Nguyễn Ngọc Khương

Find And Repalce...

Subscribe to RSS feed

Anh đã sẵn sàng buông tay em ra...

Anh đã sẵn sàng buông tay em ra... Thực sự phải buông thôi bởi vì anh đã mệt nhoài, bước chân anh nặng trĩu, cánh tay đã mỏi nhừ, theo những ngày tháng chạy theo cái bóng của em, và giờ đây anh đã tự nhủ với mình rằng anh đã sẵn sàng rồi... sẵn sàng cho cái việc mà anh nghĩ anh sẽ chẳng bao giờ làm được đâu, đó là buông tay và ra đi...
Cái cảm giác mất mát này đã làm anh thực sự đau đớn, anh bật khóc, những giọt nước mắt mặn chát và cay nồng xộc lên sống mũi, tuôn sâu vào tận từng thớ thịt trên cơ thể, đau và nhức, như hàng ngàn hàng vạn mũi kim đâm, nhưng có mấy ai hiểu cho anh? Buông tay em ra là sẽ không nắm tay em nữa, cũng có nghĩa là mất đi chỗ dựa, như thế anh sẽ ngã, nhìn anh ngã em có xót xa không? Buông tay em ra nghĩa là không còn có em, là mất đi em, mất đi cái hơi thở của những ngày qua. Có lẽ sẽ chết trong cái nỗi đau đang dày vò bản thân. Nếu anh chết em sẽ khóc chứ? Buông tay em ra nghĩa là khi anh quay sang bên cạnh để tìm kiếm 1 bờ vai, 1 vòng tay trong cái mùa đông giá rét này thì anh sẽ chỉ nhận được sự trống trải và hơi lạnh mà thôi, em sẽ chạnh lòng khi a co ro chứ? Buông tay em ra là để em ra đi, em sẽ rời xa anh, không còn là của riêng anh, sẽ không bao giờ được nhận cái linh thiêng mà con người ta gọi là tình yêu của em nữa, em sẽ đem cho người khác đúng không? Từ bây giờ.... anh sẽ học cách chịu đựng 1 mình, những nỗi đau, những trăn trở. Anh sẽ học cách bước đi 1 mình, không có chỗ dựa nào cả. Anh sẽ học cách tự đứng bằng đôi chân, bằng sức lực của chính anh. Sẽ lấy những khoảng cách ngắn ngủi được bên em làm động lực, anh sẽ không cô độc trong những kí ức đấy đâu. Sẽ có 1 ngày... em quay lại và nắm lấy đôi bàn tay anh chứ? Sẽ có 1 ngày... em giật mình và em sẽ đuổi theo anh chứ? Sẽ có 1 ngày... em nhận ra em không thể sống mà không có anh chứ?Sẽ có 1 ngày nào đó... em hiểu rằng em đã làm tổn thương anh chứ? Khi đó em hãy tự nhủ với mình rằng anh buông em ra để em đi tìm hạnh phúc thực sự của mình và anh đã đau đớn biết chừng nào khi nhận ra rằng hạnh phúc ấy không ở nơi anh! Anh biết mà, cái gì vốn không thuộc về mình thì sẽ chẳng bao giờ là của mình cả, nhưng anh vẫn cố chấp nghĩ rằng mọi cố gắng của mình sẽ xoay chuyển tất cả, anh ngu ngốc lắm mà. Hết rồi... hết thật rồi... tất cả đã kết thúc như 1 giấc mơ thật dài vậy... Người ta nói trong mỗi con người đều có 1 trái tim được chia làm nhiều phần, 1 phần để yêu thương và 1 phần nữa là để thù hận, và cũng bởi người ta đã quá yêu nhau nên mới thù hận lẫn nhau... Phải chăng khi không thể có được tình yêu, người ta mới thù hận để xoá nhoà cái gọi là thương yêu ??? Sợ lắm cái cảm giác phải ghét 1 ai đó, nhưng vì quá yêu mà thế thì càng đáng sợ hơn... Em sẽ ghét anh chứ ? Sẽ căm ghét anh? Anh chẳng thể biết được nữa, anh đã rất yêu em cơ mà, yêu hơn mọi thứ anh có, mà đúng hơn " EM LÀ TẤT CẢ NHỮNG GÌ MÀ ANH CÓ"! Anh sợ rằng phải sống trong cái quay cuồng của hạnh phúc hôm qua. Sợ lắm những đêm nhớ em, nước mắt lại ràn rụa lại choàng tỉnh sau những cơn ác mộng về em. Sợ lắm khi mà đau đớn của anh hoà cùng với nhớ thương, để mỗi lần nhớ thương vô vọng lại là 1 lần đau đớn đến xé lòng. Hạnh phúc là gió cứ phảng phất. Hạnh phúc là cỏ mềm xanh mướt dưới chân ai đó. Anh sẽ nhớ bao nhiêu cái cảm giác ôm em trong lòng và cảm nhận hơi ấm của em, nó làm anh mềm nhũn, làm anh tan chảy trong niềm hân hoan rằng em đang là của anh, anh sẽ nhớ từng lời nói yêu thương và ngọt ngào nơi em... Thế em có nhớ không? Tai sao lại cho người ta hy vọng rồi lại tước đoạt? Tại sao lại cho người ta hạnh phúc rồi lại rời bỏ hạnh phúc ấy khi mà nó chưa 1 lần trọn vẹn? Tại sao??? Tại sao??? tại sao lại như vậy??? Hãy trả lời anh đi! Nói nữa nói mãi cũng chẳng bao giờ biết được câu trả lời đâu... nhưng ít ra bây giờ anh cũng đã có đủ can đảm để đối diện với chính mình rồi. Nhìn em buớc đi và ngửa mặt lên trời cho nước mắt chảy ngược vào lòng nhé em... ANH ĐÃ BUÔNG TAY RỒI ĐÓ,EM ĐI ĐI... Mình đã từng yêu nhau. Một thời sánh bước bên nhau,những tưởng chừng sẽ là vĩnh cữu và không gì có thể chia cắt đuợc.thế mà... Những lời hứa hẹn chỉ như gió thoáng bay... Những lời yêu thương chỉ còn là dĩ vãng.Tất cả chỉ là kỷ niệm, rồi buồn rồi hận thế nào thì cũng là chia ly.

virus_code_database_dictionary

tài liệu bằng tiếng Anh.Xin mời các bạn :
http://www.mediafire.com/?nznyttg21jo

Ebook tiếng việt+Clip hướng dẫn xây dựng Website với Jommla Open Source

Bạn muốn xây dựng cho mình 1 web site với giao diện đẹp và cực hot , hổ trợ nhiều Mod , sau khi đọc xong tài liệu dưới đây chắc chắn các bạn sẻ xây dựng cho mình 1 web site , đẹp và nổi tiếng nhất hiện nay . Đôi nét về Joomla : Joomla Joomla (hay Joomla) là một hệ quản trị nội dung mã nguồn mở (tiếng Anh: Open Source Content Management Systems) và miễn phí. Joomla! được viết bằng ngôn ngữ PHP cho phép người sử dụng có thể dễ dàng xuất bản các nội dung của họ lên Internet hoặc Intranet. Joomla! được sử dụng ở khắp mọi nơi trên thế giới, từ những website cá nhân cho tới những hệ thống website doanh nghiệp có tính phức tạp cao, cung cấp nhiều dịch vụ và ứng dụng. Joomla có thể dễ dàng cài đặt, dễ dàng quản lý và có độ tin cậy cao. Joomla có mã nguồn mở do đó việc sử dụng Joomla là hoàn toàn miễn phí cho tất cả mọi người trên thế giới.

Link :http://www.mediafire.com/?yylmcdvnfsv

Slide tài liệu JSP tiếng việt


JavaBean
- JDBC
- MVC
- Scriptlet
- Servlet
- Session Cookies
- Struts

Được trình bày theo dạng Slide:
Download:
http://www.mediafire.com/?rft7yndlxbm

80 tình huống giao tiếp

80 file mp3 về tình huống giao tiếp mình up lên chia sẽ với các bạn, hy vọng các bạn học được nhiều nhiều!


Download-Tải về:
Trích:
http://www.mediafire.com/?wkm0blztjtn
http://www.mediafire.com/?zzqygnqznlw
http://www.mediafire.com/?5xei3mwwixo
http://www.mediafire.com/?zlmdyzgfy52
Pass : haiphongit

Bởi vì đam mê

Lyrics: Bởi Vì Đam Mê - Akira Phan Mọi người xung quanh vẫn thường khuyên bảo tôi rằng Đừng nên yêu em sẽ chuốc lấy muộn phiền Vậy mà không tin tôi vẫn lao theo cuộc tình Giờ đây mới biết đó là cạm bẫy của tình yêu. Cuộc sống có lúc, dòng sông có khúc Ta chia tay sẽ đẹp hơn Miễn cưỡng sẽ không hạnh phúc Miễn cưỡng chỉ làm thêm đau Từ nay tôi sẽ không còn tin ai Vì không ai tốt hơn chính mình Tôi sẽ quên tình tôi Tôi sẽ chia lìa em Để cơn đau được yên giấc Lòng không dồi gian thì đâu phải là em Từ xưa đến nay tôi đều khờ dại Biết đó là hố sâu Mà tôi vẫn bước bởi vì tôi yêu Bởi vì đam mê

