BỤI QUÝ - BÔNG HỒNG VÀNG
Monday, May 7, 2007 10:00:04 AM
BỤI QUÝ[/SIZE][/COLOR]
[/B]Truyện ngắn của nhà văn Nga Kônxtantin Pauxtôpxki trong tuyển tập BÔNG HỒNG VÀNG
Tôi không sao nhớ ra được là mình đã biết câu chuyện anh thợ quét rác thành Pari tên là Giăng Samet như thế nào. Samet kiếm sống bằng nghề quét dọn những xưởng thủ công trong khu phố anh ở. Samet sống trong một túp lều ở ngoại thành. Tất nhiên, có thể tả tỉ mỉ khu ngoại ô và như vậy sẽ đưa độc giả ra ngoài lề câu chuyện. Nhưng thiết tưởng chỉ cần nhắc lại rằng đến nay ở những khu ngoại thành Pari vẫn còn lại những tường thành cổ bằng đất cũng đủ. Vào khoảng thời gian xảy ra câu chuyện, những bụi hoa kim ngân và sơn trà vẫn mọc um tùm trên tường thành và chim chóc làm tổ trong những bụi đó. Túp lều của anh thợ quét rác nằm ép sát vào chân tường thành phía bắc, kề bên những ngôi nhà nhỏ bé của các bác hangf thiếc, các bác thợ giầy, những người đi nhặt đầu mẩu thuốc lá và những người ăn mày. Nếu như Môpatxăng(1) để ý đến cuộc sống của những người cư trú trong những túp lều nọ, hẳn ông đã viết thêm được một số truyện ngắn tuyệt hay. Có khi chúng sẽ làm cho vinh quang vốn đã vững chắc của ông thêm nhiều vòng hoa chiến thắng mới. Đáng tiếc là không một người ngoài cuộc nào để mắt đến những nơi ấy, trừ lũ mật thám. Mà bọn này cũng chỉ ló mặt tới đây trong trường hợp phải đi lùng kiếm đồ vật mất trộm. Bằng vào biệt hiệu "Gõ kiến" mà hàng xóm láng giềng đặt cho Samet, ta phải hình dung anh là một người gầy gò, mũi nhọn và dưới vành mũ bao giờ cũng lủng lẳng một mớ tóc giống như mào chim.
Trước kia, Samet đã từng được sống những ngày sung sướng. Ạnh đăng lính trong quân đội của "Tiểu Napôlêông"(2) trong thời gian chiến tranh ở Mêhicô. Samet gặp may. Anh bị sốt rét nặng ơ Vera-Knux. Anh lính ốm yếu chưa từng qua một trận đọ súng thực sụ nào liền được gửi về nước. Viên chỉ huy trung đoàn nhân dịp bèn nhờ Samet đưa đứa con gái lên tám của ông tên là Xuyzan về Pháp. Viên chỉ huy goá vợ, vì thế đi đâu ông cũng phải lẽo đẽo mang con gái theo. Nhưng lần này ông quyết định chia tay con và gửi nó về cho người chị ở Ruăng. Khí hậu Mêhicô rất độc đối với trẻ con Âu. Thêm vào đó cuộc chiến tranh du kích hỗn độn ở đây chẳng thiếu gì những nguy hiểm bất ngờ.
Trên đường Samet về Pháp khí nóng bốc ngùn ngụt trên Đại Tây Dương. Con bé suốt ngày im lặng. Thậm chí nhìn những con cá bay vọt lên khỏi mặt nước bóng nhẫy nó cũng chẳng mỉm cười. Samet hết sức chăm sóc Xuyzan Tất nhiên, anh cũng hiểu rằng con bé không chỉ mong được anh chăm sóc, mà còn muốn được âu yếm vuốt ve. Mà anh, tên lính của một trung đoàn thuộc địa, anh có thể nghĩ ra được cái gì trìu mến kia chứ? Anh có thể mua vui cho nó bằng cách gì đây? Đánh mạt chược với nó chăng? Hay hát cho nó nghe những bài hát thô tục của lính tráng. Nhưng dù sao thì cũng không thể cứ im lặng mãi. Càng ngày anh càng hay bắt gặp cái nhìn băn khoăn của con bé. Cuối cùng anh đánh liều bắt đầu kể cho nó nghe một cách không có mạch lạc, cuộc đời mình, nhớ lại những tình tiết nhỏ nhặt nhất về một vạn chài trên bờ biển Măngsơ, những bãi cát tơi, những vũng nước khi triều xuống, ngôi nhà thờ nhỏ trong thôn với quả chuông rạn, chuyện bà mẹ anh chữa cho nhàng xóm láng giềng khỏi chứng đau rát thực quản. Samet không tìm được chuyện gì buồn cười trong những mẩu ký ức đó để làm vui cho Xuyzan. Nhưng anh ngạc nhiên thấy con bé háo hức nghe những chuyện ấy và thậm chí còn bắt anh kể đi kể lại, đồi biết thêm những tình tiết mới. Samet nặn óc tìm cho ra những tình tiết ấy mãi cho đến khi anh không còn tin được là chúng có thật. Đó không còn là những ký ức, mà chỉ là bóng dáng mờ nhạt của chúng. Chúng tan ra như những mảng sương mù. Thực vậy, Samet không hề ngờ rằng sẽ có lúc anh phải khôi phục lại trong trí nhớ quãng thời gian vô ích ấy của đời mình.
