KID1485

Paracel and Spratly Islands belong to Vietnam! http://hoangsa.org

Subscribe to RSS feed

Posts tagged with "Quê hương"

Tổ quốc trong lòng tôi

,

Thế hệ trẻ bây giờ không còn yêu Tổ quốc: Đó là tít của một bài báo trong nước. Tôi giật mình. Dán mắt đọc kỹ bài báo đó, tôi tự kiểm nghiệm lại bản thân và bạn bè. Tôi vui, tôi tự hào vì ai đó không còn yêu Tổ quốc chỉ là những con sâu làm rầu nồi canh. Còn chúng tôi - thế hệ trẻ, Tổ quốc đối với chúng tôi là một điều vô cùng thiêng liêng cao cả, tình yêu Tổ quốc là tình yêu đẹp đẽ nhất, là tình yêu của mọi tình yêu.



Tổ quốc là gì? Hai tiếng Tổ quốc rung lên trong tim chúng ta nghe to tát và lớn lao lắm. Thực ra Tổ quốc được lí giải rất đơn giản đó là đất mẹ, là mảnh đất của cha. Tổ quốc chính là đất nước mình được gọi lên một cách trân trọng , thân thương. "Tổ quốc của tôi" cất lên đầy trìu mến như "mẹ của tôi" hay "cha của tôi" hay chính là "quê hương của tôi"... Tổ quốc vang vọng trong câu ca hùng tráng, Tổ quốc nằm gọn trong trái tim con người.

Nhà thơ Đỗ Trung Quân đã viết:

Quê hương nếu ai không nhớ
Sẽ không lớn nổi thành người


Khái niệm quê hương trong thời đại này càng ngày càng lớn hơn và có thể nói đến quê hương chính là Tổ quốc. Tổ quốc nếu ai không yêu không nhớ sẽ không lớn nổi thành người. Tình yêu Tổ quốc là gì mà khi lớn lên ai cũng yêu, ai cũng nhớ?

Tổ quốc là câu hát ru ầu ơ của mẹ. Cánh cò trắng muốt lượn lờ trên cánh đồng vàng mùa gặt, có cánh diều chao nghiêng trên cánh gió thổi vi vu, bé nằm ngủ, bình yên. Bé không hiểu hết những giá trị trong câu hát, bé không thấy hết được khung trời lớn lao và góc sân nhà bé như thế nào. Nhưng trong lời ru ngọt ngào của mẹ, bé từng ngày uống dòng sữa quê hương, tình yêu Tổ quốc.

Cô bé bắt đầu biết làm việc nhà. Cô biết quét nhà, biết dọn đồ chơi trong căn phòng bé nhỏ của mình. Và khi đó cô cũng bắt đầu biết rót cho mẹ một ly nước khi mẹ đi làm về, khi thấy mồ hôi mặn chát của mẹ nhỏ xuống.

Cô bé biết ôm lấy mẹ khi giọt nước mắt buồn bã của mẹ rơi. Cô không biết công việc của mẹ vất vả như thế nào nhưng cô biết một cốc nước mát sẽ làm tan đi những vất vả lo âu trong lòng mẹ. Cái ôm bé con của cô có thể làm dịu những nỗi đau không giọt nước mắt nào đếm đủ. Cô bé yêu mẹ, yêu cả những nỗi vất vả, nỗi đau và cả những niềm vui của mẹ nhiều lắm.

Bố xem tivi, bố cứ chau mày, nhăn mặt, chốc chốc hét lên mấy tiếng "dô dô", lâu lâu nhảy dựng khỏi ghế cười ha ha. Thấy bố vui, bé cũng vui lây. Vì sao bố lại vui như thế, là vì bố đang xem bóng đá giữa hai đội Việt Nam và Thái Lan đấy mà. Việt Nam thắng thì bố sẽ cho cô bé và em cu đi chơi, Việt Nam thua thì đành ở nhà vậy. Bố bảo Việt Nam đá không hay nhưng vẫn cổ vũ vì đó là nước mình mà. Từ đó hễ có đội "nước mình" thi đấu, cô bé cũng sẽ xem. Dù cô không hiểu chút gì về mấy người mặc quần đùi cùng chạy loanh quanh cướp một quả bóng. Ngẫm lại thì đó cũng là một tình yêu "nước mình" của cô bé.

Một chiếc áo dài trắng, thướt tha, chị cô đem ra ngắm hàng ngày và mặc mỗi sáng thứ hai đi học. Chị cô thật đẹp trong chiếc áo dài ấy. Chị cô bảo: Đấy là trang phục truyền thống của nước ta, sau này lớn em cũng sẽ được mặc thôi! Thế là cô bé mong mình lớn thật nhanh trở thành một thiếu nữ tươi tắn, duyên dáng trong chiếc áo dài. Cô luôn mơ một ngày trang phục truyền thống Việt Nam sẽ cùng cô tung bay đến những đất nước khác khoe bộ áo dài Việt Nam. Cô tự hào...

Bài học về những con người ngày đêm âm thầm lặng lẽ làm đẹp xã hội hằng ngày gợi lên trong lòng cô gái khi trông thấy những cô chú lao công quét rác trên hè phố. Họ làm việc không ngơi nghỉ, tiếp xúc với những gì người khác vứt đi. Cô học trong sách, đọc trong vở nhưng nhìn tận mắt cô mới thấy sự vất vả không từ ngữ nào diễn tả hết. Bỗng trước mặt cô, một ai đó vừa vứt giấy kẹo ra đường, cô cúi xuống, nhặt lấy và bỏ vào thùng...

Hành động của cô thật không đáng gì so với đóng góp của những con người cắm cúi với công việc kia nhưng cũng thật đáng trân trọng. Bởi cô vừa giúp những con người kia đỡ vất vả hơn, và có lẽ nếu ai trong số những người lao công kia trông thấy hành động của cô, lòng họ cũng đang ấm dần lên. Họ biết rằng, trong xã hội tấp nập không ai để ý đến ai này, thì vẫn có những con người trẻ sống có trách nhiệm với cộng đồng.

Cô gái thấy Tổ quốc mình đang online trên Internet. Những diễn đàn tấp nập cờ Việt Nam, đỏ chói những themes nổi bật, những con người ảo với những cái tên ảo đang tranh luận với nhau về những câu chuyện có thật của thế hệ trẻ 8X, 9X, thế hệ @ nữa...

Xã hội ảo, cộng đồng ảo đang lên tiếng về đảo Hoàng Sa của nước ta, lên tiếng về vụ bạo hành trẻ em ở Bình Dương. Những blog màu sắc, chứa đựng cá tính của bloger từ trẻ đến già, từ những giáo sư đến học sinh, từ đại biểu quốc hội đến những người dân bình thường nhất. Người ta đã thống kê rằng, cứ mười blog thì có khoảng bốn blog nói về chuyện xã hội, chuyện chính trị. Và những bloger đó đã dùng một từ đó là "nói chuyện Việt Nam". Cả Tổ quốc vẫn đang online và enter theo những bước nhảy của xã hội.

Rồi cất tất cả mọi phiền muộn lo âu sang một bên, cô gái đưa mắt ra khung cửa sổ bé nhỏ, một bên là giỏ cây cũng nho nhỏ xinh xinh mà ngày nào cô cũng tưới tắm cho nó. Mặt trời bắt đầu lấp ló chui ra từ những nóc nhà chót vót, ánh nắng chảy tràn lên những bức tường, đổ xuống con đường nhộn nhịp, le lói sau tán cây, lấp lánh nhảy nhót. Nhìn xuống hè phố cô bắt gặp một ánh mắt ngại ngùng đang nhìn cô của một cậu con trai.

Cô bỗng thấy mình đẹp lên trong mắt mọi người, tươi tắn cùng mặt trời. Và cô yêu cái giỏ hoa treo bên cửa sổ, yêu cái ngõ xóm, con đường đi qua nhà cô, yêu cả ánh mặt trời ngày ngày cùng cô thức dậy, yêu ánh mắt ai đó khẽ trộm nhìn... Cô yêu quê hương vô cùng.

I-li-a Ê-ren-bua đã viết trong một tác phẩm của mình rằng: Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất (...). Lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc. Có thể nào khác chăng, Tổ quốc là mồ hôi mẹ, là niềm vui chiến thắng bóng đá của cha, là vẻ đẹp của chị trong chiếc áo dài, là thấy một mảnh rác và bỏ vào thùng, là một cú click chuột, là một cảm xúc tươi mới của một ngày... là tất cả tất cả những gì ta yêu và ta hát lên bài ca Tổ quốc mình.

