Dung Quất - dòng dầu đã chảy- Món nợ ân tình với đời dân
Saturday, 21. February 2009, 09:04:57
Tranh thủ được thời gian nên lên mạng đọc thông tin .Ơ hoá ra trên mạng cũng đang náo nức như vui hội cơ mà ,nhiều trang báo đăng tin về dòng sản phẩm đầu tiên của nhà máy lọc dầu lắm chứ bộ
TT - Trên đường về Dung Quất, chúng tôi ghé thăm nhà ông Phạm Dậu, anh hùng lực lượng vũ trang, trước đây là xã đội trưởng Bình Hòa (huyện Bình Sơn). Chỉ khi ngồi đối diện với ông lão 77 tuổi, một chân bị cụt trong chiến tranh mới thấm thía sự hi sinh của người dân nơi đây.
Anh hùng lực lượng vũ trang Phạm Dậu kể về vụ thảm sát 430 người dân Bình Hòa năm 1966-Ảnh: L.Đ.DụcDung Quất ra đời, ngoài ý nghĩa của một khu kinh tế động lực cho miền Trung, còn là món nợ ân tình với những đời dân tận tụy hi sinh vì nước.
Ngày hôm qua bi tráng
Quảng Ngãi nổi tiếng với vụ thảm sát Sơn Mỹ được hàng trăm hãng thông tấn trên thế giới nhắc đến, song hóa ra ở đây còn có những vụ thảm sát kinh hoàng không thua gì Sơn Mỹ nhưng đôi khi sự kiện lịch sử cũng có số phận của nó, đã bị chìm khuất và ít người biết đến. Bình Hòa từng chịu một trận thảm sát như thế vào năm 1966, trước Sơn Mỹ hai năm. Chỉ trong hai ngày, những lính đánh thuê Đại Hàn đã giết hại 430 người dân, hầu hết là phụ nữ và trẻ em. Khi ông Dậu đưa chúng tôi ra nhà bia tưởng niệm vụ thảm sát, tấm bia chi chít khắc tên người. Nơi dựng nhà bia bây giờ chính là vị trí mà xưa kia những lính đánh thuê đã lùa dân đến đó để xả súng tàn sát không ghê tay.
Vạn Tường - địa danh ấy sẽ cũng như ngàn vạn địa danh khác nếu không có trận đánh lịch sử mở đầu trên chiến trường miền Nam khi quân chủ lực cách mạng đánh vỗ mặt trực tiếp với cả hải - lục - không quân của Mỹ để tin là có thể “đánh được Mỹ”. Sau trận Vạn Tường, không khó khăn gì để đối phương không biết vùng duyên hải này chính là sào huyệt của cách mạng. Dồn dân lập ấp, càn quét, bắt bớ, thảm sát..., làm đủ trò chỉ để biến nơi đây thành vùng trắng, tát “cá” ra khỏi “nước”.
Mặc cho bom đạn chà xát khốc liệt, người dân cả một vùng đông huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh không ai rời bỏ quê nhà, bất chấp bị thảm sát, càn quét, dân vẫn bám lấy mồ mả ông cha, lũy tre bờ cát mà sống, mà chiến đấu. Mấy chục năm bám làng giữ đất, “một tấc không đi - một li không rời”, vậy mà ngày hòa bình vì tương lai quê hương, vì khu công nghiệp, vì nhà máy lọc dầu, họ đã rời quê cha đất tổ đi đến định cư nơi ở mới. Còn sự hi sinh nào hơn thế?
Những người dân quyết tâm ra đi ngày ấy để Dung Quất có một ngày mai huy hoàng như những gì họ được nghe nói. Nhưng chỉ vài năm sau khi rời làng, nhiều người đã không cầm được nước mắt khi về lại làng xưa, bãi đất mênh mông chỉ là bãi cỏ hoang vắng chăn thả trâu bò. Dung Quất đã trải qua những tháng ngày thăng trầm mà báo chí thời đó từng gọi là “thành phố trực thuộc... xã”.
Làng mới, nỗi lo cũ
Chúng tôi đến xã Bình Thanh Tây (huyện Bình Sơn), ở đây có mấy ngôi làng mới vốn là của người dân ở Bình Trị di dời đợt đầu tiên vào năm 1998, khi Nhà nước giải tỏa lấy đất xây nhà máy lọc dầu. Từ đây về nhà máy lọc dầu xa gần 10km. Gia đình anh Nguyễn Tấn Lợi là một trong số gần 400 hộ dân đi đợt đầu tiên ấy.
Một góc quê hương mới của những người dân Bình Trị đã hi sinh cho tương lai của Dung Quất-Ảnh: L.Đ.DụcDấu hiệu cho thấy sự định cư lâu dài nơi đây của những hộ gia đình là những cây xoài lưu niên trong nhiều vườn nhà đã cho quả, còn nhà cửa hầu hết chưa có cái nào thể hiện sự thịnh vượng. Anh Lợi bảo: “Khi nghe nói ở làng quê của tui sẽ xây nhà máy lọc dầu, xây cảng ai cũng mừng, ai cũng hồ hởi, nhưng phải rời làng để đi thì đau xót lắm. Không phải tiếc ruộng tiếc vườn mà là thương mồ mả ông bà bao nhiêu đời phải để lại. Nhưng lòng dân nơi đây khi xưa tin vào cách mạng thì nay vui lòng nghe theo Nhà nước mà đi”.
