December 13, 2007 Am duong ngu hanh
Thursday, December 13, 2007 11:06:00 AM
Rất mong các vị tiền bối và cao nhân chỉ dẫn thêm về những băn khoăn đó hoặc bất cứ sai lệch nào về kiến thức để mình không mắc tội truyền bá cái sai, hại người.
Trước tiên các bạn tìm một tờ giấy A4 kẻ 1 cái bảng gồm có 12 cái ô giống cái bản Tử Vi vậy, vì không post hình được nên đành mô tả.
1-Kẻ cái bảng có 5 đường dọc và 5 đường ngang sẽ được cái bảng có 16 ô.
2-Xóa bỏ 4 ô chính giữa, chỉ chừa lại 12 ô ngoài cùng.
3-Ở góc dưới cùng bên trái bảng điền chữ Dần.
4-Theo chiều thuận kim đồng hồ, bắt đầu từ ô có chữ Dần, điền chữ Mão trên ô kế tiếp, rồi chữ Thìn trong cái ô trên ô chữ Mão, chữ Tỵ trong cái ô trên ô có chữ Thìn. Cứ tuần tự theo cách thức như vậy, hết Tỵ rồi đến Ngọ, hết Ngọ đến Mùi, hết Mùi đến Thân, hết Thân đến Dậu, hết dậu đến Tuất, hết Tuất đến Hợi, hết Hợi đến Tí, hết Tí đến Sữu. Ô có chữ Sữu nối đuôi ô có chữ Dần lúc ban đầu.
Thứ tự này gọi là Địa Chi: Tí, Sữu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
Âm Dương
Âm Dương là 2 trạng thái đối nghịch nhau như cứng mềm, cao thấp, trai gái, trời đất, trái phải, trên dưới, chẳn lẻ, đầu đuôi, trước sau....
Nhờ có âm dương giao hòa mà vạn vật sinh thành như có trai gái thì có gia thất, có gia thất thì việc mưu sinh phải có tổ chức nên có hoạt động kinh tế. Có gia thất thì nếp sống cá nhân phải thay đổi nên có gia lễ chia ra thứ bậc cha con, chồng vợ, anh em.
Bất cứ vật gì cũng mang tính âm dương.
Nếu chia âm dương cho 12 con giáp cho địa chi thì Tí là số 1, sửu là số 2, dần là số 3, mão là số 4, thìn là số 5, tỵ là số 6, ngọ là số 7, mùi là số 8, thân là số 9, dậu là số 10, tuất là số 11, hợi là số 12.
Trên dãy số trên, con giáp nào mang số lẻ là dương, mang số chẳn là âm.
Rồi bắt đầu từ ô có chữ Tí trong cái bảng trên, các bạn lần lượt đánh số 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12 cho mỗi ô theo chiều kim đồng hồ.
Sau khi đánh số xong, căn cứ vào số trên mỗi ô mà mình biết được ô đó là âm hay dương và con giáp trong ô đó là âm hay dương.
Theo thuật ngữ khoa học huyền bí thì những cái Ô đó gọi là cung. Tên của cung là tên của con giáp đóng trong cung đó. Ví dụ ô có chữ Tí thì gọi là cung Tí.
Ngũ Hành
Ngũ Hành là 5 yếu tố của tự nhiên để cấu tạo nên vật chất và hiện tượng. 5 yếu tố đó là: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.
Kim: Là tất cả các thứ kim loại
Mộc: Là cây và gỗ
Thủy: Là nước và hơi
Hỏa: Là lửa và nhiệt năng
Thổ: Là đất, tro, bụi
Ngũ Hành Tương Sinh
5 hành này sinh cho nhau theo 1 hình tròn khép kín.
1-Thủy sinh mộc: Nước sinh cho cây cối
2-Mộc sinh hỏa: Cây gỗ làm củi để chụm lửa
3-Hỏa sinh thổ: Lửa đốt tất cả thành tro đất
4-Thổ sinh kim: Trong đất có khoáng sản kim loại
5-Kim sinh thủy: Không biết trong thực tế có ví dụ nào là kim loại chảy ra nước hay không. Nhưng là công thức nên các bạn khoan thắc mắc. Cứ chấp nhận cái đã.
Mỗi hành đều được hành khác sinh và đi sinh cho hành khác.
Ngũ Hành Tương Khắc
5 hành triệt tiêu lẫn nhau.
1-Kim khắc Mộc: Búa chẻ củi
2-Mộc khắc Thổ: Cây cối hút hết chất dinh dưỡng của đất
3-Thổ khắc thủy: Đắp đê ngăn lũ
4-Thủy khắc hỏa: Rõ ràng
5-Hỏa khắc Kim: Kim loại khó bị biến dạng trừ phi dưới tác dụng nhiệt.
Mỗi hành đều đi khắc một hành khác và bị một hành khác khắc lại.
Ngũ Hành và Phương Hướng
Hành Kim đại diện cho hướng Tây, phương Tây
Hành Mộc đại diện cho hướng Đông, phương Đông
Hành Thủy đại diện cho hướng Bắc, phương Bắc
Hành Hỏa đại diện cho hướng Nam, phương Nam
Hành Thổ đại diện cho trung tâm hay trung ương
Cách nhớ ngũ hành thuộc 5 phương hướng
1-Càng đi về phía Nam khí hậu càng nóng = hành hỏa
2-Càng đi về phía Bắc khí hậu càng lạnh = Thủy
3-Càng đi về Tây đất đai càng cằn cổi nhưng có nhiều khoáng sản (Mỏ Vàng ở Viển Tây Hoa Kỳ) = Hành Kim
4-Phía đông bờ Tây Thái Bình Dương thường là các cửa sông lớn nên có nhiều phù sa, nên cây cỏ tươi tốt = Hành Mộc
5-Còn cái cuối cùng là hành Thổ thì đặt chính giữa.