P/s: Bài viết này được giáo viên chấm 9. Với lời phê: "Văn viết hồn nhiên, dễ thương, không lên gân hô hào trước một vấn đề người viết dễ gồng mình lên".
[/ALIGN]

Nguồn Kẻ Dạo Weblog

Quê hương

,



Mãi đến bây giờ, khi đọc lại câu chuyện Lòng Ái Quốc của Edmond de Amicis trong tập truyện Tâm Hồn Cao Thượng, hầu như ai cũng cảm thấy bồi hồi và xúc động, không ít người tóc đã bạc, nửa thế kỷ trước đã đọc, nay vẫn còn thích đọc lại và mỗi lần đọc lại thấy trào dâng trong lòng mình một cái gì đó rất thiêng liêng, rất cao quý. Phải chăng đó là tình yêu quê hương, đất nước?
Trong cuộc sống bộn bề, nhiều người cảm thấy quê hương là cái gì đó rất xa vời, coi như chuyện bảo vệ biên cương đất nước là chuyện của ai đó chứ không phải là mình, vì mình còn phải lo tới tấp đủ thứ chuyện cho công việc, cho gia đình, cho con cái, cho ngày mai… Nhưng quê hương cũng là một cái gì đó rất gần gũi thân thương, khi xem trên truyền hình thấy những cảnh lụt lội, thấy những cảnh bà mẹ già còm cõi, lần từng bước một đến chiếc tủ thờ, thắp mấy nén nhang cho những đứa con trai mình đã hy sinh, thì gỗ đá cũng phải động lòng huống chi là mình, bấy giờ quê hương mới thấy gần gũi làm sao! thấy thân thiết làm sao!
Tổng thống Hoa Kỳ JF Kennedy có lần đã nói: Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho bạn, mà hãy tự hỏi bạn đã làm gì cho Tổ quốc? Một xã hội đa chủng và tạp nhạp như Hoa kỳ mà họ còn nói đến tổ quốc, đến quê hương, huống chi là người Việt Nam chúng ta. Cho dù là trải qua hết chế độ này đến chế độ khác, mỗi chế độ có cái hay cái dở, nhưng suy cho cùng thì chúng ta cũng vẫn hãnh diện vì mình là người Việt Nam, có tiếng nói riêng, có chữ viết riêng, có nền văn hóa riêng, không giống một dân tộc nào cả.
Thời buổi này mà nói đến yêu quê hương có vẻ như sáo quá chăng? hay là muốn tuyên truyền? Xin thưa là hoàn toàn không! Vì chúng tôi cho rằng, giữa cuộc sống muôn màu muôn vẻ, nào là thị trường chứng khoán, nào là công nghệ thông tin, nào là biết bao công việc xoay quanh mình đến chóng mặt, ít ra quê hương cũng còn có một chỗ đứng cho mình trong lòng mỗi người, quý vị và các bạn có đồng ý với chúng tôi không?

Xem lại:
Lòng Ái Quốc của Edmond de Amicis
(Bản dịch của Hà Mai Anh)


Đầu bài thi của con sáng nay là: “Tại sao anh yêu xứ sở của anh?”. Con đã cảm động về chuyện Chú Lính đánh trống hôm trước, cha chắc chắn con đã làm bài một cách dễ dàng.
Tại sao anh yêu xứ sở của anh? Câu hỏi ấy chẳng làm nẩy nở trong óc con biết bao nhiêu là câu trả lời hay sao? Tôi yêu xứ sở của tôi vì mẹ tôi sinh trưởng ở đấy, vì nguồn máu trong mạch tôi đều là của người, vì khu đất thánh kia đã chôn vùi tất cả những người quá cố mà mẹ tôi thương, mà cha tôi trọng, vì cái đất mà tôi sinh, thứ tiếng tôi nói, quyển sách tôi học, các em tôi, chúng bạn tôi và một dân tộc lớn sống chung với tôi, cảnh đẹp của tạo hóa bao bọc chung quanh tôi… Tóm lại, tất cả những sự vật mà tôi trông thấy, tất cả những cái gì mà tôi yêu, tôi quý, nhất nhất đều thuộc về xứ sở của tôi cả.
Bây giờ còn bé, con chưa thể hiểu thấu được thế nào là lòng yêu nước. Rồi ra con sẽ biết. Khi con du lịch ở xa về, một buổi sáng, đứng tựa bao lơn tàu, con thấy ở chân trời một dãy núi xanh của xứ con hiện ra, bấy giờ con sẽ thấy trào lệ cảm ở lòng con dâng lên, và miệng con vuột ra những tiếng kêu mừng rỡ.
Con sẽ cảm thấy tình yêu nước khi con ở nước ngoài, chợt nghe thấy một người trong đám thợ thuyền nói tiếng nước con, theo lòng con xui giục, tự nhiên con sẽ đến hỏi chuyện người thợ không quen ấy.
Con sẽ cảm thấy tình yêu nước khi con nghe thấy người ngoại quốc lăng mạ xứ sở con, lòng tức giận sẽ làm cho con nóng mặt.
Con sẽ thấy tình yêu nước mạnh mẽ và cao cả hơn nữa, nếu một ngày kia, quân địch vô cớ dày xéo vào quê hương ta, lúc ấy con sẽ thấy nào cha hôn con khuyên câu dũng cảm, nào mẹ tiễn con hẹn lúc khải hoàn.
Con sẽ cảm thấy tình yêu nước khi con trông thấy những đoàn quân vất vả trở về, nhưng với những khúc ca chiến thắng.
Con sẽ cảm thấy tình yêu nước khi con trông thấy lá quốc kỳ của ta bị bắn tơi tả, đi đầu một toán người nghĩa dũng, ai nấy đều trưng ra cái trán buộc băng hay cái tay bị bó, trong đám đông dân chúng hoan hỉ, người ta ném hoa mừng và hô vang những lời chúc tụng.
Enricô con ơi! Bây giờ con đã hiểu thế nào là lòng ái quốc. Đó là một điều rất to tát, rất thiêng liêng. Vì một ngày kia, ta trông thấy con về trận được an toàn, nhưng được tin con lẩn lút để tránh cái chết, thì cha đây, cha không còn đón con bằng những tiếng cười vui vẻ như ngày xưa mỗi lúc đón con đi học về nữa, bấy giờ cha sẽ đón con bằng những tiếng khóc xót xa. Cha sẽ không thể thương con được nữa và sẽ đâm vào tim mà thác cho rồi…




Nguồn Blog bác Nguyễn Hùng Lân

Quê Hương - Bài Học Đầu Cho Em_Đỗ Trung Quân

,

Quê hương là gì hở mẹ
Mà cô giáo dạy phải yêu
Quê hương là gì hở mẹ
Ai đi xa cũng nhớ nhiều
Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay

Quê hương là con diều biếc
Tuổi thơ con thả trên đồng
Quê hương là con đò nhỏ
Êm đềm khua nước ven sông

Quê hương là cầu tre nhỏ
Mẹ về nón lá nghiêng che
Là hương hoa đồng cỏ nội
Bay trong giấc ngủ đêm hè.

Quê hương là vòng tay ấm
Con nằm ngủ giữa đêm mưa
Quê hương là đêm trăng tỏ
Hoa cau rụng trắng ngoài thềm

Quê hương là vàng hoa bí
Là hồng tím giậu mồng tơi
Là đỏ đôi bờ dâm bụt
Màu hoa sen trắng tinh khôi

Quê hương mỗi người chỉ một
Như là chỉ một mẹ thôi
Quê hương có ai không nhớ....

Đi qua xóm núi Thậm Thình - Nguyễn Bùi Vợi

,

Đi qua xóm núi Thậm Thình
Bâng khuâng nhớ nước non mình nghìn năm
Vua Hùng một sáng đi săn
Trưa tròn bóng nắng nghĩ chân chốn này
Dân dâng một quả xôi đầy
Báng chưng mấy cặp, bánh dầy mấy đôi
Đẹp lòng vua phán bầy tôi
Tìm đất kén thợ định nơi xây nhà

Trăm cô gái tựa tiên sa
Múa chày đôi với chày ba rập rình
Đêm đêm tiếng thậm... tiếng thình...
Cối thơm thơm cả nghĩa tình nước non.

Không còn dấu cũ lầu son
Phía sau thành phố khói vờn trong mây
Trời cao nắng tỏa đường cây
Nhịp chày xưa thoảng đâu đây.. Thậm Thình!

Bonjour Vietnam



Bonjour Vietnam

Sáng tác: Marc Lavoine

Raconte moi ce nom étrange et difficile à prononcer

Que je porte depuis que je suis née.

Raconte moi le vieil empire et le trait de mes yeux bridés,

Qui disent mieux que moi ce que tu n’oses dire.

Je ne sais de toi que des images de la guerre,

Un film de Coppola, [et] des hélicoptères en colère ...

Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à ton âme.

Un jour, j’irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam.

Raconte moi ma couleur, mes cheveux et mes petits pieds,

Qui me portent depuis que je suis née.

Raconte moi ta maison, ta rue, racontes moi cet inconnu,

Les marchés flottants et les sampans de bois.

Je ne connais de mon pays que des photos de la guerre,

Un film de Coppola, [et] des hélicoptères en colère ...

Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à mon âme.

Un jour, j’irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam.

Les temples et les Bouddhas de pierre pour mes pères,

Les femmes courbées dans les rizières pour mes mères,

Dans la prière, dans la lumière, revoir mes frères,

Toucher mon âme, mes racines, ma terre...

Un jour, j’irai là bas, un jour dire bonjour à mon âme.

Un jour, j’irai là bas [pour] te dire bonjour, Vietnam (2 fois).


Thương chào Việt Nam

Hãy kể tôi nghe về cái tên xa lạ và khó gọi

mà tôi đã đeo mang tự thuở chào đời

Hãy kể tôi nghe về vương triều cũ và đôi mắt xếch của tôi

Ai nói rõ hơn tôi về những gì người không dám thốt

Tôi chỉ biết về người qua những hình ảnh của chiến tranh,

Một cuốn phim của Coppola (*), [và] những chiếc trực thăng trong cơn thịnh nộ...

Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để chào hỏi hồn người

Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để cất tiếng chào Việt Nam


Hãy kể tôi nghe về màu da, mái tóc và đôi bàn chân đã cưu mang tôi tự thuở chào đời.