Module chi tiết phiếu mua hàng

using System;
using System.Text;
using System.Data;
using System.Data.SqlClient;
using System.Data.OleDb;
using System.Collections;
using HSC.AccessData;
using Telerik.ContentManagement;
/// <summary>
///
/*
==============================================
Module :LayerBuyInvoiceDetail
Tác giả :Nguyễn Ngọc Khương
Mô tả :Thực hiện các chức năng trên lớp chi tiết phiếu mua hàng
Ngày tạo :17/04/2009
Ngày sửa :
Người sửa :
Mô tả công việc: Code chức năng cập nhật thông tin chi tiết phiếu mua hàng
================================================
*/
/// </summary>
///

namespace HSC.Object
{
public class LBuyInvoiceDetail
{
string BuyInID, ProdIdRef, Amount, UnitPrice, UnitIdRef;
// Thủ tục khởi tạo
public LBuyInvoiceDetail() { }
public LBuyInvoiceDetail(string BuyInID, string ProdIdRef, string Amount, string UnitPrice, string UnitIdRef)
{
this.BuyInID = BuyInID;
this.ProvIdRef = ProvIdRef;
this.Amount = Amount;
this.UnitIdRef = UnitIdRef;
this.UnitPrice = UnitPrice;
}
#region Function Set
public void set_BuyInID(string BuyInID)
{
this.BuyInID = BuyInID;
}
public void set_ProvIdRef(string ProvIdRef)
{
this.ProvIdRef = ProvIdRef;
}
public void set_Amount(string Amount)
{
this.Amount = Amount;
}
public void set_UnitIdRef(string UnitIdRef)
{
this.UnitIdRef = UnitIdRef;
}
public void set_UnitPrice(string UnitPrice)
{
this.UnitPrice = UnitPrice;
}
#endregion
#region Function get
public string get_BuyInID()
{
return BuyInID;
}
public string get_ProvIdRef()
{
return ProvIdRef;
}
public string get_Amount()
{
return Amount;
}
public string get_UnitIdRef()
{
return UnitIdRef;
}
public string get_UnitPrice()
{
return UnitPrice;
}
#endregion
#region Function Method
public void AddNewBuyInvoiceDetail(LBuyInvoiceDetail lbvd)
{
Getdata Gd = new Getdata();
string commandtext = string.Empty;
commandtext = "InsertBuyInvoiceDetail";
SqlCommand sqc = new SqlCommand(commandtext, HSC.AccessData.L_Connection.cn);
sqc.Parameters.AddWithValue("@BuyInID", int.Parse(lbvd.BuyInID.ToString()));
sqc.Parameters.AddWithValue("@ProvIdRef", int.Parse(lbvd.ProdIdRef.ToString()));
sqc.Parameters.AddWithValue("@Amount", int.Parse(lbvd.Amount.ToString()));
sqc.Parameters.AddWithValue("@UnitPrice", float.Parse(lbvd.UnitPrice.ToString()));
sqc.Parameters.AddWithValue("@UnitIdRef", int.Parse(lbvd.UnitIdRef.ToString()));
sqc.ExecuteNonQuery();
L_Connection.CloseConection();
}
public void EditBuyInvoiceDetail(LBuyInvoiceDetail lbvd)
{
Getdata Gd = new Getdata();
string commandtext = string.Empty;
commandtext = "UpdateBuyInvoiceDetail";
SqlCommand sqc = new SqlCommand(commandtext, HSC.AccessData.L_Connection.cn);
sqc.Parameters.AddWithValue("@BuyInID", int.Parse(lbvd.BuyInID.ToString()));
sqc.Parameters.AddWithValue("@ProvIdRef", int.Parse(lbvd.ProdIdRef.ToString()));
sqc.Parameters.AddWithValue("@Amount", int.Parse(lbvd.Amount.ToString()));
sqc.Parameters.AddWithValue("@UnitPrice", float.Parse(lbvd.UnitPrice.ToString()));
sqc.Parameters.AddWithValue("@UnitIdRef", int.Parse(lbvd.UnitIdRef.ToString()));
sqc.Parameters.AddWithValue("@Original_BuyInId", int.Parse(lbvd.BuyInID.ToString());
sqc.Parameters.AddWithValue("@Original_ProdIdRef", int.Parse(lbvd.ProdIdRef.ToString());
sqc.ExecuteNonQuery();
L_Connection.CloseConection();
}
public void DeleteBuyInvoiceDetail(int BuyInID, int ProdIdRef)
{
Getdata Gd = new Getdata();
string commandtext = string.Empty;
commandtext = "DeleteBuyInvoiceDetail";
SqlCommand sqc = new SqlCommand(commandtext, HSC.AccessData.L_Connection.cn);
sqc.Parameters.AddWithValue("@Original_BuyInId", BuyInId);
sqc.Parameters.AddWithValue("@Original_ProdIdRef", ProdIdRef);
sqc.ExecuteNonQuery();
L_Connection.CloseConection();
}
#endregion
}
}

Tìm hiểu về virus máy tính

IT

Các bạn dùng máy tính không thể không nghe nói đến VIRUS, và cũng dùng một số chương trình diệt VIRUS như BKAV, KASPERSKY hay BITDEFENDER... Vậy VIRUS máy tính là gì, tôi xin giới thiệu về VIRUS máy tính...

Lược sử của virus

Có nhiều quan điểm khác nhau về lịch sử của virus điện toán. Ở đây chỉ nêu rất vắn tắt và khái quát những điểm chung nhất và, qua đó, chúng ta có thể hiểu chi tiết hơn về các loại virus:

* Năm 1949: John von Neuman (1903-1957) phát triển nền tảng lý thuyết tự nhân bản của một chương trình cho máy tính.
* Vào cuối thập niên 1960 đầu thập niên 1970 đã xuất hiện trên các máy Univax 1108 một chương trình gọi là "Pervading Animal" tự nó có thể nối với phần sau của các tập tin tự hành. Lúc đó chưa có khái niệm virus.
* Năm 1981: Các virus đầu tiên xuất hiện trong hệ điều hành của máy tính Apple II.
* Năm 1983: Tại Đại Học miền Nam California, tại Hoa Kỳ, Fred Cohen lần đầu đưa ra khái niệm computer virus như định nghĩa ngày nay.
* Năm 1986: Virus "the Brain", virus cho máy tính cá nhân (PC) đầu tiên, được tạo ra tại Pakistan bởi Basit và Amjad. Chương trình này nằm trong phần khởi động (boot sector) của một dĩa mềm 360Kb và nó sẽ lây nhiễm tất cả các ổ dĩa mềm. Đây là loại "stealth virus" đầu tiên.
* Cũng trong tháng 12 năm này, virus cho DOS được khám phá ra là virus "VirDem". Nó có khả năng tự chép mã của mình vào các tệp tự thi hành (executable file) và phá hoại các máy tính VAX/VMS.
* Năm 1987: Virus đầu tiên tấn công vào command.com là virus "Lehigh".
* Năm 1988: Virus Jerusalem tấn công đồng loạt các đại học và các công ty trong các quốc gia vào ngày thứ Sáu 13. Đây là loại virus hoạt động theo đồng hồ của máy tính (giống bom nổ chậm cài hàng loạt cho cùng một thời điểm).
* Tháng 11 cùng năm, Robert Morris, 22 tuổi, chế ra worm chiếm cứ các máy tính của ARPANET, làm liệt khoảng 6.000 máy. Morris bị phạt tù 3 năm và 10.000 dollar. Mặc dù vậy anh ta khai rằng chế ra virus vì "chán đời" (boresome).
* Năm 1990: Chương trình thương mại chống virus đầu tiên ra đời bởi Norton.
* Năm 1991: Virus đa hình (polymorphic virus) ra đời đầu tiên là virus "Tequilla". Loại này biết tự thay đổi hình thức của nó, gây ra sự khó khăn cho các chương trình chống virus.
* Năm 1994: Những người thiếu kinh nghiệm, vì lòng tốt đã chuyển cho nhau một điện thư cảnh báo tất cả mọi người không mở tất cả những điện thư có cụm từ "Good Times" trong dòng bị chú (subject line) của chúng. Đây là một loại virus giả (hoax virus) đầu tiên xuất hiện trên các điện thư và lợi dụng vào "tinh thần trách nhiệm" của các người nhận được điện thư này để tạo ra sự luân chuyển.
* Năm 1995: Virus văn bản (macro virus) đầu tiên xuất hiện trong các mã macro trong các tệp của Word và lan truyền qua rất nhiều máy. Loại virus này có thể làm hư hệ điều hành chủ. Macro virus là loại virus viết ra bằng ngôn ngữ lập trình Visual Basic cho các ứng dụng (VBA) và tùy theo khả năng, có thể lan nhiễm trong các ứng dụng văn phòng của Microsoft như Word, Excel, PowerPoint, OutLook,.... Loại macro này, nổi tiếng có virus Baza và virus Laroux, xuất hiện năm 1996, có thể nằm trong cả Word hay Excel. Sau này, virus Melissa, năm 1997, tấn công hơn 1 triệu máy, lan truyền bởi một tệp đính kèm kiểu Word bằng cách đọc và gửi đến các địa chỉ của Outlook trong các máy đã bị nhiễm virus. Virus Tristate, năm 1999, có thể nằm trong các tệp Word, Excel và Power Point.
* Năm 2000: Virus Love Bug, còn có tên ILOVEYOU, đánh lừa tính hiếu kì của mọi người. Đây là một loại macro virus. Đặc điểm là nó dùng đuôi tập tin dạng "ILOVEYOU.txt.exe". Lợi dụng điểm yếu của Outlook thời bấy giờ: theo mặc định sẵn, đuôi dạng .exe sẽ tự động bị dấu đi. Ngoài ra, virus này còn có một đặc tính mới của spyware: nó tìm cách đọc tên và mã nhập của máy chủ và gửi về cho tay hắc đạo. Khi truy cứu ra thì đó là một sinh viên người Philippines. Tên này được tha bổng vì Philippines chưa có luật trừng trị những người tạo ra virus cho máy tính.
* Năm 2002: Tác giả của virus Melissa, David L. Smith, bị xử 20 tháng tù.
* Năm 2003: Virus Slammer, một loại worm lan truyền với vận tốc kỉ lục, truyền cho khoảng 75 ngàn máy trong 10 phút.
* Năm 2004: Đánh dấu một thế hệ mới của virus là worm Sasser. Với virus này thì người ta không cần phải mở đính kèm của điện thư mà chỉ cần mở lá thư là đủ cho nó xâm nhập vào máy. Cũng may là Sasser không hoàn toàn hủy hoại máy mà chỉ làm cho máy chủ trở nên chậm hơn và đôi khi nó làm máy tự khởi động trở lại. Tác giả của worm này cũng lập một kỉ lục khác: tay hắc đạo (hacker) nổi tiếng trẻ nhất, chỉ mới 18 tuổi, Sven Jaschan, người Đức. Tuy vậy, vì còn nhỏ tuổi, nên vào tháng 7 năm 2005 nên tòa án Đức chỉ phạt anh này 3 năm tù treo và 30 giờ lao động công ích.
* Với khả năng của các tay hacker, virus ngày ngay có thể xâm nhập bằng cách bẻ gãy các rào an toàn của hệ điều hành hay chui vào các chổ hở của các phần mềm nhất là các chương trình thư điện tử, rồi từ đó lan tỏa khắp nơi theo các nối kết mạng hay qua thư điện tử. Do dó, việc truy tìm ra nguồn gốc phát tán virus sẽ càng khó hơn nhiều. Chính Microsoft, hãng chế tạo các phần mềm phổ biến, cũng là một nạn nhân. Họ đã phải nghiên cứu, sửa chữa và phát hành rất nhiều các phần mềm nhằm sửa các khuyết tật của phần mềm cũng như phát hành các thế hệ của gói dịch vụ (service pack) nhằm giảm hay vô hiệu hóa các tấn công của virus. Nhưng dĩ nhiên với các phần mềm có hàng triệu dòng mã nguồn thì mong ước chúng hoàn hảo theo ý nghĩa của sự an toàn chỉ có trong lý thuyết. Đây cũng là cơ hội cho các nhà sản xuất các loại phần mềm bảo vệ có đất dụng võ.
* Tương lai không xa có lẽ virus sẽ tiến thêm các bước khác như: nó bao gồm mọi điểm mạnh sẵn có (polymorphic, sasser hay tấn công bằng nhiều cách thức, nhiều kiểu) và còn kết hợp với các thủ đọan khác của phần mềm gián điệp (spyware). Đồng thời nó có thể tấn công vào nhiều hệ điều hành khác nhau chứ không nhất thiết nhắm vào một hệ điều hành độc nhất như trong trường hợp của Windows hiện giờ. Và có lẽ virus sẽ không hề (thậm chí là không cần) thay đổi phương thức tấn công: lợi dụng điểm yếu của máy tính cũng như chương trình.

