầy Vũ Công Hòe mời hội chẩn. Thầy Cống còn làm việc trong lĩnh vực Y Pháp nhiều năm, kinh nghiệm phong phú và luôn kiên trì bảo vệ các sự thật khách quan, khoa học. Những năm đầu thập kỷ 1970, khi còn ở miền Nam, tôi nghe tin thầy Trương Cam Cống được Nhà nước phong học hàm Giáo sư cùng với 14 thầy khác trong ngành y tế. Thật vinh dự cho chúng ta đã có một người Thầy giầu uy tín chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp, đứng ra cùng các đồng nghiệp trẻ lúc đó đặt nền móng xây dựng Bộ môn phát triển cho tới ngày hôm nay.
Mấy khóa học gần nhau của chúng tôi khi đó chưa hình thành cách thưa-gửi thầy trò. Với các giảng viên trẻ thường gọi là “anh” (như là anh Ngọc, anh Kính), nhưng chúng tôi đặc biệt kính trọng các thầy, cô. Mỗi khi đến một môn học mới, chúng tôi thường biết và nhớ tên họ cũng như trao đổi với nhau về phong cách giảng dạy đặc sắc của từng thầy, cô. Trong những đợt sinh viên đi thực tế xa Hà Nội, các thầy chia nhau đến cùng làm việc và sinh hoạt với các tổ sinh viên, qua đó tình thầy-trò cũng trở nên thân thiết. Cũng vì tuổi tác không quá chênh lệch, nên trong khóa tôi không ít các bạn nữ đã trở thành vợ của thầy, cô dâu của Trường.
Kể từ khi thành lập tới khi chúng tôi đến học tập ở Bộ môn, có lẽ chỉ mới trên dưới hai năm, nhưng phương thức hướng dẫn thực tập cho sinh viên đã được định hình và về cơ bản vẫn được duy trì cho đến ngày nay. Có thể nói thầy Ngọc và thầy Kính đã có công rất lớn cùng các thầy cô khác ở Bộ môn trong việc tạo dựng chương trình, cải tiến nội dung thực tập, tổ chức thi kết thúc môn học sáng tạo và hiệu quả, phù hợp với mục tiêu đào tạo. Thầy Nguyễn Văn Ngọc là giáo vụ của Bộ môn kể từ ngày đầu thành lập. Thầy Ngọc làm việc nhẹ nhàng nhưng chặt chẽ và hiệu quả, tin tưởng và luôn động viên các đồng nghiệp trẻ. Được biết thầy Ngọc là người đã chắp bút, chỉnh sửa nội dung bản thảo của hầu hết các cuốn sách giáo khoa và từ điển chuyên ngành của Bộ môn cho tới khi thầy được nghỉ công việc. Tới nay, khi đọc lại những cuốn sách này tôi vẫn nhận ra những ưu điểm trong cách biên sọan của thầy Ngọc cũng như các thầy để học tập. Rất nhiều cán bộ trong ngành đã học tại trường ta đều biết đến thầy Ngọc và thầy Kính. Thầy Đỗ Kính nổi tiếng cần cù và tỉ mỉ trong chuẩn bị giảng dạy và giảng bài trên lớp; Thầy có một biệt tài vẽ bảng bằng phấn màu các hình phức tạp, chú thích chính xác đến từng chi tiết. Đặc điểm này còn thể hiện rõ trong cuốn Phôi thai học người do thầy biên soạn và được xuất bản vừa mới đây. Có thể nói cho đến nay thầy Đỗ Kính vẫn là một “tủ kiến thức phong phú” về Phôi học của chuyên ngành chúng ta. Làm việc với thầy Kính thật “nhàn”, bởi hầu như mọi việc thầy đã chuẩn bị cả (!). Ngồi hỏi thi vấn đáp cùng với thầy có khi mình cũng vã mồ hôi... lo thay cho thí sinh. Cũng vì vậy mà trước đây các em sinh viên khóa này truyền khoá khác về Thầy... Có lẽ vừa sợ, vừa “chọc yêu” Thầy bằng cách bảo nhau lén xóa dấu “sắc” ở tên của Thầy trên bảng kê tên các em vào bàn hỏi thi...