Hãy kể tôi nghe về căn nhà, con đường, hãy kể tôi nghe những điều chưa biết,

Về những phiên chợ nổi trên sông và những con thuyền tam bản bằng gỗ.

Tôi chỉ biết quê hương qua những hình ảnh của chiến tranh,

Một cuốn phim của Coppola, [và] những chiếc trực thăng trong cơn thịnh nộ...

Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để chào hỏi hồn tôi

Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để cất tiếng chào Việt Nam


Chào hỏi giùm những người cha của tôi, những ngôi chùa và những tượng Phật bằng đá,

Chào hỏi giùm những bà mẹ của tôi, những phụ nữ đang cong lưng trên ruộng lúa,

Trong lời nguyện cầu, trong ánh sáng, tôi thấy lại những người anh,

tôi về với tiếng lòng, với cội nguồn, với đất mẹ quê cha...

Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để chào hỏi hồn tôi

Một ngày kia, tôi sẽ đến nơi ấy để cất tiếng chào Việt Nam
(2 lần)

(Bản dịch của anh Đào Hùng - Pháp - trên diễn đàn của Silicon Band)

(*) Francis Ford Coppola là đạo diễn Mỹ thực hiện bộ phim kinh điển về chiến tranh VN Apocalypse Now (Ngày tận thế)
--------------------------------------------


Tác giả của bài Bonjour Vietnam, là nhạc sĩ, ca sĩ rất nổi tiếng tại Pháp và Bỉ. Marc Lavoine đã gặp Quỳnh Anh ở Bruxelles khi ông đi tìm ca sĩ cho ca khúc này. Marc Lavoine nói về Quỳnh Anh: “Ca khúc này đặc biệt. Tôi muốn hát chung với một ca sĩ nào có khuôn mặt diễn tả niềm hi vọng. Và tôi đã tìm thấy Quỳnh Anh ở Bruxelles. Tôi viết bài Bonjour Vietnam cho Quỳnh Anh. Lúc hát thử, tôi đã tin tưởng vào tài năng của Quỳnh Anh khi cô ta chợt ngưng hát và hỏi tôi tựa đề của bài hát muốn nói gì. Tôi giải thích, cô ta cảm ơn tôi, đặt tai nghe trở lại và đã hát đi hát lại ba lần. Cô ta có giọng hát tuyệt vời”.








Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng(1828-1910)

Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng(1828-1910)
Người viết bộ Việt Sử Cương Mục Tiết Yếu


Đặng Xuân Bảng (1828-1910) quê ở Xuân Trường - Nam Định, đỗ tiến sĩ năm 28 tuổi. Trong thời gian làm quan, ông đã nhiều lần can gián vua, song đáng tiếc nhiều ý kiến vượt trên thời đại của ông không được chú ý. Sau khi về hưu, ông dành gần 20 năm để viết bộ Việt sử cương mục tiết yếu được đánh giá là có nhiều nét đặc sắc so với các bộ lịch sử Việt Nam trước đó.

Mùa xuân năm Mậu Tý (1828) dưới triều Nguyễn Thái Tổ niên hiệu Minh Mạng năm thứ chín ở xã Hành Thiện, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Vợ ông Tú tài Đặng Viết Hòe (vì bảy lần đi thi đều chỉ đỗ tú tài nên còn gọi là Mền Hòe) sinh được người con trai rất khôi ngô, tuấn tú. Ông Mền Hòe ngắm con trai mà lòng dạt dào vui sướng, ông đặt tên con trai là Xuân Bảng, hy vọng con ông lớn lên sẽ làm rạng danh cho dòng họ Đặng bằng con đường khoa bảng. "Nhất định con ta sẽ hơn ta, muốn vậy, ta phải dạy con ta ngay từ sau khi nó tập nói để nó được làm quen với chữ Thánh hiền". Nghĩ sao làm vậy, khi cậu Bảng tập nói, hàng xóm đã thấy cậu bi bô "nhân chi sơ, tính bản thiện..." nên có người cho là một thần đồng. Năm 12 tuổi cậu Bảng đã biết đối và họa thơ với bố rất đúng luật và sâu sắc. Năm 19, cậu Bảng tham gia thi hương khóa Đinh Mùi (1847) đã đỗ tú kép. Ba năm sau (1850) ở khóa thi hương Canh Tuất, Xuân Bảng cùng với bố đi thi, ông Mền Hòe thất vọng vì lại đỗ tú tài lần thứ bảy, thì Xuân Bảng đỗ cử nhân nên đã tự an ủi mình "con hơn cha là nhà có phúc". Tân cử nhân Đặng Xuân Bảng được nhận chức giáo thụ phủ Ninh Giang (Hải Dương). Vừa làm quan lại vừa tự học và quan sát ghi chép để có tài liệu về ngôn ngữ, phong tục, tập quán của các địa phương. Năm 1856, ông lặn lội vào Huế thi Đình khóa thi Bính Tuất đỗ Nhị giáp Tiến sĩ, đáng lẽ đỗ Tam giáp nếu bài thi của ông không có đôi điều can gián vua bỏ thú ham săn bắn để tập trung vào việc nước trước nguy cơ Pháp có thể xâm lược nước ta. Tài học cao hiểu rộng của Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng đã lọt đến tai vua Tự Đức nên năm 1857, vua đã triệu ông vào kinh đô Huế phong chức bí thư Văn phòng Nội các với nhiệm vụ nặng nề là duyệt bộ sách "Khâm định nhân sự kim giám". Ông làm công việc này ròng rã hai năm mới xong. Vua Tự Đức đọc những ý kiến đóng góp của ông rất hài lòng nên ban thưởng ngay cho ông chức tri phủ Thọ Xuân (Thanh Hóa) sau lại điều lên Tuyên Quang làm tri phủ Yên Bình là nơi núi rừng hiểm trở, bọn thổ phỉ thường xuyên quấy nhiễu. Sau một thời gian ông cai quản Yên Bình đã trở về đúng cái tên gọi của nó thì ông lại được vua gọi vào Huế trao cho chức Giám sát ngự sử (1862) chức quan có nhiệm vụ ngăn vua, giám sát và hạch tội các quan trong triều. Ngoài nhiệm vụ trọng đại trên ông được phép tham gia để bàn bạc các vấn đề về hành chính, tài chính, sử dụng quan lại. ở lĩnh vực nào ông cũng có những đóng góp có chất lượng cao, trong đó không ít ý kiến của ông đã vượt thời đại. Đó là: không nên cử Phan Thanh Giản đem vàng bạc, châu báu để chuộc lại sáu tỉnh Nam Kỳ. Việc này Tự Đức bác bỏ. Kết quả vàng bạc thì Pháp vui vẻ nhận nhưng đất đai của sáu tỉnh thì không trả. Thế là ta mất cả chì lẫn chài! Ông lại tâu với vua cho mở mang công thương nghiệp, khuyến khích dùng hàng nội, không dùng hàng ngoại để ban thưởng. Việc sử dụng quan lại: Mỗi khi cất nhắc hay tuyển chọn quan dù là dân chính hay binh chính đều phải dựa vào tiêu chuẩn và công trạng rõ ràng, không chỉ dựa vào việc tâu trình của quan đầu tỉnh hay của các bộ mà xem xét được.

Đặc biệt quan hệ với thực dân Pháp ông tâu:

- Theo thần, ta nên mở mang thông thương với nhiều nước, Pháp đã chiếm sáu tỉnh Nam Kỳ thì thế nào chúng cũng nhòm ngó Bắc Kỳ. Nếu ta quan hệ với nhiều nước thì Pháp không có khả năng ép ta được. Trái lại, các nước sẽ cùng đua nhau đổ của vào làm lợi cho ta.

Tiếc thay, lời tâu chí lý này đã bị Tự Đức bác bỏ với lời phán lạnh lùng:

- Giao thiệp với một nước còn chưa xong, huống chi là nhiều nước.

Bên cạnh ta, nước Xiêm La (Thailand) đã mở cửa cho nhiều nước cùng vào nên họ không bị nước nào chèn ép, họ đã nhanh chóng tiếp thu các tiến bộ khoa học Âu-Mỹ nên đã hòa nhập được với thế giới văn minh mà dân tộc họ đã không bị hòa tan! Năm ất Sửu (1867) ở tỉnh Quảng Yên bọn hải tặc hoành hành khiến cho dân tình điêu đứng, quan lại thì bất lực. Ông lại được điều đến với chức Quan án sát để giúp dân dẹp giặc. Sau khi Quảng Yên yên vui, ông lại được điều về Hà Nội rồi lại đi Sơn Tây. Năm 1872, ở tuổi 44 ông Xuân Bảng được thăng chức Tuần phủ tỉnh Hưng Yên, sau lại làm Tuần phủ tỉnh Hải Dương. Năm 1874, Pháp mang quân xâm chiếm Hải Dương, quân ta thua trận, ông Xuân Bảng bị bãi chức Tuần phủ và triệu về kinh hậu xét. Năm 1876, ông bị giáng chức tuần phủ phái đi khai hoang ở Đồn Vàng, Hưng Hóa (Phú Thọ) và Bất Bạt (Sơn Tây) khi đi khai hoang ông cho gia nhân gánh theo mấy bồ sách và các tài liệu ông đã bỏ công ghi chép hàng ngày để nghiền ngẫm và bổ sung cho công việc viết sử sau này. Hai năm sau (1878), công việc vua giao cho đã hoàn tất, ông xin nghỉ hưu. Năm 1882, Tự Đức thấy việc bãi chức ông Đặng Xuân Bảng là vô lý nên lại phục chức cho ông. Nếu từ chối chức vụ cũ thì làm vua phật ý mà nhận lại chức thì không còn trí lực như xưa, nên ông Đặng Xuân Bảng xin nhà vua cho nhận chức Đốc học tỉnh Nam Định để hợp sức tuổi già và có điều kiện chăm sóc mẹ. Năm Mậu Tý (1888) khi vừa tròn 60 tuổi cụ Đặng Xuân Bảng xin nghỉ hưu lần thứ hai.