Các khái niệm có liên quan

* Sâu máy tính(worm): là các chương trình cũng có khả năng tự nhân bản tự tìm cách lan truyền qua hệ thống mạng (thường là qua hệ thống thư điện tử). Điểm cần lưu ý ở đây, ngoài tác hại thẳng lên máy bị nhiễm, nhiệm vụ chính của worm là phá các mạng (network) thông tin, làm giảm khả năng hoạt động hay ngay cả hủy hoại các mạng này. Nhiều nhà phân tích cho rằng worm khác với virus, họ nhấn mạnh vào đặc tính phá hoại mạng nhưng ở đây worm được là một loại virus đặc biệt.

Worm nổi tiếng nhất được tạo bởi Robert Morris vào năm 1988. Nó có thể làm hỏng bất kì hệ điều hành UNIX nào trên Internet. Tuy vậy, có lẽ worm tồn tại lâu nhất là virus happy99, hay các thế hệ sau đó của nó có tên là Trojan. Các worm này sẽ thay đổi nội dung tệp wsok32.dll của Windows và tự gửi bản sao của chính chúng đi đến các địa chỉ cho mỗi lần gửi điện thư hay message.

* Phần mềm ác tính (malware): (chữ ghép của maliciuos và software) chỉ chung các phần mềm có tính năng gây hại như virus, worm và Trojan horse.

* Trojan Horse: đây là loại chương trình cũng có tác hại tương tự như virus chỉ khác là nó không tự nhân bản ra. Như thế, cách lan truyền duy nhất là thông qua các thư dây chuyền Để trừ loại này người chủ máy chỉ việc tìm ra tập tin Trojan horse rồi xóa nó đi là xong. Tuy nhiên, không có nghĩa là không thể có hai con Trojan horse trên cùng một hệ thống. Chính những kẻ tạo ra các phần mềm này sẽ sử dụng kỹ năng lập trình của mình để sao lưu thật nhiều con trước khi phát tán lên mạng. Đây cũng là loại virus cực kỳ nguy hiểm. Nó có thể hủy ổ cứng, hủy dữ liệu.

* Phần mềm gián điệp (spyware): Đây là loại virus có khả năng thâm nhập trực tiếp vào hệ điều hành mà không để lại "di chứng". Thường một số chương trình diệt virus có kèm trình diệt spyware nhưng diệt khá kém đối với các đợt "dịch".
* Phần mềm quảng cáo (adware): Loại phần mềm quảng cáo, rất hay có ở trong các chương trình cài đặt tải từ trên mạng. Một số phần mềm vô hại, nhưng một số có khả năng hiển thị thông tin kịt màn hình, cưỡng chế người sử dụng.
* Botnet: Trước đây, loại này thường dùng để nhắm vào các hệ thống điều khiển máy tính từ xa, nhưng hiện giờ lại nhắm vào người dùng.

Điều đặc biệt nguy hiểm là các botnet được phơi bày từ các hacker không cần kỹ thuật lập trình cao. Nó được rao bán với giá từ 20USD trở lên cho các hacker. Hậu quả của nó để lại không nhỏ: mất tài khoản. Nếu liên kết với một hệ thống máy tính lớn, nó có thể tống tiền cả một doanh nghiệp.

Nhóm của Sites ở Sunbelt cùng với đội phản ứng nhanh của công ty bảo mật iDefense Labs đã tìm ra một botnet chạy trên nền web có tên là Metaphisher. Thay cho cách sử dụng dòng lệnh, tin tặc có thể sử dụng giao diện đồ họa, các biểu tượng có thể thay đổi theo ý thích, chỉ việc dịch con trỏ, nhấn chuột và tấn công.

Theo iDefense Labs, các bot do Metaphisher điều khiển đã lây nhiễm hơn 1 triệu PC trên toàn cầu. Thậm chí trình điều khiển còn mã hóa liên lạc giữa nó và bot "đàn em" và chuyển đi mọi thông tin về các PC bị nhiễm cho người chủ bot như vị trí địa lý, các bản vá bảo mật của Windows và những trình duyệt đang chạy trên mỗi PC.

Những công cụ tạo bot và điều khiển dễ dùng trên góp phần làm tăng vọt số PC bị nhiễm bot được phát hiện trong thời gian gần đây. Thí dụ, Jeanson James Ancheta, 21 tuổi, người Mỹ ở bang California, bị tuyên án 57 tháng tù vì đã vận hành một doanh nghiệp "đen" thu lợi bất chính dựa vào các botnet điều khiển 400.000 "thành viên" và 3 tay điều khiển bot bị bắt ở Hà Lan mùa thu năm trước chính là trung tâm "đầu não" điều khiển hơn 1,5 triệu PC!

Mặc dù đã có luật để bắt những tội phạm kiểu này, nhưng do dễ dàng có được những công cụ phá hoại nên luôn có thêm người mới gia nhập hàng ngũ hacker vì tiền hay vì tò mò.

* Keylogger: là phần mềm ghi lại chuỗi phím gõ của người dùng. Nó có thể hữu ích cho việc tìm nguồn gốc lỗi sai trong các hệ thống máy tính và đôi khi được dùng để đo năng suất làm việc của nhân viên văn phòng. Các phần mềm kiểu này rất hữu dụng cho ngành luật pháp và tình báo - ví dụ, cung cấp một phương tiện để lấy mật khẩu hoặc các khóa mật mã và nhờ đó qua mắt được các thiết bị an ninh. Tuy nhiên, các phần mềm keylogger được phổ biến rộng rãi trên Internet và bất cứ ai cũng có thể sử dụng cho mục đích lấy trộm mật khẩu và chìa khóa mã hóa.

* Phishing: là một hoạt động phạm tội dùng các kỹ thuật lừa đảo. Kẻ lừa đảo cố gắng lừa lấy các thông tin nhạy cảm, chẳng hạn như mật khẩu và thông tin về thẻ tín dụng, bằng cách giả là một người hoặc một doanh nghiệp đáng tin cậy trong một giao dịch điện tử. Phishing thường được thực hiện bằng cách sử dụng thư điện tử hoặc tin nhắn, đôi khi còn sử dụng cả điện thoại.

* Rootkit: là một bộ công cụ phần mềm dành cho việc che dấu làm các tiến trình đang chạy, các file hoặc dữ liệu hệ thống. Rootkit có nguồn gốc từ các ứng dụng tương đối hiền, nhưng những năm gần đây, rootkit đã bị sử dụng ngày càng nhiều bởi các phần mềm ác tính, giúp kẻ xâm nhập hệ thống giữ được đường truy nhập một hệ thống trong khi tránh bị phát hiện. Người ta đã biết đến các rootkit dành cho nhiều hệ điều hành khác nhau chẳng hạn Linux, Solaris và một số phiên bản của Microsoft Windows. Các rootkit thường sửa đổi một số phần của hệ điều hành hoặc tự cài đặt chúng thành các driver hay các môdule trong nhân hệ điều hành (kernel module).

Khi hay tin CD nhạc của Sony cài đặt rookit để giấu file chống sao chép xuất hiện vào tháng 11 năm ngoái, giới tin tặc hân hoan và nhanh chóng khai thác ứng dụng của Sony. Phần mềm của Sony giấu bất kỳ file hay tiến trình bắt đầu với "$sys$", những kẻ viết phần mềm độc hại đã đổi tên file để lợi dụng đặc điểm này .