Địa Chi Phối Ngũ Hành
Trên cái bảng 12 ô đó.
1. 3 cung Hợi, Tí, Sữu là Hướng Bắc
2. 3 cung Dần, Mão, Thìn là hướng Đông
3. 3 cung Tỵ, Ngọ, Mùi là hướng Nam
4. 3 cung Thân, Dậu, Tuất là hướng Tây
-Hướng Bắc hành Thủy nên 2 địa chi Hợi và Tí mang hành Thủy. Căn cứ theo số chẳn hay lẻ của 2 cung đó thì biết cái nào là dương thủy, cái nào là âm thủy.
-Hướng Đông hành Mộc nên 2 địa chi Dần và Mão mang hành Mộc. Căn cứ theo số chẳn hay lẻ của 2 cung đó thì biết cái là dương Mộc, cái nào là Âm Mộc
-Hướng Nam hành Hỏa nên 2 địa chi Tỵ và Ngọ mang hành Hỏa. Căn cứ theo số chẳn hay lẻ của 2 cung đó thì biết cái là dương Hỏa, cái nào là Âm hỏa
-Hướng Tây hành Kim nên 2 địa chi Thân và Dậu mang hành Kim. Căn cứ theo số chẳn hay lẻ của 2 cung đó thì biết cái nào là Dương Kim, cái nào là Âm Kim.
-Phối xong tới đây thì ở mỗi hướng còn lẻ 1 cung, gộp lại là còn 4 cung: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi chưa mang hành nào hết, nên xếp vào hành thổ. Căn cứ vào số chẳn hay lẻ của mỗi cung mà biết Thìn, Tuất, Sữu, Mùi cái nào là âm thổ, cái nào là dương thổ.
Thiên Can
Thiên Can là: Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý
Âm Dương của Thiên Can
Thiên Can cũng có chia ra âm dương theo số lẻ và chẳn
Giáp số 1, Ất số 2, Bính số 3, Đinh số 4, Mậu số 5, Kỷ số 6, Canh số 7, Tân số 8, Nhâm số 9, Quý số 10
Trên dãy số trên, Thiên Can nào mang số Lẻ là Thiên Can Dương, mang số Chẳn là Thiên Can Âm
Ngũ Hành của Thiên Can
Thiên Can cũng có ngũ hành,
-Giáp và Ất ở phương Đông, hành Mộc . Xem số chẳn hay lẻ để biết Can đó là âm mộc hay dương mộc.
-Bính và Đinh ở phương Nam, hành Hỏa. Xem số chẳn hay lẻ để biết Can đó là âm hỏa hay dương hỏa.
-Mậu và Kỷ ở trung tâm, hành Thổ. Xem số chẳn hay lẻ để biết Can đó là âm thổ hay dương thổ.
-Canh và Tân ở phương Tây hành Kim. Xem số chẳn hay lẻ để biết Can đó là âm kim hay dương kim.
-Nhâm và Quý ở phương Bắc hành thủy. Xem số chẳn hay lẻ để biết Can đó là âm thủy hay dương thủy.
Thiên Can phối Địa Chi
Khi Thiên Can phối với địa chi thì sẽ thành những cái như là: Giáp Tí, Ất Sữu, Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Giáp Thân, Quý Dậu...mà nhiều bạn thắc mắc là mấy cái này ở đâu ra, làm sao tính ra nó, tại sao năm nay là Giáp Thân, năm kế nữa là năm gì....
Cách Phối Thiên Can và Địa Chi như sau
1-Phối theo cặp: Chẳn-Chẳn hoặc Lẻ-Lẻ.
Thiên Can: 1 Giáp, 2 Ất, 3 Bính, 4 Đinh, 5 Mậu, 6 Kỷ, 7 Canh, 8 Tân, 9 Nhâm, 10 Quý.
Địa Chi: 1 Tí, 2 Sữu, 3 Dần, 4 Mão, 5 Thìn, 5 Tỵ, 7 Ngọ, 8 Mùi, 9 Thân, 10 Dậu, 11 Tuất, 12 Hợi.
Can có số chẳn đi với chi có số chẳn. Can có số lẻ đi với chi có số lẻ. Không bao giờ 1 can chẳn đi với 1 chi lẻ hoặc ngược lại.
Nên chỉ có: Giáp (lẻ) đi với Tí (lẻ) hoặc Ất (chẳn) đi với Sửu (chẳn). Không bao giờ có trường hợp Giáp Sửu, Ất Tí.
2-Phối theo thứ tự xoay vần 1-10 rồi lặp lại cho can, tương tự như vậy 1-12 rồi lặp lại cho chi nhưng tư thế chẳn theo chẳn, lẻ theo lẻ luôn phải đi cặp với nhau.
Bắt đầu từ can Giáp và chi Tí mà phối dần lên thì lần lượt sẽ có: Giáp Tí, Ất Sữu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tỵ....cứ thế mà đếm dần lên đến cặp can chi cuối cùng là Quý Hợi.
