BỘ MÔN MÔ HỌC VÀ PHÔI THAI HỌC - 50 NĂM MỘT CHẶNG ĐƯỜNG
Friday, January 15, 2010 3:59:40 AM
BỘ MÔN MÔ HỌC- PHÔI THAI HỌC
50 NĂM- MỘT CHẶNG ĐƯỜNG
PGS.TS. Nguyễn Thị Bình
Trưởng bộ môn Mô- Phôi học
Trường Đại Học Y Hà Nội
Sau khi miền Bắc hoàn toàn được giải phóng khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, Bộ Y tế có chủ trương tăng cường năng lực đào tạo của Trường Đại học Y- Dược Hà nội. Trong hai năm 1959-1960, nhiều bộ môn mới được hình thành trong đó có bộ môn Tổ chức học (nay là bộ môn Mô học và Phôi thai học).
Bộ môn Tổ chức học được tách ra từ Bộ môn Giải phẫu bệnh theo quyết định số 1068 BYT/QĐ do Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch ký ngày 31 tháng 12 năm 1959. Cơ sở của bộ môn được đặt tại Viện Radium (bệnh viện K), phố Quán sứ- Hà Nội. Bác sĩ Trương Cam Cống được chỉ định làm chủ nhiệm bộ môn. Ngay năm đầu tiên sau khi thành lập, nhân sự của bộ môn ngày một tăng cường, bác sĩ Nguyễn Văn Ngọc- một trong số 31 sinh viên Y6 khóa đầu tiên đào tạo sau ngày Thủ đô được giải phóng, vừa tốt nghiệp, được giữ lại làm cán bộ giảng dạy của trường; tiếp đến là bác sĩ Phạm Phan Địch và 2 kỹ thuật viên là bà Nguyễn Thị Lý và bà Nguyễn Thị Phú. Cũng ngay năm đầu tiên sau khi thành lập, bộ môn được giao nhiệm vụ đào tạo lớp chuyên khoa Tổ chức học khóa I gồm 7 sinh viên. Sau khi tốt nghiệp vào năm 1961, 2 trong 7 bác sĩ chuyên khoa Tổ chức học khóa I được giữ lại làm cán bộ giảng dạy của bộ môn, đó là bác sĩ Đỗ Kính và bác sĩ Trần Văn Chất. Năm 1962, bộ môn tiếp nhận thêm 1 kỹ thuật viên từ bộ môn Giải phẫu chuyển sang là bà Bành Uyển Nghi. Cuối năm 1963, bộ môn được tăng cường thêm 1 cán bộ giảng dạy nữa là bác sĩ Tưởng Bích Trúc (nguyên là cán bộ giảng dạy của bộ môn Pháp Y). Năm 1962, bộ môn đào tạo bác sĩ chuyên khoa khóa II.
Trong những tháng năm đầu tiên, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng dưới sự lãnh đạo của bác sĩ Trương Cam Cống, tập thể bộ môn đã xây dựng được chương trình, mục tiêu đào tạo, tổ chức viết sách giáo khoa chuyên ngành, chuẩn bị các phương tiện giảng dạy, đảm bảo việc giảng thực tập và lý thuyết cho sinh viên. Song song với việc giảng dạy, bộ môn thường xuyên phối hợp với khoa Giải phẫu bệnh, bệnh viện Việt- Đức để làm nghiên cứu khoa học. Bộ môn cũng luôn quan tâm tới việc nâng cao năng lực làm việc của các thành viên trong bộ môn. Năm 1963, bác sĩ Phạm Phan Địch được cử đi thực tập sinh tại Leningrad (Liên xô cũ).
Nề nếp và tinh thần trách nhiệm của các thành viên trong bộ môn từ những ngày đầu thành lập vẫn còn được duy trì cho đến ngày nay.
Năm 1963, bộ môn chuyển địa điểm làm việc về Viện Giải phẫu, 48 Tăng Bạt Hổ. Đồng thời với việc giảng dạy về Mô và Phôi, các cán bộ của bộ môn còn tham gia làm pháp y. Giai đoạn này (1963-1972) bộ môn có tên là Tổ chức- Pháp y học.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1965- 1975), bộ môn phải đi sơ tán khỏi Hà nội. Địa điểm của bộ môn thường xuyên thay đổi:
- 1965-1966: Mãn Quang, Hợp Thành, Phú Lương, Bắc Thái.
- 1967-1968: Khôn Luân, Hợp Thành, Phú Lương, Bắc Thái.