Vào tháng 3, nhà sản xuất phần mềm chống virus ở Tây Ban Nha là Panda Software cho biết họ đang tìm biến thể của sâu Bagle cực kỳ độc hại có trang bị khả năng của rootkit. Trầm trọng hơn, tương tự như các "nhà sản xuất" chương trình botnet, những kẻ tạo phần mềm rootkit còn bán hoặc phát tán miễn phí các công cụ, giúp những tay viết phần mềm độc hại dễ dàng bổ sung chức năng rootkit cho các virus cũ như Bagle hay tạo loại mới. Một dự án do Microsoft và các nhà nghiên cứu của đại học Michigan thực hiện thật sự mở đường cho nghiên cứu rootkit, tạo ra một phương thức mới gần như "đặt" HĐH chạy trên phần mềm có tên SubVirt (tên của dự án nghiên cứu). HĐH vẫn làm việc bình thường, nhưng "máy ảo" điều khiển mọi thứ HĐH nhìn thấy và có thể dễ dàng giấu chính nó.

May mắn là kỹ thuật này không dễ thực hiện và người dùng dễ nhận ra vì làm chậm hệ thống và làm thay đổi những file nhất định. Hiện giờ, loại siêu rootkit này chỉ mới ở dạng ý tưởng, cần nhiều thời gian trước khi tin tặc có thể thực hiện phương thức tấn công này.

* Phần mềm tống tiền (Ransomware): là loại phần mềm ác tính sử dụng một hệ thống mật mã hóa yếu (phá được) để mã hóa dữ liệu thuộc về một cá nhân và đòi tiền chuộc thì mới khôi phục lại.
* Cửa hậu (Backdoor): trong một hệ thống máy tính, cửa hậu là một phương pháp vượt qua thủ tục chứng thực người dùng thông thường hoặc để giữ đường truy nhập từ xa tới một máy tính, trong khi cố gắng không bị phát hiện bởi việc giám sát thông thường. Cửa hậu có thể có hình thức một chương trình được cài đặt (ví dụ Back Orifice hoặc cửa hậu rookit Sony/BMG rootkit được cài đặt khi một đĩa bất kỳ trong số hàng triệu đĩa CD nhạc của Sony được chơi trên một máy tính chạy Windows), hoặc có thể là một sửa đổi đối với một chương trình hợp pháp - đó là khi nó đi kèm với Trojan.
* Virus lây qua passport: Loại virus này lây qua các thẻ RFID cá nhân để thay đổi nội dung của thẻ, buộc tội người dùng và có thể ăn cắp passport. Vì sóng RFID không lây qua kim loại nên khi không cần dùng, bạn nên để trong hộp kim loại.
* Virus điện thoại di động: chỉ riêng hệ thống PC đã đủ làm người dùng đau đầu, nay lại có virus điện thoại di động. Loại này thường lây qua tin nhắn. Một vài virus ĐTDĐ cũng đánh sập HĐH và làm hỏng thiết bị. Một số khác chỉ gây khó chịu như thay đổi các biểu tượng làm thiết bị trở nên khó sử dụng. Một số ít còn nhằm vào tiền. Ví dụ, một Trojan lây lan các điện thoại ở Nga gửi tin nhắn tới những dịch vụ tính tiền người gửi.

Danh sách các đuôi tệp có khả năng di truyền và bị lây nhiễm

Các tập tin trên hệ điều hành Windows mang đuôi mở rộng sau có nhiều khả năng bị virus tấn công.

* .bat: Microsoft Batch File (Tệp xử lí theo lô)
* .chm: Compressed HTML Help File (Tệp tài liệu dưới dạng nén HTML)
* .cmd: Command file for Windows NT (Tệp thực thi của Windows NT)
* .com: Command file (program) (Tệp thực thi)
* .cpl: Control Panel extension (Tệp của Control Panel)
* .doc: Microsoft Word (Tệp của chương trình Microsoft Word)
* .exe: Executable File (Tệp thực thi)
* .hlp: Help file (Tệp nội dung trợ giúp người dùng)
* .hta: HTML Application (Ứng dụng HTML)
* .js: JavaScript File (Tệp JavaScript)
* .jse: JavaScript Encoded Script File (Tệp mã hoá JavaScript)
* .lnk: Shortcut File (Tệp đường dẫn)
* .msi: Microsoft Installer File (Tệp cài đặt)
* .pif: Program Information File (Tệp thông tin chương trình)
* .reg: Registry File
* .scr: Screen Saver (Portable Executable File)
* .sct: Windows Script Component
* .shb: Document Shortcut File
* .shs: Shell Scrap Object
* .vb: Visual Basic File
* .vbe: Visual Basic Encoded Script File
* .vbs: Visual Basic File
* .wsc: Windows Script Component
* .wsf: Windows Script File
* .wsh: Windows Script Host File
* .{*}: Class ID (CLSID) File Extensions

Các hình thức lây nhiễm của virus máy tính

Virus lây nhiễm theo cách cổ điển

Cách cổ điển nhất của sự lây nhiễm, bành trướng của các loai virus máy tính là thông qua các thiết bị lưu trữ di động: Trước đây đĩa mềm và đĩa CD chứa chương trình thường là phương tiện bị lợi dụng nhiều nhất để phát tán. Ngày nay khi đĩa mềm rất ít được sử dụng thì phương thức lây nhiễm này chuyển qua các ổ USB, các đĩa cứng di động hoặc các thiết bị giải trí kỹ thuật số.

Virus lây nhiễm qua thư điện tử

Khi mà thư điện tử (e-mail) được sử dụng rộng rãi trên thế giới thì virus chuyển hướng sang lây nhiễm thông qua thư điện tử thay cho các cách lây nhiễm truyền thống.
Khi đã lây nhiễm vào máy nạn nhân, virus có thể tự tìm ra danh sách các địa chỉ thư điện tử sẵn có trong máy và nó tự động gửi đi hàng loạt (mass mail) cho những địa chỉ tìm thấy. Nếu các chủ nhân của các máy nhận được thư bị nhiễm virus mà không bị phát hiện, tiếp tục để lây nhiễm vào máy, virus lại tiếp tục tìm đến các địa chỉ và gửi tiếp theo. Chính vì vậy số lượng phát tán có thể tăng theo cấp số nhân khiến cho trong một thời gian ngắn hàng hàng triệu máy tính bị lây nhiễm, có thể làm tê liệt nhiều cơ quan trên toàn thế giới trong một thời gian rất ngắn.
Khi mà các phần mềm quản lý thư điện tử kết hợp với các phần mềm diệt virus có thể khắc phục hành động tự gửi nhân bản hàng loạt để phát tán đến các địa chỉ khác trong danh bạ của máy nạn nhân thì chủ nhân phát tán virus chuyển qua hình thức tự gửi thư phát tán virus bằng nguồn địa chỉ sưu tập được trước đó.


Phương thực lây nhiễm qua thư điển tử bao gồm:

Lây nhiễm vào các file đính kèm theo thư điện tử (attached mail). Khi đó ngưòi dùng sẽ không bị nhiễm virus cho tới khi file đính kèm bị nhiễm virus được kích hoạt (do đặc diểm này các virus thường được "trá hình" bởi các tiêu đề hấp dẫn như sex, thể thao hay quảng cáo bán phần mềm với giá vô cùng rẻ.)
Lây nhiễm do mở một liên kết trong thư điện tử Các liên kết trong thư điện tử có thể dẫn đến một trang web được cài sẵn virus, cách này thường khai thác các lỗ hổng của trình duyệt và hệ điều hành. Một cách khác, liên kết dẫn tới việc thực thi một đoạn mã, và máy tính bị có thể bị lây nhiễm virus.
Lây nhiễm ngay khi mở để xem thư điện tử: Cách này vô cùng nguy hiểm bởi chưa cần kích hoạt các file hoặc mở các liên kết, máy tính đã có thể bị lây nhiễm virus. Cách này cũng thường khai thác các lỗi của hệ điều hành.

Virus lây nhiễm qua mạng Internet

Theo sự phát triển rộng rãi của Internet trên thế giới mà hiện nay các hình thức lây nhiễm virus qua Internet trở thành các phương thức chính của virus ngày nay.
Có các hình thức lây nhiễm virus và phần mềm độc hại thông qua Internet như sau:

* Lây nhiễm thông qua các file tài liệu, phần mềm: Là cách lây nhiễm cổ điển, nhưng thay thế các hình thức truyền file theo cách cổ điển (đĩa mềm, đĩa USB...) bằng cách tải từ Internet, trao đổi, thông qua các phần mềm...
* Lây nhiễm khi đang truy cập các trang web được cài đặt virus (theo cách vô tình hoặc cố ý): Các trang web có thể có chứa các mã hiểm độc gây lây nhiễm virus và phần mềm độc hại vào máy tính của người sử dụng khi truy cập vào các trang web đó.
* Lây nhiễm virus hoặc chiếm quyền điều khiển máy tính thông qua các lỗi bảo mật hệ điều hành, ứng dụng sẵn có trên hệ điều hành hoặc phần mềm của hãng thứ ba: Điều này có thể khó tin đối với một số người sử dụng, tuy nhiên tin tặc có thể lợi dụng các lỗi bảo mật của hệ điều hành, phần mềm sẵn có trên hệ điều hành (ví dụ Winidow Media Player) hoặc lỗi bảo mật của các phần mềm của hãng thứ ba (ví dụ Acrobat Reader) để lây nhiễm virus hoặc chiếm quyền kiểm soát máy tính nạn nhân khi mở các file liên kết với các phần mềm này.