Trình bày theo con số ( Số của can đứng trước dấu "-", số của chi đứng sau) thì: Giáp Tí, Ất Sữu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu sẽ là:
1-1, 2-2, 3-3, 4-4, 5-5, 6-6, 7-7, 8-8, 9-9, 10-10 (Hết Tuần Giáp thứ nhất)
Khi số của can đi xong một vòng từ 1 đến 10 thì gọi là hết 1 Tuần Giáp. Tuần tự sẽ là: (Các bạn tự đếm thành can gì, chi gì)
1-11, 2-12, 3-1, 4-2, 5-3, 6-4, 7-5, 8-6, 9-7, 10-8
Hết Tuần Giáp thứ 2
1-9, 2-10, 3-11, 4-12, 5-1, 6-2, 7-3, 8-4, 9-5, 10-6
Hết Tuần Giáp thứ 3
1-7, 2-8, 3-9, 4-10, 5-11, 6-12, 7-1, 8-2, 9-3, 10-4
Hết Tuần Giáp thứ 4
1-5, 2-6, 3-7, 4-8, 5-9, 6-10, 7-11, 8-12, 9-1, 10-2
Hết Tuần Giáp thư 5
1-3, 2-4, 3-5, 4-6, 5-7, 6-8, 7-9, 8-10, 9-11, 10-12
Hết Tuần Giáp thứ 6
Hết 6 Tuần Giáp từ cặp 1-1 đến cặp 10-12 như vậy gọi là hết 1 Lục Thập Hoa Giáp, nôm na là hết 1 chu kỳ Giáp Tí để lặp lại 1 chu kỳ Giáp Tí mới.
Cách Tính Một Chu Kỳ Giáp Tí trên cái Bảng Kẻ
Đặt chữ Giáp ở vị trí Tí rồi đếm thuận theo chiều kim đồng hồ, lần lượt là Ất ở vị trí Sữu, Bính ở vị trí Dần...Coi như vị trí của Tí, Sữu, Dần....đã xác định rồi, chỉ việc đếm tới tới ba cái Giáp, Ất, Bính, Đinh...thôi.
Ví dụ: Hỏi năm Tí Mão sắp tới đây là năm Mão nào?
Năm nay là Giáp Thân thì đặt chữ Giáp ở vị trí Thân rồi đếm tới, Ất ở Dậu, Bính ở Tuất...thì đến vị trí Mão sẽ là chữ Tân. Như vậy Mão sắp tới là Tân Mão.
Lục Xung
Lục Xung của Địa Chi
Trên cái Bảng Kẻ, 2 cung nào nằm cách nhau 5 cung thì 2 cung đó Xung nhau, nên có 6 cặp Xung nhau:
Tí Ngọ xung nhau
Sữu Mùi xung nhau
Dần Thân xung nhau
Mão Dậu xung nhau
Thìn Tuất xung nhau
Tỵ Hợi xung nhau
Có 4 cặp vừa Xung vừa Khắc, có 2 cặp chỉ Xung mà không Khắc
Tí Ngọ xung nhau, Tí hành thủy khắc Ngọ hành hỏa
Dần Thân xung nhau, Thân hành Kim khắc Dần hành Mộc
Mão Dậu xung nhau, Dậu hành Kim khắc Mão hành Mộc
Tỵ Hợi xung nhau, Hợi hành Thủy khắc Tỵ hành Hỏa
Thìn Tuất xung nhau nhưng cả 2 đều hành thổ nên không khắc nhau.
Sửu Mùi xung nhau nhưng cả 2 đều hành thổ nên không khắc nhau.
Nhận Xét
1-Chỉ có âm xung âm hoặc dương xung dương, không có trường hợp trái âm dương mà xung nhau.
2-Trừơng hợp vừa xung vừa khắc thì hành bị khắc sẽ bị thiệt nhất.
Tính chất của Lục Xung
1-Xung làm cho khởi động nên Xung có nghĩa là có thay đổi hoán cải
2-Xung làm cho bất hòa
3-Xung làm cho mất đi, làm tan rã
4-Vị trí của Xung nằm đối diện nhau nên ảnh hưởng của Xung là ảnh hưởng trực tiếp, nhanh chóng.
5-Xung Tí Ngọ và Xung Mão Dậu gọi là xung Tứ Chính. Xung Tứ Chính là Xung Sát thường gây ra tai họa lớn.
6-Xung Dần Thần và Xung Tỵ Hợi gọi là xung Tứ Sinh. Xung Tứ Sinh chỉ sự thay đổi công việc, di động nhiều.
7-Xung Thìn Tuất và Xung Sửu Mùi gọi là Xung Tứ Mộ (3 cung này gọi là Mộ). Xung Tứ Mộ còn gọi là Xung Khai, tốt hay xấu tùy vào cái gì được Khai ra. Cái xấu nằm trong Mộ được Xung Khai thì tai họa tiềm ẩn bấy lâu gặp thời bộc phát. Cái tốt nằm trong Mộ được xung Khai thì may mắn tiềm tàng được dịp bộc khởi.
8-Lục Xung trong Tử Vi gọi là Xung Chiếu hay Chính Chiếu, không có ý nghĩa tốt xấu gì hết, chỉ có ý nghĩa số 4.