- 1968-1969: Mãn Quang, Hợp Thành, Phú Lương, Bắc Thái.
- 1969-1971: Cao Mật, Thanh Oai, Hà Tây.
- 1971-1972: Đồng Luận, Thanh Thủy, Vĩnh Phú.
- 1973-1974: Nhổn, Từ Liêm, Hà Nội.
Mỗi lần chuyển địa điểm là một lần phải di chuyển toàn bộ bàn ghế, kính hiển vi, tranh vẽ… khó khăn, vất vả nhưng bộ môn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và liên tục đạt danh hiệu Tổ lao động Xã hội chủ nghĩa.
Giai đoạn này, đối tượng giảng dạy nhiều hơn. Ngoài sinh viên Y2, bộ môn đào tạo các bác sĩ chuyên khoa, hàm thụ, chuyên tu, các khóa kỹ thuật viên và hỗ trợ giảng dạy cho Trường Đại học Y Thái Nguyên. Mặc dù ở nơi sơ tán, đời sống khó khăn, điều kiện thiếu thốn nhưng toàn thể cán bộ công chức của bộ môn rất hăng say học ngoại ngữ để cập nhật được các thông tin khoa học. Các cán bộ của bộ môn lần lượt đi học nghiên cứu sinh ở Liên xô và các nước Đông âu. Sau khi bác sĩ Phạm Phan Địch từ Liên xô trở về, một hướng nghiên cứu mới của bộ môn đã hình thành, đó là: Nghiên cứu sự tái tạo hồi phục của các mô, cơ quan sau tác động của các yếu tố khác nhau. Một trong những công trình đáng chú ý là “ảnh hưởng của chất độc màu da cam 2,4,5T; 2,4D lên cơ thể sống”. Công trình này đã góp phần tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ. Hướng nghiên cứu này được các thế hệ kế tiếp duy trì và phát triển cho tới tận hôm nay. Nhiều công trình cấp bộ, luận án tiến sĩ Y học đã thành công theo hướng này như: Đề tài cấp bộ: “Nghiên cứu ảnh hưởng của Wofatox đến các cơ quan nội tạng của động vật thí nghiệm”, luận án tiến sĩ: “ảnh hưởng của Wofatox đến cấu trúc và khả năng hồi phục của gan chuột cống trắng”, “Đánh giá ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Bassa đến cấu trúc hình thái một số tạng chuột cống trắng”... Trong thời gian này bộ môn vẫn liên tục đào tạo các bác sĩ chuyên ngành khóa 4, 5, 6 để cung cấp cán bộ giảng dạy cho các trường Y trong cả nước.
Năm 1975, từ nơi sơ tán, bộ môn trở về Viện Giải phẫu, 48 Tăng Bạt Hổ. Điều kiện làm việc còn nhiều khó khăn, cơ sở chật hẹp, tuy nhiên với đội ngũ cán bộ giảng dạy phần lớn được đào tạo sau đại học ở nước ngoài và các cô, bác kỹ thuật viên giàu kinh nghiệm, việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học của bộ môn luôn thu được nhiều kết quả tốt đẹp. Bộ môn luôn đạt danh hiệu lao động giỏi và liên tục đạt danh hiệu tổ lao động Xã hội chủ nghĩa. Trong thời gian này, bộ môn hỗ trợ giảng dạy cho các trường bạn: Đại học Y Tây Nguyên, Đại học Y Hải Phòng,…Nhiều cán bộ giảng dạy và kỹ thuật viên của bộ môn đã là chuyên gia giảng dạy cho các nước bạn như: Campuchia, Angola. Sau một thời gian gián đoạn, năm 1977, bộ môn lại tiếp tục đào tạo các bác sĩ chuyên ngành hệ hai năm hoặc một năm. Cho tới năm 2000, tổng số đã có 11 khoá bác sĩ chuyên khoa được đào tạo tại bộ môn. Các bác sĩ chuyên khoa này đều là các hạt nhân của các Bộ môn Mô- Phôi học của các trường đại học Y trong cả nước. Năm 1979, Bộ môn được giao trách nhiệm đào tạo sau đại học cho các đối tượng chuyên ngành: bác sĩ nội trú, bác sĩ chuyên khoa 1, bác sĩ chuyên khoa 2, trợ lý giảng dạy và nghiên cứu khoa học, cao học và nghiên cứu sinh. Ngoài ra, bộ môn còn đươc phân công giảng dạy về Mô học và Phôi thai học cho các chuyên ngành khác. Số các đối tượng tới học môn cơ sở, làm chuyên đề tiến sỹ ngày một tăng. Chương trình giảng dạy, tài liệu giảng dạy và phương pháp lượng giá của các đối tượng đại học và sau đại học từng bước được hoàn thiện và ổn định.