Sau hơn mười năm “bận rộn” với ngoại khoa thời chiến và việc quản lý bệnh viện trong chiến tranh, khi trở lại Bộ môn làm việc, ấn tượng rõ nhất của tôi là về những kiến thức do thầy Phạm Phan Địch truyền đạt: tế bào học, kinh nghiệm thực tế khi làm tiêu bản mô học, và định hướng nghiên cứu về tái tạo mô. Thầy Địch là người được đào tạo sau đại học đầu tiên của Bộ môn ở nước ngoài - Leningrad - Liên Xô, đất nước của những công trình nghiên cứu cơ bản hết sức nghiêm túc mà ta được tiếp cận lúc ấy. Đóng góp to lớn của thầy Địch là đã làm thay đổi diện mạo hoạt động khoa học của bộ môn một khoảng thời gian dài trong những năm chống Mỹ và sau này. Một, hai đề tài nghiên cứu cấp Bộ Y tế do thầy Địch chủ trì đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đào tạo cao học và nghiên cứu sinh của Bộ môn trong những năm về sau. Thầy Phạm Phan Địch đã được phong hàm Giáo sư 1 (Phó giáo sư) từ năm 1981. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ chuyên gia giảng dạy ở Angola về, thầy Địch cũng đã hoàn thiện hồ sơ chức danh Giáo sư, đã được hội đồng cơ sở thông qua, chuyển lên hội đồng ngành. Thầy Ngọc và thầy Kính cũng đã là thực tập sinh tại Hungary. Sau khi về nước, cả hai thầy đều đã hoàn thành dự thảo luận án Phó tiến sỹ y học, nhưng vì những lý do “tế nhị của lịch sử” không mấy ai hiểu đúng nguyên nhân của sự việc, các Thầy đều đã không bảo vệ. Hai Thầy cũng đã từng là chuyên gia giảng dạy tại Angola.
Khi thầy Ngọc, thầy Kính lần lượt nghỉ hưu, thầy Địch đột ngột ra đi…, những người chúng tôi đảm nhiệm tiếp công việc của các Thầy đã tạo dựng, cảm thấy trống vắng cả về tình cảm lẫn chỗ dựa trong chuyên môn, mà nhiều năm sau chưa chắc đã lấp đầy.
Người chị cả trong các anh chị kỹ thuật viên của Bộ môn ngày ấy là người Hà Nội gốc, có tiếng nói dịu dàng, giao tiếp thẳng thắn lịch thiệp, sống chan hòa, và có tay nghề cao….đó là cô Nguyễn Thị Lý. Cô Lý là hạt nhân đoàn kết, động viên các anh chị kỹ thuật viên hoàn thành công việc, là mối dây liên hệ giữa giáo viên và kỹ thuật viên trong Bộ môn. Nhiều năm cô Lý là người giữ tay hòm chìa khóa với đúng nghĩa đen, quan tâm đến từng thành viên trong Bộ môn. Nhiều tiêu bản đẹp để giảng dạy còn giữ được đến ngày nay là sản phẩm của sự khéo léo và kinh nghiệm nghề nghiệp của cô Lý, cô Nghi, cô Hương, anh Long, cô The, chị Oanh, chị Lan.
Năm mươi năm trôi qua, đã đủ quãng lùi về thời gian để khách quan khẳng định những đóng góp to lớn của các Thầy Cô trong những năm tháng ban đầu xây dựng Bộ môn. Tất nhiên, qua cách nhìn chỉ của một nhân chứng, thể hiện trên vài trang giấy, không bao giờ là đủ. Nhưng ít ra cũng là những sự thật, và cũng để trả lại sự công bằng trong đánh giá về những đóng góp của mỗi thành viên trong khoảng thời gian và không gian khi Bộ môn mới hình thành, mà vì những lý do nào đó (cũng có thể do thói tật trong cư xử thường thấy ngoài đời), đã không được nêu lên trong quá khứ.
“Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách cứ trời gần trời xa”
Trong chúng ta, ai đã từng trải qua các công việc khác nhau trong ngành y tế, khi trở về Bộ môn làm việc ít nhiều cảm thấy công việc hàng ngày thật đơn điệu, nếu chỉ dừng ở những buổi soạn bài và lên lớp. Ai đã từng làm việc, tiếp xúc với đồng nghiệp các chuyên ngành khác, có lúc đã không khỏi suy nghĩ, bực bội, rồi mặc cảm nghề nghiệp… trước những ánh mắt, một vài câu nói thiếu hiểu biết như “…chẳng cần học Mô, cũng không cần biết Phôi cũng chẳng sao…”, có khi là câu nói xúc phạm. Đây là sự thật. Để lý giải điều này, hãy đặt yếu tố khách quan sang một bên để tự xem xét mình. Trước đây, khi tâm sự với các đồng nghiệp trong Bộ môn, tôi thường ngầm kích thích tính chủ động trong mỗi người bằng cách lặp lại cách chơi chữ của nhà thơ Tố Hữu: “lép vế hay vế lép?” Không thể ngồi chờ, không ai có thể thay chúng ta nếu chúng ta muốn “cơ bắp” của mình khoẻ mạnh lên. Nếu vế không lép thì không thể lép vế… Chính những đóng góp thiết thực của chúng ta trong nghiên cứu, phục vụ và đào tạo, chủ động và bắt kịp thời đại đã làm thay đổi cách nhìn nhận về chuyên ngành chúng ta. Những năm chuẩn bị nghỉ hưu, tôi đã từng rất khiêm tốn tiếp nhận những lời thăm hỏi, động viên thiện chí của nhiều đồng nghiệp trong và ngoài Trường, trước những đổi thay và những kết quả ban đầu của chúng ta.
Qua nhiều năm tham gia giảng dạy và hướng dẫn cho các đối tượng sau đại học các chuyên ngành khác, cảm nhận của tôi là không ít các chuyên ngành cần đến những kiến thức sâu về mô học và phôi học. Đã có hai vị Giáo sư của hai chuyên ngành vài lần hỏi tôi tại sao các đối tượng sau đại học của chuyên ngành đó lại không được bổ sung, nâng cao kiến thức về mô học và phôi học. Chắc hẳn không phải nói để vui lòng người nghe, mà chính các Vị đang cần những thông tin về Mô-Phôi học để phục vụ viết sách, báo hoặc chấm luận văn, luận án. Hiện nay việc cập nhật thông tin khoa học chuyên ngành không còn khó khăn như trước. Nên chăng hãy thay đổi nội dung và phương pháp giảng dạy các đối tượng này theo hình thức truyền đạt theo các chuyên đề. Để làm được việc này, người thầy trước hết phải vượt qua chính mình.
Nhớ lại cách đây đã trên hai mươi năm, thầy hiệu trưởng Hoàng Đình Cầu đã tiếp thầy Phạm Phan Địch tại sân trường, hôm đó tôi cũng đi theo. Sau khi nghe xong lời đề nghị của thầy Địch về tái trang bị một kính hiển vi điện tử cho Trường, thầy Cầu quay mặt đi, liếc nhìn mấy gian giảng đường cũ nát, thong thả nói: “Cái đó, các anh à, hãy để cho nước ngoài họ làm!”. Tôi như bị gáo nước lạnh tạt vào người. Về tới Bộ môn, thầy Địch ngao ngán trách tôi: “Từ nay cậu đừng xui tôi làm những việc vô ích như thế nữa!?”. Hơn mười năm sau, khác với trước, ý tưởng này đã được thể hiện chi tiết trong một, hai dự án, nếu không nhầm thì đã được Thường trực Hội đồng khoa học giáo dục Trường thông qua. Nhưng rồi cũng lại rơi vào khoảng không im lặng. Cho đến khi, tôn trọng lời đề nghị của người đứng đầu nhà trường lúc đó là góp ý cho Trường trước khi nghỉ hưu, bằng văn bản gửi trực tiếp, tôi đã trình bày ý nghĩa to lớn của việc Trường cần sớm xây dựng hai lab: hóa mô miễn dịch và hiển vi điện tử, giúp nâng cao chất lượng và năng lực phục vụ công tác nghiên cứu và đào tạo sau đại học cho Trường trong giai đoạn mới. Tới nay đã hai năm có lẻ, có lẽ mối quan tâm đã chuyển sang hướng khác của Ban lãnh đạo mới. Một đồng nghiệp nào đó đã nói với tôi: “...ở ta, muốn triển khai một ý đồ chuyên môn, phải là người có quyền!..”. Nếu là vậy, hãy đợi đấy! có thể trong một tương lai nào đó có một hiệu trưởng nhà trường xuất thân từ các đồng nghiệp trẻ hôm nay trong ngành Hình thái học sẽ thực hiện được ý tưởng này ?.