Có lần anh mang máng nhớ tới một bông hồng bằng vàng. Cũng chẳng ra là Samet đã thấy bông hồng thô kệch đánh bằng vàng đã xuống nước móc vào cây thánh giá Chúa trong nhà một bà lão dân chài, mà cũng chẳng ra anh đã nghe những câu chuyện về bông hồng đó do những người láng giềng kể lại.
Không, đúng là anh thậm chí đã thấy bông hồng đó và còn nhớ nó sáng lấp lánh như thế nào, mặc dù bên ngoài cửa sổ không có nắng và cơn bão buồn thảm đang sục sôi ngoài eo biển, Càng về sau Samet càng nhớ rõ thêm cái ánh lấp lánh ấy : nó giống như mấy ngọn lửa nhỏ cháy sáng dưới một trần nhà thấp. Mọi người trong thôn đều ngạc nhiên thấy bào lão dân chài không chịu bán vật quý của mình. Bán nó đi bà có thể thu được món tiền lớn. Chỉ một mình mẹ Samet cả quyết rằng bán bông hồng vàng ấy đi là có tội bởi vì đó là quà chúc phúc của người tình bà lão tặng bà, khi bà còn là một cô gái tươi hơn hớn làm ở nhà máy đóng hộp cá xác-đin ở tỉnh Ôđécnơ.
_ Trên thế gian này hiếm ai có được những bông hồng vàng, - mẹ Samet nói - Nhà nào có nó, nhà ấy sẽ được hạnh phúc. Mà không riêng gì họ, ai đụng tới bông hồng đó, người ấy cũng sẽ được như vậy.
Thằng bé Samet sốt ruột đợi mãi ngày bà lão dân chài sẽ được hưởng hạnh phúc. Nhưng cả đến bóng dáng của hạnh phúc cũng chẳng thấy đâu. Ngôi nhà của bà lão run rẩy trước gió và tối tối trong nhà cũng chẳng có ánh lửa.
Thế rồi Samet bỏ làng ra đi, không đợi được đến ngày cuộc đời bà lão đổi thay. Mãi một năm sau, một người quen làm thợ đốt lò trên con tàu chở thư ở Lơ Havrơ mới kể cho anh nghe rằng con trai bà lão bất thình lình đã từ Pari trở về, anh chàng hoạ sĩ đó râu xồm, vui nhộn và có tính khí kỳ quặc. Từ ngày ấy người ta không còn có thể nhận ra túp lều kia nữa. Nó trở nên ồn ào và dư dật. Người ta kháo nhau rằng bọn hoạ sĩ vẽ lăng nhăng cũng kiếm được ối tiền.
Một hôm, ngồi trên boong tàu, Samet đang dùng chiếc lược sắt của mình chải mớ tóc rối tung trước gió cho Xuyzan thì con bé hỏi anh :
_ Anh Giăng ơi, rồi cũng có người cho em một bông hồng vàng chứ?