Năm 1980, bộ môn chuyển địa điểm về trụ sở chính của trường ở số 1- Tôn Thất Tùng- Hà Nội. Cơ sở của bộ môn rộng rãi và khang trang hơn trên tầng 3 nhà A3. Đến năm 1993, để thể hiện đầy đủ nhiệm vụ và chức năng, bộ môn đổi tên thành bộ môn Mô học và Phôi thai học, tên gọi tắt là bộ môn Mô- Phôi học.
Trong những năm đầu thế kỷ 20, hoạt động nghiên cứu khoa học mở thêm một hướng mới qua việc đẩy mạnh nghiên cứu phối hợp với các đơn vị trong và ngoài trường, đó là: nghiên cứu tác dụng sinh học và tính hoà hợp mô của các vật liệu mới. Nhiều công trình nghiên cứu về tác dụng của các loại laser khác nhau đã được công bố. Các vật liệu thay thế (da nhân tạo, màng collagen, gốm apatit…), các thuốc chữa bệnh có nguồn gốc từ cây cỏ trong nước (viên giun, thuốc chữa sốt rét Artesunat), cũng là những nghiên cứu của bộ môn. Đặc biệt, bước sang đầu thế kỷ 21, phát huy tính chủ động trong khung cảnh đất nước đổi mới và hội nhập, bộ môn đã sớm xác định và từng bước triển khai 3 hướng hoạt động nghiên cứu khoa học là: Bảo quản mô, hỗ trợ sinh sản và nuôi cấy tế bào. Mọi hoạt động của 3 hướng này đều gắn liền với lâm sàng và công tác đào tạo sau đại học. Trong những năm vừa qua, nhờ sự quan tâm của nhà trường, bộ môn đã được đầu tư thêm nhiều các trang thiết bị hiện đại. Song song với nhiệm vụ chính là giảng dạy cho các đối tượng trong ngành Y về kiến thức Mô và Phôi, thế kiềng ba chân trong hoạt động chuyên môn và nghiên cứu đã giúp cho cán bộ công nhân viên chức của bộ môn ổn định đời sống, ngày càng gắn bó với chuyên ngành “Mô- Phôi”. Bộ môn đã cố gắng khai thác một cách có hiệu quả những trang thiết bị. Đến nay, phòng bảo quản Mô của bộ môn gắn kết với hầu hết các khoa ngoại thần kinh của các bệnh viện phía Bắc và đã bảo quản được 2838 mảnh xương sọ dùng ghép tự thân, trong đó đã ghép lại cho 2095 bệnh nhân. Trong hoạt động hỗ trợ sinh sản, bộ môn đã phối hợp với Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội tiến hành kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, đã có 56 em bé ra đời từ kỹ thuật này. Các bác sĩ và kỹ thuật viên của bộ môn đã làm chủ được mọi kỹ thuật (kể cả kỹ thuật cao nhất: tiêm tinh trùng vào bào tương của noãn) trong hỗ trợ sinh sản. Lĩnh vực nuôi cấy tế bào phát triển muộn hơn một chút nhưng cũng đã có những thành công ban đầu: Lần đầu tiên ở Việt Nam, bộ môn Mô- Phôi Trường Đại học Y Hà Nội đã nuôi cấy thành công tấm biểu mô giác mạc từ tế bào gốc vùng rìa giác mạc. Bộ môn đã kết hợp với Bệnh viện Mắt Trung ương ghép tự thân và mang lại ánh sáng cho 06 bệnh nhân bị bỏng bề mặt giác mạc không hồi phục.
Những con số trên đây tuy mới chỉ là những kết quả ban đầu, nhưng mang ý nghĩa to lớn và đã trở thành nền tảng vững chắc cho sự phát triển của bộ môn trong giai đoạn mới, theo định hướng: “ Đẩy mạnh và mở rộng hoạt động nghiên cứu khoa học chuyên ngành, thiết thực phục vụ sức khỏe nhân dân và nhiệm vụ đào tạo cán bộ cho ngành”.
Năm mươi năm đã trôi qua kể từ ngày được thành lập, đội ngũ các thế hệ giáo viên và kỹ thuật viên của bộ môn đã luôn đoàn kết phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, góp phần thiết thực làm vẻ vang danh hiệu và truyền thống của Trường Đại học Y Hà Nội.