Với các đồng nghiệp trẻ ở Bộ môn hôm nay, thấy các bạn làm việc, học tập, chúng tôi thật sự vui mừng. Các bạn đã được đào tạo bài bản hơn so với thế hệ trước rất nhiều. Các bạn đang có trong tay một “gia tài và nguồn vốn” không nhỏ. Hãy trân trọng và phát huy những nét đẹp, và khắc phục những tồn tại của Bộ môn trong quá khứ. Hãy cần mẫn và khiêm tốn, năng động và sáng tạo, làm giầu hơn nữa gia tài trí tuệ và vật chất đó. Các bạn sẽ không cần đến câu thơ của Nguyễn Du tôi đã dẫn trong tiêu đề bài viết này, mà trước đây các thế hệ chúng tôi đôi lúc phải nhẩm đọc để tự nhủ mình.
Hà Nội, tháng 11 năm 2009
GS.TS. Trịnh Bình
Nguyên Trưởng bộ môn Mô- Phôi học
Trường Đại Học Y Hà Nội
Nhớ đến các Thầy Cô
đặt nền móng xây dựng Bộ môn.
Trong những năm gần đây, đồng nghiệp, bạn bè có dịp ghé thăm thường có những lời ưu ái trước những thay đổi của bộ môn Mô-Phôi. Nhìn rộng ra trong trường ta, một số bộ môn y cơ sở khác cũng đã “ thay da đổi thịt” nhờ có định hướng, biết phát huy tính tự chủ trong hoàn cảnh chung khá thuận lợi hiện nay. Những thay đổi này trước đây bậc cha anh chúng ta tuy có ý tưởng và mong muốn, nhưng đã không thành hiện thực.
Điều dễ thấy nhất là bên cạnh những điều kiện phương tiện giảng dạy tương đối đa dạng và hiện đại, Bộ môn đã triển khai những phòng thí nghiệm hoạt động theo đúng nghề nghiệp của mình: bảo quản mô, nuôi cấy tế bào và kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Cả ba đều hoạt động có hiệu quả, trực tiếp hoặc gián tiếp phục vụ bệnh nhân thông qua sự phối hợp chủ động và bình đẳng với một số chuyên ngành lâm sàng. Cái được bao chùm lên tất cả là Bộ môn đã có một hướng phát triển đúng, phù hợp xu thế chung, và đã hình thành một đội ngũ cán bộ nghiên cứu, kỹ thuật viên trẻ đang từng bước làm chủ tay nghề. Trong những hoạt động nghề nghiệp này không thể không nói tới mức thu nhập chính đáng, thường xuyên và công bằng đối với công sức và trí tuệ đã và đang bỏ ra của mỗi thành viên tham gia. Điều này hết sức quan trọng vì đã tạo được sự yên tâm nghề nghiệp, tập trung vào nhiệm vụ đào tạo, mặt khác góp phần biến những ước mơ chính đáng của mỗi người khi bước vào ngành, vào nghề thành hiện thực. Hy vọng trong thời gian không xa, việc bổ sung những thành viên trẻ cho Bộ môn sẽ không còn khó khăn như trước đây nữa. Chi tiết của những thành quả ban đầu này chúng ta hãy nghe từ các đồng nghiệp đang làm việc ở Bộ môn đề cập tới nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập.
Thấy những thay đổi hôm nay, chúng ta không thể không nhớ tới các thầy, cô đã từng làm việc tại bộ môn, đặc biệt là những thầy cô đã đặt những viên gạch đầu tiên cách đây nửa thế kỷ.
