Skip navigation.

Những chuyện vặt vãnh ở trên Đời

kỹ sư xây dựng

October 2009

( Monthly archive )

Chợ Vòm

Chợ Vòm

Chiều thu.
Người ta nhìn thấy một người đàn Ông tóc bạc trắng ngồi trong một ngôi nhà cách thành phố hà đông 1km trên đường đi thị trấn Văn điển
Mọi người đều không biết Ông đang nghĩ điều gì?
Ông có 3 đứa con
Hai giai một gái
Vợ Ông mất khi đứa con trai út của Ông cũng đã 20 tuổi.
Như người khác thì thường an phận tuổi già,chăm con gà,trông cháu.Ông ở với thằng con trưởng (Trước khi nó chuyển ngành cũng là trung tá quân đội) đứa con gái của Ông bà lấy chồng cũng được phân nhà ngay sát cạnh nhà ấy- Đứa cháu ngoại cũng đã tốt nghiệp đại học-Đi làm
Thế nhưng Ông lại muốn lấy vợ
Có một lần con dâu của Ông đến nhà người bạn của chồng nó kể:
- Ông thích lấy vợ lắm- Ông là thiếu úy chuyên nghiệp quân y sĩ về hưu-dưng Ông vào làng gần đấy tán một Em (bằng tuổi chồng nó) ở đấy Ông xưng là đại tá về hưu- Em kia cũng chưa lấy chồng gần 50 có Ông đại tá về hưu vợ chết sướng quá theo luôn
Sau mấy hôm ở với Ông “bà mẹ kế của chồng” sang nói nhỏ với con dâu trưởng
- Híc ..Tớ đếch chiều được bố chồng cậu…Ông ấy như “thanh niên”
----------------------------------------------------------------------------------------------
Thằng con giai út của Ông từ ngày mẹ nó chết nó cũng chẳng học hành để có nghề ngỗng chi cả.Vốn nó khéo tay hàng xóm thỉnh thoảng vào phố thấy nó ngồi kẻ biển với đóng khung quảng cáo cho một cửa hàng tư nhân ở Phố Hàn thuyên đối diện với cửa Hàng cà fê Mai
Bố lấy vợ
Anh,Chị cũng yên bề gia thất
Thằng ấy có mấy đứa bạn cùng học lớp 10 buôn bán ở Nga
Thế là nó bảo Anh trưởng nó vay cho mấy chục triệu sang Nga làm ăn
Đâu như phụ giúp mấy thằng bạn có cửa hàng bán quần áo ở Mát
Cách đây mấy năm
Nó cũng về nước một lần. Nó hoàn vốn vay cho Anh ruột nó…Nó khoe với Bố nó là Con dâu út của Ông là mắt xanh mũi lõ
Ông bố chẳng nói gì..Vì ông không giúp được ngay cái nhà Ông đang ở xây riêng đây là thằng con trưởng Ông nó bỏ tiền ra xây…
Ông lo cho vợ kế của Ông cũng đã đủ mệt- Bà ấy dạo này quặt quẹo Ốm suốt- lần nào ốm cũng phiền đến con dâu Ông
--------------------------------------------------------------------------------------
Tự nhiên mấy hôm nay thằng cháu ngoại Ông lướt mạng sau đó về nói với Ông
Ở Nga họ dẹp chợ vòm rồi
Dân buôn bán nhỏ rồi,cửu vạn người Việt nam ấy nhốn nháo chạy tứ tung
Ông nghe và thừ người ra



Thằng con Ông không có nghề ngỗng gì.Không biết hơn chục năm ở bên ấy ..Nó có mánh khóe gì không ? và có biết mà dạt ra chỗ khác kiếm ăn không?
Chứ bây giờ ở nhà kinh tế cũng khó khăn. Giá vàng ,giá đô,giá đất là những thứ đắt và thứ rẻ như mớ rau ,con cá cái tăm cũng tăng giá đến chóng mặt…
Với Lương thiếu úy chuyên nghiệp về hưu như Ông sống thật khó
Hế thằng út của Ông không sống được ở bên ấy mà kéo cả gia đình có cô vợ mắt xanh mũi lõ và mấy đứa cháu nội tóc vàng về thì ….không biết là sau sẽ thế nào?
Ông thừ người…
Ông ra bàn thờ Bà vợ cả của Ông
Ông thắp hương và khấn
- Bà ơi Bà phù hộ cho mấy đứa người Việt Nam ở chợ Che ki Zốp hay chợ Vòm gì đấy nghĩ ra kế sách để sống và tồn tại bên ấy…Bà nhé ..
( Ông nghĩ thế này:
không biết có đúng không? Cái thằng út của Ông tha phương cầu thực bên ấy..có nhẽ kiếm miếng cơm vẫn còn dễ hơn anh chị nó đang kiếm ăn ở nhà bây giờ….)