Biến thể

Một hình thức trong cơ chế hoạt động của virus là tạo ra các biến thể của chúng. Biến thể của virus là sự thay đổi mã nguồn nhằm các mục đích tránh sự phát hiện của phần mềm diệt virus hoặc làm thay đổi hành động của nó.

Một số loại virus có thể tự tạo ra các biến thể khác nhau gây khó khăn cho quá trình phát hiện và tiêu diệt chúng. Một số biến thể khác xuất hiện do sau khi virus bị nhận dạng của các phần mềm diệt virus, chính tác giả hoặc các tin tặc khác (biết được mã của chúng) đã viết lại, nâng cấp hoặc cải tiến chúng để tiếp tục phát tán.

Virus có khả năng vô hiệu hoá phần mềm diệt virus

Một số virus có khả năng vô hiệu hoá hoặc can thiệp vào hệ điều hành làm tê liệt (một số) phần mềm diệt virus. Sau hành động này chúng mới tiến hành lây nhiễm và tiếp tục phát tán. Một số khác lây nhiễm chính vào phần mềm diệt virus (tuy khó khăn hơn) hoặc ngăn cản sự cập nhật của các phần mềm diệt virus.

Các cách thức này không quá khó nếu như chúng nắm rõ được cơ chế hoạt động của các phần mềm diệt virus và được lây nhiễm hoặc phát tác trước khi hệ thống khởi động các phần mềm này. Chúng cũng có thể sửa đổi file hots của hệ điều hành Windows để người sử dụng không thể truy cập vào các website và phần mềm diệt virus không thể liên lạc với server của mình để cập nhật.

Cách phòng chống virus và ngăn chặn tác hại của nó

Có một câu nói vui rằng Để không bị lây nhiễm virus thì ngắt kết nối khỏi mạng, không sử dụng ổ mềm, ổ USB hoặc copy bất kỳ file nào vào máy tính. Nhưng nghiêm túc ra thì điều này có vẻ đúng khi mà hiện nay sự tăng trưởng số lượng virus hàng năm trên thế giới rất lớn.
Không thể khẳng định chắc chắn bảo vệ an toàn 100% cho máy tính trước hiểm hoạ virus và các phần mềm hiểm độc, nhưng chúng ta có thể hạn chế đến tối đa có thể và có các biện pháp bảo vệ dữ liệu của mình.

Sử dụng phần mềm diệt virus

Bảo vệ bằng cách trang bị thêm một phần mềm diệt virus có khả năng nhận biết nhiều loại virus máy tính và liên tục cập nhật dữ liệu để phần mềm đó luôn nhận biết được các virus mới.


Trên thị trường hiện có rất nhiều phần mềm diệt virus. Một số hãng nổi tiếng viết các phần mềm virus được nhiều người sử dụng có thể kể đến là: McAfee, Symantec, Kaspersky

Sử dụng tường lửa

Tường lửa (Firewall) không phải một cái gì đó quá xa vời hoặc chỉ dành cho các nhà cung cấp dịch vụ internet (ISP) mà mỗi máy tính cá nhân cũng cần phải sử dụng tường lửa để bảo vệ trước virus và các phần mềm độc hại. Khi sử dụng tường lửa, các thông tin vào và ra đối với máy tính được kiểm soát một cách vô thức hoặc có chủ ý. Nếu một phần mềm độc hại đã được cài vào máy tính có hành động kết nối ra Internet thì tường lửa có thể cảnh báo giúp người sử dụng loại bỏ hoặc vô hiệu hoá chúng. Tường lửa giúp ngăn chặn các kết nối đến không mong muốn để giảm nguy cơ bị kiểm soát máy tính ngoài ý muốn hoặc cài đặt vào các chương trình độc hại hay virus máy tính.

Sử dụng tường lửa bằng phần cứng nếu người sử dụng kết nối với mạng Internet thông qua một modem có chức năng này. Thông thường ở chế độ mặc định của nhà sản xuất thì chức năng "tường lửa" bị tắt, người sử dụng có thể truy cập vào modem để cho phép hiệu lực (bật). Sử dụng tường lửa bằng phần cứng không phải tuyệt đối an toàn bởi chúng thường chỉ ngăn chặn kết nối đến trái phép, do đó kết hợp sử dụng tường lửa bằng các phần mềm.
Sử dụng tường lửa bằng phần mềm: Ngay các hệ điều hành họ Windows ngày nay đã được tích hợp sẵn tính năng tường lửa bằng phần mềm, tuy nhiên thông thường các phần mềm của hãng thứ ba có thể làm việc tốt hơn và tích hợp nhiều công cụ hơn so với tường lửa phần mềm sẵn có của Windows. Ví dụ bộ phần mềm ZoneAlarm Security Suite của hãng ZoneLab là một bộ công cụ bảo vệ hữu hiệu trước virus, các phần mềm độc hại, chống spam, và tường lửa.

Cập nhật các bản sửa lỗi của hệ điều hành

Hệ điều hành Windows (chiếm đa số) luôn luôn bị phát hiện các lỗi bảo mật chính bởi sự thông dụng của nó, tin tặc có thể lợi dụng các lỗi bảo mật để chiếm quyền điều khiển hoặc phát tán virus và các phần mềm độc hại. Người sử dụng luôn cần cập nhật các bản vá lỗi của Windows thông qua trang web Microsoft Update (cho việc nâng cấp tất cả các phần mềm của hãng Microsoft) hoặc Windows Update (chỉ cập nhật riêng cho Windows). Cách tốt nhất hãy đặt chế độ nâng cấp (sửa chữa) tự động (Automatic Updates) của Windows. Tính năng này chỉ hỗ trợ đối với các bản Windows mà Microsoft nhận thấy rằng chúng hợp pháp.

Vận dụng kinh nghiệm sử dụng máy tính

Cho dù sử dụng tất cả các phần mềm và phương thức trên nhưng máy tính vẫn có khả năng bị lây nhiễm virus và các phần mềm độc hại bởi mẫu virus mới chưa được cập nhật kịp thời đối với phần mềm diệt virus. Người sử dụng máy tính cần sử dụng triệt để các chức năng, ứng dụng sẵn có trong hệ điều hành và các kinh nghiệm khác để bảo vệ cho hệ điều hành và dữ liệu của mình. Một số kinh nghiệm tham khảo như sau:

* Phát hiện sự hoạt động khác thường của máy tính: Đa phần người sử dụng máy tính không có thói quen cài đặt, gỡ bỏ phần mềm hoặc thường xuyên làm hệ điều hành thay đổi - có nghĩa là một sự sử dụng ổn định - sẽ nhận biết được sự thay đổi khác thường của máy tính. Ví dụ đơn giản: Nhận thấy sự hoạt động chậm chạp của máy tính, nhận thấy các kết nối ra ngoài khác thường thông qua tường lửa của hệ điều hành hoặc của hãng thứ ba (thông qua các thông báo hỏi sự cho phép truy cập ra ngoài hoặc sự hoạt động khác của tường lửa). Mọi sự hoạt động khác thường này nếu không phải do phần cứng gây ra thì cần nghi ngờ sự xuất hiện của virus. Ngay khi có nghi ngờ, cần kiểm tra bằng cách cập nhật dữ liệu mới nhất cho phần mềm diệt virus hoặc thử sử dụng một phần mềm diệt virus khác để quét toàn hệ thống.
* Kiểm soát các ứng dụng đang hoạt động: Kiểm soát sự hoạt động của các phần mềm trong hệ thống thông qua Task Manager hoặc các phần mềm của hãng thứ ba (chẳng hạn: ProcessViewer) để biết một phiên làm việc bình thường hệ thống thường nạp các ứng dụng nào, chúng chiếm lượng bộ nhớ bao nhiêu, chiếm CPU bao nhiêu, tên file hoạt động là gì...ngay khi có điều bất thường của hệ thống (dù chưa có biểu hiện của sự nhiễm virus) cũng có thể có sự nghi ngờ và có hành động phòng ngừa hợp lý. Tuy nhiên cách này đòi hỏi một sự am hiểu nhất định của người sử dụng.
* Loại bỏ một số tính năng của hệ điều hành có thể tạo điều kiện cho sự lây nhiễm virus: Theo mặc định Windows thường cho phép các tính năng autorun giúp người sử dụng thuận tiện cho việc tự động cài đặt phần mềm khi đưa đĩa CD hoặc đĩa USB vào hệ thống. Chính các tính năng này được một số loại virus lợi dụng để lây nhiễm ngay khi vừa cắm ổ USB hoặc đưa đĩa CD phần mềm vào hệ thống (một vài loại virus lan truyền rất nhanh trong thời gian gần đây thông qua các ổ USB bằng cách tạo các file autorun.ini trên ổ USB để tự chạy các virus ngay khi cắm ổ USB vào máy tính). Cần loại bỏ tính năng này bằng các phần mềm của hãng thứ ba như TWEAKUI hoặc sửa đổi trong Registry.
* Sử dụng thêm các trang web cho phép phát hiện virus trực tuyến: Xem thêm phần "Phần mềm diệt virus trực tuyến" tại bài phần mềm diệt virus

Bảo vệ dữ liệu máy tính

Nếu như không chắc chắn 100% rằng có thể không bị lây nhiễm virus máy tính và các phần mềm hiểm độc khác thì bạn nên tự bảo vệ sự toàn vẹn của dữ liệu của mình trước khi dữ liệu bị hư hỏng do virus (hoặc ngay cả các nguy cơ tiềm tàng khác như sự hư hỏng của các thiết bị lưu trữ dữ liệu của máy tính). Trong phạm vi về bài viết về virus máy tính, bạn có thể tham khảo các ý tưởng chính như sau:

Sao lưu dữ liệu theo chu kỳ là biện pháp đúng đắn nhất hiện nay để bảo vệ dữ liệu. Bạn có thể thường xuyên sao lưu dữ liệu theo chu kỳ đến một nơi an toàn như: các thiết bị nhớ mở rộng (ổ USB, ổ cứng di động, ghi ra đĩa quang...), hình thức này có thể thực hiện theo chu kỳ hàng tuần hoặc khác hơn tuỳ theo mức độ cập nhật, thay đổi của dữ liệu của bạn.
Tạo các dữ liệu phục hồi cho toàn hệ thống không dừng lại các tiện ích sẵn có của hệ điều hành (ví dụ System Restore của Windows Me, XP...) mà có thể cần đến các phần mềm của hãng thứ ba, ví dụ bạn có thể tạo các bản sao lưu hệ thống bằng các phần mềm ghost, các phần mềm tạo ảnh ổ đĩa hoặc phân vùng khác.