_ Rất có thể - Samet trả lời. - Rồi cũng sẽ có một thằng dở hơi nào đó cho em, Xuyzan ạ! Trong đại đội anh có một chú lính gầy nhom. Thằng cha tốt số lạ lùng. Hắn nhặt được trên chiến trường một chiếc hàm giả gẫy, bằng vàng. Cả đại đội bèn bán đi lấy tiền nhậu. Chuyện đó xảy ra hồi chiến tranh Annam(3). Các chàng pháo thủ say rượu mới lấy súng cối bắn chơi cho vui, đạn rơi vào miệng ngọn núi lửa đã tắt, nổ tung trong đó, và bị cú bất ngờ này núi lửa liền thở phì phì và phun lửa. Có trời biết tên cái núi lửa ấy là gì? Kraka-Taka thì phải. Nó phun mới dữ làm sao! Bốn chục ngươi dân bản xứ đang yên lành lăn cổ ra chết. Chỉ vì một cái hàm giả hỏng mà ngần ấy người toi mạng, thật quá quẩn! Về sau mới biết ra là hàm răng ấy của chính ông đại tá đơn vị bọn anh đánh rơi. Vụ này rồi sau cũng được dẹp đi - uy tín của quân đội trên hết mà. Nhưng bọn anh thì chuyến ấy say bí tỉ.
_ Chuyện ấy xảy ra ở đâu hả anh? - Xuyzan nghi ngờ hỏi,
_ Anh đã nói rồi mà, ở nước Annam, ở Đông Dương. Ở đấy đại dương bùng bùng lửa cháy, chẳng khác gì dưới địa ngục, còn những con sứa thì giống như những cái váy viền đăng ten của vũ nữ. Ở đấy lại còn ẩm ướt nữa chứ, đến nỗi chỉ một đếm thôi, nấm đã mọc lên trong ủng của bọn anh. Anh mà nói dối thì xin cứ treo cổ anh lên.
Trước đó Samet đã nghe nhiều chuyện bịa đặt của lính tráng, nhưng riêng anh, anh chưa từng bịa chuyện bao giờ. Không phải vì anh không biết nói dóc, chẳng qua anh chưa bao giờ thấy cần phải làm như vậy. Còn giờ đây anh coi việc làm vui cho Xuyzan là một bổn phận thiêng liêng.
Smaet đưa con bé đến Ruăng và trao tận tay cho bác gái của Xuyzan - một người đàn bà cao lớn, có đôi môi tái nhợt và mím chặt. Bà lão đeo hạt cườm đen khắp mình trông như một con rắn ở rạp xiếc.
COn bé vừa nhìn thấy bà ta đã vôi bám chặt lấy anh Samet và nép vào cái áo ca pốt bạc phếch của anh.
_Không sao! - Samet thì thầm và khẽ đẩy vào vai Xuyzan. - Bọn lính trơn các anh cũng chẳng được lựa chọn cho mình các ông đại đội trưởng đâu. Chịu khó vậy, Xuzi, cô lính ạ!
Sanet bỏ đi. Anh ngoảnh lại mấy lần nhìn lên những khung cửa sổ của ngôi nhà buồn tẻ, ở đó đến gió cũng chẳng buồn lay động những bức rèm. Nghe rõ tiếng đồng hồ hối hả trong những quán nhỏ nằm trong ác phố hẹp. Trong túi dết Samet còn giữ lại một kỷ niểm của Xuyzan, một cái nơ buộc tóc đã nhầu nát màu xanh. Có trời biết vì sao cái băng đó lại thơm dịu đến thế, như thể nó được để lâu trong một giành hoa tím.
Bệnh sốt rét Mêhicô đã huỷ hoại sức khoẻ Samet. Anh chưa được thăng chức đội thì đã bị thải rồi. Samet trở về cuộc sống dân thường với hàm binh nhì. Năm tháng qua đi trong cảnh thiếu thốn đơn điệu. Samet nếm hết nghề khốn khổ này đến nghề khốn khổ khác và cuối cùng anh trở thành người hốt rác thành Pari. Từ đó mùi bụi bặm và rác rưởi lúc nào cũng ám vào anh. Anh cảm thấy nó có trong cơn gió thoảng từ phái sông Xen luồn vào trong phố, cả trong những bó hoa ướt át mà các bà lão ăn vấn ạch sẽ đứng bán trên các đại lộ.
Ngày lại ngày quyện lấy nhau trong một màu vàng đục. Nhưng đôi khi trong cái màu vàng đục ấy, Samet lại thấy hiện lên trong lòng mình một áng mây hồng : đó là bộ áo dài cũ của Xuyzan. Từ tấm áo có phảng phất hương xuân tươi mát như thể người ta cũng để nó lâu trong một giành hoa tím. Xuyzan giờ ở đâu? Em sống ra sao? Samet biết ngày nay Xuyzan đã là một cô gái trưởng thành, còn cha nàng thì đã bị tử thương.