Lục Hại Của Địa Chi
Trên Bảng Kẻ, lấy đừơng Ngang thứ 3 phân cách cung Mão với cung Thìn, cung Tuất với cung Dậu (trong số 5 đừơng Ngang tạo nên cái Bảng Kẻ) làm Trục đối xứng, những cung nào đối xứng nhau qua Trục Ngang đó thì gọi là Nhị Hại (Hai bên Hại Nhau). Có 6 cặp Nhị Hại, gọi gộp là Lục Hại. 6 cặp đó là:
Tí Mùi
Sữu Ngọ
Dần Tỵ
Mão Thìn
Hợi Thân
Dậu Tuất
Hầu như các môn đều không coi trọng Nhị Hại lắm. Trừ Môn Tử Bình thì Thiệu Vĩ Hoa và Trần Viên có nhắc đến tác dụng.
Nhận Xét
1. Hai Cặp Nhị Hại Mão Thìn và Dậu Tuất chỉ chờ Dần và Thân là thành Tam Hội Cục. Lưu ý là vị trí Mão-Thìn, Dậu-Tuất chính là vị trí của đường Trục Đối Xứng Ngang ở trên.
2. Cặp Nhị Hại Dần Tỵ chờ Thân là thành Tam Hình
Lục Hợp của Địa Chi
Trên Bảng Kẻ, lấy lấy đừơng Dọc thứ 3 phân cách cung Ngọ với cung Mùi, cung Tí với cung Sửu (trong số 5 đừơng Dọc tạo nên cái Bảng Kẻ) làm Trục đối xứng, những cung nào đối xứng nhau qua Trục Dọc đó thì gọi là Nhị Hợp (Hai bên Hợp Nhau). Trong Tử Vi còn gọi là Ám Hợp. Có 6 cặp Nhị Hợp, gọi gộp là Lục Hợp. 6 cặp đó là:
Tí Sữu
Dần Hợi
Mão Tuất
Thìn Dậu
Tỵ Thân
Ngọ Mùi
Địa Chi Hợp Hóa
(2 cái Hợp lại rồi Hóa thành cái thứ 3 và mất tính chất ngũ hành ban đầu)
Tí Sữu hợp hóa Thổ
Dần Hợo hợp hóa Mộc
Mão Tuất hợp hóa Hỏa
Thìn Dậu hợp hóa Kim
Tỵ Thân hợp hóa Thủy
Ngọ Mùi hợp hóa Thổ
Nghe thì rất lạc logic vì Tí là hành thủy với Sữu là hành Thổ thì lẻ ra là tương khắc nhưng lại là hợp rồi hóa thành hành Thổ. Đối với các bạn mới làm quen với các môn bói tóan, không cần thắc mắc tại sao nó hợp rồi hóa như vậy, chỉ cần nhớ khẩu quyết trên là được rồi.
Mẹo luật để nhớ nó hợp và hóa thành cái gì:
Tí Sửu hợp hóa Thổ: Nhớ Sửu là nhớ tới Thổ
Dần Hợi hợp hóa Mộc: Nhớ Dần là nhớ tới Mộc
Ngọ Mùi hợp hóa Thổ: Nhớ Mùi là nhớ tới Thổ
Thìn Dậu hợp hóa Kim: Nhớ Dậu là nhớ tới Kim
2 Ngoại lệ:
-Mão Tuất hợp hóa Hỏa: Nhớ Mão mộc, mà mộc sinh hỏa
-Tỵ Thân hợp hóa Thủy: Nhớ Thân kim, mà kim sinh thủy
(Cái này là mẹo luật để dễ nhớ thôi, thực sự quá trình hóa hợp phức tạp hơn nhiều)
Có 3 cặp Tương Khắc Hợp (Trong hợp có Khắc)
Tí Sửu hợp nhưng Sửu khắc Tí
Mão Tuất hợp nhưng Mão hành Mộc khắc Tuất hành Thổ
Tỵ Thân hợp nhưng Tỵ hành Hỏa khắc Thân hành Kim
Có 3 cặp Tương Sinh Hợp (Trong hợp có Sinh)
Dần Hợi hợp, Hợi thủy sinh Dần mộc
Thìn Dậu hợp, Thìn thổ sinh Dậu kim
Ngọ Mùi hợp, Ngọ Hỏa sinh Mùi thổ
Tính Chất
1-Hợp là sự tương ứng với nhau, chịu nhau như Nam Nữ luyến ái
2-Hợp là sự ràng buộc nhau, như Hôn Ước
3-Trong Tương Khắc Hợp thì tuy hợp nhưng vẫn có trục trặc xảy ra, như hai người hàng xóm phải ở chung một nhà
4-Trong Tương Sinh Hợp thì hợp thuận lợi và hợp rất chặc
5-Nếu sự hợp đó là không tốt thì nên mừng gặp được Tương Khắc Hợp để có duyên phải chia lìa.
6-Nếu sự hợp đó là tốt thì nên mừng gặp được Tương Sinh Hợp để lâu dài mãi mãi.
Nhận Xét
1-Trong 6 cặp Hợp, 4 cặp hóa thành 4 hành khác nhau. Còn 2 cặp thì cùng hóa thành một hành Thổ là cặp Tí-Sửu và cặp Ngọ-Mùi.
2-Tí Sửu hợp hóa Thổ, Ngọ Mùi cũng hợp hóa Thổ. Mà vị trí của Tí-Sửu và Ngo-Mùi chính là vị trí của Trục Dọc phân cách các cặp đối xứng.