Khóa học ngành y của tôi (1961 - 1966) được học Tổ chức học vào học kỳ II năm thứ nhất ( lúc đầu chương trình học chỉ là bốn năm rưỡi, kịp ra trường phục vụ kháng chiến chống Mỹ). Chúng tôi “mê” thầy Trương Cam Cống giảng bài lý thuyết đến mức buổi lên lớp không thấy Thầy là cả lớp xôn xao lên. Thầy giảng bài chậm dãi, dễ hiểu, đặc biệt là khi diễn đạt nội dung, Thầy luôn có những trạng từ và câu dẫn rất riêng mà chúng tôi không thể quên. Sau này, khi học chuyên khoa trong đại học (năm thứ 6), Thầy đã giảng trọn vẹn chương trình phôi học cho chúng tôi. Ngồi quanh chiếc bàn làm việc của Thầy tại Bộ môn, bốn người chúng tôi (các chị Lũy, Áng, Thịnh, và tôi), nghe Thầy giảng và minh họa trên tấm bảng đen chỉ to gần bằng mặt bàn, vừa ghi chép tỉ mỉ, vừa vẽ các hình phức tạp (được biết khi đó bản thảo cuốn Phôi thai học do Thầy biên soạn đầu tiên của Ngành đang được hoàn thiện; khi chúng tôi tốt nghiệp, cuốn Tổ chức học đầu tiên của Bộ môn cũng ra đời). Một vài tình tiết về thầy-trò làm tôi nhớ mãi: Khi vừa chăm chú diễn đạt xong một phần nội dung, quay lại nhìn chị Lũy, Thầy nói: “ Ơ, cái chị này!...”. Chị Lũy giật nảy mình... , tỉnh giấc! (chị Lũy khi đó đã ở tuổi 40, mới sinh cháu đầu..., đêm mất ngủ). Sự việc diễn ra nhiều lần, nhưng Thầy chỉ nhắc nhở nhẹ nhàng như vậy. Có nhiều lần, sau khi Thầy vẽ bảng xong, quay lại cầm điếu thuốc lá hút dở trên mặt bàn rồi hỏi tôi: “của anh hay của tôi?...”, nhưng tôi ... đâu có hút thuốc! Có khi Thầy nhặt luôn mẩu thuốc để trên bàn để... viết lên bảng, chúng tôi im phăng phắc nhìn nhau. Thầy lúc đó đã ở tuổi 57, hơn cả tuổi cha mình. Sau này, nghe các các thầy cô trong Bộ môn kể lại là thầy Cống rất hay quên trong sinh hoạt đời thường, nhưng không bỏ sót một chi tiết nào trong chuyên môn nghề nghiệp. Trong thời gian Trường sơ tán ở Thái Nguyên, thầy Cống lên giảng cho sinh viên một số buổi. Khi đó, tôi được Bộ môn sắp xếp ở cùng lán với Thầy, với hai nhiệm vụ: chú ý giấc ngủ đêm vì Thầy thường thức giấc, mộng du, và đưa Thầy đi tắm giếng bởi Thày hay bị lạc đường rừng... Được biết, thầy Trương Cam Cống là người giầu kinh nghiệm đọc các tiêu bản Giải phẫu bệnh, thường được thầy Vũ Công Hòe mời hội chẩn. Thầy Cống còn làm việc trong lĩnh vực Y Pháp nhiều năm, kinh nghiệm phong phú và luôn kiên trì bảo vệ các sự thật khách quan, khoa học. Những năm đầu thập kỷ 1970, khi còn ở miền Nam, tôi nghe tin thầy Trương Cam Cống được Nhà nước phong học hàm Giáo sư cùng với 14 thầy khác trong ngành y tế. Thật vinh dự cho chúng ta đã có một người Thầy giầu uy tín chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp, đứng ra cùng các đồng nghiệp trẻ lúc đó đặt nền móng xây dựng Bộ môn phát triển cho tới ngày hôm nay.
Mấy khóa học gần nhau của chúng tôi khi đó chưa hình thành cách thưa-gửi thầy trò. Với các giảng viên trẻ thường gọi là “anh” (như là anh Ngọc, anh Kính), nhưng chúng tôi đặc biệt kính trọng các thầy, cô. Mỗi khi đến một môn học mới, chúng tôi thường biết và nhớ tên họ cũng như trao đổi với nhau về phong cách giảng dạy đặc sắc của từng thầy, cô. Trong những đợt sinh viên đi thực tế xa Hà Nội, các thầy chia nhau đến cùng làm việc và sinh hoạt với các tổ sinh viên, qua đó tình thầy-trò cũng trở nên thân thiết. Cũng vì tuổi tác không quá chênh lệch, nên trong khóa tôi không ít các bạn nữ đã trở thành vợ của thầy, cô dâu của Trường.
