Tho than

Than tho

Chiến tranh biên giới phía Bắc 1979 và 1984 ( P II)

Bài viết của Tô Mai Hồng (Xu Meihong, lẽ ra phải là Hứa Mai Hồng chứ nhỉ ?), một cựu sĩ quan
tình báo cao cấp từng phục vụ 15 năm trong quân giải phóng nhân dân Trung Hoa, vợ của Larry
Engelmann, một giáo sư từng dạy tại đại học San Jose State University ở tại California, Hoa Kỳ.
Xu Meihong đã ra điều trần trước Ủy ban tình báo của Thượng viện Mĩ, và viết bài Chinese
Ordeal đăng trên tạp chí Vietnam của CCB Mĩ.
Tác giả đánh giá nguyên nhân, kết quả cuộc chiến theo góc nhìn của người TQ. Và do được lấy
từ một trang web chống cộng nên không loại trừ khả năng trong đó có những chi tiết được cố tình
bịa đặt nhằm bôi nhọ Quân đội Nhân dân Việt Nam. Bài post dưới đây chỉ sửa về mặt từ ngữ cho
phù hợp với cách dùng của người Việt Nam (VD : Trung Cộng sửa thành Trung Quốc, Cao Miên
sửa thành Campuchia...) và giữ nguyên nội dung - chiangshan.
Trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất giữa Pháp và Việt Nam và nhất là trong trận
Điện Biên Phủ, thì sự hỗ trợ của Trung Quốc đối với Việt Nam không những được coi như là vô
cùng quan trọng mà còn có tính quyết định nữa. Qua cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ hai
giữa miền Bắc và miền Nam với đồng minh Hoa Kỳ thì Trung Quốc cũng đã từng tỏ ra rất tích
cực trong việc giúp đỡ nước "anh em xã hội chủ nghĩa" của họ.
Nhưng qua năm 1972, sau khi tổng thống Nixon viếng thăm Bắc Kinh rồi tiếp theo việc hai nước
Trung-Mĩ tiến dần đến bình thường hóa quan hệ ngoại giao, thì quan hệ giữa Việt Nam và Trung
Quốc ngày càng trở nên lạnh nhạt. Sau khi Chu Ân Lai rồi đến Mao Trạch Đông qua đời vào năm
1976, thì những mâu thuẫn giữa đôi bên ngày càng tăng thêm và trở nên trầm trọng.
Đáng ghi nhất là vụ tranh chấp chủ quyền các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ở biển Nam
Hải (biển Đông), vụ chuyển "lậu" những hàng hóa của Trung Quốc qua biên giới phía bắc Việt
Nam, vụ ngược đãi kiều dân Trung Quốc ở Việt Nam và cuối cùng là vụ kình chống chế độ
Khmer Đỏ ở Campuchia do Trung Quốc bảo trợ.
Qua mùa thu năm 1978, Việt Nam phát động chiến dịch khủng bố Hoa kiều và trục xuất họ ra
khỏi Việt Nam, đồng thời Việt Nam ra lệnh oanh tạc các căn cứ của Khmer Đỏ ở dọc biên giới
Việt Nam-Campuchia. Đến tháng 7-1978, Trung Quốc ra lệnh hủy bỏ tất cả các dự án viện trợ
cho Việt Nam. Tháng 11 cùng năm đó, Việt Nam ký hiệp ước hữu nghị và hợp tác với Liên Xô,
địch thủ nguy hiểm nhất của Trung Quốc, đồng thời Việt Nam chấp nhận cho Liên Xô được
quyền sử dụng các căn cứ không quân và hải quân của họ kể cả căn cứ Cam Ranh.
Trước những hành động khiêu khích của Việt Nam, Đặng Tiểu Bình trong chuyến công du
Singapore vào tháng 11-1978, đã tuyên bố như sau về Việt Nam : "Trung Quốc đã từng viện trợ
cho họ 200 tỷ USD, đó là chưa kể mồ hôi và xương máu của dân chúng tôi đã đổ ra để giúp cho
họ, để rồi sự việc ngã ngũ như thế này đây ! Cần phải trừng trị những kẻ vong ân bội nghĩa này
mới được". Và để trả lời những đe dọa của Đặng Tiểu Bình, ngày 24-12-1978, Việt Nam tấn
công CPC, đuổi quân Khmer Đỏ chạy ra biên giới Thái Lan, và chiếm thủ đô Phnom Penh. Đối
với Trung Quốc, hành động tấn công CPC đã chứng tỏ rõ rệt ý đồ muốn làm bá chủ Đông Dương
của Việt Nam, một hành động mà Trung Quốc không bao giờ chấp nhận. Chỉ còn một giải pháp
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
2006 Allrights reseved by Rosea
HD300306010 http:// hoanghai.net.ms
duy nhất để cứu Thái Lan và dạy cho Việt Nam một bài học là dùng biện pháp quân sự, và Trung
Quốc đã cho dàn 225,000 quân dọc theo biên giới Hoa Việt. Ngày 17-2-1979, quân đội Trung
Quốc bắt đầu tấn công. Trọng pháo của Hồng quân nhã đạn dữ dội vào vị trí của quân đội Việt
Nam khiến cho một phóng viên Hoa Kỳ ở trong vùng phụ cận ví cuộc pháo kích này giống như
một cuộc oanh tạc của những pháo đài bay B52, có khác là ở thời gian, vì B52 chỉ oanh tạc
khoảng hơn một phút thôi, còn cuộc pháo kích này kéo dài hơn 20 phút, và sau đó, 85,000 quân
Trung Quốc tràn qua biên giới, xuất phát từ 26 địa điểm khác nhau.
Cuộc chiến tranh "trừng phạt" này kéo dài 16 ngày, từ 17-2, đến 5-3-1979, là một cuộc chiến ác
liệt và đẫm máu, vì chỉ trong một thời gian ngắn mà tổn thất của Hồng quân Trung Quốc - căn cứ
theo bản báo cáo lên thượng cấp - có thể xấp xỉ với số tổn thất của quân đội Hoa Kỳ trong cuộc
chiến tranh Đông Dương thứ hai.
Một sĩ quan Hồng quân Trung Quốc từng tham gia cuộc chiến cho biết : "Đây là một cuộc chiến
đẫm máu và vô cùng man rợ. Những bạn đồng ngũ của tôi - nhưng không tham gia các trận
đánh ở Triều Tiên hay ở Ấn Độ hoặc chưa từng tham gia một cuộc chiến tranh nào khác - đã cho
biết là họ không thể nào tưởng tượng được chiến tranh dã man, tàn độc như vậy. Một số lớn
đơn vị được đưa ra mặt trận đã không được chuẩn bị kỹ càng về tinh thần cũng như về vũ khí,
nên họ đã phải trả một giá rất đắt : đó là mạng sống của họ. Chỉ có một điều duy nhất làm cho
anh em binh sĩ vô cùng hể hả là việc san bằng thị xã Lạng Sơn thành bình địa, mà chính bản
thân tôi đã được chứng kiến tận mắt. Vụ phá hoại này đã làm cho chúng tôi vui lòng vì chúng tôi
muốn trả thù bọn Việt Nam và như một cấp chỉ huy của chúng tôi từng nói "đó là một cái hôn tạm
biệt " để cho bọn Việt Nam luôn luôn nhớ mãi chúng ta. Không phải riêng gì Lạng Sơn, mà tất cả
các thị xã dọc theo biên giới Việt-Trung đều bị san bằng trước khi quân đội chúng ta rút lui khỏi
Việt Nam; và chúng tôi không bao giờ ân hận hết, có đi chăng nữa là rất tiếc không có cơ hội để
san thành bình địa hai thành phố Hà Nội và Hải Phòng".
Mấy tuần trước khi chiến tranh bùng nổ, quân đội Việt Nam đã mở chiến dịch khiêu khích Hồng
quân và sau đây là lời khai của một sĩ quan nhân chứng : "Binh sĩ chúng tôi rất bực tức khi bị
khiêu khích và nghĩ rằng bọn Việt Nam tưởng là chúng cũng mạnh tương đương với chúng ta vì
được xếp vào hàng thứ 3 trên thế giới về quân lực, cho nên giờ đây chúng nghĩ rằng chúng
muốn tác oai tác quái gì cũng được, vì chúng là bá chủ hiện nay trên bán đảo Đông Dương về
lãnh vực quân sự ".
Sau khi chiến tranh chấm dứt, chúng tôi có cơ hội để nghiên cứu và phân tích những bản báo
cáo về hành quân tại các chiến trường thì thấy rằng Hồng quân Trung Quốc đã trả một giá quá
đắt cho cuộc thắng trận này vì chưa được chuẩn bị kỹ càng trước khi tham gia cuộc chiến. Có rất
nhiều đơn vị được đánh thức dậy từ sáng sớm tinh sương để chuẩn bị hành trang xong là lên
đường ra mặt trận. Và qua ngày hôm sau là đã tham gia chiến đấu rồi. Còn đạn dược thì có rất
nhiều lô đã quá hạn sử dụng từ lâu, cho nên lắm khi đạn tuy rơi trúng mục tiêu nhưng lại không
nổ. Trong khi đó thì chúng tôi đã tìm thấy trong những vị trí mà chúng tôi đánh chiếm được của
Việt Nam vô số vũ khí hiện đại được tiếp tế trong thời kỳ chiến tranh Đông Dương thứ hai, còn
đa số đạn dược của chúng ta gửi ra mặt trận được sản xuất trong thập niên 1950. Một số binh sĩ
xử dụng hoả tiễn chống tăng đã bị địch bắn chết vì mặc dầu đạn đã trúng đích rồi nhưng lại
không nổ. Tuy nhiên trong cái rủi lại có chỗ may là nhờ đó mà về sau đồng chí Đặng Tiểu Bình
mới phát động chiến dịch đổi mới vũ khí.