3-Nếu sử dụng luôn Trục Đối Xứng Ngang Mão-Thìn và Tuất-Dậu trong phần Lục Hại, thì ta có các cặp Tương Sinh Hợp và Tương Khắc Hợp xen kẻ nhau một cách chặc chẽ và đối xứng thành cặp qua Trục Ngang:
-Hễ cặp Tí Sữu tương khắc thì cặp Ngọ Mùi tương sinh
-Hễ cặp Dần Hợi tương sinh thì cặp Tỵ Thân tương khắc
-Hễ cặp Mão Tuất tương khắc thì cặp Thìn Dậu tương sinh
Vấn Đề (Các bạn mới làm quen với KHHB không cần quan tâm phần này vì sẽ làm các bạn lọan)
Trong tiến trình Nhị Hợp có 4 cặp để tạo ra 5 hành, có 2 cặp cùng tạo ra hành Thổ. Và nhất là các cặp Nhị Hợp tương sinh, tương khắc xen kẻ nhau. Mà bất cứ vật gì muốn thành hình cũng phải chịu sự sinh và khắc đồng thời để quân bình mà thành vật hữu dụng.
Trong tiến trình Tam Hợp, chỉ tạo ra 4 hành mà không có hành Thổ.
Vậy có phải chăng tiến trình Nhị Hợp là tiến trình Sinh của Ngũ Hành nên lấy Thổ làm chủ để nuôi dưỡng vạn vật đang sinh trưởng còn tiến trình Tam Hợp là tiến trình Thành của Ngũ Hành khi đó hành Thổ đã thành Mộ Khố chứa đựng 4 hành Kim Mộc Thủy Hỏa để 4 hành này sinh khắc nhau.
Địa Chi Tam Hợp Cục (gọi Tắt là Hợp Cục)
Dựa trên Bảng Kẻ, xuất phát từ 4 cung ở bốn góc Bảng Kẻ là Dần, Thân, Tỵ, Hợi, mấy cung này gọi là cung xuất phát. Tính theo chiều kim đồng hồ, từ cung xuất phát về phía trước (thuận chiều kim) và về phía sau (ngược chiều kim), cứ bỏ cách 3 cung thì lấy một cung, như vậy đằng trước cung xuất phát ta bỏ 3 cung lấy được 1 cung thứ tư, đằng sau cung xuất phát cũng tương tự vậy.
Kết quả, từ 12 cung ban đầu, ta gom lại thành 4 nhóm cung, mỗi nhóm gồm có 3 cung.
-Từ cung Dần, ta gom được 2 cung Ngọ và Tuất
-Từ cung Thân, ta gom được 2 cung Tí và Thìn
-Từ cung Tỵ, ta gom được 2 cung Dậu và Sữu
-Từ cung Hợi, ta gom đươc 3 cung Mão và Mùi
Mỗi nhóm cung như vậy gọi là một Tam Hợp Cục
-Cung xuất phát của một Tam Hợp Cục gọi là cung Sinh. Vì từ các cung đó mà Sinh ra được Tam Hợp Cục. 4 cung xuất phát này gọi là 4 cung Tứ Sinh.
-Cung nằm đằng trước cung xuất phát gọi là cung Chính của Tam Hợp Cục, cung này Hành gì thì Tam Hợp Cục mang hành đó. 4 cung Tí, Ngọ, Mão, Dậu gọi là 4 cung Tứ Chính.
-Cung nằm đàng sau cung xuất phát gọi là cung Mộ của Tam Hợp Cục, cung này luôn luôn mang hành Thổ dù 2 cung kia mang bất cứ hành gì. 4 cung Thìn, Tuất, Sữu, Mùi là 4 cung Tứ Mộ.
-Xem ngũ hành của cung Chính trong mỗi Tam Hợp Cục là hành gì thì Tam Hợp Cục mang hành đó.
-Xét ngũ hành của một Tam Hợp Cục không tính ngũ hành 2 cung Sinh và Mộ
-Xem số chẳn lẻ của cung Chính trong mỗi Tam Hợp Cục thì biết Tam Hợp Cục đó là âm hay dương
Viết cho gọn lại thì có 4 Tam Hợp Cục sau:
1-Hỏa Cục, thuộc Dương: Sinh ở Dần, Chính ở Ngọ, Mộ ở Tuất
2-Thủy Cục, thuộc Dương: Sinh ở Thân, Chính ở Tí, Mộ ở Thìn
3-Kim Cục, thuộc Âm: Sinh ở Tỵ, Chính ở Dậu, Mộ ở Sữu
4-Mộc Cục, thuộc Dương: Sinh ở Hợi, Chính ở Mão, Mộ ở Mùi
Hành có 5 hành, nhưng khi Hợp thành Tam Hợp Cục thì chỉ còn 4 hành. Hành thổ mất đi đâu? Hành Thổ được phối vào cả 4 Hợp Cục vì có ý nghĩa Sinh Thành, Nuôi Dưỡng và Chứa Đựng cả 4 hành.