Thực chất các hành động trên không chắc chắn là các dữ liệu được sao lưu không bị lây nhiễm virus, nhưng nếu có virus thì các phiên bản cập nhật mới hơn của phần mềm diệt virus trong tương lai có thể loại bỏ được chúng.

Theo WIKIPEDIA

Châm ngôn về tình bạn...



Bạn của anh là người biết tất cả về anh mà vẫn thích anh. (Elbert Hubbard)

Tìm được một người bạn chân thành là tìm được một kho tàng. (Jewish saying)

Tình bạn là một tâm hồn ngự trong hai thể xác.(Aristotle)

Có người đến trong đời ta rồi đi qua mau. Có một vài người dừng lại, và để lại dấu trong tim ta. Và sau đó ta không bao giờ giống như trước nữa. -- Vô danh

Tình bằng hữu không cần lời ... -- Dag Hammarskjold.

Bạn là người nghe được bài ca trong tim tôi, và hát lại cho tôi nghe, khi trí nhớ của tôi đã lụt. -- Vô danh

Nên tính tuổi bằng số bạn, không nên tính bằng năm. -- Vô danh

Bạn là người nói riêng cho tôi biết các lỗi lầm của tôi. -- Solomon Ibn Gabirol

Không thể có tình bạn ở những nơi không có tự do. -- William Penn

Chỉ một cánh hồng cũng đủ là một khu vườn cho tôi, ... một người bạn, là thế giới của tôi. -- Leo Buscaglia

Khi ngoái lại sau là cực hình và ta không dám ngó về phía trước, ta vẫn có thể nhìn bên cạnh ta, và người bạn tốt nhất của ta sẽ có mặt ở đó.

Khi thế giới đối với bạn không còn ý nghĩa gì nữa, nên suy nghĩ lại. Có thể bạn là cả một thế giới dối với một người nào đó.

Ðôi khi chúng ta đòi hỏi quá nhiều nơi những người quanh ta, và vì không ai có thể đáp ứng đầy đủ với các đòi hỏi đó, ta thường hay bị thất vọng.

Thật tốt hơn cho bạn hữu và cho chính chính ta, nếu ta bỏ hết các đòi hỏi và ảo tưởng, mà chấp nhận bạn hữu đúng theo bản chất của họ.

Ta có thể nhận biết được hay không, nhưng tất cả những người mà ta quen biết đều hết sức đặc biệt đối với ta.

Tình bạn nảy sinh ngay khi người này nói với người kia : "Ủa ! bạn cũng vậy sao ? Tôi tưởng chỉ có mình tôi mới như thế." -- C. S. Lewis

Từ những tranh luận giữa bằng hữu mà nảy sinh ra sự thật. -- David Hume

Chúng ta đều là những người lữ hành trong sự hoang dã của thế giới, và điều tốt đẹp nhất mà chúng ta có thể tìm được trong các chuyến đi này là một người bạn chân chính. -- Robert L. Stevenson..

Một tình bạn có thể nảy sinh ra từ mảnh đất khô cằn và không chắc chắn nhất. (Maeve Binchy)

Tình bạn là một hình thức công bằng có thể so sánh với công lý. Họ hoàn trả cho bạn họ tất cả những lợi ích mà họ đã nhận được từ bạn họ (Aristote).

Văn chương không an ủi chút nào hết mà chỉ cho cáo ảo tưởng của tình bạn được khơi lại. (Christian Authier).

Sự khác biệt lớn giữa tình yêu và tình bạn, là không thể có tình bạn một chiều (Michel Tournier).

Tình bạn lâu dài không sợ rỉ sét (Proverbe français).

Giá trị hàng đầu phải tìm nơi bạn ta, là đức hạnh, chính đức tính này bảo đảm là người đó có thể làm bạn với ta và xứng đáng với tình bạn . Đừng hy vọng gì ở các sự quan hệ khác nếu những mối quan hệ đó không có nền tảng trên (Madame de Lambert).

Ta chỉ có thể yêu thích một cái gì đó theo ý ta mà thôi, và ta chỉ theo sở thích và sự vui thích của ta khi ta thích bạn ta hơn ta; chính cái sự ưu tiên đó mới làm cho tình bạn được hoàn hảo(La Rochefoucauld) .

Tình bạn phải chăng là một dạng của âm nhạc (Erik Orsenna).

Ta luôn luôn mất tình bạn vói những người ta mất lòng quý mến (Joseph Joubert).

Mỗi người một cuộc sống : đó chính là bí quyết của tình bạn(Daniel Pennac).

Tình bạn được nuôi dưỡng bằng sự liên lạc trao đổi nhau.(Montaigne).

Thời gian là yếu tố xây dựng tình bạn tốt nhất và cũng là chứng nhân và lương tâm của tình bạn. Những con đường tách rời ra rồi lại giao nhau. (Tahar Ben Jelloun).

Tình bạn có thể không cần chứng cớ trong thời gian dài. Luôn luôn có một khoảng trống nhỏ trong những tình bạn đầy đủ nhất, như trong cái trứng vậy. (Jules Renard).

Không nên lẫn lộn giữa tình bạn và nhu cầu tâm sự (Erik Orsenna).

Tình bạn là tình càm duy nhất mạnh hơn tình yêu, dẫu rằng nó giống với tình yêu thiếu sự lôi cuốn vật chất. (Nicolas Hulot).

Tình bạn có giá trị hơn bà con họ hàng(Proverbe corse).

Trong đời sống chính trị, ta không có, ta không tạo ra tình bạn thực thụ. Ta có vài bạn đồng hành tốt(François Mitterrand).

Với một người đàn bà, tình bạn chỉ là ánh trăng của tình yêu(Jules Renard).

Tình bạn giảm khi (người này) một bên có quá nhiều hạnh phúc và (người) bên kia thì quá nhiều bất hạnh(Carmen Sylva).

Lòng khâm phục không cần tình bạn. Một mình nó cũng đủ.(Jules Renard).

Tình bạn thực thụ không đông cứng vào mùa Đông(Proverbe allemand) .

Trong tình yêu, một chọi một; trong tình bạn, ta là hai(Nicolas Hulot).

Chính cái mà người ta thích cùng với nhau, tạo ra tình bạn(Nicolas Hulot).

Tình bạn thời niên thiếu có khi chịu đựng được với thời gian, không bao giờ với khoảng cách (Fatou Diome).

Tình bạn chỉ có nghĩa khi nó có thể chứng tỏ bằng một sự hy sinh.(Sully Prudhomme).

Những tình bạn chân thật nhất thường là những tình bạn mà ta không ngờ đến.(Vincent Gury).

Ta thăng tiến trong tình bạn, và giảm dần trong tình yêu.(Jules Renard).

Tình bạn lâu dài ngẫu nhiên mà thành(Georges Courteline) .

Tình bạn tinh khiết có cái lợi là không bao giờ làm cho ta thất vọng.(David E. Kelley).

Tình bạn giả dối giống như một bãi cát lún. (tiếng miền Nam : sình đất võng)(Proverbe indien).

Tình bạn chân thật bắt đầu khi những lúc yên lặng không làm ta cảm thấy nặng nề.(Romain Werlen).

Ðem tình bạn cho một người đang cần tình yêu, là đem bánh mì cho một kẻ đang chết khát.(Proverbe espagnol)

Tình bạn nảy sinh khi người này nói với người kia "Sao! bạn cũng vậy sao ? Tôi cứ ngỡ là chỉ có độc một mình tôi."(C.S. Lewis).

Thà mất ít tiền còn hơn mất một chút tình bạn.(Proverbe malgache).

Đời không tình yêu có thể hình dung được- thí dụ như nơi các nhà tu hay tu sĩ ... theo truyền thống. Đời không tình bạn sẽ trống vắng kinh khủng..(Paul Guimard).

Một hàng rào ngăn cách sẽ giữ tình bạn xanh tươi.(Proverbe allemand).

Không nên mượn bất cứ gì của bạn mình, nếu muốn giữ tình bạn bền lâu.(Proverbe oriental).

Sự kính trọng lẫn nhau là giềng mối của tình bạn.(Proverbe oriental) .

Khi bạn bè giúp ta một vài điều nào đó, ta có thể nghĩ là vì họ là bạn nên họ phải giúp ta. Và ta toàn toàn không nghĩ là họ chẳng cần gì đến tình bạn của ta cả(Vauvenargues).

Bạn hữu là những thiên thần nâng đỡ ta khi ta quên không biết vỗ cánh thế nào để bay lên.

Nếu ta quen với một người mà họ không chấp nhận con người thật của ta thì họ không phải là bạn ta..

Tình bạn chân thật là một kho tàng quí giá mà ta không thể nào ngẫu nhiên tìm thấy dọc đường..

Tình bạn là gia vị của cuộc đời.

Một người bạn giống như một cái bánh sô cô la : bên ngoài cứng, bên trong mềm.

Nên xem tình bạn như rượu vang, và nên dè chừng các pha trộn.

Một người bạn, danh xưng thì không gì thông thường hơn, mà sự vật thì không gì hiếm hơn..