Thật đáng tiếc là chúng ta không chịu rút ra những kinh nghiệm của quân đội Hoa Kỳ trong cuộc
chiến ở Việt Nam. Chúng ta tin rằng Hoa Kỳ đã thua trận vì quân đội của họ không có niềm tin
khi lâm chiến. Chính Chủ tịch Mao đã từng bảo chúng ta là một đội quân dù cho có vũ khí tối tân
mấy đi nữa mà binh sĩ không có niềm tin ở mục tiêu chiến đấu của họ, thì họ không bao giờ
mang lại chiến thắng cho chính họ được.
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
2006 Allrights reseved by Rosea
HD300306010 http:// hoanghai.net.ms
Nếu chúng ta tin và thực sự tin là khi chúng ta dùng hết tiềm năng quân sự của chúng ta vào
cuộc chiến tranh " trừng phạt " này, thì quân đội của Việt Nam sẽ tan vỡ ngay trong vài giờ, và
chúng ta sẽ chiếm Hà Nội, Hải Phòng trong một hay hai ngày mà thôi. Sau khi trừng phạt xong
bọn vong ân bội nghĩa thì chúng ta rút quân về ngay. Nhưng đáng tiếc thay, mọi việc đến với
chúng ta không được suôn sẻ cho lắm. Và chúng ta đã phải trả một giá rất đắt cho cuộc chiến
thắng này. Một trong những vấn đề quan yếu trong cuộc chiến là việc sử dụng sao cho hữu hiệu
đoàn quân cơ giới của chúng ta, căn cứ vào địa hình, địa vật của miền sơn cước Việt Nam cũng
như rút ra những kinh nghiệm mà Hoa Kỳ đã thu thập được trong chiến tranh Đông Dương lần
thứ hai . Nhưng rất tiếc là chúng ta không chịu học hỏi những kinh nghiệm của Hoa Kỳ trong khi
điều động các đoàn quân thiết giáp của chúng ta. Đó là một hành động có thể nói là ngu xuẩn, vì
mặc dầu chúng ta đã điều động các trung đoàn thiết giáp vượt qua biên giới trước tiên mà vẫn
không nắm được ưu thế. Sau đây là một trường hợp điển hình:
Một nữ cán bộ Việt Nam đóng chốt tại một vị trí sát ngay biên giới, đã dùng hoả tiễn (có lẽ là
B40/B41) phá hủy lần lượt từng chiếc thiết giáp của chúng ta và đã phá liền 7 chiếc. Những
trường hợp như thế này đã xảy đến cho rất nhiều trung đoàn, gây thiệt hại rất lớn cho Hồng quân
của chúng ta.
Có những đơn vị thiết giáp tiền sát nhận được lệnh phải vượt qua những chiếc cầu ở biên giới
nhưng cấp chỉ huy không biết ước lượng sức chịu đựng của những chiếc cầu này nên đã cho
đoàn xe chạy qua cầu cùng một lượt - thay vì cho qua từng chiếc một - nên cầu bị gãy và cả
đoàn chiến xa rơi cả xuống sông. Sở dĩ xảy ra những chuyện đáng tiếc như thế là vì các sĩ quan
chỉ huy thiết giáp của chúng ta nghĩ rằng sĩ quan công binh của Việt Nam có trình độ cao, nhưng
sự thật lại không phải thế.
Và đây là một trường hợp thật là hiếm có: một đoàn thiết giáp trên đường tiến quân gặp phải một
ngọn đồi cao, dốc đứng choáng cả lối đi. Viên sĩ quan chỉ huy đơn vị - vì muốn tiến nhanh - nên
đã ra lệnh cho tất cả các xe thiết giáp phải trực chỉ leo thẳng lên đỉnh đồi. Vì độ dốc của đồi quá
cao nên một số xe bị lật ngược trước khi lăn xuống chân đồi. Viên chỉ huy vẫn cứ ngoan cố, cho
rằng vì lái xe kém nên xe mới bị lật, nên vẫn duy trì lệnh tiến quân. Cuối cùng 6 thiết giáp bị lật và
không sử dụng được nữa. Còn viên sĩ quan chỉ huy đơn vị này thì bị truy tố ra trước tòa án của
mặt trận.
Rất nhiều binh sĩ đã bị đưa ra xử trước tòa án mặt trận trong cuộc chiến tranh "trừng phạt " này.
Tuy nhiên chỉ trong quân đội mới được biết những tin tức này mà thôi chứ đối với quần chúng thì
những tin này vẫn bị ém nhẹm.
Sự thiệt hại về nhân mạng cũng như về vũ khí tuy lớn nhưng cũng không lớn bằng sự thiệt hại
về uy tín của Hồng quân, vì mọi yếu kém của quân đội đã được phơi bày ra hết nhất là về
phương diện kỷ luật và tuân hành mệnh lệnh.
Vì bất tuân thượng lệnh mà từng xảy ra chậm trễ trong khi hành quân : tại một ngã tư vùng biên
giới gần thị xã Lạng Sơn, một số lớn xe cộ của nhiều đơn vị đồng thời đến nơi đây cùng một lúc;
và chả có đơn vị nào chịu nhường quyền ưu tiên cho đơn vị nào, nên chỉ trong chốc lát một cảnh
kẹt xe hỗn loạn xảy ra ngay trước mắt (Giá có một đơn vị pháo của ta rót xuống thì hết kẹt xe
ngay). Lúc bấy giờ trong quân đội chúng ta chưa có vụ mang huy hiệu trên quân phục vì cấp lãnh
đạo cho rằng mọi người lính đều ngang nhau, nên không thể nào phân biệt được ai là sĩ quan và
ai là lính. Vì giao thông bị tắt nghẽn quá lâu nên vị tư lệnh lộ quân XLI (quân đoàn 41 ? Có lẽ đơn
vị khác vì quân đoàn 41 TQ tham chiến ở Cao Bằng) bèn đứng ra điều động sự giao thông, giống
như tướng Patton đã từng làm khi ông chỉ huy quân đoàn III ở châu Âu. Nhưng khổ một nỗi là có
một số sĩ quan trẻ ở các đơn vị khác, không thuộc lộ quân XLI nên nhất định không chịu nghe
theo mệnh lệnh của ông và cứ đòi cho bằng được quyền ưu tiên qua trước vì họ không biết ông
ta là ai. Thậm chí có người sỉ vả rằng ông là ai mà dám đứng ra dành quyền điều khiển việc giao
thông tại nơi đây ? Khi ông cho biết mình là tư lệnh lộ quân XLI thì tiếng la ó lại càng to hơn nữa,
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
2006 Allrights reseved by Rosea
HD300306010 http:// hoanghai.net.ms
vì họ cho rằng làm gì có chuyện một vị tư lệnh của một lộ quân lại chịu hạ mình xuống làm nhiệm
vụ của một anh quân cảnh. Rồi trong tiếng la ó lại có xen lẫn tiếng : "Vậy tôi đây là tham mưu
trưởng Hồng quân", hoặc "Còn tôi là Đặng Tiểu Bình thì ông nghĩ sao?". Trong lúc đó, một số sĩ
quan phụ tá tư lệnh lộ quân XLI chạy đến giải thích thêm, nhưng cũng chả có ai chịu nghe và
cuối cùng họ đi đến xô xát nhau làm cho người nào người nấy quần áo bê bết bùn. May sao, khi
đó có một viên sĩ quan cao cấp kịp thời chạy đến và nhận diện được vị tư lệnh lộ quân XLI, và
các viên sĩ quan đang tranh chấp nhau cũng biết mặt viên sĩ quan đến sau cùng, nên mọi việc đã
được dàn xếp ổn thỏa. Cần nên ghi nhớ đây là một chuyện có thật. Và sau đó mọi sự việc đã
được báo cáo lên lãnh tụ Đặng Tiểu Bình. Hai năm sau cuộc chiến tranh " trừng phạt Việt Nam" ,
lãnh tụ Đặng Tiểu Bình ra lệnh mọi binh sĩ của Hồng quân đều phải mang huy hiệu về quân hàm
của họ trên bộ quân phục.
Một sĩ quan khác được phỏng vấn kể tiếp: "Rất nhiều binh sĩ của Hồng quân đã bị thiệt mạng vì
bị chính quân ta pháo kích. Sở dĩ có chuyện đáng tiếc như vậy là vì sĩ quan pháo binh của chúng
ta không được huấn luyện kỹ càng hoặc trong các đơn vị pháo binh không có sĩ quan trinh sát để
cho tọa độ tác xạ, nên xạ thủ chỉ bắn phỏng chừng mà thôi. Nếu đi sâu vào vấn đề thì nguyên do
cũng chỉ tại thiếu sự liên lạc giữa các vị chỉ huy từng vùng của mặt trận".