Anh Lợi mở tủ lấy ra cho chúng tôi xem tấm giấy chứng nhận đất đai ở làng quê cũ, số đất được cấp theo sổ sách của anh ở đó là 4.700m2, đến vùng đất mới chỉ có được 2 sào đất (1.000m2), trong đó một sào được cấp, một sào coi như là đất mượn. Với sáu nhân khẩu, đất lạ, quê lạ, ruộng không có, số tiền đền bù tất cả nhà cửa đất đai cây cối hồi đó anh nhận tất tần tật là 78 triệu đồng, lên vùng tái định cư loay hoay vài năm không có đất ruộng, ăn dần vào số tiền kia một thời gian, lo cho con cái ăn học thì số tiền cũng hết.
Niềm an ủi của anh là giờ đây người con trai đầu Nguyễn Tấn Xong đang làm việc ở Nhà máy đóng tàu Vinashin trong Khu kinh tế Dung Quất. Bây giờ Xong vừa đi làm, vừa học tại chức đại học hàng hải. Điều ấy có nghĩa là với sự hi sinh của mình khi rời làng, anh Lợi đã nhận lại một “phần lãi” là con cái anh đã thôi chân lấm tay bùn như anh để có một cuộc sống khác, ít ra là khá hơn nhiều so với số phận của bố mẹ.
Vừa rời khỏi nhà anh Lợi, chúng tôi gặp một người đàn ông cụt hai chân đang vội vã lăn xe trên đường. Hóa ra những người chúng tôi gặp tình cờ lại mang đầy sức nặng “điển hình” của sự hi sinh của người dân vùng cát. Người đàn ông cụt hai chân ấy tên là Nguyễn Đại, năm nay 60 tuổi.
Ông cũng quê ở thôn Lệ Thủy, xã Bình Trị, cũng thuộc lớp di dân tái định cư đợt đầu tiên của Dung Quất. Trong chiến tranh, ông Đại có hai người anh là liệt sĩ hi sinh trên đất Bình Trị vào năm 1967, năm 1968 một người em trai ông chết khi 16 tuổi vì đạn pháo, mấy tháng sau bản thân ông khi ấy mới 19 tuổi cũng bị mìn tiện cụt hai chân. Hi sinh khốc liệt vậy mà ông vẫn không rời làng.
Hỏi ông rời làng lên tái định cư ở đây đã mười năm rồi có băn khoăn gì không, ông Đại trầm giọng: “Tui cụt hai chân nhưng không đến nỗi phải sống nhờ. Hồi còn ở làng, tui lăn xe đi quanh làng mua tre pheo về làm nghề đan lát cũng sống được. Lên đây bốn bề đồi trọc, muốn làm nghề đan lát để nuôi sống mình cũng khó. Ruộng đất cũng không được như dưới quê. Biết là khó đó nhưng hồi trước máu xương anh em mình đổ ra như vậy không tiếc, bây giờ tiếc gì cây tre, nuộc lạt. Vậy là hồ hởi lên đường”.
Đi khắp thôn tái định cư Quang Hội ở xã Bình Thanh Tây, chúng tôi gặp thêm nhiều gia đình như nhà ông Nguyễn Hiền Bê, ông Nguyễn Tài... Trong nỗi luyến lưu và vui mừng về tương lai của miền quê cũ, họ vẫn ưu tư với những gì đã được hứa trước đây rằng “đến khu tái định cư nếu không hơn thì cũng bằng với làng quê cũ”, nhưng chưa có gì để họ an tâm là hơn so với chốn cũ.
Cả làng Quang Hội vắng teo, ông Tài cho biết tất cả thanh niên nam nữ, người có sức khỏe đều đã dậy từ lúc 5g sáng để đi 10km về làng cũ làm lao động phổ thông cho các công trình ở Dung Quất. Nhiều người lo khi các nhà máy hoàn thành sẽ không còn công việc phổ thông để làm, mà số con em được học hành đến nơi đến chốn để làm chuyên viên, kỹ sư trong khu kinh tế không phải nhà nào cũng có
___________________________________________________________________________________________
PS: Những ngày đi thực tế để viết loạt bài này, chúng tôi gặp những người từng gắn bó nhiều năm với Dung Quất như ông Phạm Hữu Tôn, ông Trần Lê Trung (hai ông đều là nguyên phó chủ tịch UBND tỉnh, trưởng ban quản lý Khu kinh tế Dung Quất).
Cả hai ông đều nhắc đi nhắc lại: “Sự hi sinh lớn nhất cho Dung Quất hôm nay chính là sự hi sinh của những người dân nơi đây”. Nhưng cứ như những gì chúng tôi chứng kiến, sự hi sinh ấy chưa được đáp đền tương xứng. Mai rồi nếu nhà máy lọc dầu được xây trên chính những nền nhà, những mảnh vườn hương hỏa của ông Tài, ông Đại, ông Bê, ông Lợi... mang lại lợi nhuận tính bằng triệu đôla, chúng tôi hi vọng những đồng tiền ấy sẽ được dành một phần tri ân những người hi sinh đầu tiên bằng cuộc ra đi mười năm trước ở Bình Thanh Tây này
( Theo http://www.dungquat.com.vn )




