Đã nhiều lần Samet định đi Ruăng thăm Xuyzan. Nhưng anh cứ lần lữa mãi cho đến lúc chợt hiểu rằng mình đã bỏ lỡ thời gian và chắc chắn Xuyzan đã quên hẳn anh rồi. Anh tự mắng mình là đồ bị thịt, khi nhớ đến cuộc chia tay với Xuyzan. Đáng lẽ phải hôn con bé thì anh lại ấn vào lưng nó, đẩy nó tới chỗ con quạ già nọ và bảo " Chịu khó vậy, Xuzi, cô lính ạ!"
Ai cũng biết những người thợ hốt rác chỉ làm việc ban đêm. Có hai nguyên buộc họ phải làm đêm như vậy; đó là vì rác rưởi do hoạt động náo nhiết và không phải lúc nào cũng có ích của con người thải ra tích tụ nhiều nhất vào cuối ngày và ngoài ra, những người thợ hốt rác không được phép xúc phạm thị giác và khứu giác của người đất kinh kỳ. Ban đêm hầu như chẳng có ai trông thấy việc làm của những người hốt rác. trừ lũ chuột cống. Samet đã quen với côpng việc về đêm và còn thích thú cái khoảng thời gian ấy là đằng khác. Nhất là lúc ánh bình minh uể oải bắt đầu chọc thủng màn đêm trên thành phố. Sương mù vương vất trên sông Xen,nhưng sương không bao giờ bay lên quá thành cầu.
Một hôm, cũng vào một buổi binhg minh mờ mịt hơi sướng như thế, Samet đi trên cầu Phế binh và gặp một thiếu phụ mặc áo dài màu tím nhạt, đính đăng-ten đen. Thiếu phụ đứng bên thành cầu và nhìn xuống sông Xen. Samet dừng lại, cất bỏ chiếc mũ bụi bặm và nói :
_ Thưa tiểu thư, nước sông Xen lúc này lạnh lắm. Tiểu thư nên để tôi đưa về nhà thì hơn.
_ Giờ đây tôi cũng chẳng có nhà.
Thiếu phụ trả lời rất nhanh và quay về phía Samet.
Samet để rơi chiếc mũ.
_ Xuzi! - anh nói bằng một giọng tuyệt vọng và sung sướng đến cực độ - cô lính Xuzi! Cô bé của anh! Thế là cuối cùng anh đã gặp em. Chắc em quên anh rồi. Anh là Giăng Ecnet Samet đây, cái anh binh nhì ở trung đoàn thuộc đại số Hai mươi bảy đã đưa em về cho mụ bác gái tởm lợm ở Ruăng đây. Em bây giờ xinh quá đi thôi! Tóc em chải mới khéo léo nữa chứ! Còn anh, cái thằng lính quèn(4) này thì chẳng biết cách chải cho em.
_ Giăng! - thiếu phụ kêu lên, đâm bổ tới ôm lấy cổ anh và khóc. - Giăng, anh vẫn tốt nhưu xưa. Em còn nhớ hết mà!
_ Ồ rõ vớ vẩn! - Samet lầu bầu trong miệng. - Lòng tốt của anh thì lợi lộc gì cho ai. Có chuyện gì đã xảy ra với em vậy, em gái bé nhỏ của anh?
Samet kéo Xuyzan lại gần mình và làm cái việc mà anh không dám làm trước kia ở Ruăng : anh vuốt ve và hôn lên mái tóc óng ả của nàng. Rồi anh vội lánh ra, sợ Xuyzan ngửi thấy mùi hôi của chuột cống trên áo ngoài của anh. NHưng Xuyzan lại càng nép chặt vào vai anh hơn.
_ Có chuyện gì vậy, em bé nhỏ của anh? - Samet bối rối nhắc lại.
Xuyzan không trả lời. Nàng không nén được tiếng nức nở. Samet hiểu rằng lúc này chưa nên hỏi nàng chuyện gì hết.
_ Anh có một cái hang ở chỗ tường thành. - Samet vội vã nói - Hơi xa đây một chút. Tất nhiên ở nhà chẳng có gì hết, nhẵn như chùi. Nhưng được cái có thể hâm nước cho nóng và nằm ngủ trên giường. Và nói chung em muốn ở bao nhiêu lâu tuỳ thích.
Xuyzan ở nhà Samet năm ngày. Năm ngày ấy một mặt trời kỳ lạ cất lên trên thành Pari. Hết thảy mọi ngôi nhà, kể cả những ngôi nhà cũ nát, ám khói, tất cả những khu vườn và thậm chí cái hang của Samet nữa đều rực rỡ trong những tia sáng của vừng thái dương ấy như là những vật báu. Ai chưa từng được xúc động với hơi thở nhè nhẹ của thiếu nữ trong giấc ngủ, người đó chưa thể hiểu thế nào là dịu dàng. Môi nàng tươi hơn cả những cánh hoa ẩm ướt và những hàng mi của nàng lấp lánh những giọt lệ đêm.