Vấn đề tiếp liệu cũng gặp nhiều khó khăn vì chúng ta đưa ra mặt trận quá nhiều quân. Chúng tôi
không rõ cấp chỉ huy của quân đội Hoa Kỳ đã rút ra được gì trong khi chiến đấu với quân đội Việt
Nam, chứ theo chúng tôi thì đánh nhau với Việt Nam không cần phải đưa ra thật nhiều quân mà
chỉ cần đưa ra một số đơn vị được huấn luyện thật kỹ càng, nhất là về chuyên môn. Một vấn đề
khác nữa là cấp chỉ huy của chúng ta cho rằng không dùng không quân để yểm trợ cho bộ binh
cũng có thể thắng được Việt Nam; vì Việt Nam có rất nhiều tên lửa SAM do Liên Xô cung cấp,
những tên lửa phòng không này đã từng hạ nhiều pháo đài bay B52 của Hoa Kỳ, nên cấp chỉ huy
của chúng ta mới dè dặt khi nói đến việc sử dụng không quân.
Khi phát động chiến tranh rồi mới thấy là chúng ta thiếu hẵn phương tiện để liên lạc và phối hợp
hành động giữa các đại đơn vị cùng được lệnh tấn công một mục tiêu chung. Đó là trường hợp
của 2 sư đoàn tuy được lệnh tiến chiếm một thị xã nhỏ mà vẫn cứ tưởng là chỉ có riêng đơn vị
của mình được lệnh này mà thôi. Ba sư đoàn được lệnh đánh chiếm Lạng Sơn và ai cũng tưởng
rằng thị xã này có rất nhiều quân Việt Nam trấn giữ. Trước khi tấn công, pháo binh của ta đã nhả
liên tục hàng trăm ngàn viên đạn đại bác trong vòng 8 tiếng đồng hồ vào thị xã này. Nhưng đến
khi vào chiếm Lạng Sơn, chúng ta mới thấy đó là một thị xã bỏ ngỏ và chỉ có khoảng vài trăm
thường dân còn sống sót nhưng đều bị điếc vì cuộc pháo kích, cho nên chúng ta cũng đã "giải
thoát" hộ cho họ. Khi cuộc chiến sắp chấm dứt, chúng ta đã huy động toàn bộ học viên sĩ quan
trường công binh của Hồng quân đến đặt mìn trong từng nhà một của thị xã Lạng Sơn, tất cả
những xác chết của dân chúng đều được chất thành từng đống và cũng được quấn mìn; khi mọi
việc phá hoại được chuẩn bị xong xuôi,ai nấy đều rút ra khỏi thị xã, thì viên chỉ huy mới nhấn nút
cho mìn nổ. Và Lạng Sơn, thị xã lớn nhất của Việt Nam ở vùng biên giới kể từ nay đã trở thành
bình địa và coi như đã bị xóa tên trên bản đồ thế giới.
Trong khi tiến xuống phía nam, một số lớn binh sĩ của chúng ta bị thiếu ngủ ngày này qua ngày
khác, nên khi có lệnh dừng lại để nghỉ ngơi là anh em rất hoan nghênh. Nhưng nào có nghỉ được
phút nào đâu vì du kích Việt Nam chỉ rình có cơ hội đó để phục kích chúng ta. Đó là chưa kể hầm
chông thì có khắp nơi, làm cho binh sĩ của chúng ta thiệt mạng cũng khá nhiều. Có nguồn tin cho
hay là nhiều rừng tre ở vùng Thanh Nghệ Tĩnh đã trở nên xơ xác vì tre đã bị đốn để làm hầm
chông ở trên vùng Việt Bắc nhằm làm chậm cuộc tiến quân của quân ta.
Nạn mìn bẫy cũng làm cho quân ta chết khá nhiều, và vì vậy mà quân ta ít khi bắt tù binh vì gặp
bất cứ dân Việt Nam nào họ cũng đều bắn hạ cho hả cơn giận. Về phía Việt Nam, binh sĩ họ
cũng có những hành động tương tự như quân của chúng ta. Cho nên sau khi ngưng chiến và
trao đổi tù binh thì chỉ có một số rất ít thôi vì đa số thì đã bị giết chết cả rồi.
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
2006 Allrights reseved by Rosea
HD300306010 http:// hoanghai.net.ms
Một trong những điều làm cho binh sĩ của chúng ta bực tức nhất là nữ du kích Việt Nam. Trong
khi tiến phía nam, chỗ nào đã đi qua rồi là chúng ta coi như vùng đó là nơi an toàn, nhưng sự
thật thì không phải như thế vì trên nội địa Việt Nam không có nơi nào có thể gọi là nơi an toàn
đối với chúng tôi cả. Một đoàn xe tăng T59 đi hàng một trên một con đường núi nhỏ hẹp. Gặp
khúc quanh ngặt, xe dẫn đầu phải chạy rất chậm mới có thể quẹo được; nhưng trong khi rẽ thì lổ
châu mai dùng để nhắm vẫn đứng yên bất động, không quay theo hướng của chiếc xe. Và chính
lúc đó là lúc mà tên du kích dùng súng của bắn vào lổ châu mai và giết chết người lái xe. Lái xe
của 7 chiếc xe tăng đều bị giết chết khi họ muốn quẹo xe và cả đoàn cơ giới đành phải dừng lại
vì không có bộ binh đi theo hộ tống, và ai cũng tưởng đã gặp phải sức chống cự của một lực
lượng hùng hậu của địch. Rồi mọi xe tăng đều bắt đầu xạ kích lung tung vì không thấy mục tiêu.
Khi dứt tiếng súng thì cảnh vật lại trở về im lặng với cây rừng. Sau đó một chốc, một đại đội bộ
binh được điều đến để lục soát trong vùng. Cuối cùng họ bắt được một nữ du kích Việt Nam với
một khẩu súng. Viên chỉ huy đoàn xe giận quá bèn cho lột trần cô ta, trói cả tay chân rồi ném ra
giữa đường. Ông ta nhảy lên một chiếc xe và lái xe này chạy qua chạy lại nhiều lần qua cô gái
cho đến khi chỉ còn một mớ thịt bầy nhầy trải trên mặt đường núi. Trong khi đó binh sĩ của ông ta
lên tiếng cổ vũ rầm rĩ vang cả khu rừng. Cảnh tượng này cho ta thấy rằng Hồng quân của chúng
ta không phải thiếu về vũ khí tối tân, mà thiếu sự chuẩn bị về tâm lý khi phát động cuộc chiến
tranh "trừng phạt Việt Nam". Chúng ta cứ tưởng rằng cuộc chiến này sẽ là một cuộc chiến tranh
qui ước và người dân thường không tham gia cuộc chiến như một người lính. Nhưng họ có biết
đâu ở Việt Nam mọi người dân đều là lính cả; và chính điều này đã cho ta thấy là chúng ta chưa
bao giờ chịu rút tỉa những bài học từ kinh nghiệm đã qua của Hoa Kỳ.
Phụ nữ Việt Nam thường hay giả vờ chào đón chúng ta, nhưng khi đến gần thì họ ném lựu đạn
vào chúng ta hoặc cầm lựu đạn nhảy vào giữa đám quân của ta để cùng chết. Có một lần có một
cô gái dân sự Việt Nam bị thương và được đưa vào điều trị tại một bệnh viện dã chiến của Hồng
quân. Khi vào trong bệnh viện cô ta cho nổ quả lựu đạn mang trong người để tự sát và cũng để
giết luôn một số người của chúng ta nữa.
Nói đến sự dã man của cuộc chiến tranh này thì quả thật không có bút nào tả xiết, nhất là khi
binh sĩ Việt Nam đối xử với tù binh Trung Quốc. Mỗi khi chúng bắt được nữ binh của chúng ta,
việc đầu tiên là chúng chia nhau hãm hiếp và sau đó chúng giết họ và quẳng xác lại để cho
chúng ta tìm. Có lúc chúng hãm hiếp xong còn dùng dây kẽm gai xiên qua vú của những nữ tù
binh ta, làm thành từng xâu năm sáu người để cho họ không thể di chuyển được. Có nhiều
trường hợp chúng bắt nữ tù binh của chúng ta ngồi trên những chiếc xiên tre vót nhọn, hoặc khi
bị họ từ chối thì chúng đá cho họ té nhào lên trên những cây xiên này. Binh sĩ của chúng ta khi
nghe kể lại những hành động dã man của quân đội Việt Nam thì họ rất căm thù và sau đó họ
cũng đối xử như vậy với nữ tù binh Việt Nam (rõ ràng đây là một chiêu nhằm kích động binh lính
TQ). Một khi binh sĩ ta đã nổi cơn thịnh nộ thì họ cũng biết bắn, giết, đốt phá nhà cửa như điên,
và họ rất lấy làm vui thích khi có dịp để trả thù lại quân đội Việt Nam.