Kể từ khi thành lập tới khi chúng tôi đến học tập ở Bộ môn, có lẽ chỉ mới trên dưới hai năm, nhưng phương thức hướng dẫn thực tập cho sinh viên đã được định hình và về cơ bản vẫn được duy trì cho đến ngày nay. Có thể nói thầy Ngọc và thầy Kính đã có công rất lớn cùng các thầy cô khác ở Bộ môn trong việc tạo dựng chương trình, cải tiến nội dung thực tập, tổ chức thi kết thúc môn học sáng tạo và hiệu quả, phù hợp với mục tiêu đào tạo. Thầy Nguyễn Văn Ngọc là giáo vụ của Bộ môn kể từ ngày đầu thành lập. Thầy Ngọc làm việc nhẹ nhàng nhưng chặt chẽ và hiệu quả, tin tưởng và luôn động viên các đồng nghiệp trẻ. Được biết thầy Ngọc là người đã chắp bút, chỉnh sửa nội dung bản thảo của hầu hết các cuốn sách giáo khoa và từ điển chuyên ngành của Bộ môn cho tới khi thầy được nghỉ công việc. Tới nay, khi đọc lại những cuốn sách này tôi vẫn nhận ra những ưu điểm trong cách biên sọan của thầy Ngọc cũng như các thầy để học tập. Rất nhiều cán bộ trong ngành đã học tại trường ta đều biết đến thầy Ngọc và thầy Kính. Thầy Đỗ Kính nổi tiếng cần cù và tỉ mỉ trong chuẩn bị giảng dạy và giảng bài trên lớp; Thầy có một biệt tài vẽ bảng bằng phấn màu các hình phức tạp, chú thích chính xác đến từng chi tiết. Đặc điểm này còn thể hiện rõ trong cuốn Phôi thai học người do thầy biên soạn và được xuất bản vừa mới đây. Có thể nói cho đến nay thầy Đỗ Kính vẫn là một “tủ kiến thức phong phú” về Phôi học của chuyên ngành chúng ta. Làm việc với thầy Kính thật “nhàn”, bởi hầu như mọi việc thầy đã chuẩn bị cả (!). Ngồi hỏi thi vấn đáp cùng với thầy có khi mình cũng vã mồ hôi... lo thay cho thí sinh. Cũng vì vậy mà trước đây các em sinh viên khóa này truyền khoá khác về Thầy... Có lẽ vừa sợ, vừa “chọc yêu” Thầy bằng cách bảo nhau lén xóa dấu “sắc” ở tên của Thầy trên bảng kê tên các em vào bàn hỏi thi...
Sau hơn mười năm “bận rộn” với ngoại khoa thời chiến và việc quản lý bệnh viện trong chiến tranh, khi trở lại Bộ môn làm việc, ấn tượng rõ nhất của tôi là về những kiến thức do thầy Phạm Phan Địch truyền đạt: tế bào học, kinh nghiệm thực tế khi làm tiêu bản mô học, và định hướng nghiên cứu về tái tạo mô. Thầy Địch là người được đào tạo sau đại học đầu tiên của Bộ môn ở nước ngoài - Leningrad - Liên Xô, đất nước của những công trình nghiên cứu cơ bản hết sức nghiêm túc mà ta được tiếp cận lúc ấy. Đóng góp to lớn của thầy Địch là đã làm thay đổi diện mạo hoạt động khoa học của bộ môn một khoảng thời gian dài trong những năm chống Mỹ và sau này. Một, hai đề tài nghiên cứu cấp Bộ Y tế do thầy Địch chủ trì đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đào tạo cao học và nghiên cứu sinh của Bộ môn trong những năm về sau. Thầy Phạm Phan Địch đã được phong hàm Giáo sư 1 (Phó giáo sư) từ năm 1981. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ chuyên gia giảng dạy ở Angola về, thầy Địch cũng đã hoàn thiện hồ sơ chức danh Giáo sư, đã được hội đồng cơ sở thông qua, chuyển lên hội đồng ngành. Thầy Ngọc và thầy Kính cũng đã là thực tập sinh tại Hungary. Sau khi về nước, cả hai thầy đều đã hoàn thành dự thảo luận án Phó tiến sỹ y học, nhưng vì những lý do “tế nhị của lịch sử” không mấy ai hiểu đúng nguyên nhân của sự việc, các Thầy đều đã không bảo vệ. Hai Thầy cũng đã từng là chuyên gia giảng dạy tại Angola.