Ta phải chờ theo mùa mới có hoa quả do đất cho ta, nhưng lúc nào ta cũng nhận được các thành quả của tình bạn..

Có thể ngồi hay đi bên cạnh một người bạn hằng giờ mà không phải chú tâm đến sự hiện diện của người đó ... đó là tình bạn..

Người bạn là người không ng chạm đến tự do của ta, nhưng lại buộc ta phải là con người thực của ta..

Một ngày tình yêu hỏi tình bạn :
- Anh làm gì ở đời ?
- Tôi lau khô những giọt lệ mà anh làm ứa ra..

Nên chọn bạn như chọn những món đồ quí, ít nhưng phẩm chất cao..

Tình bạn chân chính giống như một ngôi sao. Nó chỉ thật sự chiếu sáng khi ta trải qua những giai đoạn đen tối của cuộc đời..

Những người bạn tốt nhất thường là những người thông hiểu nhu cầu biệt lập và yên lặng của ta..

Đừng hấp tấp kết bạn mới, cũng như đừng vội vã bỏ bạn cũ..

Không rõ Nhiệm vụ của Robots ở các máy tìm kiếm - Search Engine


Chắc rằng bạn rất thắc mắc về bọ tìm kiếm của Search Engine, bạn không hiểu nó gồm những gì? hoạt động ra sao? Hãy cùng tìm hiểu bọ tìm kiếm thu thập thông tin với tên gọi là robots

I. Ứng dụng của Robot

Robot thường được sử dụng cho những mục đích sau :

1. Phân tích, thống kê – Statistical Analysis: Robot đầu tiên được dùng để đếm số lượng web server, số tài liệu trung bình của một server, tỉ lệ các dạng file khác nhau, kích thước trung bình của một trang web, độ kết dính, …

2. Duy trì siêu liên kế - Maintenance: Một trong những khó khăn của việc duy trì một siêu liên kết là nó liên kết với những trang bị hỏng (dead links) khi những trang này bị thay đổi hoặc thậm chí bị xóa. Thật không may vẫn chưa có cơ chế nào cảnh báo các bộ duy trì về sự thay đổi này. Trên thực tế khi các tác giả nhận ra tài liệu của mình chứa những liên kết hỏng, họ sẽ thông báo cho nhau, hoặc thỉnh thoảng độc giả thông báo cho họ bằng email. Một số robot, chẳng hạn MOMspider có thể trợ giúp tác giả phát hiện các liên kết hỏng cũng như duy trì các cấu trúc siêu liên kết cùng nội dung của một trang web. Chức năng này lặp lại liên tục mỗi khi một tài liệu được cập nhật, nhờ đó mọi vấn đề xảy ra sẽ được giải quyết nhanh chóng.

3. Ánh xạ địa chỉ web - Mirroring: Mirroring là một kỹ thuật phổ biến trong việc duy trì các kho dữ liệu của FPT. Một ánh xạ (mirror) sẽ sao chép toàn bộ cấu trúc cây thư mục và thường xuyên cập nhật những file bị thay đổi. Điều này cho phép nhiều người cùng truy xuất một nguồn dữ liệu, giảm số liên kết bị thất bại, nhanh hơn và ít chi phí hơn so với truy cập trực tiếp vào site thực sự chứa các dữ liệu này.

4. Phát hiện tài nguyên – Resource Discovery: Có lẽ ứng dụng thú vị nhất của robot là dùng nó để phát hiện tài nguyên. Con người không thể kiểm soát nổi một khối lượng thông tin khổng lồ trong môi trường mạng. Robot sẽ giúp thu thập tài liệu, tạo và duy trì cơ sở dữ liệu, phát hiện và xoá bỏ các liên kết hỏng nếu có, kết hợp với công cụ tìm kiếm cung cấp thông tin cần thiết cho con người.

5. Kết hợp các công dụng trên- Combined uses: Một robot có thể đảm nhận nhiều chức năng. Ví dụ RBSE Spider [4] vừa thống kê số lượng tài liệu thu được vừa tạo cơ sở dữ liệu. Tuy nhiên những ứng dụng này còn khá ít.

6. Robot chỉ mục – Robot Indexing: Trong quá trình thu thập thông tin phục vụ cho bộ lập chỉ mục, ta cần giải quyết những vấn đề sau :
- Một là : Trong môi trường mạng, robot lấy thông tin từ các site. Vậy robot sẽ bắt đầu từ site nào? Điều này hoàn toàn phụ thuộc vào robot. Mỗi robot khác nhau sẽ có những chiến lược khác nhau. Thường thì robot sẽ viếng thăm các site phổ biến hoặc những site có nhiều liên kết dẫn đến nó.
- Hai là : Ai sẽ cung cấp địa chỉ của các site này cho robot?
Có 2 nguồn :

* Robot nhận các URL ban đầu từ user.
* Robot phân tích các trang web để lấy các URL mới, đến lượt các URL này trở thành địa chỉ đầu vào cho robot. Quá trình này được lặp lại liên tục.

- Ba là : Chọn dữ liệu nào trong tài liệu để lập chỉ mục?
Quyết định chọn dữ liệu nào trong tài liệu cũng hoàn toàn phụ thuộc vào robot, thường thì những từ được liệt kê như sau được xem là quan trọng :

* Ở góc cao của tài liệu.
* Trong các đề mục
* Được in đậm (inktomi)
* Trong URL.
* Trong tiêu đề (quan trọng)
* Trong phần miêu tả trang web (description) .
* Trong các thẻ dành cho hình ảnh (ALT graphisc).
* Trong các thẻ chứa từ khóa.
* Trong các text liên kết.

Một số robot lập chỉ mục trên tiêu đề, hoặc một số đoạn văn bản đầu tiên hoặc toàn bộ tài liệu (full text). Một số khác lại lập chỉ mục trên các thẻ META (META tags) hoặc các thẻ ẩn, nhờ vậy tác giả của trang web được quyền ấn định từ khoá cho tài liệu của mình. Tuy nhiên chức năng này bị lạm dụng quá nhiều do đó các thẻ META không còn giữ được giá trị ban đầu của chúng nữa.

II. Các chiến thuật thu thập dữ liệu

Trước khi các trang web được đánh chỉ mục, tất cả các trang web phải được lấy về máy của robot. Để lấy được tất cả các trang web, robot phải có chiến thuật. Từ một số trang web có sẵn, robot lọc ra danh sách các liên kết, rồi từ đó dò tìm các trang khác. Có 3 chiến thuật tìm kiếm Heuristic sau : tìm kiếm theo chiều sâu, tìm kiếm theo chiều rộng và tìm kiếm ngẫu nhiên.

1.Chiến thuật tìm kiếm theo chiều sâu

Từ một danh sách chứa các liên kết cần duyệt, thực hiện các bước sau :

1. (1) Cho danh sách = {trang đầu tiên}
2. (2) Lấy trang đầu tiên trong danh sách.
* Nếu có qua (3)
* Nếu không qua (5)
3. (3) Trang này đã xét tới chưa ?
* Nếu rồi, quay lại (2)
* Nếu chưa, qua (4)
4. (4) Đánh dấu đã tới rồi. Phân tích và tìm xem liên kết có trong trang đó không?
(4a) Nếu có, thêm liên kết này vào đầu danh sách. Quay lại (4)
(4b) Nếu không, quay lại (2).
5. (5) Kết thúc.

2. Chiến thuật tìm kiếm theo chiều rộng

Từ một danh sách chứa các liên kết cần duyệt, thực hiện các bước sau :

1. (1) Cho danh sách = {trang đầu tiên}
2. (2) Lấy trang đầu tiên trong danh sách.
* Nếu có qua (3)
* Nếu không qua (5)
3. (3) Trang này đã xét tới chưa ?
* Nếu rồi, quay lại (2)
* Nếu chưa, qua (4)
4. (4) Đánh dấu đã tới rồi. Phân tích và tìm xem liên kết có trong trang đó không?
* (4a) Nếu có, thêm liên kết này vào cuối danh sách. Quay lại (4)
* (4b) Nếu không, quay lại (2).
5. (5) Kết thúc.

3. Chiến thuật tìm kiếm theo ngẫu nhiên

Từ một danh sách chứa các liên kết cần duyệt, thực hiện các bước sau :

1. (1) Cho danh sách = {trang đầu tiên}
2. (2) Lấy ngẫu nhiên một trang trong danh sách.
* Nếu có qua (3)
* Nếu không qua (5)
3. (3) Trang này đã xét tới chưa ?
* Nếu rồi, quay lại (2)
* Nếu chưa, qua (4)
4. (4) Đánh dấu đã tới rồi. Phân tích và tìm xem liên kết có trong trang đó không?
* (4a) Nếu có, thêm liên kết này vào cuối danh sách. Quay lại (4)
* (4b) Nếu không, quay lại (2).
5. (5) Kết thúc.

III. Những vấn đề cần lưu ý của web robot

Chi phí và hiểm hoạ

Việc sử dụng các Robot tốn khá nhiều chi phí, đặc biệt là khi chúng được điều khiển từ xa trên internet. Phần này chúng ta sẽ cùng thảo luận về những hiểm hoạ do robot gây ra.

Quá tải mạng và server – Network resource and server load

Sau một khoảng thời gian dài, thường là một tháng, robot sẽ bắt đầu hoạt động một cách liên tục. Để tăng tốc nhiều robot được phóng ra đồng thời do đó cần có băng thông lớn. Tài nguyên mạng bị khai thác quá mức khi robot yêu cầu một lượng lớn thông tin trong khoảng thời gian quá ngắn (rapid fire). Kết quả là thiếu băng thông cho những ứng dụng khác. Server vừa phải phục vụ yêu cầu của robot vừa cung cấp dịch vụ cho user, do đó yêu cầu của robot tăng lên bao nhiêu thì dịch vụ sẽ giảm xuống bấy nhiêu.