Trong cuộc chiến tranh "trừng phạt " này, chúng ta đã áp dụng chính sách tiêu thổ đối với Việt
Nam. Ngay trong vùng Lạng Sơn có mỏ "lân tinh", chúng ta đã cho công binh tháo gỡ toàn bộ
máy móc và dụng cụ dùng để khai thác hầm mỏ này mang về Trung Quốc. Những gì không
mang đi được như đường sá, nhà cửa, các con đường hầm, đều bị phá sạch.
Đối với người ngoại quốc, nhất là đối với Hoa Kỳ - nước đã thất bại ở Việt Nam - thì Trung Quốc
đã không thành công trong cuộc chiến tranh "trừng phạt Việt Nam", nhưng sự thật thì ngược lại
vì nhờ có cuộc chiến tranh này mà quân đội Trung Quốc đã rút được rất nhiều ưu khuyết điểm
để ngày càng tiến bộ thêm lên.
Tù binh VN. Đây có lẽ là 1 đơn vị bộ đội địa phương và trang bị không được đồng bộ. Sử dụng
cả súng phóng lựu M79 của Mĩ và tiểu liên K50 (PPSh41) từ thời chiến tranh thế giới.
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
2006 Allrights reseved by Rosea
HD300306010 http:// hoanghai.net.ms
Lính Trung Quốc sửa cầu. Điều này cho thấy cây cầu đã bị lực lượng vũ trang Việt Nam phá để
cản bước quân địch.
Cái này thì phải nhờ mấy bác đi bộ đội vào kiểm tra lại. Tớ đã từng đọc tài liệu mà ở đó người ta
khẳng định: ngay cả một lính nam VN khoẻ mạnh cũng chỉ bắn liên tiếp được 3 đến 4 phát B40,
B41 được thôi. Một phụ nữ VN mà bắn đến 7 phát liên tiếp chỉ là điều viễn tưởng
Đạn B40, B41 có lực phản hồi cực mạnh, đòi hỏi người bắn phải có sức khoẻ rất tốt. Cố bắn đến
phát thứ 4 thì có thể được nhưng bắn xong sẽ bị trào máu mũi, máu mồm... và có khả năng...
ngất xỉu đấy
Cái này thì bác tranhoangtho nói đúng đấy, khó có ai bắn liên tiếp được 7 phát B40/41 được.
Ngay cả khi được trang bị đủ cả mũ che tai, mà thường là trong chiến tranh chả ai đeo cả. Riêng
trong trường hợp mà chiangshan kể trên có thể cô nữ " cán bộ " đó đã bắn cháy 7 xe tăng thật
nhưng mà là trong suốt trận đánh đánh { một trận đánh giữ chốt có thể kéo dài vài ngày }.
TỪ THẮNG MĨ TỚI THẮNG GIẶC BÀNH TRƯỚNG
Minh Tiến, ghi theo lời kể của Nguyễn Văn Loan
chính trị viên đại đội 3, tiểu đoàn 1, đoàn An Lão*.
Tôi vào bộ đội được 8 năm, từ một chiến sĩ trưởng thành lên cán bộ, nhưng chưa bao giờ xa đại
đội 3, tiểu đoàn 1, đoàn An Lão này lấy 1 tháng. Anh em bảo tôi là lính cựu nhất của đơn vị thì
cũng đúng. Năm 1972 tôi tham gia chiến dịch Quảng Trị, giải phóng thị xã Đông Hà**, sau đó
theo đơn vị vào chiến trường Khu 5, đánh Mĩ ở Quảng Nam-Đà Nẵng cho đến khi bước vào
chiến dịch Mùa Xuân đại thắng năm 1975.
Tôi còn nhớ buổi sáng ngày 16-4, hôm đó tôi được lệnh dẫn 2 chiến sĩ trong tổ của mình là
Phạm Văn Mưu và Nguyễn Văn Quân đi chặn địch ở nam thị xã Phan Rang. Chúng tôi mang
theo mỗi người 1 khẩu súng, 6 băng đạn, còn lựu đạn thì giắt kín thắt lưng. Từ sáng đến trưa, 3
chúng tôi vẫn nép mình trong những bờ cây lúp xúp ở 2 bên đường để đợi địch, nhưng chỉ thấy
hàng trăm chiếc xe chở bà con di tản từ Nha Trang chạy về Biên Hoà. Sốt ruột, Quân liền hỏi tôi :
- Anh Loan ạ, biết đâu tụi lính chẳng trà trộn trong đám bà con đó ?
Tôi dặn Quân và Mưu phải hết sức kiên trì, nóng máy là không ăn. Tin trinh sát buổi sáng cho
biết bọn sĩ quan của bộ tư lệnh tiền phương quân đoàn 3 ngụy, sau khi chạy khỏi thị xã vẫn còn
lẩn khuất đâu đây, chưa ra khỏi cánh đồng muối Cà Ná. Bỗng từ một bờ ruộng bên kia, tôi thấy
có một tốp người đang len lỏi theo những hàng cây đi lên đường. Mặt mũi đứa nào đứa nấy hốc
hác, quần áo lấm láp đầy bùn, vẻ mặt sợ hãi. Nhanh chóng, tôi ra lệnh cho Quân và Mưu vận
động sang bên kia đường. Vọt đến trước mặt chúng, tôi cắp ngang khẩu AK, đẩy nấc khoá an
toàn rồi quát :
- Hàng thì sống, chống thì chết ! Giơ tay lên !
Thế là cả bọn 7 tên, không đứa nào bảo đứa nào đều giơ tay lên trời. Được tôi và Quân yểm hộ,
Mưu bước đến chĩa súng vào một tên cao nhưng gầy, mặt vuông, râu lún phún ở cằm rồi hỏi :
- Mày tên gì ?
- Dạ, tôi là Nguyễn Vĩnh Nghi, trung tướng, tư lệnh quân đoàn 3 tiền phương.
- Súng mày đâu ?
- Dạ, thưa tôi không còn súng nữa.
Mưu đưa mắt hỏi tên thứ hai :
- Còn mày ?
- Thưa, tôi là Phạm Ngọc Sang, chuẩn tướng, tư lệnh sư đoàn không quân số 6, phụ tá cho ông
này. Thưa, tôi còn súng, còn đủ cả băng đạn.
Nói xong, hắn đặt khẩu súng ngắn lên lòng bàn tay. Tôi nhanh chóng tiến đến tước ngay khẩu
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
2006 Allrights reseved by Rosea
HD300306010 http:// hoanghai.net.ms
súng và chỉ vào máy điện đài đeo lủng lẳng trước ngực hắn, hỏi tiếp :
- Cái này của mày còn nói được không ?
- Dạ thưa, một đêm ngâm nước, có lẽ hỏng rồi.
Tôi hỏi đến 5 tên khác. Tất cả bọn chúng đều nằm trong bộ chỉ huy quân đoàn 3 ngụy, có tên làm
cận vệ cho tên Nghi. Chúng tôi dẫn chúng về đơn vị thì trời vừa tối. Sáng hôm sau tôi tiếp tục
dẫn tổ của mình đi chặn địch, bắt thêm được 65 tên khác, trước khi đơn vị được lệnh hành quân
tham gia giải phóng Sài Gòn.
Khẩu AK số hiệu 6907 của tôi trong trận đó, giờ còn để ở phòng truyền thống sư đoàn. Hôm bàn
giao nó tôi cứ tiếc mãi. Tôi nói với chính uỷ Biền :
- Chính ủy cứ cho tôi giữ khẩu súng đó. Xa nó thì tôi nhớ lắm !
Nhưng chính ủy không nghe, anh nói :
- Khẩu AK bây giờ không còn là của cậu nữa. Nó là kỉ vật chung của cả sư đoàn. Mình thay cho
cậu khẩu K54 mới toanh. Được chứ ?
Sau ngày miền Nam giải phóng, trong thời gian huấn luyện tôi được đề bạt làm cán bộ trung đội
rồi làm chính trị viên đại đội 3 này.
Tháng 7-1976, tôi được nghỉ phép 15 hôm, đó là chuyến phép đầu tiên trong đời bộ đội. Tôi cưới
vợ trong kì phép đó. Vợ tôi là một bạn gái học sinh cùng quê Lục Ngạn, Hà Bắc, và sau đó chúng
tôi có con.
Đơn vị chúng tôi được lệnh hành quân lên Lạng Sơn làm nhiệm vụ và đã chiến đấu suốt trong
thời gian qua với bọn giặc Bắc Kinh, từ đầu đến cuối chiến dịch.
Buổi sáng ngày 18-2, sau 1 ngày 1 đêm thúc quân lên chiếm các điểm cao ở khu vực Đồng Đăng
không xong, bọn chúng liền đánh chiếm chốt đơn vị tôi. Lúc đó tôi đi với trung đội 2, bên cạnh là
các chiến sĩ bắn trung liên Nguyễn Đình Lập, Nguyễn Văn Bình. Khoảng 8 giờ 20 thì tôi nhận
được thông báo có triệu chứng địch sắp tiến công. Chỉ 1 lúc sau, pháo địch đã bắn gấp vào trận
địa, vào các mỏm 2 bên, sau đó chúng ồ ạt xông lên. Tiếng kèn sừng dê, tiếng kèn đồng ré lên
trong tiếng đạn các cỡ. Chúng đặt khẩu đại liên trên 1 quả đồi Chậu Cảnh bắn chéo cánh sẻ vào
đội hình phòng ngự của 2 trung đội ta. Đạn tuôn xối xả. Tôi hỏi Bình :
- Cậu có cách nào kiềm chế nó không ?