Khi thầy Ngọc, thầy Kính lần lượt nghỉ hưu, thầy Địch đột ngột ra đi…, những người chúng tôi đảm nhiệm tiếp công việc của các Thầy đã tạo dựng, cảm thấy trống vắng cả về tình cảm lẫn chỗ dựa trong chuyên môn, mà nhiều năm sau chưa chắc đã lấp đầy.
Người chị cả trong các anh chị kỹ thuật viên của Bộ môn ngày ấy là người Hà Nội gốc, có tiếng nói dịu dàng, giao tiếp thẳng thắn lịch thiệp, sống chan hòa, và có tay nghề cao….đó là cô Nguyễn Thị Lý. Cô Lý là hạt nhân đoàn kết, động viên các anh chị kỹ thuật viên hoàn thành công việc, là mối dây liên hệ giữa giáo viên và kỹ thuật viên trong Bộ môn. Nhiều năm cô Lý là người giữ tay hòm chìa khóa với đúng nghĩa đen, quan tâm đến từng thành viên trong Bộ môn. Nhiều tiêu bản đẹp để giảng dạy còn giữ được đến ngày nay là sản phẩm của sự khéo léo và kinh nghiệm nghề nghiệp của cô Lý, cô Nghi, cô Hương, anh Long, cô The, chị Oanh, chị Lan.
Năm mươi năm trôi qua, đã đủ quãng lùi về thời gian để khách quan khẳng định những đóng góp to lớn của các Thầy Cô trong những năm tháng ban đầu xây dựng Bộ môn. Tất nhiên, qua cách nhìn chỉ của một nhân chứng, thể hiện trên vài trang giấy, không bao giờ là đủ. Nhưng ít ra cũng là những sự thật, và cũng để trả lại sự công bằng trong đánh giá về những đóng góp của mỗi thành viên trong khoảng thời gian và không gian khi Bộ môn mới hình thành, mà vì những lý do nào đó (cũng có thể do thói tật trong cư xử thường thấy ngoài đời), đã không được nêu lên trong quá khứ.
“Đã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng trách cứ trời gần trời xa”
Trong chúng ta, ai đã từng trải qua các công việc khác nhau trong ngành y tế, khi trở về Bộ môn làm việc ít nhiều cảm thấy công việc hàng ngày thật đơn điệu, nếu chỉ dừng ở những buổi soạn bài và lên lớp. Ai đã từng làm việc, tiếp xúc với đồng nghiệp các chuyên ngành khác, có lúc đã không khỏi suy nghĩ, bực bội, rồi mặc cảm nghề nghiệp… trước những ánh mắt, một vài câu nói thiếu hiểu biết như “…chẳng cần học Mô, cũng không cần biết Phôi cũng chẳng sao…”, có khi là câu nói xúc phạm. Đây là sự thật. Để lý giải điều này, hãy đặt yếu tố khách quan sang một bên để tự xem xét mình. Trước đây, khi tâm sự với các đồng nghiệp trong Bộ môn, tôi thường ngầm kích thích tính chủ động trong mỗi người bằng cách lặp lại cách chơi chữ của nhà thơ Tố Hữu: “lép vế hay vế lép?” Không thể ngồi chờ, không ai có thể thay chúng ta nếu chúng ta muốn “cơ bắp” của mình khoẻ mạnh lên. Nếu vế không lép thì không thể lép vế… Chính những đóng góp thiết thực của chúng ta trong nghiên cứu, phục vụ và đào tạo, chủ động và bắt kịp thời đại đã làm thay đổi cách nhìn nhận về chuyên ngành chúng ta. Những năm chuẩn bị nghỉ hưu, tôi đã từng rất khiêm tốn tiếp nhận những lời thăm hỏi, động viên thiện chí của nhiều đồng nghiệp trong và ngoài Trường, trước những đổi thay và những kết quả ban đầu của chúng ta.