50 NĂM- MỘT CHẶNG ĐƯỜNG
PGS.TS. Nguyễn Thị Bình
Trưởng bộ môn Mô- Phôi học
Trường Đại Học Y Hà Nội
Sau khi miền Bắc hoàn toàn được giải phóng khỏi ách thống trị của thực dân Pháp, Bộ Y tế có chủ trương tăng cường năng lực đào tạo của Trường Đại học Y- Dược Hà nội. Trong hai năm 1959-1960, nhiều bộ môn mới được hình thành trong đó có bộ môn Tổ chức học (nay là bộ môn Mô học và Phôi thai học).
Bộ môn Tổ chức học được tách ra từ Bộ môn Giải phẫu bệnh theo quyết định số 1068 BYT/QĐ do Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch ký ngày 31 tháng 12 năm 1959. Cơ sở của bộ môn được đặt tại Viện Radium (bệnh viện K), phố Quán sứ- Hà Nội. Bác sĩ Trương Cam Cống được chỉ định làm chủ nhiệm bộ môn. Ngay năm đầu tiên sau khi thành lập, nhân sự của bộ môn ngày một tăng cường, bác sĩ Nguyễn Văn Ngọc- một trong số 31 sinh viên Y6 khóa đầu tiên đào tạo sau ngày Thủ đô được giải phóng, vừa tốt nghiệp, được giữ lại làm cán bộ giảng dạy của trường; tiếp đến là bác sĩ Phạm Phan Địch và 2 kỹ thuật viên là bà Nguyễn Thị Lý và bà Nguyễn Thị Phú. Cũng ngay năm đầu tiên sau khi thành lập, bộ môn được giao nhiệm vụ đào tạo lớp chuyên khoa Tổ chức học khóa I gồm 7 sinh viên. Sau khi tốt nghiệp vào năm 1961, 2 trong 7 bác sĩ chuyên khoa Tổ chức học khóa I được giữ lại làm cán bộ giảng dạy của bộ môn, đó là bác sĩ Đỗ Kính và bác sĩ Trần Văn Chất. Năm 1962, bộ môn tiếp nhận thêm 1 kỹ thuật viên từ bộ môn Giải phẫu chuyển sang là bà Bành Uyển Nghi. Cuối năm 1963, bộ môn được tăng cường thêm 1 cán bộ giảng dạy nữa là bác sĩ Tưởng Bích Trúc (nguyên là cán bộ giảng dạy của bộ môn Pháp Y). Năm 1962, bộ môn đào tạo bác sĩ chuyên khoa khóa II.
Trong những tháng năm đầu tiên, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng dưới sự lãnh đạo của bác sĩ Trương Cam Cống, tập thể bộ môn đã xây dựng được chương trình, mục tiêu đào tạo, tổ chức viết sách giáo khoa chuyên ngành, chuẩn bị các phương tiện giảng dạy, đảm bảo việc giảng thực tập và lý thuyết cho sinh viên. Song song với việc giảng dạy, bộ môn thường xuyên phối hợp với khoa Giải phẫu bệnh, bệnh viện Việt- Đức để làm nghiên cứu khoa học. Bộ môn cũng luôn quan tâm tới việc nâng cao năng lực làm việc của các thành viên trong bộ môn. Năm 1963, bác sĩ Phạm Phan Địch được cử đi thực tập sinh tại Leningrad (Liên xô cũ).
Nề nếp và tinh thần trách nhiệm của các thành viên trong bộ môn từ những ngày đầu thành lập vẫn còn được duy trì cho đến ngày nay.
Năm 1963, bộ môn chuyển địa điểm làm việc về Viện Giải phẫu, 48 Tăng Bạt Hổ. Đồng thời với việc giảng dạy về Mô và Phôi, các cán bộ của bộ môn còn tham gia làm pháp y. Giai đoạn này (1963-1972) bộ môn có tên là Tổ chức- Pháp y học.
Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (1965- 1975), bộ môn phải đi sơ tán khỏi Hà nội. Địa điểm của bộ môn thường xuyên thay đổi:
- 1965-1966: Mãn Quang, Hợp Thành, Phú Lương, Bắc Thái.
- 1967-1968: Khôn Luân, Hợp Thành, Phú Lương, Bắc Thái.
- 1968-1969: Mãn Quang, Hợp Thành, Phú Lương, Bắc Thái.
- 1969-1971: Cao Mật, Thanh Oai, Hà Tây.