- Báo cáo, có !
Nói xong, Bình cúi rạp người, bắn 1 loạt ngắn trung liên nhưng đạn đi thấp cắm vào đất, bụi mù.
Bình chuyển điểm ngắm, bắn tiếp, trúng ngay 1 tên đỡ băng đạn đại liên. 1 thằng khác nhảy lên
đúng vào lúc tôi vừa xoay khẩu AK về phía nó. Tôi bóp cò, 2 tên địch trúng đạn, chết ngay tại
chỗ. Diệt được khẩu đại liên rồi, đã đỡ 1 phần đạn thẳng nhưng hoả lực cối 60 ly của chúng lúc
này có phần dữ dội và ác liệt hơn. Chúng bắn theo kiểu ô vuông, quả nọ cách quả kia chưa đầy
3m, mảnh bay rào rào. Tôi động viên :
- Cối địch bắn nhiều đó, nhưng phải để mắt vào thằng bộ binh, chớ để nó leo lên.
Tôi nói chưa xong thì phía sau, 3 cái bóng đã nối nhau vụt lên. Đó là những tên lính Bắc Kinh
đầu tiên vượt qua được tầm lựu đạn của chúng tôi, đánh vu hồi. Bỗng tôi nghe tiếng đạn nổ rất
âm và sau đó là tiếng báng súng nện xuống một nhát. Một ý gnhĩ loé lên trong tôi : "Ta hay địch
ở đó ?".
Thì ra chiến sĩ Tĩnh tiểu đội 4 đã đoán trước được thủ đoạn của thằng địch, cậu ta nép mình vào
đoạn ngoặt của hào, giơ súng sát ngực tên đi trước bóp cò rồi quay báng súng nện vào đầu tên
đi sau. 2 tên chết tại chỗ, tên thứ 3 vội vàng tuột xuống dốc như kiểu trẻ con ngã cầu trượt. Cũng
ngay lúc đó, cậu Hợp, trung đội phó trung đội 2 nhanh chóng điều động chiến sĩ mình, nhảy ra
công sự, chia đồi hình đánh vòng sang quả đồi Bằng, tiêu diệt tại chỗ 30 tên lính Trung Quốc
ngay dưới chân dốc.
Đánh từ 8 rưỡi đến 15 giờ thì toàn đại đội tôi đã diệt được hơn 200 tên và thu được 38 khẩu
súng, trong đó có 2 khẩu B41 còn đạn thì 7, 8 hòm gì đó. Được trung đoàn chi viện, sang các
ngày 19, 20 và 21-2, đại đội vẫn đánh địch xung quanh khu vực các ngọn đồi Công Bình, đồi
Bằng, đồi Chậu Cảnh, giành đi giật lại với địch, có ngày chiến đấu đến 20 đợt, một số anh em bị
thương nhưng chốt vẫn vững. Tôi bị thương ở cánh tay vào sáng 22-2, vết thương ra nhiều máu,
không nâng được khẩu AK lên để bắn, có lúc ngất đi và anh em đã đưa tôi về bệnh xá trung
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
2006 Allrights reseved by Rosea
HD300306010 http:// hoanghai.net.ms
đoàn lúc nào không biết. Ba bốn ngày nằm sau hậu tuyến, tôi nhớ đơn vị quá, ai còn ai mất. Đơn
vị chỉ còn anh Quế là cán bộ cấp trưỏng. Tôi nhớ cậu Bình, cậu Lập, cậu Nhất những tay súng
mới vào trận đầu mà đã lập công xuất sắc. Tôi giơ thử cánh tay phải lên tập, ban đầu đau tưởng
ngất đi nhưng rồi dễ chịu dần. Vết thương tuy chưa lành nhưng có phần nào đỡ đau nhức. Tôi
nảy ra ý định rời bệnh xá để lên chốt. Không lên chốt lúc này cảm thấy không sao chịu được,
nhưng nếu tôi đề nghị thì chắc không được mà thêm rắc rối cho các anh phụ trách. Tôi xé mảnh
giấy trong sổ công tác và viết :
"Kính gửi anh Khuynh phụ trách bệnh xá trung đoàn
Trước khi về lại chốt đáng lẽ tôi phải đến gặp các anh nhưng tôi trình bày thì các anh sẽ không
chấp nhận. Tôi nằm ở bệnh xá trung đoàn đúng 4 đếm, 3 ngày rồi. Vết thương ở cánh tay đã đỡ,
tôi không quên ơn đó của các bác sĩ, y tá. Hiện nay anh em đại đội 3 đang chiến đấu trên đồi Địa
Chất, đồi Chậu Cảnh, tôi là 1 chính trị viên, 1 bí thư chi bộ nên phải có mặt ở chốt để động viên,
nắm đơn vị cùng anh em chiến đấu. Lúc bị thương, tôi chưa kịp trao đối công việc với một ai
trong đơn vị. Tôi chịu nhận khuyết điểm với các anh về việc chấp hành chưa tròn nội quy của
bệnh xá nhưng nếu tôi không có mặt ngoài đó lúc này thì tôi cảm thấy chưa tròn trách nhiệm.
Cũng có thể tôi suy nghĩ chưa đầy đủ lắm, nhưng thú thực với các anh, không lên chốt lúc này tôi
cảm thấy không chịu được. Tôi viết thư này và nhờ đồng chí Huấn, chiến sĩ đại đội 3 nằm cùng
lán gửi các anh.
Bệnh xá ngày 26-2-1979
Kính thư
Nguyễn Văn Loan
chính trị viên đại đội 3 tiểu đoàn 1
Tôi gấp lá thư vào 1 cái phong bì, để đầu giường Huấn rồi dặn :
- Các anh ấy có gay quá thì cậu nói giùm là mình sốt ruột quá nên đã ra đi từ đem hôm qua.
Nói xong tôi xốc balô và một mạch theo đường tải đạn đi về ga Tam Lung để lên chốt. Trong màn
sương mờ đục, tiếng súng lặng, thỉnh thoảng nghe tiếng pháo cầm canh của quân ta đang rót lên
khu vực Đồng Đăng. Con đường dốc đi lên điểm cao Công Bình mọi ngày là thế, bây giờ tôi thấy
dài hơn. Dọc đường, tôi tranh thủ quan sát các quả đồi để tìm dấu vết còn lại sau các trận đánh.
Ở đồi Công Bình, tôi đếm được 120 cái vỏ băng cá nhân của lính Trung Quốc vất dọc lối đi
nhuốm đầy máu. Một vài cái cáng làm bằng 2 đoạn tre tươi, giữa quấn dây thừng kiểu mắt cáo,
dùng để khiêng những thằng bị thương hoặc chết.
Tới 1 lối nhỏ ở đồi Chậu Cảnh, tôi nhìn thấy 3 xác lính Trung Quốc nằm úp lên nhau đã bốc mùi
thối.
Đi hết quãng nữa, bỗng tôi gnhe tiếng anh em reo to :
- Chính trị viên lên rồi anh em ơi !
Thế là không ai bảo ai, các chiến sĩ đều chạy ra quây quần lấy tôi. Anh em mừng lắm, 1 chiến sĩ
nói :
- Mấy bữa xa anh, tụi tôi rất nhớ, nhưng đơn vị vẫn kiên quyết đánh thắng giặc Trung Quốc bành
trướng.
Tôi ôm chặt vai Bình và hỏi :
- Bình giết được bao nhiêu tên rồi ?
- Báo cáo, bằng các bạn. Hai chục tên.
Tôi hỏi 1 chiến sĩ khác :
- Các cậu có bắt được tên tù binh nào không ?
- Chưa bắt được anh ạ. Làm thế nào để tóm gọn một lô như hồi anh tham gia chiến dịch Hồ Chí
Minh năm 1975, bắt một lúc 2 thằng tướng.
- Yên chí, nó còn thua đau, còn dốc quân vào đây thì anh em ta còn thời cơ bắt hàng đoàn.
Động viên anh em xong, tôi đi gặp ngay anh Quế để hội ý công việc. Chuẩn bị cho đơn vị đánh
lâu dài.
Anh Quế nói với tôi :
- Mấy bữa anh đi viện, anh em ở nhà đánh tốt lắm, nhất là anh em trẻ. Cậu Bình, cậu Hợp, chỉ
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
2006 Allrights reseved by Rosea
HD300306010 http:// hoanghai.net.ms
qua 1 trận là học được cách đánh của cán bộ, phán đoán đúng ý đồ của địch, diệt chúng từ lúc
chúng mới có ý định tiến công lên chốt. Cả 3 trung đội đánh rất đều.