Mặc dù có thời gian và tài liệu đã được ghi chép và tích lũy ngót 40 năm nhưng cũng phải mất gần 20 năm Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng mới viết xong bộ "Việt sử cương mục tiết yếu" gồm tám quyển 1.200 trang.

"Đây là bộ thông sử duy nhất ở nước ta có ghi chú các sự kiện lịch sử từ thời Hùng Vương đến hết triều Tây Sơn (1802) có kèm theo các phần "án", chú, bình, khảo,... là những công trình khảo chứng lịch sử lớn nhỏ của tác giả và nhiều sử gia khác. Vì thế, nó có nhiều nét đặc sắc so với các bộ sử truyền thống khác. Tác giả đã tham khảo nhiều nguồn tư liệu trong và ngoài nước, phân tích, tổng hợp vấn đề, chú ý tìm nguyên nhân của những thiếu sót để tiến hành phê phán, nên những vấn đề khảo chứng có sức thuyết phục" (Luận án Tiến sĩ của Hoàng Văn Lâu - Viện nghiên cứu Hán Nôm), Tạp chí Nghiên cứu lịch sử số 2-1997).

Sinh cùng thời với cụ Tam Nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyến (1835-1909), cụ Nguyễn Khuyến từ quan để về câu cá, làm ruộng, làm thơ,... chỉ có "năm gian nhà cỏ thấp le te, ngõ tối đêm sâu đóm lập lòẹ.." đời sống đạm bạc "đầu trò tiếp khách trầu không có" thì cụ Tiến sĩ Đặng Xuân Bảng hai lần về hưu với hai bàn tay trắng. "Cụ về xã Văn Lâm lập ấp, đặt tên là Tả Thành Thiện cụ nói với con cháu: "Bởi cả đời ta đi làm quan nên không có của cải để lại, may còn mảnh đất này của ông cha, các con lo cày cấy lấy cái ăn. Quê ta nhiều thế gia cự lộc quen sống xa hoa, đừng bắt chước họ, hãy lập nghề nông cho quen khó nhọc...".

Sau khi bộ sử gồm tám quyển với 1.200 trang viết tay, viết xong thì được người bạn chí cốt là Cao Xuân Dục tặng 20 lạng vàng để cụ Đặng Xuân Bảng thuê in ấn lưu lại cho muôn đời. [...][/ALIGN]

QUÊ HƯƠNG NAM ĐỊNH VỚI ĐỒNG CHÍ TRƯỜNG CHINH

Nam Định, vùng đất duyên hải phì nhiêu nam đồng bằng sông Hồng, vùng đất văn hiến với lịch sử phát triển lâu đời, là quê hương phát tích của Vương triều Trần với hào khí Đông A đã ba lần chiến thắng giặc Nguyên Mông rạng danh đất nước. Đứng ở thế giao hòa giữa đất liền và biển cả, Nam Định là nơi hội tụ của những truyền thống: yêu nước và kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm; lao động cần cù, thông minh, sáng tạo; đoàn kết, nhân ái; hiếu học, ý chí tiến thủ, vượt khó vươn lên... Những truyền thống ấy của người Nam Định đã góp phần tạo dựng nền văn minh sông Hồng rực rỡ. Nam Định cũng là nơi sản sinh và hun đúc nên nhiều bậc hiền tài, những chiến sỹ cách mạng tiền bối, những nhà lãnh đạo cách mạng xuất sắc của Đảng, tiêu biểu trong số đó là đồng chí Trường Chinh.

1 - Đồng chí Trường Chinh, tên thật là Đặng Xuân Khu, sinh ngày 9-2-1907, tại làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định trong một gia đình có truyền thống khoa bảng, yêu nước. Ông nội của đồng chí là cụ Đặng Xuân Bảng, đỗ tiến sỹ khoa Bính Thìn (1856), khi làm quan cụ luôn bênh vực dân nghèo, giữ mình, liêm khiết, cuối đời về quê làm nghề dạy học và viết sách. Là người có học vấn uyên thâm, hiểu sâu nhiều lĩnh vực, cụ đã để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị: Sử học bị khảo, Việt sử cương mục tiết yếu, Cổ nhân ngôn hành lục... Thân phụ của đồng chí Trường Chinh là ông Đặng Xuân Viện, ông là một nhà nho uyên bác, một nhà khảo cứu giỏi trên nhiều lĩnh vực. Sau này, ông học chữ quốc ngữ và trở thành nhà báo, viết cho nhiều tờ báo lớn ở Hà Nội như: Nam Phong, Trung Bắc Tân Văn, Ngọ Báo. Thân mẫu của đồng chí Trường Chinh là bà Nguyễn Thị Từ, một người hết lòng phụng dưỡng chồng con. Những nét đẹp truyền thống gia đình đã ảnh hưởng lớn tới tư tưởng, nhân cách của đồng chí Trường Chinh.

Quê hương Hành Thiện, Xuân Trường - nơi sinh thành và nuôi dưỡng đồng chí Trường Chinh, thời phong kiến cùng với Cổ Am xứ Đông đã nổi tiếng nhất cả nước về truyền thống học hành và sự đỗ đạt. "Đông Cổ Am, Nam Hành Thiện" là câu ca của người xưa thể hiện sự khâm phục, ngưỡng mộ vùng đất "trai học hành, gái canh cửi". Từ triều vua Lê Thái Tông (1434 - 1442) làng Hành Thiện đã có người đỗ đạt. Tính đến khoa thi Ất Mão (1915), khoa thi cuối cùng của triều Nguyễn, Hành Thiện có 7 vị đỗ đại khoa, 97 cử nhân, 246 tú tài. Làng có Văn chỉ (1703) để khuyến khích tinh thần hiếu học. Học giỏi và yêu nước, người làng Hành Thiện nếu đỗ đạt làm quan thì dốc sức vì dân, nếu không thì làm nghề dạy học, chữa bệnh cứu người. Trong làng có nhiều người mở lớp, nho sinh các nơi về học rất đông. Miếu Văn Xương của làng Hành Thiện không chỉ là nơi bình thơ, học chữ mà còn là nơi để các nhà nho yêu nước truyền bá những tư tưởng tiến bộ. Trong các phong trào Cần Vương, Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, nhiều người dân ở Hành Thiện đã hăng hái tham gia, bị địch bắt bớ, giam cầm, hy sinh, nhưng luôn nêu cao tinh thần bất khuất. Truyền thống của quê hương, gia đình đã góp phần hình thành và nuôi dưỡng nhân cách, tình cảm, trí tuệ cách mạng của đồng chí Trường Chinh.

Quê hương Nam Định tự hào đã sinh ra đồng chí Trường Chinh, một người cộng sản ưu tú, một nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam. Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí gắn liền với chặng đường đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Là một thanh niên trí thức được giác ngộ, đồng chí đã sớm đi theo cách mạng và cống hiến trọn đời cho cách mạng. Trong quá trình hoạt động cách mạng, lúc bí mật, lúc công khai, lại giữ nhiều trọng trách của Đảng và Nhà nước nên đồng chí ít có dịp về thăm quê, nhưng tình cảm, trách nhiệm của đồng chí đối với quê hương luôn là nguồn động viên to lớn để Đảng bộ và nhân dân Nam Định vượt mọi khó khăn, tích cực góp phần trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng chủ nghĩa xã hội và thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo.

Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, mặc dù rất bận rộn công việc trên cương vị là lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước, nhưng khi có điều kiện, đồng chí Trường Chinh đã nhiều lần về thăm, động viên Đảng bộ và nhân dân Nam Định.

Tháng 11-1960, đồng chí Trường Chinh về thăm Xuân Trường và cũng là lần đầu tiên đồng chí trở về thăm Nam Định trên cương vị lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Tháng 12-1971, đồng chí về thăm nhà máy Liên hợp Dệt Nam Định và một số di tích lịch sử văn hóa thời Trần, dự họp với Huyện ủy Xuân Thủy. Tháng 2-1972, đồng chí về dự Đại hội đại biểu tỉnh Nam Hà lần thứ II. Tháng 11-1976, đồng chí về dự Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Nam Ninh lần I (vòng 1). Tháng 5-1977, đồng chí về dự Đại hội đại biểu Đảng bộ Hà Nam Ninh lần I (vòng 2). Tháng 1-1980, đồng chí về thăm và nói chuyện tại nhà máy Liên hợp Dệt Nam Định. Tháng 3-1981, đồng chí về làm việc với Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng bộ Hà Nam Ninh, đi kiểm tra thực hiện Chỉ thị 100-CT/TW ở xã Hải Bắc (huyện Hải Hậu), làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng (huyện Xuân Thủy). Tháng 11-1987, đồng chí về thăm làng Hành Thiện, thăm nhà máy Liên hợp Dệt Nam Định, thăm trường phổ thông trung học chuyên Lê Hồng Phong.