-Lửa cũng tồn tại trong Đất (Núi Lửa)
-Nước cũng tồn tại trong Đất (Nước Ngầm)
-Kim Loại cũng tồn tại trong Đất (Khoáng Sản)
-Cây cối cũng phải bám vào Đất mà sống
Tính Chất
1-Tam Hợp Cục có sức mạnh tổng hợp và dồi dào nên khi khắc hành khác thì hành bị khắc chỉ có tan nát (Nước Lũ đến thì rừng đang cháy cũng phải tắt ngúm). Khi sinh cho hành khác thì hành được sinh nếu yếu quá có thể chết (Nước Lũ đến thì cuốn trôi cây cối). Hành nào khắc Tam Hợp Cục mà yếu hơn thì bị Tam Hợp Cục khắc ngược lại (Nước Lũ to mà đê yếu thì đê vỡ). Hành nào yếu hơn Tam Hợp Cục mà đi sinh cho Tam Hợp Cục cũng bị Tam Hợp Cục đè chết (Kim sinh Thủy, nhưng gặp nứơc Lũ thì Kim loại cũng bị cuốn trôi luôn)
2-Khi Tam Hợp Cục gặp xung thì: Nếu cung Sinh bị Xung thì Tam Hợp Cục bị rối loạn thôi. Nếu cung Chính bị Xung thì cả Tam Hợp Cục tan nát. Nếu cung Mộ bị Xung thì sức mạnh của Tam Hợp Cục bộc phát mạnh mẽ.
3-Để được gọi là 1 Tam Hợp Cục (hay Hợp Cục), phải có đủ 3 yếu tố Sinh, Chính và Mộ. Ví dụ Tam Hợp Cục Hỏa phải có đủ Dần (Sinh), Ngọ (Chính), Tuất (Mộ).
4-Khi chỉ có 2 yếu tố, thiếu Sinh hoặc Mộ nhưng bắt buộc phải có Chính, thì gọi là Bán Hợp Cục. Ví dụ có Ngọ và Dần thiếu Tuất hoặc có Ngọ và Tuất thiếu Dần. Trong một Bán Hợp Cục, nếu có một Chính và một Sinh thì gọi là Bán Hợp Cục Sinh Địa, nếu có một Chính và một Mộ thì gọi là Bán Hợp Cục Mộ Địa.
5-Bán Hợp Cục Sinh Địa thì có sức mạnh hơn Bán Hợp Cục Mộ Địa.
6-Vị trí Chính trong mỗi Tam Hợp Cục còn có tên phổ biến hơn là vị trí Vượng hay Vượng Địa.
Tam Hội Cục Địa Chi
Trên Bảng Kẻ:
-3 cung phương Bắc là Hợi Tí Sữu thì thành một Tam Hội Cục Thủy
-3 cung phương Nam là Tỵ Ngọ Mùi thì thành một Tam Hội Cục Hỏa
-3 cung phương Đông là Dần Mão Thìn thì thành một Tam Hội Cục Mộc
-3 cung phương Tây là Thân Dậu Tuất thì thành một Tam Hội Cục Kim
Tính chất âm dương: Căn cứ vào số chẳn lẻ của 4 cung Chính là Tí, Ngọ, Mão, Dậu như ở Tam Hợp Cục
Tính chất ngũ hành: Do phương hứơng mà thành Hành của từng Tam Hội Cục.
Tính chất Xung cũng giống Tam Hợp Cục
Tính chất Bán Hội Cục cũng giống như Bán Hợp Cục
Nhưng Tam Hội Cục có sức mạnh ghê gớm hơn Tam Hợp Cục vì khí của mỗi hành được Tụ Hội về một phương.
-Trong một Tam Hội Cục, vị trí Chính là quan trọng nhất. Tính chất của cung thuộc Tứ Sinh và cung thuộc Tứ Mộ nằm trong một Tam Hội Cục tương đối phức tạp dễ làm loạn các bạn, chỉ cần nhiêu đây đủ rồi, vì mục đích viết của CT là làm cho dễ hiểu và không lọan.
Tam Hình
Ứng dụng trong 2 môn Tử Bình và Bốc Dịch (Bói Dịch). Tam Hình chỉ những việc liên quan đến hình phạt, tù tội, tai nạn, thương tích, mổ xẻ.
Trong một lá số Tử Bình hay một qủe Dịch, nếu thấy những trường hợp sau thì gọi là Tam Hình.
1. Tí và Mão gọi là Vô Lễ Hình
Nếu thấy có 1 chữ Mão 1 chữ Tí hoặc 1 chữ Mão 3 chữ Tí hoặc 1 chữ Tí 3 chữ Mão thì gọi là Vô Lễ Hình. (Điều kiện 1)
Muốn trở thành Tam Hình phả có thỏa điều kiện 1, các trường hợp khác ví dụ như 1 Tí 2 Mão và ngược lại thì không xem là Hình.
Vô Lễ Hình do Vô Lễ mà bị Hình Phạt
2. Dần, Tỵ, Thân gọi là Đặc Thế Hình
Đặc Thế Hình do cậy quyền cậy thế mà bị Hình Phạt
Nếu thấy trong 1 qủe Dịch hay 1 lá số Tử Bình có ĐỦ 3 chữ Dần, Tỵ và Thân thì mới thành Đặc Thế Hình. Thừa hay thiếu một chữ đều không xem là ĐANG bị Hình Phạt.
Lưu ý khi thiếu:
Thiếu Dần: Thì Tỵ và Thân là Nhị Hợp (Hợp chờ Hình)
Thiếu Tỵ: Thì Dần và Thân là Xung Tứ Sinh (Xung chờ Hình)
Thiếu Thân: Thì Dần và Tỵ là Nhị Hại (Hại chờ Hình)
Những trường hợp như vậy là mầm mống của Tam Hình, hiện tại chưa bị Hình nhưng khi vào Vận hoặc gặp thời điểm mà các chữ bị Thiếu xuất hiện thì thành Hình Phạt.