Tôi cũng nghĩ như thế. Chiến sĩ phần lớn rất trẻ, lại có trình độ văn hoá, có lòng yêu thương và
tự hào dân tộc rất cao, có chí căm thù giặc sâu sắc, tiếp thu kĩ thuật, chiến thuật nhanh. Sức
mạnh 1 người hoá thành 5 thành 10. Sức mạnh của đại đội cũng bẻ gãy hàng chục đợt tấn công
của trung đoàn 870 địch trong suốt 1 tuần đầu chiến đấu.
Hội ý xong, chúng tôi đi tiếp đến từng ngách hào, nơi các chiến sĩ đang sẵn sàng nổ súng.
Không được đụng tới Việt Nam, NXB QĐND 1979.
* : có lẽ là trung đoàn 2, thuộc sư đoàn 3 Sao Vàng.
** : đơn vị giải phóng TX Đông Hà năm 1972 là trung đoàn 36 và 88 thuộc sư đoàn 308. Có lẽ
tiểu đoàn của đ/c Nguyễn Văn Loan sau này đã được nhập vào sư đoàn 3-thời điểm 1972 đang
chiến đấu ở Bình Định.
Lính TQ bị quân và dân Việt Nam bắt là tù binh ở Hoàng Liên Sơn...
Cám ơn các bác đã cho ý kiến.
Như trên em đã nói là chỉ sửa từ ngữ chứ không can thiệp vào nội dung. Theo đúng bài của mấy
bác CCCB mà em lấy về thì viết là "phá một lèo", em đã chỉnh lại là "phá liền", tất nhiên với cách
hiểu là bắn lần lượt và có nghỉ giữa chừng.
Các bác đọc bài về trận phục kích đoàn xe TQ sẽ thấy có tay súng VN đã bắn tổng cộng 6 phát
B41. Trận đánh diễn ra trong khoảng 20 phút. Xin hỏi các bác cựu binh liệu có thể làm được điều
đó không, nếu như bắn 3 phát rồi nghỉ 10 phút mới bắn tiếp và người bắn có thể lực tốt (đặc
công) ?
Xe tăng Trung Quốc bị diệt.
Thiếu xe chở quân buộc xe tăng phải cõng theo bộ binh, đạn dược dự trữ, cách sử dụng kém cỏi
trên địa hình đồi núi phức tạp cộng với sức chiến đấu mạnh mẽ của Việt Nam, đã khiến thiết giáp
Trung Quốc phải nhận những thiệt hại nặng nề : 60% xe tăng tham gia chiến dịch bị cháy hoặc
hỏng (nguồn : www.sino-defence.com).
Lực lượng quân đội Trung Quốc trong chiến dịch 1979 :
Theo www.china-defense.com)
Mặt trận phía đông, do tướng Xu Shiyou (Hứa Thế Hữu), tư lệnh ĐQK Quảng Châu, uỷ viên BCT
đảng TQ chỉ huy, gồm :
- Quân đoàn chủ lực 41 gồm các sư đoàn bộ binh 121, 122, 123.
- Quân đoàn chủ lực 42 gồm các sư đoàn bộ binh 124, 125, 126.
- Quân đoàn chủ lực 43 gồm các sư đoàn bộ binh 127, 128, 129.
- Quân đoàn chủ lực 50 (thiếu) gồm các sư đoàn bộ binh 148, 150.
- Quân đoàn chủ lực 54 gồm các sư đoàn bộ binh 160, 161, 162.
- Quân đoàn chủ lực 55 gồm các sư đoàn bộ binh 163, 164, 165.
- Sư đoàn bộ binh 58 thuộc quân đoàn chủ lực 20.
- Sư đoàn bộ binh độc lập địa phương quân tỉnh Quảng Tây.
- Trung đoàn xe tăng độc lập số 5 thuộc ĐQK Quảng Châu.
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
2006 Allrights reseved by Rosea
HD300306010 http:// hoanghai.net.ms
- Sư đoàn pháo binh số 1.
- Sư đoàn pháo cao xạ 70.
Mặt trận phía tây, do tướng Yang Dezhi (Dương Đắc Chí), tư lệnh ĐQK Côn Minh chỉ huy, gồm :
- Quân đoàn chủ lực 11 gồm các sư đoàn bộ binh 31, 32, 33.
- Quân đoàn chủ lực 13 gồm các sư đoàn bộ binh 37, 38, 39.
- Quân đoàn chủ lực 14 gồm các sư đoàn bộ binh 40, 41, 42.
- Sư đoàn bộ binh 149 thuộc quân đoàn chủ lực 50.
- Sư đoàn bộ binh độc lập địa phương quân tỉnh Vân Nam.
- Trung đoàn xe tăng độc lập số 1 thuộc ĐQK Côn Minh.
- Sư đoàn pháo binh số 4.
- Sư đoàn pháo cao xạ 65.
Theo kí sự lịch sử Sư đoàn Sao Vàng : lực lượng TQ có 9 quân đoàn chủ lực, 4 sư đoàn địa
phương, 1.908 khẩu pháo (chưa kể hoả tiễn).
Theo Ngoại giao Việt Nam của Lưu Văn Lợi :
Lực lượng TQ được huy động từ 5 đại quân khu. Cụ thể :
Hướng Lạng Sơn có quân đoàn 43, 54, 55.
Hướng Cao Bằng có quân đoàn 41, 42.
Hướng Hoàng Liên Sơn-Lào Cai có quân đoàn 13, 14.
Hướng Lai Châu có quân đoàn 11.
Về binh chủng có 2.558 khẩu pháo và 550 xe tăng, xe bọc thép.
Trong cuộc tấn công đầu tiên sáng 17-2-1979, tổng số lính TQ cả bộ binh, pháo binh, tăng-thiết
giáp... là gần 100.000 người.
Theo Chinese Aggression : How and Why it failed của Nguyen Huu Thuy (NXB Ngoại Ngữ, Hà
Nội, 1979) :
Lạng Sơn : 3 quân đoàn.
Cao Bằng : 2 quân đoàn.
Lào Cai : 2 quân đoàn.
Lai Châu : 2 sư đoàn.
Quảng Ninh : 2 sư đoàn.
Hà Tuyên : 1 sư đoàn.
Lực lượng tuyến 1 là 5 quân đoàn và một số sư đoàn độc lập, với 200.000 quân.
Lúc cao điểm lực lượng TQ lên tới 600.000 quân, gồm 44 sư đoàn thuộc 11 quân đoàn của 5 đại
quân khu : Côn Minh, Quảng Châu, Vũ Hán, Thành Đô và Bắc Kinh.
Binh chủng : 550 xe tăng thiết giáp, 480 pháo, 1.260 cối các cỡ.
Theo The Sino Vietnamese War của Li Man Kin, Kingsway International Publications, 1981, quân
TQ có tổng cộng 17 sư đoàn với 225.000 quân.
Theo The Sino-Vietnam War-1979: Case Studies in Limited Wars, Colonel G.D. Bakshi, lực
lượng TQ có 17 sư đoàn tham chiến từ đầu, sau đó tăng lên 25 sư đoàn, tổng cộng 250.000
quân. Lực lượng này được rút từ Dã chiến quân số 3-dã chiến quân lớn nhất của TQ (thực ra chi
tiết này không chính xac, vì từ năm 1955 cấp binh đoàn và Dã chiến quân đã được bãi bỏ, trong
quân giải phóng TQ biên chế cao nhất chỉ còn là cấp quân đoàn).
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
2006 Allrights reseved by Rosea
HD300306010 http:// hoanghai.net.ms
Ngoài ra theo một số tài liệu khác TQ cũng đã chuẩn bị 1.700 máy bay các loại và 211 tàu chiến
của hạm đội Nam hải sẵn sàng phía sau (nhưng không tham chiến).
Lực lượng quân đội Việt Nam trong chiến dịch 1979 :
(Tạm thời chưa thống kê được từ tư liệu VN).
Theo The Sino-Vietnam War-1979: Case Studies in Limited Wars : lực lượng biên phòng và dân
quân bố trí dọc biên giới khoảng 150.000 người. Ngoài ra có 5-7 sư đoàn bộ binh bố trí dọc theo
2 phòng tuyến, từ Yên Bái tới Quảng Yên để bảo vệ Hà Nội và đồng bằng Bắc Bộ.
Theo www.orbat.com :
Tuyến 1 :
Gồm các sư đoàn : 3 Sao Vàng, 304, 325b, 338, 346, 374; các trung đoàn 43, 49, 244, 576.
Mỗi tỉnh có 1 tiểu đoàn địa phương.
Tuyến 2 :
Gồm các sư đoàn 242, 312, 327, 329, 431; các trung đoàn 98, 196; lữ đoàn 38; 27 đại đội công
an vũ trang.
Khu vực HN có quân đoàn 1 và 2.
(chi tiết này không chính xác, quân đoàn 1 đang ở Ninh Bình, còn quân đoàn 2 ở CPC).
Theo The Sino Vietnamese War :
Trung đoàn 12.
Trung đoàn 141.
Trung đoàn 197.
Trung đoàn pháo 68 thuộc sư đoàn 3.
Trung đoàn pháo 188.
Trung đoàn pháo 190.
Trung đoàn pháo 166.