Tác giả của một con robot đã thử nghiệm bằng cách cho thi hành 20 lượt truy cập đồng thời vào server của anh ta. Những lúc robot thu thập thông tin, server bị chậm lại. Trong vòng một tuần robot đã viếng thăm site này với một yêu cầu kinh khủng. Chỉ sau 170 lượt truy xuất liên tục, thử nghiệm thất bại do server bị quá tải. Rapid fire thực sự là thảm hoạ. Hiệu quả truyền tải thông tin dạng này bằng giao thức web hay HTTP sụt giảm thấy rõ. Những giao thức mới đang được xem xét nhằm cứu vãn tình thế.

Sự cập nhật quá mức- Updating overhead

Người ta cho rằng các cơ sở dữ liệu do web robot tạo ra có thể được cập nhật tự động nhưng cho đến thời điểm này vẫn chưa có cơ chế kiểm soát sự thay đổi trên web một cách hiệu quả. Cập nhật thông tin rất quan trọng nhưng qúa thường xuyên là điều không cần thiết.

Xuất phát từ thực tế đó HTTP đưa ra kỹ thuật ‘if – Modified – Since’ giúp các user – agent xác định được thời điểm tài liệu thay đổi. Robot phát hiện điều này chỉ khi nó lưu lại các thông tin cũ nhưng sẽ tốn nhiều bộ nhớ & cần dữ liệu phức tạp.

Một trong những đặc tính phổ biến của robot là khả năng tiếp nhận các từ cần tìm trong khi vẫn thu thập dữ liệu. Tuy nhiên một số người cho rằng đặc tính này không đáng hoan nghênh bởi hai lý do :

* Đầu tiên, các tác vụ tìm kiếm của người sử dụng cuối (end - user) góp phần đẩy server vào chỗ quá tải.
* Thứ hai, không có cơ sở đảm bảo có mối quan hệ giữa các từ cần tìm, đúng chính tả và tối ưu đối với cơ sở dữ liệu. Ví dụ, nếu bộ tìm kiếm không hỗ trợ các toán tử boolean, một user cần dữ liệu về xe máy muốn có được thông tin đúng thay vì nhập vào cụm từ ‘Ford and garage’ phải nhập vào từ ‘car’. Nhưng người đó không hề ý thức được điều này.

Một khía cạnh nguy hiểm nữa bắt nguồn từ sự định hướng sai lầm của end – user. Một số người sử dụng công cụ của mình rất tốt như dự đoán được lượng tài liệu lớn nhất có thể có, biết chính xác nơi cần tìm dữ liệu, giới hạn thời gian sử dụng robot, trong khi đó một số khác lại lạm dụng khả năng của robot một cách vô tình hoặc cố ý. Vì vậy các tác giả viết robot đề nghị chỉ nên phân phát sản phẩm của mình cho những end-user ‘hiểu‘ được web robot và những khó khăn trong môi trường mạng.

Những tình huống không mong đợi – Bad implementations

Thay vì kiểm tra trên máy cục bộ trước, một số tác giả lần đầu tiên viết robot cho thử ngay trên các server thực sự, điều này làm đau đầu không ít nhà quản trị web (web master).
Truy xuất trùng lặp có thể xảy ra khi robot không lưu lại dấu vết những nơi nó đã đi qua hoặc nó không nhận diện được các URL mặc dù khác nhau về tên nhưng lại cùng dẫn đến một địa chỉ, ví dụ địa chỉ DSN & IP.

Đôi khi, robot lãng phí thời gian và tài nguyên chỉ để thu về những tài liệu mà sau đó phải vứt đi. Ví dụ hệ thống chỉ quan tâm đến file văn bản (text file) nhưng robot lại nhận cả những loại file khác như file hình ảnh, file thực thi, …

Trong môi trường mạng có những vùng gần như vô tận. Ví dụ, cứ mỗi lần phân tích một trang robot nhận về cùng một URL nhưng xa hơn một cấp, ‘/cgi-bin/pit/’, và tiếp tục ‘/cgi-bin/pit/a/’, ‘/cgi-bin/pit/a/a’, …. . Sự lặp lại không có điểm dừng này được gọi là các lỗ đen (black holes)

Tiêu chuẩn loại trừ robot

Trong quá trình xử lý robot không thể tự quyết định tài liệu nào được lập chỉ mục, tài liệu nào không do đó nó lấy tất cả những gì có thể. Thậm chí dù xác định được tài liệu vô ích thì nó cũng đã bỏ ra một chi phí đáng kể cho hoạt động thu thập. Tiêu chuẩn loại trừ robot ra đời. Các chuẩn này chẳng những chỉ ra URL nào cần tránh mà còn cảnh báo robot về các lỗ đen.

File robot.txt: Robot.txt là một file cấu trúc được đặt tại thư mục gốc của server, gồm 2 trường User-agent và Disallow.

* User-agent : cho biết robot nào sẽ bị kiểm soát.
* Disallow : cho biết robot có được phép kết nối vào URL này hay không.

Xét các ví dụ sau : Bảng 1 : Ví dụ về chuẩn loại trừ robot dùng file robot.txt

Ví dụ


Ý nghĩa

# / robots.txt file for http://webcrawler.com/


Ký tự # bắt đầu một chú thích

User-agent: webcrawler
Disallow:


Robot có tên là webcrawler có thể đi đến bất cứ trang nào của site

User-agent: lycra
Disallow: /


Robot có tên là lycra bị cấm trên tất cả các trang của site

User-agent: *
Disallow: /tmp
Disallow: /logs


Mọi robot đều không được truy xuất vào 2 thư mục tmp và logs

Thẻ META dành cho robot – Robot META tag: META tag là sự mở rộng của chuẩn loại trừ robot, hỗ trợ cho tác giả của những trang web không có quyền admin.

Bảng 2 : Thông tin về META tag trong chuẩn loại trừ robot

Vị trí


Nằm trong phần HEAD của file HTML
Cú pháp < meta name = ‘robots’ content = ‘index, follow’>
Tên trường Ý nghĩa
Meta Thẻ báo hiệu bắt đầu
Name Tên robot sẽ bị kiểm soát
Content Cờ định hướng cho robot, các cờ này có thể kết hợp với nhau và được phân cách bằng dấu phẩy.

Sau đây là bảng các giá trị Meta Tags thường được các Webmaster sử dụng :

Bảng 3 : Giá trị các cờ của thuộc tính Content trong META tag

Các cờ của thuộc tính Content


Ý nghĩa
[NO]INDEX Robot không nên lập chỉ mục cho trang này.
[NO]FOLLOW Robot không nên lấy các liên kết ở trang này
ALL = INDEX, FOLLOW Robots lập chỉ mục và lấy các liên kết từ trang này.
NONE= NOINDEX, NOFOLLOW Robots không lập chỉ mục và không lấy chỉ số từ trang này

IV. Nhược điểm của file robot.txt

Người ta cho rằng việc liệt kê các trang hoặc các thư mục trong file robot.txt sẽ là nguyên nhân thu hút sự chú ý từ các ‘vị khách không mời‘. Thực ra chuẩn loại trừ robots chỉ là dấu hiệu cảnh báo, không là biện pháp cấm robots cho nên việc tuân theo hay không hoàn toàn là vấn đề tự nguyện. Tuy nhiên ta vẫn có cách khắc phục :
Một là :
- Tạo một thư mục chứa tất cả các file quan trọng.
- Trường Disallow chỉ liệt kê tên thư mục vừa tạo.
- Cấu hình server sao cho các trang không chứa đường dẫn đến thư mục này.

Đáng buồn trên thực tế cách này không đạt được kết quả mong đợi do một trong các nguyên nhân sau :

- Các server có robot không bị cấm có thể dẫn đường các robot bị cấm khác đến những file này.
- Các file quan trọng có thể nằm trong log file (file được tự do truy xuất)
- Khi cấu hình lại server, admin có thể ‘quên‘ các thư mục này phải cấm robot

Hai là: chứng thực (athorization). Đây là biện pháp hữu hiệu, được sử dụng trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt trong những môi trường mà sự an toàn dữ liệu trở nên rất cần thiết.
Tóm tắt :
Có thể nói web robot là con dao 2 lưỡi, sử dụng đúng sẽ giải quyết được nhiều vấn đề, sử dụng sai sẽ để lại những hậu quả khó đoán. Sau đây là tóm tắt cho những vấn đề cần lưu ý của web robot.
1. Tránh lãng phí tài nguyên
- Chỉ tải về những tài liệu cần thiết.
- Nếu hệ thống chỉ quan tâm đến các file text (.html, .htm, .xml, …), web robot nên bỏ qua các liên kết dẫn đến những file thực thi (.exe, …), file ảnh (.gif, .bmp, …).
- Bỏ qua các trường dữ liệu hệ thống không dùng đến.
- Đừng lấy về các trang giống nhau nhiều hơn một lần.
2. Tránh cập nhật lại các site cũ quá thường xuyên bằng cách :
- Ghi nhớ những địa chỉ web robot đã duyệt qua.
- Dựa vào trường LastModified, trường head. Nếu các trường này khác với dữ liệu ta đã có thì đó là những thông tin cần ghi nhận.
- Không nên duyệt hết một site, chỉ cần duyệt đến một độ sâu (deep link) cần thiết.
3. Tránh làm quá tải server
- Duy trì một khoảng thời gian đợi giữa các lần truy xuất liên tiếp.
- Kết nối với server vào những thời điểm thích hợp. Tham khảo ý kiến của admin để biết thông tin này.
- Kiểm tra web robot trên máy cục bộ, sửa lỗi trươc khi chạy trên server thực sự.
4. Tuân theo các luật loại trừ robot.
May 2013
M T W T F S S
April 2013June 2013
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31