Thứ tự: Dần hình Tỵ, rồi Tỵ mới hình Thân, rồi Thân mới hình lại Dần.
Vì theo thứ tự đó nên khi Thiếu Dần hay Tỵ thì không thành Hình Phạt được, riêng khi Thiếu Thân thì Dần vẫn Hình được Tỵ. Thành ra trong 3 trạng thái phôi thai của Đặc Thế Hình thì loại Thiếu Thân là loại Khó Chịu Nhất (Hại chờ Hình).
3. Sữu, Tuất, Mùi gọi là Vong Ân Hình
Vong Ân Hình do chịu ơn mà vong ơn nên bị Hình Phạt
Nếu thấy trong 1 qủe Dịch hay 1 lá số Tử Bình có ĐỦ 3 chữ Sửu, Tuất và Mùi thì mới thành Đặc Thế Hình. Thừa hay thiếu một chữ đều không xem là ĐANG bị Hình Phạt.
Thứ tự gieo Hình Phạt: Sữu hình Tuất, Tuất hình Mùi, Mùi hình Sữu.
4. Thìn, Ngọ, Dậu, Hợi là Tự Hình
Tự Hình là Hình Phạt do tự mình gây ra
Nếu thấy trong 1 qủe Dịch hay 1 lá số Tử Bình có ĐỦ 4 chữ Thìn, Ngọ, Dậu và Hợi thì mới thành Tự Hình. Thiếu một chữ thì không xem là ĐANG bị Hình Phạt. Thừa một chữ thì vẫn bị Hình Phạt, cái nào Thừa thì cái đó Tự Hình nặng.
1. Có đủ 4 chữ Thìn, Ngọ, Dậu, Hợi. 4 chữ này Hình Phạt lẫn nhau, là Tự Hình.
2. Có đủ 3 chữ Thìn, Ngọ, Dậu mà thiếu Hợi thì không xem là Tự Hình.
3. Có 5 chữ Thìn, Ngọ, Dậu, Hợi, Thìn, chữ Thìn có 2 chữ thì chữ Thìn bị nặng nhất vì đúng ý nghĩa của Tự Hình là Tự mình Hình mình.
Ghi chú phần chữ màu xanh:
Tự Hình rất ít gặp, có nhiều khi không ứng nghiệm, Thiệu Vĩ Hoa cũng nhận xét rằng Tự Hình đến tuổi trung niên thì khó xem. Các sách mà CT được đọc cũng không thấy có sách nào bàn kỷ và có ví dụ về Tự Hình.
Nếu cho rằng Thìn gặp Thìn hay Ngọ gặp Ngọ, hay Dậu gặp Dậu hay Hợi gặp Hợi là Tự Hình thì trong các qủe Dịch và lá số Tử Bình sẽ gặp vô số trường hợp Tự Hình. Hoặc hào Thìn biến hào Thìn thì là Phục Ngâm chứ không phải Tự Hình.
Trong quá khứ xem qủe Dịch cho 1 người bạn, qủe đó có đủ 4 chữ Thìn, Ngọ, Dậu, Hợi và còn thừa ra 1 chữ nữa, sau đó người bạn đó nhảy lầu chết. Đây là lần kinh nghiệm duy nhất về Tự Hình.
Tại vì đã lỡ soạn thì soạn luôn, biết tới đâu soạn tới đó, phần nào không chắc chắn thì ghi bằng chữ màu xanh để các bạn mới làm quen có khái niệm về Tự Hình thì dễ đọc sách hơn, nói chung mục đích của CT viết là để giới thiệu về các khái niệm và thuật ngữ của KHHB thôi. Chứ CT nói trước là phần Tự Hình không chắc chắn đâu, nhưng không lẻ bỏ trống không giải thích gì hết?
Thiên Can Hợp Hóa
Thiên Can: Giáp 1, Ất 2, Bính 3, Đinh 4, Mậu 5, Kỷ 6, Canh 7, Tân 8, Nhâm 9, Quý 10.
Ứng dụng: Môn Tử Bình
Thiên Can cũng có Hợp Hóa giống Địa Chi. Đầu tiên là Hợp, sau đó là Hóa. Hợp là 2 cái ràng buộc với nhau lại, Hóa là sau khi ràng buộc lại thì chuyển thành cái thư 3.
Giống như hai người yêu nhau thì gọi là hợp, nhưng lấy nhau để tạo lập một gia đình thì gọi là hóa. Kết quả của Hôn Nhân là Gia Đình tức là kết quả của Hóa vậy.
Tuy nhiên từ tình yêu đến hôn nhân là 1 bước khá dài. Cho nên phải chia quá trình của Thiên Can Hợp Hóa ra 2 giai đọan: Hợp và Hóa.