Trung đoàn 42 (sư đoàn 327).
Trung đoàn 192.
Trung đoàn 254 (sư đoàn 354).
Trung đoàn 741.
Trung đoàn công an vũ trang 16.
Trung đoàn thị xã Lào Cai.
Tiểu đoàn 2 độc lập.
Tiểu đoàn 3 độc lập.
Trung đoàn 193.
Trung đoàn 194.
Trung đoàn 95.
Trung đoàn 121 (sư đoàn 345).
Trung đoàn 147 (sư đoàn 316A).
Trung đoàn 148 (sư đoàn 316A).
Trung đoàn 677 (sư đoàn 346).
Trung đoàn 246 (sư đoàn 346).
Trung đoàn 851.
Trung đoàn độc lập 123.
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
2006 Allrights reseved by Rosea
HD300306010 http:// hoanghai.net.ms
Trung đoàn 751.
Trung đoàn pháo 681 thuộc sư đoàn 346.
Thông tin từ www.china-defense.com :
Sư đoàn 325B.
Sư đoàn 338.
Sư đoàn 3.
Sư đoàn 473.
Sư đoàn 304.
Sư đoàn 346.
Trung đoàn 224.
Trung đoàn 567.
Trung đoàn 576.
Trung đoàn 43.
Trung đoàn 49.
Sư đoàn 312.
Sư đoàn 431.
Sư đoàn 327.
Sư đoàn 329.
Sư đoàn 242.
Trung đoàn 196.
Lữ đoàn 38.
Trung đoàn 98.
Sư đoàn 345.
Sư đoàn 332.
Sư đoàn 305.
Trung đoàn 192.
Trung đoàn 123.
Trung đoàn 199.
Trung đoàn 193.
Trung đoàn 741.
Trung đoàn 183.
Sư đoàn 316A.
Bác nào biết tiếng Trung dịch hộ ở đây : http://www.chinadefense.
com/forum/index.php?showtopic=2505&st=40 vì tên các địa danh sau khi dịch bằng
altavista loạn cả lên, em chịu.
Tụi này đang thi midterm, đang thấy oải thì đọc được truyện này của bạn nên lại càng quyết tâm
học.
Nhìn mấy thằng Tàu học cùng lớp mà thấy ghét quá. Nhưng bọn Mỹ ở đây nhiều thằng cũng
ghét tàu không kém gì việt nam đâu.
Tổng kết về cuộc chiến theo các bên :
Phía Trung Quốc :
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
2006 Allrights reseved by Rosea
HD300306010 http:// hoanghai.net.ms
Tuyên bố chính thức do Bộ Tổng tham mưu QGPND TQ đưa ra : tổng thiệt hại của quân giải
phóng TQ là 6.954 chết, 14.800 bị thương và 240 bị bắt. Thiệt hại của Việt Nam là 60.000 chết
và bị thương, 1.600 bị bắt.
Theo The Sino Vietnamese War Trung Quốc tuyên bố đã tiêu diệt được trung đoàn 12, sư đoàn
316A, 345, 346 của Việt Nam.
Báo cáo nội bộ ban đầu của Quân giải phóng TQ tuyên bố đã diệt được và đánh thiệt hại nặng
sư đoàn 316A, 325B, 327, 338, 345, 346 của VN. Tổng cộng 19 trung đoàn và 25 tiểu đoàn, 35
đồn biên phòng (?). Diệt 55.000 người VN và bắt 2.173 người, thu 916 pháo cối, 1.606 RPG, 236
súng tự động, phá huỷ 54 xe tăng thiết giáp, 781 pháo cối (!). Gài lại trên đất VN 8 vạn quả mìn
(một số nguồn khác lại cho rằng số mìn gài lại lên tới hàng trăm ngàn quả).
Quân đoàn 41 diệt được 5.581 lính VN và bắt 320 người.
Quân đoàn 42 diệt được 4.605 lính VN và bắt 389 người.
Quân đoàn 43 diệt được 5.168 lính VN và bắt 101 người.
Quân đoàn 55 diệt được tới 10.786 lính VN và bắt 310 người. Riêng sư đoàn 163 của quân đoàn
này diệt được tới 5.293 lính VN.
(www.china-defense.com)
Phía Việt Nam :
Theo Chinese Aggression : How and Why it failed, Trung Quốc chết và bị thương 62.500 lính,
mất 280 xe tăng thiết giáp, 270 xe quân sự, 115 khẩu pháo cối.
Trong đó :
Mặt trận Lạng Sơn : diệt 19.000 lính TQ, phá hủy 76 xe tăng, thiết giáp và 52 xe quân sự, 95
khẩu pháo-cối và giàn phóng hoả tiễn, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 trung đoàn, 4 tiểu đoàn
(có hơi khác biệt so với kí sự Sư đoàn Sao Vàng).
Mặt trận Cao Bằng : diệt 18.000 lính TQ, phá hủy 134 xe tăng, thiết giáp và 23 xe quân sự, tiêu
diệt và đánh thiệt hại nặng 7 tiểu đoàn.
Mặt trận Hoàng Liên Sơn (Lào Cai) : diệt 11.500 lính TQ, phá hủy 66 xe tăng, thiết giáp và 189
xe quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 4 tiểu đoàn.
Mặt trận Quảng Ninh, Lai Châu và Hà Tuyên : diệt 14.000 lính TQ, phá hủy 4 xe tăng, thiết giáp,
6 xe quân sự, tiêu diệt và đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn.
Tính theo thời gian : trong tuần đầu tiên số thương vong của TQ là 16.000 người, đến 28-2 là
27.000 người, đến 5-3 là 45.000 người, đến 18-3 là 62.500 người.
Các tư liệu khác của VN cơ bản thống nhất với thống kê này.
Đánh giá của phương Tây :
Theo Brassey''''''''''''''''s Encyclopedia of Military History and Biography và The Sino Vietnamese
War :
Trung Quốc : chết 26.000, bị thương 37.000, bị bắt 260, thiệt hại 420 xe tăng thiết giáp, 66 khẩu
pháo cối.
Việt Nam : chết 30.000, bị thương 32.000, bị bắt 1.638, thiệt hại 185 xe tăng thiết giáp, 200 khẩu
pháo cối, 6 dàn tên lửa.
Theo The Chinese People’s Liberation Army: “Short Arms and Slow Legs” : TQ mất 60.000 quân
với 26.000 chết.
Theo B&J : giai đoạn 1979-1982 có hơn 50.000 người chết của cả hai bên.
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
2006 Allrights reseved by Rosea
HD300306010 http:// hoanghai.net.ms
Theo Vietnam in Military Statistics (1995), Michael Clodfelter; WPA3, www.time.com có 20.000
người chết của cả hai bên.
Theo SIPRI 1988, Eckhardt, thiệt hại của cả hai bên là 21.000 về binh sĩ và 9.000 về dân thường.
Theo S&S : TQ có 13.000, VN có 8.000 người chết.
(http://users.erols.com/mwhite28/warstat5.htm#Sino-Vietnamese)
Theo FIGHTING TO MAKE A POINT: POLICY-MAKING BY AGGRESSIVE WAR ON THE
CHINESE BORDERS, quân đội TQ bị thương vong 46.000 người và mất 400 xe tăng.
Một tài liệu hải ngoại đưa ra con số : TQ tổn thất 60.000 quân và 280 xe tăng, VN tổn thất 30.000
người gồm cả bộ đội và dân thường. Không rõ nguồn.
Con số nào đúng ? Điều chắc chắn là cả hai bên đều sẽ cố phóng đại thương vong của đối
phương. Đồng thời, phải thấy rằng hầu hết các tài liệu nước ngoài đều khẳng định quân đội TQ bị
thiệt hại nặng, do đó khó có chuyện VN thiệt hại nặng hơn TQ mà họ lại không đề cập đến.
Theo cá nhân tôi, con số của S&S hợp lí nhất. Có lẽ TQ có 13.000-14.000 và khoảng 25.000 bị
thương, VN có 8.000 người chết và khoảng 15.000 người bị thương, trong đó thiệt hại của lực
lượng vũ trang là khoảng 6.000-7.000 hy sinh, 10.000-12.000 người bị thương.
Một số liệu khác được thành viên chenium (forum china-defense.com) trích lại từ 1 forum khác,
khá gần với phỏng đoán trên :
Tổng quân số tham gia : 558.952 người.
Tổng thiệt hại : 34.551 người.
Trong đó :
* Thiệt hại trong chiến đấu : 32.355 người.
- Chết : 7.814.
- Bị thương : 23.586.
- Mất tích : 955.
* Thiệt hại không trong chiến đấu : 2.196 người.
- Bệnh tật : 1.348.
- Chết vì tai nạn : 61.
- Bị thương vì tai nạn : 787.
Tổng cộng : 8.830 chết và 24.373 bị thương.
Trong đó số quân huy động rất sát với số liệu VN.