Những lần về thăm, làm việc với tỉnh, đồng chí dành nhiều thời gian về cơ sở tranh thủ gặp gỡ, tiếp xúc với bà con hàng xóm, họ hàng thân quen, cán bộ, xã viên hợp tác xã, lắng nghe ý kiến mọi người về việc thực hiện những chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước. Đồng chí ân cần thăm hỏi sức khỏe từng người, động viên sự phát triển đi lên của địa phương, khen ngợi thành tích học tập của các cháu bằng tất cả tình cảm yêu thương của người con đi xa lâu ngày trở về. Mỗi bước đi của Đảng bộ và nhân dân Nam Định đều có sự chỉ đạo sâu sát, ân cần của đồng chí, từ công tác lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền, đến công tác vận động quần chúng thực hiện nhiệm vụ cách mạng. Đồng chí nói: "Vì bận công việc của Đảng nên tôi không về thăm được bà con. Tuy ở xa nhưng trái tim tôi lúc nào cũng hướng về quê hương và bà con quê nhà"(1).

2 - Bằng trách nhiệm, tình cảm của người con với quê hương, đồng chí luôn dành sự quan tâm sâu sắc đến cán bộ, đảng viên và nhân dân Nam Định, động viên khích lệ những thành tích đã đạt được, thẳng thắn chỉ rõ những khiếm khuyết trong công tác quản lý, củng cố khối đoàn kết nhất trí, chú trọng công tác xây dựng Đảng, công tác vận động quần chúng để phát huy sức mạnh của Đảng bộ.

Tháng 2-1972, phát biểu tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Nam Hà, đồng chí chỉ rõ: Nam Hà là một tỉnh lớn ở miền Bắc, số dân đông, sức lao động nhiều, có kinh tế nông nghiệp phong phú trên cả ba miền: đồng bằng, miền biển, miền nửa đồi núi, có cơ sở công nghiệp và thủ công nghiệp tương đối lớn... Chỉ cần ra sức phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm thì nhất định Nam Hà có thể tiến nhanh trên con đường đưa sản xuất quy mô nhỏ tiến lên quy mô lớn xã hội chủ nghĩa, trở thành một tỉnh có nông nghiệp và công nghiệp cùng phát triển, làm tốt nghĩa vụ đối với tiền tuyến lớn và góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội, cải thiện tốt đời sống của nhân dân. Về phương thức lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ, góp phần hoàn thành nhiệm vụ của tỉnh, đồng chí nhấn mạnh: Công tác chỉ đạo, vừa phải nắm vững toàn diện vừa phải nắm vững trọng tâm. Không nắm vững toàn diện thì sẽ không khai thác đầy đủ điều kiện tự nhiên, nhưng không nắm vững trọng tâm thì sẽ không tập trung sức đẩy mạnh sản xuất những sản phẩm quan trọng nhất, có ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế trong tỉnh.

Đầu năm 1981, trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm thực tiễn đang diễn ra ở nông thôn, Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IV đã ban hành Chỉ thị 100-CT/TW về "Mở rộng khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã nông nghiệp", đánh dấu một mốc quan trọng về đổi mới tư duy kinh tế và chính sách phát triển nông nghiệp của Đảng ta. Tháng 3-1981, đồng chí Trường Chinh, ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch ủy ban Thường vụ Quốc hội đã về thăm và khảo sát tình hình thực hiện Chỉ thị 100-CT/TW của Ban Bí thư ở tỉnh Hà Nam Ninh. Trước tiên, đồng chí đến thăm huyện Hải Hậu, huyện Xuân Thủy, thăm các xã Hải Trung, Hải Vân, Xuân Hồng. Hải Hậu là huyện đi đầu trong phong trào thâm canh của tỉnh Hà Nam Ninh, là một trong những huyện thâm canh giỏi của miền Bắc, là lá cờ đầu xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng hình ảnh nông thôn xã hội chủ nghĩa. Tình hình khoán sản phẩm của Hải Hậu lúc này đang diễn ra khá thuận lợi và bước đầu đạt được những kết quả khả quan. Việc khoán hộ đã tạo ra không khí sản xuất mới ở các hợp tác xã và gia đình xã viên; công tác thủy lợi nội đồng, các khâu cung ứng phục vụ sản xuất như giống, phân bón đều có những thay đổi tích cực. Kết quả đó khiến đồng chí Trường Chinh rất phấn khởi. Đồng chí đánh giá cao tinh thần đoàn kết của Đảng bộ và nhân dân huyện Hải Hậu, đảng viên miệng nói tay làm; nêu cao tinh thần tự lực tự cường; nghiên cứu tìm tòi, sáng tạo, áp dụng tốt đường lối của Đảng vào hoàn cảnh thực tế... Làm việc với cán bộ chủ chốt của tỉnh, đồng chí nhắc nhở: Phải nghiên cứu kỹ Chỉ thị 100-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng để thực hiện tốt, nắm vững mục đích và nguyên tắc của việc khoán, bàn bạc dân chủ để có hình thức khoán thích hợp, không được khoán trắng và chia ruộng đất manh mún, cản trở sử dụng kỹ thuật. Phải trên cơ sở thực tế để tổng kết kinh nghiệm, nhân rộng những điển hình như Hải Hậu trên toàn tỉnh.

3 - Nam Định tự hào là vùng "đất học - đất văn" sinh ra nhiều bậc hiền tài, nhiều nhà nho yêu nước có tư tưởng tiến bộ, cách mạng, trong đó đặc biệt là đồng chí Trường Chinh - một người cộng sản kiên trung, nhà chính trị, nhà văn hóa lớn mà cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí mãi mãi là tấm gương sáng cho chúng ta noi theo. Trong sự nghiệp xây dựng và phát triển quê hương, Đảng bộ và nhân dân Nam Định luôn ghi nhớ, và đang phấn đấu thực hiện tốt những lời chỉ bảo ân cần, đầy trách nhiệm của đồng chí.

Thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng bộ và nhân dân Nam Định không ngừng phấn đấu vươn lên và đã đạt được những kết quả đáng phấn khởi. Kinh tế tiếp tục phát triển, tổng sản phẩm GDP 5 năm (2001- 2005) tăng bình quân 7,6%, riêng năm 2006 tăng 11,5%. Sản xuất nông nghiệp vẫn giữ được truyền thống thâm canh, tích cực chuyển đổi giống cây trồng, vật nuôi, đẩy mạnh ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất. Ngày càng có nhiều cánh đồng đạt 50 triệu đồng/ha. Sản xuất công nghiệp tăng 25%, đặc biệt là công nghiệp cơ khí, dệt may đang phát triển mạnh trở thành ngành kinh tế chủ lực trong công nghiệp địa phương. Các ngành dịch vụ có bước phát triển mới thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Nam Định đang quyết tâm tạo ra bước đột phá mới trên lĩnh vực công nghiệp - dịch vụ - du lịch - đào tạo nguồn nhân lực, trong vai trò là trung tâm khu vực nam đồng bằng sông Hồng. Toàn tỉnh đã xây dựng ba khu công nghiệp và 15 cụm công nghiệp - làng nghề của các huyện, thành phố. Thành phố Nam Định, trung tâm các huyện, thị trấn được quy hoạch và đầu tư xây dựng, tốc độ đô thị hóa nhanh, tạo ra diện mạo mới cho Nam Định. Cùng với các dự án nâng cấp cơ sở hạ tầng, các khu đô thị mới, các trung tâm thương mại, dịch vụ khách sạn, các công trình văn hóa và phúc lợi xã hội đã, đang được chú trọng đầu tư. Đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện cả về vật chất và tinh thần.

Phát huy truyền thống hiếu học - học giỏi của quê hương, sự nghiệp giáo dục đào tạo của tỉnh Nam Định tiếp tục được đầu tư cả về bề rộng và chiều sâu. Quy mô giáo dục được mở rộng đến bậc đại học, chất lượng giáo dục ở các cấp học, ngành học không ngừng được nâng cao. Tính đến năm 2006, trên địa bàn tỉnh có 5 trường đại học, nhiều trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề với hàng chục ngàn sinh viên, học sinh; 12 năm liên tục, ngành giáo dục đào tạo Nam Định là một trong những đơn vị dẫn đầu toàn quốc.

Bên cạnh chú trọng phát triển kinh tế, Nam Định còn đặc biệt chú trọng đến việc chăm lo sức khoẻ, đời sống văn hóa tinh thần cho nhân dân. Mạng lưới y tế cơ sở đã bảo đảm tốt công tác chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, khám, chữa và phòng chống dịch bệnh cho nhân dân. Phong trào xây dựng đời sống văn hóa cơ sở phát triển mạnh, đều khắp, thu hút được sự đồng tình tham gia của các cấp, các ngành và toàn xã hội. Toàn tỉnh đã có 334 làng, thôn, xóm, tổ dân phố đạt danh hiệu Làng văn hóa cấp tỉnh, 766 làng, thôn, xóm, tổ dân phố đạt danh hiệu Làng văn hóa cấp huyện, trên 1.000 cơ quan, trạm y tế, trường học đạt danh hiệu Đơn vị có nếp sống văn hóa các cấp. Đây là những điểm sáng về phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú, hướng con người tới những điều tốt đẹp trong cuộc sống.

