My Opera is closing 3rd of March

Khôn ba năm...



Giá trị chứng khoán biến động theo chiều hướng lên xuống của thị trường. Tuy nhiên, một số nhà đầu tư chỉ quan tâm đến động thái này mà ít để ý đến rủi ro liên quan trực tiếp đến cổ phiếu mà mình đã mua. Với cổ phiếu trong tay, nhà đầu tư là chủ sở hữu một phần của một doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh, báo cáo tài chính và được một nhóm người nào đó quản lý. Doanh nghiệp có thể ăn nên làm ra, thị giá cổ phiếu luôn ở mức cao và vượt xa đối thủ cạnh tranh. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp lâm vào cảnh khó khăn, nhà đầu tư sẽ đối đầu với những rủi ro liên quan đến hoạt động kinh doanh thường được gọi là rủi ro doanh nghiệp (company risk). Để tiện việc phân tích và so sánh, các nhà nghiên cứu còn gọi đây là rủi ro không hệ thống (unsystematic risk) tức là rủi ro xảy ra do một tình huống đặc thù đối với một loại cổ phiếu của một doanh nghiệp nào đó, khác với rủi ro hệ thống tác động trên toàn bộ thị trường.

Xét đến rủi ro không hệ thống, trước hết phải nói đến rủi ro kinh doanh (business risk) là rủi ro phát sinh từ tình huống đặc thù của doanh nghiệp và ảnh hưởng ngay đến thị giá cổ phiếu. Sự sụp đổ đầy tai tiếng của các tập đoàn một thời vang bóng ở Wall Street như Enron, Worldcom, Tyco trong những năm đầu tiên của thập kỷ này là những ví dụ sống động về rủi ro kinh doanh. Nhưng rủi ro kinh doanh không chỉ đơn thuần là hành động sai trái của kẻ lãnh đạo hay điều hành mà còn là mô hình hoạt động của chính doanh nghiệp trong một giai đoạn cụ thể. Cách đây không lâu, Apple thống lĩnh thị trường máy tính toàn cầu nhưng tình hình đã thay đổi khi Microsoft tung ra hệ điều hành Window. 10.000 đô la Mỹ đầu tư vào cổ phiếu Apple vào ngày 1-4-1991 chỉ còn là 4.000 đô la Mỹ vào ngày 31-12-2002. Ngược lại, cũng trong khoảng thời gian đó, nếu bạn đầu tư vào Microsoft thì từ 10.000 đô la sẽ biến thành 175.000 đô la. Còn ở ta, trong bối cảnh doanh nghiệp nhà nước chuyển sang cổ phần hóa mà lãnh đạo vẫn như cũ và mô hình kinh doanh “bình mới, rượu cũ” trong cơ chế thị trường cạnh tranh, thì rủi ro kinh doanh không phát sinh quả là điều bất bình thường.

Một doanh nghiệp hoạt động với dòng lưu kim (cash flow) lành mạnh, doanh số bán hàng tăng trưởng ổn định và chi tiêu đúng mức sẽ có rủi ro kinh doanh thấp. Nếu tình trạng này diễn ra trong thời gian dài thì nhà đầu tư có thể tương đối an tâm về doanh nghiệp mà mình đã bỏ tiền mua cổ phần. Nhưng điều này chưa đủ, doanh nghiệp bành trướng hoạt động kinh doanh cũng có lúc bị thiếu hụt về tài chính và không trả nổi cổ tức cho cổ đông như đã từng cam kết. Một tình huống khác: doanh nghiệp có doanh số bán hàng nhiều nhưng chưa lấy được tiền mặt từ các khoản phải thu trong khi phải thanh toán ngay cho chủ nợ hay nhà cung cấp và như vậy lâm vào tình trạng mất cân đối tài chính hay thiếu hụt về cash flow. Khi đầu tư trái phiếu, nhà đầu tư chắc cũng không thể bình tâm khi công ty phát hành gặp khó khăn tài chính và không thực hiện được lời hứa của mình khi trái phiếu đến hạn.
Khác với đầu tư vào cổ phiếu, tức là sở hữu một phần của doanh nghiệp, khi mua trái phiếu nhà đầu tư trở thành người cho vay và đối đầu với những rủi ro không khác gì một ngân hàng cung cấp tín dụng. Liệu người vay sẽ thanh toán đầy đủ vốn lẫn lãi theo đúng thời hạn và thỏa thuận đã ký kết? Ở các nước phát triển, nhà đầu tư có thể tham khảo mức độ tín nhiệm của tổ chức nhà nước hay doanh nghiệp phát hành trái phiếu. Trái phiếu được doanh nghiệp có tình hình tài chính vững mạnh được xem là chứng khoán có chất lượng đầu tư (investment grade securities). Ngược lại, trái phiếu của doanh nghiệp nợ nần nhiều khi phát hành bị xem là “trái phiếu rác” (junk bond).

Tuy nhiên, nói vậy mà không phải vậy, mặc dù bị coi là “rác” nhưng junk bond cũng được xem là những khoản đầu tư mang lại nhiều lợi nhuận vì định chế phát hành phải trả lãi cao mới thuyết phục nhà đầu tư mua. Vào đầu năm 2003, trên thị trường chứng khoán Mỹ, nhiều “trái phiếu rác” tạo ra 10 phần trăm thu nhập trong khi một số trái phiếu chính phủ có chất lượng cao chỉ trả được 5-6%. Cũng lại chuyện Enron: vào những năm đầu của thập kỷ này, trái phiếu Enron được Moody’s và S&P đánh giá có chất lượng đầu tư (Investment grade) một tuần trước khi tập đoàn này nộp đơn xin phá sản. Như vậy những đánh giá xếp hạng tín dụng chỉ có nghĩa tương đối. Nhưng cũng không thể vì thế mà nhà đầu tư tập trung mua quá nhiều hàng “rác” làm mất cân đối danh mục đầu tư của mình.

Rủi ro không hệ thống cuối cùng mà nhà đầu tư ở Việt Nam cần đề phòng là rủi ro thanh khoản (liquidity risk) tức là liệu nhà đầu tư có thể bán được chứng khoán của mình để lấy tiền mặt khi có nhu cầu hay không. Dù sao đi nữa, cần lưu ý rằng không có hình thức đầu tư nào “chắc ăn” nhất để có thể giải quyết tương đối thỏa đáng những vấn đề rủi ro nêu trên. Ông bà ta có câu: Khôn ba năm dại một giờ, cho dù tình huống thể chế hay thị trường thay đổi như thế nào đi chăng nữa, nhà đầu tư phải luôn tỉnh táo, cẩn trọng phán đoán hay nhận định những hoàn cảnh và tình huống phù hợp.

Theo TGKTSG

Niêm yết cổ phiếu ở MỹGiá trị các thương hiệu hàng đầu thế giới năm 2007

Write a comment

New comments have been disabled for this post.