---chiangshan---
em đọc cái này bao nhiêu lần rồi mà vẫn ko chán , hehe các bác còn chưa đưa nhiều bức ảnh
quân đội TQ bị chết và bị tan thây ra vì cuộc chiến tranh này , có một số tài liệu còn cho bít rằng
ko phải chỉ có lực lượng vũ trang chiến đấu mà còn có cả người dân , cả nữ và họ chiến đấu rất
anh hùng và thông minh , có cô gái khi bị bắt đã rút chốt lựu đạn ra cùng chết luôn với mấy thằng
Trung Quốc , rồi tóm lại rằng chuyền thống của chúng ta chống lại Trung Quốc ăn vào máu của
mỗi người Việt Nam ta rồi , nhân dịp này ta hãy nhớ về chiến thắng Ngọc Hồi Đống Đa và hãy
luôn luôn cảnh giác trước mọi âm mưu của bọn Trung QUốc
Vì sao toàn là T34 trong khi Việt Nam đã sử dụng T54 trong CT chống Mĩ ? Rõ ràng là trưng bày
1 chiếc T54 sẽ oách hơn là 1 chiếc T34 cổ lỗ. Có thể là quân Trung Quốc đã chiếm được một
doanh trại huấn luyện của bộ đội tăng thiết giáp Việt Nam, và thu được những xe tăng trên ở đó.
Cũng xin bàn thêm về con số thiệt hại 420 xe tăng (TQ) và 185 xe tăng (VN) mà the Sino^=^
§Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
2006 Allrights reseved by Rosea
HD300306010 http:// hoanghai.net.ms
Vietnamese War đưa ra. Đây là con số rất khó tin. Đối với TQ, bản thân VN cũng chỉ công nhận
diệt 280 xe tăng thiết giáp TQ, và con số này phù hợp với mức tổn thất 60% trên 500 xe tăng
tham gia chiến dịch mà TQ đưa ra. Đối với VN, do không kịp chuyển quân lên nên tổn thất xe
tăng chỉ ở những đơn vị sẵn có. Và nếu đã có sẵn khoảng 200 xe tăng thì điều lạ là cả hai bên
không thấy ghi nhận một trận đụng độ xe tăng nào.
Có thể ở đây tác giả ghi nhận thiệt hại của cả xe tăng thiết giáp và các xe quân sự khác -
chiangshan.
Cái chuyện bọn ghẻ thu được xe tăng T34 của ta, có lẽ là ở Lào Cai, tớ ko có nguồn mà nghe
những người cùng quê đi tẩn ghẻ ở mạn đó kể, rằng thị xã Lào Cai ngay sát biên giới, ngay ngày
đầu tiên bọn ghẻ ập vào chiếm luôn , có lẽ sót mấy cái T34 ở trong đó ko chạy kịp.
Hồi hè em lên Cao Bằng chơi, được nghe một ông trước là giám đốc nhà máy nước ở mỏ thiếc
ông ấy kể về đánh nhau hồi 79. Ông ấy lúc đấy được trực tiếp tướng Đàm Văn Ngụy giao nhiệm
vụ từ giám đốc nhà máy chuyển thành chỉ huy đánh nhau. Ông ấy kể nhiều chuyện khá hay.
Theo lời ông ấy thì ngày đầu tiên, bọn Tàu nó cẩu được xe tăng qua biên giới ở khu vực gần
hang Pacbo rồi cứ thế tiến về thị xã Cao Bằng. Ta hoàn toàn bị bất ngờ, không phải vì không biết
là nó tấn công, mà là không ngờ là nó cẩu được xe tăng qua núi rồi đánh ngay vào sau lưng
mình. Thế nên có một số đơn vị bị đánh từ sau lưng, phải phá huỷ vũ khí nặng rồi phân tán rút
lui. Khi xe tăng Tàu tiến vào đến thị trấn Đông Khê thì cả thị trấn đã bỏ chạy hết, chỉ có duy nhất
một cô điện báo viên bưu điện dũng cảm đã ở lại và điện về thị xã Cao Bằng là quân Tàu đã vào
đến Đông Khê.
(các bác cứ nhìn bản đồ Việt Nam là thấy là cả đường số 4 chạy dọc theo biên giới toàn là đồi
núi, ta chỉ phòng thủ ở một số điểm có đường giao thông thôi nên Tàu nó vượt qua núi là chả có
anh bộ đội nào ra cản).
Thị xã Cao Bằng trở nên nháo nhác. Tuy nhiên, khi lực lượng tiền tiêu của Tàu vào đến thị xã thì
chỉ còn duy nhất một chiếc xe tăng (không hiểu sao không có thằng nào đi tùng thiết, chắc bị luộc
hết rồi). Và thế là chiếc xe này đã bị nhân dân Cao Bằng tóm gọn bằng cách đem chăn ra chùm
kín lại, nó không nhìn thấy đường, lại bị quây nên không còn cách nào khác là đầu hàng. Sau đó
thì nhân dân thị xã đã di tản hết. Trong suốt cuộc chiến 79, cả thị xã chỉ có hai người bị giết.
Cũng theo lời ông bác thì chỉ ngay sau đó, không biết chính xác thời gian vì em quên mất, quân
ta đã tổ chức tiến công, tiêu diện gọn một đơn vị xe tăng Tàu. Chuyện hài hước là ở chỗ, phe ta
đi trên xe tải truy kích nó theo đường từ thị xã đến thác Bản Dốc, do là quân phục hai bên màu
na ná nhau, xe tăng nó cũng sơn màu xanh, co sao đỏ vàng nên hai bên cứ tưởng đồng đội.
Thành ra phe ta lại "xin các đồng chí nhường đường". Chạy quá hơn chục km, mãi không thấy
địch, hỏi dân mới biết là mình vừa vượt qua xong. Lúc đấy mới quay lại choảng, luộc không xót
một cái nào. Ông bác mà em kể bảo là sau trận đánh, ông ấy chui vào xe định tháo mấy cái bóng
điện tử (đồ này hồi đấy đắt lắm) nhưng lại đi tháo toàn mấy cái bóng chống sét của xe, về lại phải
vứt đi.
Cũng theo ông bác thì bọn Tàu chết nhiều hơn ta hàng chục lần, nhưng tại vì nó đông quá. Các
bác cứ tính, ta một đại đội 100 người giữ chốt, nó cho một trung đoàn tấn công, thì tỷ dụ mỗi bác
hạ được 10 thằng rồi mới hy sinh thì mình cũng không đủ người để đánh. Chưa kể đạt dược. Mà
bọn Tàu thì xác chúng nó không mang về nước hay chôn đâu, chúng nó xếp thành đống rồi cho
ít thuốc nổ là xong. Kể cả chú nao lính Tàu bị thương hơi nặng một tí thì cho ra sau tường và
quay mặt lại. Dân Cao Bằng thấy xác lính Tàu nhiều quá nên lấy về nấu cao thành Cao Bành
trướng.
Theo tư liệu của phía TQ, hướng Cao Bằng quân PLA đã tập trung toàn bộ trung đoàn xe tăng
của quân đoàn 42 đột phá, chọc thủng phòng tuyến của ta. Do xe TQ sơn cờ hiệu VN nên nhiều
đơn vị ta dọc đường bị bất ngờ (cũng giống trường hợp ở trên). Sau đó phía VN tiến hành phá
đập, tạo thành bức tường nước cắt đôi cuộc tiến quân của gần 200 xe tăng, thiết giáp, xe cơ giới
địch trong mấy ngày liền.
^=^ §Æng Hoµng H¶i ^=^
hoanghai.dang@gmail.com – hoanghai85lc@yahoo.com
2006 Allrights reseved by Rosea
HD300306010 http:// hoanghai.net.ms
Sau topic có tên "Chiến tranh biên giới 79-84" nhưng không thấy mô tả mặt trận Vị Xuyên-Thanh
Thủy (Hà Giang) đâu cả. Các trận đánh không lớn nhưng cũng dai giẳng và ác liệt lắm. Những
người đã tham gia mặt trận Quảng Trị năm 1972 cũng đều công nhận không kém ác liệt!!!
Những người đã từng có mặt tại Vị Xuyên-Thanh Thủy những năm 1983-1985 chắc không bao
giờ quên được nhũng địa danh: Thung lũng Ma, Cối xay thịt, thác gọi hồn cùng với cầu treo
Thanh Thủy và cánh đồng Hang Dơi!
các bác nè nhìn cái chú trong ảnh đội mũ cối nhìn hùng dũng nhỉ , em xem cái ảnh này ttrên
trang web Trung QUốc mà thấy tự hào , hehe nhìn hiên ngang vãi lúa , các bác có công nhận ko
Tôi đọc sách thấy có nói về lính ta ở Qủang Trị 72 , có chú bắn liền 20 phát B40,B41, sau về điếc
mất 3 tháng.
Theo tôi nghĩ, đã xông trận, sống chết gang tất, thấy nó xông lên là có cái gì bắn cái nấy, không
lẽ bắn B40 ,B41 tới phát thứ 4,5 là

Phụ nữ thật sự muốn gì ???Chiến tranh biên giới phía Bắc 1979 và 1984 ( P I)

Write a comment

New comments have been disabled for this post.

May 2013
S M T W T F S
April 2013June 2013
1 2 3 4
5 6 7 8 9 10 11
12 13 14 15 16 17 18
19 20 21 22 23 24 25
26 27 28 29 30 31