- 1971-1972: Đồng Luận, Thanh Thủy, Vĩnh Phú.
- 1973-1974: Nhổn, Từ Liêm, Hà Nội.
Mỗi lần chuyển địa điểm là một lần phải di chuyển toàn bộ bàn ghế, kính hiển vi, tranh vẽ… khó khăn, vất vả nhưng bộ môn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và liên tục đạt danh hiệu Tổ lao động Xã hội chủ nghĩa.
Giai đoạn này, đối tượng giảng dạy nhiều hơn. Ngoài sinh viên Y2, bộ môn đào tạo các bác sĩ chuyên khoa, hàm thụ, chuyên tu, các khóa kỹ thuật viên và hỗ trợ giảng dạy cho Trường Đại học Y Thái Nguyên. Mặc dù ở nơi sơ tán, đời sống khó khăn, điều kiện thiếu thốn nhưng toàn thể cán bộ công chức của bộ môn rất hăng say học ngoại ngữ để cập nhật được các thông tin khoa học. Các cán bộ của bộ môn lần lượt đi học nghiên cứu sinh ở Liên xô và các nước Đông âu. Sau khi bác sĩ Phạm Phan Địch từ Liên xô trở về, một hướng nghiên cứu mới của bộ môn đã hình thành, đó là: Nghiên cứu sự tái tạo hồi phục của các mô, cơ quan sau tác động của các yếu tố khác nhau. Một trong những công trình đáng chú ý là “ảnh hưởng của chất độc màu da cam 2,4,5T; 2,4D lên cơ thể sống”. Công trình này đã góp phần tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ. Hướng nghiên cứu này được các thế hệ kế tiếp duy trì và phát triển cho tới tận hôm nay. Nhiều công trình cấp bộ, luận án tiến sĩ Y học đã thành công theo hướng này như: Đề tài cấp bộ: “Nghiên cứu ảnh hưởng của Wofatox đến các cơ quan nội tạng của động vật thí nghiệm”, luận án tiến sĩ: “ảnh hưởng của Wofatox đến cấu trúc và khả năng hồi phục của gan chuột cống trắng”, “Đánh giá ảnh hưởng của thuốc trừ sâu Bassa đến cấu trúc hình thái một số tạng chuột cống trắng”... Trong thời gian này bộ môn vẫn liên tục đào tạo các bác sĩ chuyên ngành khóa 4, 5, 6 để cung cấp cán bộ giảng dạy cho các trường Y trong cả nước.
Năm 1975, từ nơi sơ tán, bộ môn trở về Viện Giải phẫu, 48 Tăng Bạt Hổ. Điều kiện làm việc còn nhiều khó khăn, cơ sở chật hẹp, tuy nhiên với đội ngũ cán bộ giảng dạy phần lớn được đào tạo sau đại học ở nước ngoài và các cô, bác kỹ thuật viên giàu kinh nghiệm, việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học của bộ môn luôn thu được nhiều kết quả tốt đẹp. Bộ môn luôn đạt danh hiệu lao động giỏi và liên tục đạt danh hiệu tổ lao động Xã hội chủ nghĩa. Trong thời gian này, bộ môn hỗ trợ giảng dạy cho các trường bạn: Đại học Y Tây Nguyên, Đại học Y Hải Phòng,…Nhiều cán bộ giảng dạy và kỹ thuật viên của bộ môn đã là chuyên gia giảng dạy cho các nước bạn như: Campuchia, Angola. Sau một thời gian gián đoạn, năm 1977, bộ môn lại tiếp tục đào tạo các bác sĩ chuyên ngành hệ hai năm hoặc một năm. Cho tới năm 2000, tổng số đã có 11 khoá bác sĩ chuyên khoa được đào tạo tại bộ môn. Các bác sĩ chuyên khoa này đều là các hạt nhân của các Bộ môn Mô- Phôi học của các trường đại học Y trong cả nước. Năm 1979, Bộ môn được giao trách nhiệm đào tạo sau đại học cho các đối tượng chuyên ngành: bác sĩ nội trú, bác sĩ chuyên khoa 1, bác sĩ chuyên khoa 2, trợ lý giảng dạy và nghiên cứu khoa học, cao học và nghiên cứu sinh. Ngoài ra, bộ môn còn đươc phân công giảng dạy về Mô học và Phôi thai học cho các chuyên ngành khác. Số các đối tượng tới học môn cơ sở, làm chuyên đề tiến sỹ ngày một tăng. Chương trình giảng dạy, tài liệu giảng dạy và phương pháp lượng giá của các đối tượng đại học và sau đại học từng bước được hoàn thiện và ổn định.