Sinh thời, đồng chí Trường Chinh đã khẳng định tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng và vai trò của mỗi đảng viên trong chỉ đạo, lãnh đạo, thực hiện nhiệm vụ chính trị. Nói chuyện với Đảng bộ và nhân dân Nam Định (khi đó là tỉnh Nam Hà), đồng chí nhấn mạnh: Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quan trọng nhất của thắng lợi cách mạng nước ta. Đảng là hạt nhân lãnh đạo cách mạng. Hạt nhân phải trong sạch và vững mạnh thì mới lãnh đạo được tốt. Cán bộ, đảng viên ta nói chung là tốt, nhưng trình độ văn hóa, khoa học, kỹ thuật và sự hiểu biết về quản lý kinh tế của số đông còn thấp. Do đó phải nâng cao trình độ văn hóa, khoa học, kỹ thuật và nghiệp vụ, đồng thời trau dồi đạo đức cách mạng cần kiệm liêm chính, chí công vô tư để phát huy tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên trên lĩnh vực quản lý nền kinh tế quốc dân, từng bước đưa sản xuất quy mô nhỏ tiến lên quy mô lớn xã hội chủ nghĩa. ý thức sâu sắc vấn đề đó, nhiều năm qua Đảng bộ tỉnh Nam Định luôn giữ gìn, phát huy truyền thống đoàn kết, chú trọng công tác bồi dưỡng lý luận Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của tình hình mới. Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII và các nghị quyết Trung ương khóa IX, khóa X đã, đang được triển khai sâu rộng, coi đây là nhiệm vụ then chốt. Đảng bộ tập trung chỉ đạo xây dựng các cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, cải tiến nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, đẩy mạnh thực hiện phê bình và tự phê bình trong Đảng. Trong nhiệm kỳ 2001 - 2005, đã có 88,4% số cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh; kết nạp được 9.870 người vào Đảng, trình độ học vấn, chuyên môn của đảng viên không ngừng được nâng lên.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội X của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, Đảng bộ và nhân dân Nam Định đang tích cực triển khai thực hiện các nhiệm vụ chính trị, với mục tiêu: "Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, huy động và khai thác có hiệu quả các nguồn lực cho phát triển. Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trọng tâm là công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp - nông thôn. Đẩy nhanh quá trình đô thị hóa, phát triển mạnh công nghiệp và dịch vụ; tạo sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp - dịch vụ - nông nghiệp. Phấn đấu tăng trưởng kinh tế nhanh, phát triển bền vững gắn với bảo vệ môi trường sinh thái. Từng bước tăng cường kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại. Tiếp tục củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Phát triển văn hóa đồng bộ với tăng trưởng kinh tế; nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo và nguồn nhân lực; chăm sóc sức khỏe, cải thiện hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện dân chủ, công bằng xã hội. Tăng cường củng cố quốc phòng - an ninh, bảo đảm giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh, gắn kết chặt chẽ giữa nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng với hiệu lực quản lý điều hành của bộ máy chính quyền và vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân. Xây dựng thành phố Nam Định sớm trở thành trung tâm của tiểu vùng phía nam đồng bằng sông Hồng".

Để thực hiện tốt những mục tiêu trên, sớm đưa các nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống, Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh luôn đoàn kết, thống nhất, tận dụng tốt nhất mọi điều kiện, thời cơ thuận lợi, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, quyết tâm phấn đấu xây dựng Nam Định trở thành tỉnh giàu mạnh để xứng đáng là quê hương của cố Tổng Bí thư Trường Chinh kính mến.

Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Nam Định

(1) Lưu bút của đồng chí Trường Chinh tại Nhà lưu niệm đồng chí Trường Chinh ở Hành Thiện, Xuân Hồng, Xuân Trường

Làng khuyến học Hành Thiện

(Dân trí) - “Đông Cổ Am, Nam Hành Thiện”, đó là câu ca có từ bao đời nay nói lên sự nổi tiếng của làng Hành Thiện (Xuân Trường, Nam Định). Hành Thiện nổi tiếng bởi đây là đất học với nhiều danh nhân và nhiều người đỗ đạt cao.

“Có tới 80% gia đình ở Hành Thiện có con đỗ Cao đẳng, Đại học”, ông Nguyễn Đăng Hùng, Chủ tịch Hội Khuyến học làng Hành Thiện, tự hào giới thiệu về mảnh đất “địa linh nhân kiệt” này.



Ngôi làng hình cá chép



Hành Thiện với 6000 dân toạ trên mảnh đất có hình hài giống như một con cá chép “Xưa các cụ đào sông quanh làng để chống cướp. Và ngôi làng có hình cá chép vì theo truyền thuyết thì cá chép có thể hoá rồng. Có lẽ ngay từ khi đào sông quanh làng các cụ đã cố ý làm như vậy với mong muốn con cháu trong làng có cơ hội mở mày, mở mặt với thiên hạ”, ông Hùng kể về sự tích hình dáng đặc biệt của ngôi làng như vậy.



Làng Hành Thiện được chia thành 15 xóm (gọi là Dong), mỗi Dong như một lát cắt chạy song song với nhau kéo dài từ “đầu đến đuôi con cá chép”. Ngay cả cái tên Hành Thiện cũng là thông điệp của các cụ xưa với con cháu đời sau về việc sống sao cho tốt, cho đẹp và luôn biết làm việc thiện.



“Ở đây đất ít lắm, làm chẳng đủ ăn, không thể trông vào ruộng, chính vì thế, lớp lớp người con Hành Thiện quyết tâm phấn đấu học tập nên người”, ông Chủ tịch hội Khuyến học làng giải thích. Đó là một trong những nguyên nhân khiến người dân Hành Thiện quyết chí phấn đấu học tập. Có lẽ không có nơi nào ở Nam Định dân số lại đông như ở đây.



Và chính cái sự “đất chật, người đông” lại giúp Hành Thiện có được thành công không nhỏ trong đào tạo nhân tài. Mỗi đứa trẻ sinh ra đều có ý thức vươn lên trong học tập. Chính vì vậy, số người đỗ đạt của Hành Thiện ngày một dài thêm. Con số những người thành đạt mà ông Chủ tịch cung cấp khiến tôi giật mình: 88 vị Giáo sư, Phó giáo sư; 60 Tiến sĩ, trên 800 cử nhân cùng hàng loạt những tướng lĩnh, anh hùng lực lượng vũ trang, anh hùng lao động...



Lịch sử của làng còn ghi nhận, làng đã “sản sinh” ra tới 4 quan thượng thư, 4 quan tổng đốc, 23 quan giúp việc triều đình và gần một trăm người làm tri phủ, tri huyện.



Trong số những người con Hành Thiện, mọi người vẫn truyền nhau câu chuyện về cụ Đặng Xuân Bảng (ông nội cố Tổng bí thư Trường Chinh), người đã đỗ Tam giáp Tiến sĩ đệ nhất danh chỉ bằng cách theo học cha mình.



Theo Giáo sư Vũ Khiêu, cụ Đặng Xuân Bảng đã đỗ tiến sĩ khoa Bính Thìn (1856) dưới thời vua Tự Đức, mà thời đó vua Tự Đức tự mình chấm tiến sĩ chứ không giao cho ai khác. Tự Đức là vị vua nổi tiếng thông hiểu nho học, giỏi thơ văn nên những người đỗ tiến sĩ dưới thời này là một vinh dự rất lớn. Cụ Đặng Xuân Bảng đã được vua Tự Đức ban cho biển đề: “Phụ giáo tử đăng khoa”, nghĩa là cha dạy con mà thành đạt.



Hội khuyến học “cổ” nhất



Có lẽ không ở đâu hội Khuyến học lại có “tiểu sử” lâu như ở đây. Theo ông Chủ tịch hội Khuyến học làng Hành Thiện, phong trào khuyến học ở đây có từ xa xưa nhằm khích lệ tinh thần học tập của lớp trẻ trong làng, đến năm 1994 Hội khuyến học của làng được thành lập, sớm hơn cả Hội khuyến học Việt Nam. Hội Khuyến học của làng được thành lập kèm theo một quĩ thưởng cho những học sinh có thành tích học tập tốt. Quĩ khen thưởng do những người con Hành thiện đã thành đạt lập nên để thúc đẩy truyền thống hiếu học đã có từ ngàn năm nay của làng.



Mặc dù mức thưởng của hội Khuyến học làng không nhiều nhưng là sự động viên, khích lệ tinh thần rất lớn đối với các lớp lớp học sinh trong làng. Hội khuyến học của làng còn tổ chức các buổi lễ trao thưởng rất giản dị nhưng lại cực kỳ “trang trọng: “Những buổi lễ khen thưởng hàng năm dành cho những học sinh giỏi cấp tỉnh, huyện và những học sinh đỗ cao đẳng, đại học hàng năm đều trở thành những ngày hội. Buổi trao thưởng được truyền trực tiếp trên đài truyền thanh xã và được tất cả mọi người quan tâm. Đây chính là sự động viên khích lệ tinh thần không dễ gì có được đối với những lứa học sinh của làng”, ông Chủ tịch kể.



Giáo sư Vũ Khiêu, một trong những người con xuất sắc của làng từng viết về không khí học tập ở Hành Thiện: “Buổi sáng sớm trong vùng ấy đã vang lên tiếng đọc sách của con trai, tiếng đập vải của con gái xen lẫn tiếng sáo diều réo rắt suốt đêm. Con trai cố học giỏi thi đỗ, con gái gìn giữ nết na để phụng dưỡng cha mẹ, để giúp chồng ăn học, để dạy con cái nên người...”.