Phải, những gì đã xảy ra với Xuyzan quả đúng như Samet dự đoán. Người tình của nàng - một diễn viên trẻ - đã phụ nàng. Nhưng năm ngày Xuyzan sống bên Samet đã đủ để cặp tình nhân làm lành với nhau. Samet tham dự vào việc hoà giải đó. Anh phải mang thư của Xuyzan lại cho anh chàng diễn và đã dạy cho cái gã điển trai đáng ngán nọ một bài học về phép lịch sử khi gã định dúi vào tay anh vài xu tiền thưởng.
Sau đó ít lâu anh chàng diễn viên đáp xe ngựa đến tìm Xuyzan. và đâu lại vào đó : một bó hoa, những cái hôn, tiếng cười qua nước mắt; lời xin lỗi và dáng vẻ vô tư ngượng ngập(5).
Khi đôi bạn trẻ lên đường, Xuyzan vội vã nhảy lên xe, nàng quên cả từ biệt Samet. Liền đó nàng sực nhớ ra, đỏ mặt và ngượng ngùng đưa tay cho anh.
_ Em đã chọn lấy cuộc sống theo ý em, anh chỉ còn biết chúc em hạnh phúc - cuối cùng Samet mới lầu bầu nói.
_ Em, chưa biết rồi sẽ ra sao? - Xuyzn trả lời và mắt nàng ngấn lệ.
_ Em băn khoăn vậy thực là vô ích, em bé nhỏ của anh ạ! - anh chàng diễn viên trẻ dài giọng và nhắc lại - Em bé xinh đẹp của anh.
_ Giá có ai tặng em một bông hồng vàng! -Xuyzan thở dài - Cái đó chăc chắn sẽ mang lại cho em hạnh phúc. Em vẫn còn nhớ câu chuyện em kể trên tàu, anh Giăng ạ!
_ Biết đâu đấy - Samet trả lời - Nhưng dù sao thì người sẽ mang bông hồng vàng đến cho em cũng chẳng phải là cái anh chàng quý phái này đâu. Em tha lỗi cho anh, anh là một thằng lính. Anh không ưa bọn công tử bột.
Hai người trẻ tuổi đưa mắt cho nhau. Gã diễn viên nhún vai. Chiếc xe chuyển bánh.
Thường thường cứ hết ngày là Samet đổ đi tất cả những rác rưởi mà anh quét dọn ở các xưởng thủ công. NHưng sau lần gặp Xuyzan anh thôi không đổ bụi ở những hiệu kim hoàn đi nữa. Anh giấu giếm bỏ chúng vào một cái túi và mang về lều mình. Hàng xómcho rằng anh chàng hốt rác nọ đã trở thành "ngẩn ngơ". Hiếm người biết rằng trong bụi đó có chứa một ít bột vàng, bởi vì những người thợ kim hoàn khi làm việc thế nào cũng làm hao đi một ít kim loại quý đó.
Samet quyết định sẽ sàng bụi lấy vàng, đúc thành một thoi nhỏ và dùng nó đánh một bông hồng vàng mang lại hạnh phúc cho Xuyzan. Mà rất có thể, như mẹ anh đã nói, nó còn mang lại hạnh phúc cho nhiều người bình thường khác nữa. Biết đâu đấy! Anh quyết không gặp lại Xuyzan khi bông hồng chưa làm xong.
Samet không kể cho ai nghe chuyện đó. Anh sợ bọn cảnh sát và nhà cầm quyền. Ai mà biết được bọn quan tào nhiễu sự sẽ giở trò gì. Chúng có thể buộc anh tội ăn cắo, tống anh vào tù lấy mất số vàng anh có. Dù sao vàng cũng chẳng phải của anh.