Quá Trình Hợp theo Quy tắc sau:
1. Hai Can cách nhau 4 Can thì hợp
Giáp cách 4 can hợp với Kỷ
Ất cách 4 can hợp với Canh
Bính cách 4 can hợp với Tân
Đinh cách 4 can hợp với Nhâm
Mậu cách 4 can hợp với Quý
2. Một can Dương hợp với một can Âm, không có trường hợp 2 Can cùng hệ mà hợp nhau được.
Ví dụ: Giáp dương thì hợp với Kỷ âm
Công Thức Hợp Hóa
Giáp Kỷ hợp hóa Thổ
Ất Canh hợp hóa Kim
Bính Tân hợp hóa Thủy
Đinh Nhâm hợp hóa Mộc
Mậu Quý hợp hóa Hỏa
Mẹo để nhớ: Nhớ Can thứ 2 trong 2 can hợp.
Giáp Kỷ hợp hóa Thổ, nhớ Kỷ là hành Thổ
Ất Canh hợp hóa Kim, nhớ Canh là hành Kim
Bính Tân hợp hóa Thủy, nhớ Tân là hành kim sinh cho Thủy
Đinh Nhâm hợp hóa Mộc, nhớ Nhâm là hành thủy sinh cho Mộc
Ngoại Lệ
Mậu Quý hợp hóa Hỏa, có 1 ngoại lệ duy nhất thì dễ nhớ ngoại lệ hơn là bình thường.
Điều Kiện để Hợp thành Hóa
Phải có Kết Quả (Có con)!
Ví dụ 1: 2 tuổi Giáp Tí và Kỷ Dậu có Hợp mà không Hóa vì Giáp hợp Kỷ đáng lẻ phải hóa thành Thổ, nhưng 2 địa chi Tí và Dậu không có cái nào có là Thổ hết, nên chỉ yêu nhau thế thôi mà không thành gia đình được, nhưng xa nhau thì lại nhớ thành ra cứ ràng buộc mãi.
Ví dụ 2: 2 tuổi Giáp Thìn và Kỷ Dậu thì Giáp hợp Kỷ hóa thành Thổ, trong 2 địa chi Thìn và Dậu, có Thìn là Hành Thổ, nên trừơng hợp này yêu nhau lấy nhau rồi sinh con luôn.
Tính chất
1-Thiên Can rất thích Hợp, nếu Giáp đang khắc Mậu mà gặp Kỷ thì Giáp sẽ bỏ Mậu đi tìm Kỷ liền.
2-Giáp Hợp Kỷ gọi là sự Hợp Trung Chính, nôm na là hợp gương mẫu về kỷ cương, giềng mối, quy củ vì Giáp đứng đầu 5 can đầu, Kỷ đứng đầu 5 can cuối.
3-Ất Hợp Canh gọi là sự Hợp Nhân Nghĩa, nôm na là có nhân có nghĩa
4-Bính Hợp Tân gọi là sự Hợp có Uy Chế Ngự, nói chung là sự hợp tốt.
5-Đinh Hợp Nhâm gọi là sự Hợp Dâm Lọan, nói chung là hợp vì tình dục
6-Mậu Hợp Quý gọi là sự Hợp Vô Tình, nôm na là rổ rá cạp lại, đũa lệch so đôi.
7-Hai Can Hợp nhau là 2 can Khắc Nhau nhưng nhờ Trái Âm Dương.
8-Can đi khắc làm Chồng của can bị Khắc.
9-Can bị khắc làm Vợ của can đi khắc.
10-Nhờ Trái Âm Dương nên mới có sự hút nhau. Nhờ cái này khắc cái kia nên mới có Uy, có Uy nên mới có Tôn Ti trong Gia Đạo. Đó là cái lẻ Khắc nhau nhưng lại là Hợp.
11-Khi 2 Can cùng Âm Dương mà Khắc nhau thì gọi là Phá vì sự Khắc rất là mãnh liệt. Ví dụ: Giáp mộc khắc Mậu thổ rất nặng, gọi là Giáp phá Mậu.
12-Chính sự Hợp làm giềng mối để hóa giải sự khắc, cùng cực thì đẩy nhau, trái cực thì hút nhau.
Vấn Đề (Phần này các bạn mới làm quen với KHHB đọc rồi quên)
1-Trong tiến trình Nhị Hợp của Địa Chi, 2 chi hợp nhau ví dụ Dần hợp Hợi, luôn luôn là 2 địa chi khác Âm Dương, ví dụ Dần là Dương mà Hợi là Âm
2-Trong tiến trình Tam Hợp của Địa Chi, 2 chi hợp thành một cục luôn luôn cùng âm hoặc cùng dương, ví dụ Dần, Ngọ, Tuất, cả 3 đều là dương. Hay Tỵ, Dậu, Sữu, cả 3 đều là âm.
3-Trong tiến trình Nhị Hợp, thành phần Hợp là phải có 1âm một dương để làm Đạo, Ngũ Hành Sinh ra trong tiến trình Nhị Hợp cũng chưa phân ra Âm Dương.
4-Trong tiến trình Tam Hợp, các Hành Thành Hình có tính Âm Dương rõ ràng. Kim và Mộc thuộc Âm, Thủy và Hỏa thuộc Dương.
5-Liên hệ sự Nhị Hợp của Địa Chi đến sự Nhị Hợp của Thiên Can, hoàn toàn có sự giống nhau về thành phần âm dương tạo nên sự Hợp.
Lục Thân Trong Bói Dịch
Lấy mình làm trung tâm thì Lục Thân là 6 loại quan hệ xã hội. Đó là Phụ Mẫu (cha mẹ), huynh đệ (anh em), thê tài (vợ và tiền), tử tôn (con cháu) và quan quỷ (sếp và tai họa)