Năm 1980, bộ môn chuyển địa điểm về trụ sở chính của trường ở số 1- Tôn Thất Tùng- Hà Nội. Cơ sở của bộ môn rộng rãi và khang trang hơn trên tầng 3 nhà A3. Đến năm 1993, để thể hiện đầy đủ nhiệm vụ và chức năng, bộ môn đổi tên thành bộ môn Mô học và Phôi thai học, tên gọi tắt là bộ môn Mô- Phôi học.
Trong những năm đầu thế kỷ 20, hoạt động nghiên cứu khoa học mở thêm một hướng mới qua việc đẩy mạnh nghiên cứu phối hợp với các đơn vị trong và ngoài trường, đó là: nghiên cứu tác dụng sinh học và tính hoà hợp mô của các vật liệu mới. Nhiều công trình nghiên cứu về tác dụng của các loại laser khác nhau đã được công bố. Các vật liệu thay thế (da nhân tạo, màng collagen, gốm apatit…), các thuốc chữa bệnh có nguồn gốc từ cây cỏ trong nước (viên giun, thuốc chữa sốt rét Artesunat), cũng là những nghiên cứu của bộ môn. Đặc biệt, bước sang đầu thế kỷ 21, phát huy tính chủ động trong khung cảnh đất nước đổi mới và hội nhập, bộ môn đã sớm xác định và từng bước triển khai 3 hướng hoạt động nghiên cứu khoa học là: Bảo quản mô, hỗ trợ sinh sản và nuôi cấy tế bào. Mọi hoạt động của 3 hướng này đều gắn liền với lâm sàng và công tác đào tạo sau đại học. Trong những năm vừa qua, nhờ sự quan tâm của nhà trường, bộ môn đã được đầu tư thêm nhiều các trang thiết bị hiện đại. Song song với nhiệm vụ chính là giảng dạy cho các đối tượng trong ngành Y về kiến thức Mô và Phôi, thế kiềng ba chân trong hoạt động chuyên môn và nghiên cứu đã giúp cho cán bộ công nhân viên chức của bộ môn ổn định đời sống, ngày càng gắn bó với chuyên ngành “Mô- Phôi”. Bộ môn đã cố gắng khai thác một cách có hiệu quả những trang thiết bị. Đến nay, phòng bảo quản Mô của bộ môn gắn kết với hầu hết các khoa ngoại thần kinh của các bệnh viện phía Bắc và đã bảo quản được 2838 mảnh xương sọ dùng ghép tự thân, trong đó đã ghép lại cho 2095 bệnh nhân. Trong hoạt động hỗ trợ sinh sản, bộ môn đã phối hợp với Bệnh viện Phụ Sản Hà Nội tiến hành kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm, đã có 56 em bé ra đời từ kỹ thuật này. Các bác sĩ và kỹ thuật viên của bộ môn đã làm chủ được mọi kỹ thuật (kể cả kỹ thuật cao nhất: tiêm tinh trùng vào bào tương của noãn) trong hỗ trợ sinh sản. Lĩnh vực nuôi cấy tế bào phát triển muộn hơn một chút nhưng cũng đã có những thành công ban đầu: Lần đầu tiên ở Việt Nam, bộ môn Mô- Phôi Trường Đại học Y Hà Nội đã nuôi cấy thành công tấm biểu mô giác mạc từ tế bào gốc vùng rìa giác mạc. Bộ môn đã kết hợp với Bệnh viện Mắt Trung ương ghép tự thân và mang lại ánh sáng cho 06 bệnh nhân bị bỏng bề mặt giác mạc không hồi phục.
Những con số trên đây tuy mới chỉ là những kết quả ban đầu, nhưng mang ý nghĩa to lớn và đã trở thành nền tảng vững chắc cho sự phát triển của bộ môn trong giai đoạn mới, theo định hướng: “ Đẩy mạnh và mở rộng hoạt động nghiên cứu khoa học chuyên ngành, thiết thực phục vụ sức khỏe nhân dân và nhiệm vụ đào tạo cán bộ cho ngành”.
Năm mươi năm đã trôi qua kể từ ngày được thành lập, đội ngũ các thế hệ giáo viên và kỹ thuật viên của bộ môn đã luôn đoàn kết phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, góp phần thiết thực làm vẻ vang danh hiệu và truyền thống của Trường Đại học Y Hà Nội.