Trước khi đăng lính, Samet là cố nống trong trang trại của một mục sư nông thôn và ví thế anh biết sàng sẩy. Nhưng hiểu biết đó đối với anh bây giờ hoá ra có ích. Anh nhớ rằng khi quạt lúa mì thì những hạt nặng rơi xuống đất còn bụi thì bị gió cuốn đi. Samet làm một cái quạt gió nho nhỏ và đêm đêm, ở sân nhà, anh quạt bụi lấy được trong các hiệu kim hoàn. Anh hồi hộp mãi cho đến lúc trông thấy lờ mờ một lớp bụi vàng lấp lánh trên ngăn gỗ. Đến lúc có đủ bụi vàng để đánh được một thỏi thì đã mất nhiều thời gian lắm. Nhưng Samet chưa đưa đưa cho thợ kim hoàn đánh bông hồng vội. Không phải Samet thiếu tiền thuê thợ : bất cứ người thợ kim hoàn nào cũng bằng lòng đánh bông hồng để lấy tiền công bằng một phàn ba thỏi vàng và như thế họ cũng đã hài lòng lắm rồi. Duyên dó không phải vì thế. Càng ngày, giờ gặp Xuyzan càng gần. Nhưng không biết từ lúc nào, Samet bắt đầu sợ cái giờ ấy.
Tất cả sự trìu mến từ lâu dồn nén trong đáy lòng, Samet muốn dành cho nàng, cho Xuzi. Nhưng ai cần đến cái trìu mến của con người tàn tạ và dị dạng kia chứ. Samet từ lâu đã nhận thấy rằng gặp anh người ta chỉ muốn bỏ đi cho nhanh và quên phứt cái bộ mặt hốc hác xám ngoét với làn da chảy xệ và đôi mắt chòng chọc của anh.
Trong túp lều của Samet có một mảnh gương vỡ. Hoạ hoằn lắm Samet mới soi gương nhưng hễ cứ soi vào là anh văng một câu chửi tục và quăng mảnh gương đó đi. Thà đừng nhìn thấy mình con hơn, cái thân hình gớm ghiếc lê lết trên đôi chân tê thấp khập khiễng.
Cuối cùng, khi đã đánh xong bông hồng, Samet mới biết Xuyzan đã rời Pari đi Mỹ từ một năm trước, và theo người ta nói nàng đi hẳn, không về nữa. Không ai có thể cho Samet biết địa chỉ của nàng.
Thoạt đầu, Samet thậm chí còn thấy nhẹ hẳn người. NHưng rồi tất cả sự chời đợi cuộc gặp gỡ đầm ấm và thanh thản vơí Xuyzan không hiểu sao đã biến thành một mảnh sắt rỉ, Mảnh sắt nhọn ấy mắc trong lồng ngực anh, ngay ở bên tim vvà Samet cầu Trời cho nó mau đâm thẳng vào trái tim ốm yếu ấy đi, cho tim anh vĩnh viễn ngừng đập.
Samet bỏ việc quét dọn trong các xưởng kim hoàn. Anh nằm trong túp lều của mình mấy ngày liền, quay mặt vào tưởng. Anh im lặng và chỉ mỉm cười một lần, đưa cánh tay áo cũ lên mắt. Không ai nhìn thấy anh khóc. Hàng xóm láng giềng cũng chẳng có ai sang thăm anh : người nào cũng có chán vạn cái lo âu bận bịu của mình. Chỉ có một người theo dõi Samet. Đó là người thợ bạc đứng tuổi đã đánh từ thỏi vàng ra một bông hồng rất tinh xảo. Cũng trên một cành, bên cạnh bông hoa, người thợ bạc đánh thêm một nụ hồng bé nhỏ và nhọn hoắt. Người thợ bạc đến thăm Samet nhưng không mang thuốc đến cho anh. Ông ta cho rằng có mang cũng vô ích.
Thực thế, Samet đã lặng lẽ qua đời, trong một lần đếm thăm của người thợ bạc. Ông ta nâng đầu anh thợ quét rác lên, lấy ở dưới cái gối xám ra bông hồng vàng bọc trong cái nơ nhàu nát màu xanh, khẽ khép cái cánh cửa cọt kẹt lại, rồi thong thả đi ra. Thừ chiếc nơ xông lên mùi chuột.
Lúc đó vào cuối thu. Màn đêm rung động vì gió và vì những đốm lửa nhấp nháy. Người thợ bạc nhớ đến nét đổi thay trên ặmt Samet sau khi anh chết. Bộ mặt trở nên nghiêm nghị và tràm tĩnh. Người thợ bạc ấy thấy niềm cay đắng hiện trên anh còn tuyệt đẹp nữa là khác.
"Cuộc sống không cho người ta cái gì thì cái chết lại đem cho người ta", người thợ bạc vốn quen với những ý ngĩ rẻ tiền nghĩ như vậy và thở dài.
(Kim Ân dịch)