Qua nhiều năm tham gia giảng dạy và hướng dẫn cho các đối tượng sau đại học các chuyên ngành khác, cảm nhận của tôi là không ít các chuyên ngành cần đến những kiến thức sâu về mô học và phôi học. Đã có hai vị Giáo sư của hai chuyên ngành vài lần hỏi tôi tại sao các đối tượng sau đại học của chuyên ngành đó lại không được bổ sung, nâng cao kiến thức về mô học và phôi học. Chắc hẳn không phải nói để vui lòng người nghe, mà chính các Vị đang cần những thông tin về Mô-Phôi học để phục vụ viết sách, báo hoặc chấm luận văn, luận án. Hiện nay việc cập nhật thông tin khoa học chuyên ngành không còn khó khăn như trước. Nên chăng hãy thay đổi nội dung và phương pháp giảng dạy các đối tượng này theo hình thức truyền đạt theo các chuyên đề. Để làm được việc này, người thầy trước hết phải vượt qua chính mình.
Nhớ lại cách đây đã trên hai mươi năm, thầy hiệu trưởng Hoàng Đình Cầu đã tiếp thầy Phạm Phan Địch tại sân trường, hôm đó tôi cũng đi theo. Sau khi nghe xong lời đề nghị của thầy Địch về tái trang bị một kính hiển vi điện tử cho Trường, thầy Cầu quay mặt đi, liếc nhìn mấy gian giảng đường cũ nát, thong thả nói: “Cái đó, các anh à, hãy để cho nước ngoài họ làm!”. Tôi như bị gáo nước lạnh tạt vào người. Về tới Bộ môn, thầy Địch ngao ngán trách tôi: “Từ nay cậu đừng xui tôi làm những việc vô ích như thế nữa!?”. Hơn mười năm sau, khác với trước, ý tưởng này đã được thể hiện chi tiết trong một, hai dự án, nếu không nhầm thì đã được Thường trực Hội đồng khoa học giáo dục Trường thông qua. Nhưng rồi cũng lại rơi vào khoảng không im lặng. Cho đến khi, tôn trọng lời đề nghị của người đứng đầu nhà trường lúc đó là góp ý cho Trường trước khi nghỉ hưu, bằng văn bản gửi trực tiếp, tôi đã trình bày ý nghĩa to lớn của việc Trường cần sớm xây dựng hai lab: hóa mô miễn dịch và hiển vi điện tử, giúp nâng cao chất lượng và năng lực phục vụ công tác nghiên cứu và đào tạo sau đại học cho Trường trong giai đoạn mới. Tới nay đã hai năm có lẻ, có lẽ mối quan tâm đã chuyển sang hướng khác của Ban lãnh đạo mới. Một đồng nghiệp nào đó đã nói với tôi: “...ở ta, muốn triển khai một ý đồ chuyên môn, phải là người có quyền!..”. Nếu là vậy, hãy đợi đấy! có thể trong một tương lai nào đó có một hiệu trưởng nhà trường xuất thân từ các đồng nghiệp trẻ hôm nay trong ngành Hình thái học sẽ thực hiện được ý tưởng này ?.
Với các đồng nghiệp trẻ ở Bộ môn hôm nay, thấy các bạn làm việc, học tập, chúng tôi thật sự vui mừng. Các bạn đã được đào tạo bài bản hơn so với thế hệ trước rất nhiều. Các bạn đang có trong tay một “gia tài và nguồn vốn” không nhỏ. Hãy trân trọng và phát huy những nét đẹp, và khắc phục những tồn tại của Bộ môn trong quá khứ. Hãy cần mẫn và khiêm tốn, năng động và sáng tạo, làm giầu hơn nữa gia tài trí tuệ và vật chất đó. Các bạn sẽ không cần đến câu thơ của Nguyễn Du tôi đã dẫn trong tiêu đề bài viết này, mà trước đây các thế hệ chúng tôi đôi lúc phải nhẩm đọc để tự nhủ mình.
Hà Nội, tháng 11 năm 2009