Nhiều người đặt câu hỏi: Liệu sự thành đạt đến mức khó tin của những người con của mảnh đất này có phải do sự cố gắng học tập của con người hay có do vận may hay duyên kỳ ngộ mà đất trời mang lại . Tôi mang câu hỏi này trao đổi với ông Chủ tịch hội khuyến học, ông cười bảo, chẳng có gì mang lại vinh quang cho con người ngoài sự nỗ lực của chính bản thân họ, trong việc học lại càng như vậy. Chỉ có sự khổ luyện, phấn đấu không ngừng mới đem lại cho Hành Thiện bộ mặt như ngày nay.



Cũng bằng chính sự khổ học, sự phấn đấu của bản thân mỗi người mà đến nay có tới 80% gia đình ở Hành Thiện có con đỗ cao đẳng, đại học. Một con số đáng giật mình.



Và chính ông Chủ tịch Hội khuyến học Hành Thiện với thâm niên 6 năm làm chủ tịch hội cũng từng là hiệu phó trường năng khiếu của huyện, cả hai ông bà đều là giáo viên về hưu và cả ba người con của ông cũng đều đỗ đại học và đều thành đạt.



Nghề... học



Ở Việt Nam, hầu như mỗi ngôi làng đều có một nghề riêng, đặc sản riêng của theo đặc thù của từng vùng quê, vùng đất. Chính vì vậy, nhiều vùng quê có những ngôi làng với những nghề truyền thống nổi tiếng khắp nơi như làng Lụa Vạn phúc (Hà Tây), làng gốm Bát Tràng (Hà Nội)... còn Hành Thiện lại nổi tiếng với nghề... học.



Do ruộng đất ít nên ngay cả số lượng nông dân của làng cũng ít hơn trí thức. Những “dòng họ” học tập được duy trì. Hành thiện nổi tiếng về việc tự học. Những gia đình không có tiền cho con ra ngoài học thì cha dạy con, chú dạy cháu... và từ đó đã hình thành một truyền thống học tập mà không nơi nào có được. Đi học và dạy học là hai nghề phổ biến nhất ở ngôi làng này. Ông Chủ tịch khoe: “Dân Hành Thiện dạy học ở khắp nơi trong nước, đâu cũng có dấu chân người Hành thiện. Không chỉ ở trong nước, mà nhiều người hiện đang giảng dạy tại nhiều nơi ở nước ngoài”.



Khi việc học đang là điều quan tâm hàng đầu hiện nay để “cả nước trở thành một xã hội học tập” thì Hành Thiện chính là tấm gương sáng về sự hiếu học và sự hiếu học nơi đây đã đưa việc học của Hành Thiện trở thành một... nghề.

Làng Hành Thiện - Nam Định

Làng Hành Thiện - Nam Định
Đất khoa bảng truyền thống. * Quê hương của cố Tổng Bí thư Trường Chinh


Từ huyện lỵ (mới) huyện Xuân Trường, Nam Định đi qua giáo phận Bùi Chu, mất khoảng mười phút xe ô tô là đến làng Hành Thiện. Hành Thiện là ngôi làng cổ thuộc hành lang phủ Thiên Trường, cái tên Hành Thiện có từ đời Lê Trung Hưng thứ nhất, năm 1454.

Hành Thiện, tạm giải nghĩa là nơi chỉ làm những điều lành, điều thiện. Bản đồ làng Hành Thiện mang hình một con cá chép: đầu hướng Nam, đuôi hướng Bắc, bụng hướng Tây, lưng hướng Đông. Nơi đầu cá có miếu thờ thần Tam giáp, người có công đầu tạo lập làng. Nơi bụng cá là chợ Hành Thiện, một cái chợ quê rất đông đúc. Khu dân cư ở từ mang cá đến rốn cá, được chia thành 14 khúc, mỗi khúc cách nhau 60 mét. Chiều sâu của khúc dài nhất là 600 mét, khúc ngắn nhất là 200 mét. Mỗi khúc gọi là một dong. Dong dài được chia làm hai xóm, dong ngắn là một xóm. Từ rốn cá đến đuôi cá là ưng điền (ruộng gieo mạ) và nghĩa trang nhân dân của làng. Đuôi và vây sau của "con cá" có ngôi chùa Keo, xây dựng năm 1588. Theo xã chí của làng thì Hành Thiện xưa là vườn kim quất của vua Trần. Chạy dọc từ đầu tới đuôi Cá, sâu chuỗi 14 nãm là một con đường trục của làng lát gạch nghiêng. Đã hàng trăm năm con đường này hình thành nên hai dãy nhà hai bên như một đường phố, có các cửa hàng cửa hiệu buôn bán sầm uất.

Theo cách nhìn của các nhà tử vi thì hình dáng của làng Hành Thiện ở thế cá hoá rồng. Phía ''bụng cá'' giáp làng Ngọc Tiên có hình giống một nghiên mực; phía "lưng cá'' giáp làng Hương Phúc có mảnh đất giống cái ngòi bút. Đầu cá Thành Hoàng ngự, làng sẽ giữ được bản sắc thuần phong. Đuôi cá Nguyễn Minh Không vừa là Thiền sư vừa là thi nhân ngự. Vậy luận theo Phong Thủy và Kinh Dịch thì Hành Thiện là đất phát tiết cho cả chính khách và thi nhân.

Từ xa xưa vùng này đã có câu ngạn ngữ ''Đông Cổ Am, Nam Hành Thiện'' ngụ ý: làng Cổ Am thuộc tỉnh Hải Dương xứ Đông xưa (nay là Vĩnh Bảo - Hải Phòng) cùng với làng. Hành Thiện của Nam Định có nhiều người học hành đỗ đạt cao. Tại làng Hành Thiện còn có câu ''Trai học hành, gái canh cửi'' để nói rằng cái đáng trọng nhất của con trai Hành Thiện là chuyện đèn sách; cái đáng yêu nhất của con gái Hành Thiện là chuyện kéo tơ, dệt vải. Con gái canh cửi thường trắng nõn nà, khéo tay, chăm chỉ. Đọc thơ Sóng Hồng (bút danh của đồng chí Trường Chinh) ta cũng đủ thấy cái không khí của Hành Thiện:

Trăng xuống làm gương em chải tóc
Làm đèn anh học suốt đêm dài


Chẳng hiểu các thầy địa lý chủ quan và khách quan đến đâu nhưng bao đời nay không ai về thăm Hành Thiện lại không thừa nhận: Hành Thiện là một làng địa linh nhân kiệt, khoa danh vang lừng khắp nước. Thời Nho học, làng Hành Thiện có 419 người đỗ đạt. Trong đó: 7 đại khoa (3 tiến sĩ, 4 phó bảng), 97 cử nhân, 315 tú tài. Người khai khoa cho làng là cụ Nguyễn Thiện Sĩ sinh năm 1501. Năm 1522 đỗ cử nhân. Người có bằng cấp cao nhất trong làng là cụ Đặng Xuân Bảng (ông nội của đồng chí Trường Chinh) sinh năm 1828; năm 1856 đỗ Tam giáp tiến sĩ đệ nhất danh. Làng có 4 người làm quan Thượng thư; 4 người làm quan Tuần phủ; 4 người làm quan Tổng đốc; 23 người làm quan giúp việc triều đình; 69 người làm quan Tri phủ, Tri huyện; còn lai số người đỗ đạt trên đi làm thầy giáo, thầy thuốc ở khắp nơi.

Thời học chữ Pháp, làng có 51 người đỗ đạt từ tú tài đến cử nhân, trong đó có Đặng Xuân Khu (đồng chí Trường Chinh) tốt nghiệp cao đẳng Thương mại Đông Dương. Tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin trước ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, làng Hành Thiện có 3 người: Đặng Xuân Khu, Đặng Xuân Thiều, Nguyễn Thế Rục.

Thời hiện đại, làng Hành Thiện vẫn là ngôi làng có nhiều người học hành giỏi giang thi cử đỗ đạt nhiều nhất so với mọi ngôi làng trong tỉnh Nam Định. Cụ thể là: 88 người được Nhà nước phong hàm giáo sư, tiến sĩ, phó tiến sĩ và trên 600 người có bằng cử nhân. Trong khi đó dân số của làng chỉ có trên 6000 người. Vậy nên thời hiện đại vẫn có câu ngạn ngữ ''Đậu phụ Thủy Nhai, tú tài Hành Thiện''. Làng Thủy Nhai, cách Hành Thiện không xa là một làng thiên chúa giáo rất có tài làm đậu phụ. Còn Hành Thiện, dường như gia đình nào cũng có người đỗ Tú tài.

Làng có 4 tướng lĩnh quân đội là Đặng Quốc Bảo, Đặng Kinh, Đặng Quân Thụy, Nguyễn Sĩ Quốc; 2 Anh hùng Lực lượng vũ trang là Phạm Gia Triệu, Nguyễn Đăng Kính. Hàm Bộ trưởng có Đặng Hồi Xuân, Đặng Vũ Chư. Tương hàm giáo sư có: Đặng Vũ Khiêu, Đặng Xuân Kỳ, Đặng Vũ Minh. Nhà văn Đặng Vũ Khiêu là Anh hùng Lao động.

Làng có 2 gia đình được tặng thưởng bằng có công với nước: cụ Đặng Xuân Viện (thân phụ đồng chí Trường Chinh), cụ Đặng Ngọc Định (thân phụ đồng chí Đặng Xuân Thiều, Đặng Quốc Bảo).

Làng có 2 người được Giải thưởng Hồ Chí Minh là ông Đặng Vũ Hỷ (thân phụ đồng chí Đặng Vũ Minh) và ông Đặng Vũ Khiêu.

Làng Hành Thiện còn là nơi phát tích sinh hạ ra 2 hoa hậu báo Tiền phong. Hoa hậu Nguyễn Diệu Hoa là cháu gọi ông Đặng Vũ Minh bằng cậu. Hoa hậu Nguyễn Thu Thủy, con bà Đặng Thị Bính; bà Bính con ông Đốc Hỷ, cũng là người có danh trong làng.

Thật may mắn cho cách mạng và Đảng Cộng sản Việt Nam có một lãnh tụ được sinh ra trong cái làng quý phái sang trọng ấy - đồng chí Trường Chinh. Nói cho hết nhẽ thì đồng chí Trường Chinh là sản phẩm cao quý của một ngôi làng cao quý; trái lại chính gia tộc của ông có tác động trở lại góp phần vào sự thăng hoa cường vượng của làng.

Gia tộc đồng chí Trường Chinh có gốc gác họ Trần, thuộc chi Hưng Trí Vương, con trai thứ 4 của Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn. Có một sự trùng hợp là Hưng Đạo vương và đồng chí Trường Chinh trùng ngày mất tính theo lịch âm. Hưng Đạo vương mất 20-8-1300; đồng chí Trường Chinh mất 20-8-1988. Ông nội đồng chí Trường Chinh là cụ Tam giáp tiến sĩ đệ nhất danh Đặng Xuân Bảng - một nhà văn hoá trứ danh mà thành phố Nam Định sắp sửa lấy tên cụ đặt cho một đường phố. Có lẽ không cần nhiều lời, chỉ cần điểm tên các tác phẩm, công trình của cụ đã đủ khiến chúng ta hết lòng khâm phục và kính trọng, đó là: "Độc sử bị khảo'' (3 tập); "Thiện Đình Văn, Thiện Đình Thi''; ''Khâm định tập văn trích yếu'' (Ngữ ngôn); "Huấn tử quốc âm ca'' (Văn - triết); "Cư gia huấn tắc giới'' (Giáo dục); ''Cổ kim thiện ác kính'' (2 tập); ''Thánh tổ hàn thực diễn ca'' (Sử); ''Bắc sử thông giám'', ''Nam sử tiên lãm" (Sử); ''Sử học bị kháo" (4 tập); "Việt sử cương mục tiết yếu'' (8 tập); "Cổ nhân ngôn hành'' (triết); "Nam phương danh vật bị khảo'' (Sinh vật); ''Huấn tục ca'' (Giáo dục); ''Tuyên Quang phủ (Văn - dân tộc học); ''Như tuyên thi tập'' (Thơ).. .

Cụ Đặng Xuân Viện (thân phụ đồng chí Trường Chinh), cũng là người học cao hiểu rộng. Cụ không gặp may mắn trên đường lều chõng thi cử, nhưng bù lại, cụ có thiên hướng văn chương, nghệ thuật không thua kém những văn nhân nghệ sĩ đương thời. Cụ là một trong những cây bút chính trong nhóm ''Nam Việt đồng thiên hội''. Cụ biên soạn bộ ''Minh đô sử" (gồm 100 quyển đóng thành sách) do ông Lê Trọng Hàm, người Hội Khê đứng đại biểu và đề tựa. Năm 1946 ông cho tái bán tác phẩm ''Nói có sách'' (thuộc loại dân tộc và ngôn ngữ học trong bộ ''Minh đô sử). Ngoài công trình đồ sộ trên, có thể kế hàng loạt tác phẩm của ông: ''Thiên đình xã chí'' (Sử - địa 4 tập, 1934); ''Vô danh anh hùng'' (Sử); "Hữu danh anh hùng'' (Sử); ''Hán văn sơ học tiếp giải'' (Nhà in Việt Dân - 1941); ''Nghi lễ phổ thông'' (Nam Phong số 146, 150 năm 1930); ''Nhuận hồ'' - tức Hồ Quý Ly - (tiếu sử Nam Phong số 151, năm 1930); ''Nguyễn Tựu tiên sinh truyện'' (Nam Phong số 152, năm 1930); "Truyện Thần nữ Vân Cát'' (Nam Phong số 137 năm 1929); ''Lịch sử Nguyễn Hữu Cầu'' (Nam Phong số 137 năm 1929); "Lịch sử Tây Sơn'' (Nam Phong số 135 năm 1929); ''Ngô Vương Quyền'' (Nam Phong số 161 năm 1931); ''Trần - Nguyên chiến kỷ'' (Nam Phong số 167 năm 1931); ''Truyện Đức Dương Khổng Lộ'' (Nam Phong số 141 năm 1929); ''Tây đô thắng tích'' (Nam Phong số 160 năm 1931); “Nam Định địa dư nhân vật khảo'' (Nam Phong số 164 năm 193); ''Nam kỳ địa chí" (Nam Phong số 162 năm 1931); ''Mấy tay tuần lại nước Tàu đô hộ ta xưa'' (Nam Phong số 165 năm 1931)...

Sinh ra và lớn lên trong một gia tộc có truyền thống yêu nước, lại được tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin từ rất sớm, đồng chí Trường Chinh đã có ý thức rất cao trong việc thừa kế tinh hoa chính trị văn hoá của ông cha.

Ngay từ thuở ấu thơ ông đã làm quen với Tứ thư, Ngũ kinh, làm quen với thơ Đường, thơ Tống, hiểu sâu văn hoá và sử học nước nhà. Nho giáo là nếp sống, là đạo lý nhiều đời của gia tộc nhưng Trường Chinh không tiếp thu nho giáo một cách thụ động. Ông nhìn rõ mặt hạn chế của nho giáo (bởi đó là hệ tý tưởng chính thống của chế độ phong kiến lỗi thời) và lên án nó, đồng thời những hợp lý của nho giáo như tinh thần hiếu học, như thái độ trọng nghĩa khinh tài, giữ cuộc sống thanh đạm, liêm khiết thì ông coi đó là những mặt tốt để góp phần lưu giữ truyền thống và bản sắc văn hoá Việt Nam. Trên con đường cứu nước, ông nhìn ra sự bất lực của ông cha do không có một đường lối đúng đắn soi đường. Sinh ra trọng gia đình quý tộc, nhưng ông hoà nhập rất tự nhiên vào giai cấp vô sản là vì thế.

Mặc dù làm lãnh tụ bận trăm công ngàn việc, ông vẫn viết nhiều công trình tác phẩm, có thể kể như: ''Vấn đề dân càỵ'' (viết chung với đồng chí Võ Nguyên Giáp); "Kháng chiến nhất định thắng lợi''; ''Chiến tranh Thái Bình Dương và cách mạng giải phóng dân tộc Đông Dương''; ''Cách mạng Tháng Tám'' (1946); "Kháng chiến nhất định thắng lợi'' (1947); "Chủ nghĩa Mác với vấn đề văn hoá Việt Nam'' (1948); ''Bàn về Cách mạng Việt Nam (1951). Đặc biệt phải nói đến công trình ''Đề cương văn hoá Việt Nam'' được xem là kim chỉ nam cho công cuộc xây dựng văn hoá Việt Nam trong thời đại mới. Ông còn viết hàng trăm bài dưới dạng tiểu luận, luận bàn và định hướng văn hoá văn nghệ; hàng vài trăm bài báo luận bàn trên nhiều lĩnh vực của xã hội. Ông từng làm chủ bút báo Cờ giải phóng. Trong thời kỳ mặt trận bình dân, ông đã phụ trách các tờ báo tiếng Pháp như Le Travaill, Rassemblement, En Avant và báo Tin tức.

Hai tuyển tập thơ Sóng Hồng tập1, tập 2 đúng như ông khiêm nhường thừa nhận trong lời nói đầu của tuyến tập ‘Tiếc rằng thơ tôi chưa được như điều tôi mong muốn.. . Đó là do nãng khiếu thơ và công phu trau dồi nghệ thuật của tôi chưa đủ"... "Có khi việc đáng nên thơ, nhưng công tác sự vụ đã lôi cuốn đi, cho nên đã không thành thơ. Cũng vì tôi là một cán bộ cách mạng biết làm thơ chứ không phải là một nhà thơ. Những bài thơ tôi làm cốt để phục vụ tuyên truyền cách mạng hoặc để ghi lại một số tình cảm sâu sắc của đời mình''.

Cho dù thế thì ở tất cả mọi công trình, tác phẩm, bài viết, người đọc tinh tường vẫn nhận ra ông không chỉ là một lãnh tụ xuất sắc mà còn là một nhân cách văn hoá lớn, đậm đà bản sắc Việt Nam.

Mỗi lần tôi về thăm Hành Thiện, khi nhắc đến ông, nhân dân lại nói về tác phong giản dị nhưng sâu sắc, tôn trọng và tự trọng ở ông.

Ngôi nhà lưu niệm Trường Chinh ở quê Hành Thiện, vẫn là ngôi nhà gỗ cổ, lợp ngói từ thuở ông mới sinh ra; đồ vật lưu giữ chẳng có gì ngoài một tủ sách chữ nho và quốc ngữ, một bàn thờ với hoành phi câu đối, một số bức ảnh - nó chẳng khác gì ngôi nhà của một nhà giáo xưa ở nông thôn; vậy mà hàng ngày vẫn có những đoàn khách từ khắp nơi về đây thăm thú, thắp hương tưởng niệm tỏ lòng biết ơn vị lãnh tụ và nhà văn hoá lớn của dân tộc.[/ALIGN]
May 2013
M T W T F S S
April 2013June 2013
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31