Im Lặng Đêm Hà nội

Im Lặng Đêm Hà nội

Mười giờ tối.
Người phụ nữ buông bút trên tập bản thảo..Chị vẫn đang viết dở những điều Chị cho là cần thiết.
Đã từ lâu rồi Chị thấy người ta viết những điều mà người đọc xong lại quên đi hoặc không thèm đọc. Cái tác phong viết ấy
Ví dụ như:
Công Vinh được đá chính
Công Vinh khoác áo dự bị
Công Vinh về nước
Của một số người cầm bút viết để nộp cho đủ bài để cơ quan đánh cái gọng vó vào bảng chấm công…Giống như ở quê chị thời bao cấp,nghe tiếng kẻng mọi người vác cuốc ra đồng bổ vài nhát để đội trưởng của hợp tác xã chấm điểm rồi họ lại nháo nhào về….lo việc riêng của gia đình
Thế
Mấy ngày nay chị đang muốn viết về góc khuất của làng quê ngoại thành khi đô thị hóa,khi thôn xã được lên phường.Khi thành phố trực thuộc tỉnh được sang ngang thành quận
Buổi sáng chị làm một cuốc xe từ nội thành ra thị trấn văn điển -Ngược đường 70 Vào Thành phố Hà đông
Chị không thể tưởng tượng nổi
Đường đông nghèn nghẹt toàn ô tô tải trọng lớn ken nhau,bụi bay mù mịt giống hệt bụi chị đã nhìn thấy tại công trình chính nhà máy thủy điện sơn la ở Xã ít Ong huyện Mường la.Khi chi đi thực tế trên ấy
Hôm nay Chị đã tận mắt thấy con đường từ sân vận động Hà đông vào đến Đa sĩ,Mậu lương giống như đường Hồ chí Minh (12a ) Đoạn từ Thạch thành (Thanh Hóa) vào đến Nghĩa đàn (Nghệ an) Của Thời chống mỹ cứu nước…Bụi bậm bùn đất và ổ gà sau mỗi trận bom của không quân Mỹ - Chị nghe Cha chị kể lại như thế
Chị thấy thấp thoáng sau những nền đất đương đổ dở là những túp lều “môi giới bất động sản dựng lên vội vã”
Đóng vai một người mua đất chị vào hỏi
Thế là Chị biết ở đây “đất hơi” đương có giá từ 13-14 triệu??sôi động lắm
Nào ai biết cái vốn đổ vào bất động sản là vốn vay hay vốn tự có??Bao nhiêu người nhu cầu thật,và bao nhiêu người mua để buôn??
Và chiếm bao nhiêu trong tổng số tiền đang lưu thông…? Và người dân sẽ làm gì khi ruộng đất không còn?
Chị đang trăn trở điều đấy…Chữ Chị viết chi chít dập dập xóa xóa trong tập bản thảo…thật lâu vẫn chưa xong
Khuya rồi
Chị dừng bút
Chị ra ngoài sân
Trời lạnh rồi,đã vào 10/10 âm lịch đêm se se lạnh.Mùi mấy cây hoa sữa trồng dưới nhà thơm ngào ngạt.Vẫn còn trăng lưỡi liềm đấy
Trên tầng trên
Bản nhạc pianô “ Thư gửi EliZơ” cũng vừa dứt…Con bé nhà trên ấy mới tròn 15 tuổi ,Tối nay độc tấu mấy bản nhạc nước ngoài để mừng Bố Mẹ nó mới quay lại ở với nhau sau mấy năm ly thân
Ừ chỉ những người đã từng qua đổ vỡ mới biết giá trị của những ngày hạnh phúc bên nhau
Đứa con gái nhà kia cũng cảm thấy điều ấy
Chị như nhìn thấy nó vừa đánh đàn nước mắt vừa rơi lã chã trên bàn phím của chiếc đàn dương cầm..và bàn chân nhấn chiếc bàn đạp của chiếc pia nô cũng không được tự tin
Thế
Chị quay vào nhà
Đứa con gái mấy tuổi của chị sau khi đánh vần xong mấy chữ cái.Ngồi vẽ tranh và nó lăn ra ngủ lúc nào không biết
Chị bế nó vào giường.

Giắt màn xong chị lại ra bàn viết
Nhìn tập bản thảo…chị không viết thêm được nữa. Chị đành viết một bài thể loại “truyền thống” để mai nộp cho đủ gọng vó trong bản chấm công như đồng nghiệp đã
Bâng khuâng
Chị mở một bản nhạc
Người hát hình như cũng đã từng tàn vỡ hạnh phúc như chị- Cô ấy hát hay và đằm thắm quá
Bài Im lặng đêm Hà nội của Nhạc sĩ Phú Quang

Chỉ còn mùi hoa sữa nồng nàn trong căn pḥòng nhỏ
Đêm cuối thu trăng lạnh mờ sương
Chỉ còn nỗi im lặng phố khuya không gian dạ hương sâu thẳm

Từng tiếng chim đêm khắc khoải vọng về

Chỉ còn mênh mông gương hồ,
Hiu hắt soi những cây bàng lá đỏ

Chỉ còn mênh mông gương hồ,
Từng hàng cây góc phố ngây ngô nhìn nhau
Chỉ còn hơi ấm mối tình đầu
Anh đi có đôi lần nhìn lại
Chỉ còn em còn em im lặng đến tê người

(nhấn chuột vào ảnh trên nghe bài hát do ca sĩ Thanh Lam thể hiện)
Chị mơ ước một ngày nào đó
Đứa Con gái nhỏ nhắn của chị đang nằm trong màn kia.Sẽ độc tấu một bản nhạc tình yêu bằng đàn OOC Gan để chúc mừng hạnh phúc của Mẹ nó
Thế
Trăng tháng 10 chưa đến rằm
Chưa tròn hẳn....nhưng đẹp quá

Phố chợ- Xã Mễ sở-Huyện Văn Giang-Tỉnh Hưng yên

Phố chợ- Xã Mễ sở-Huyện Văn Giang-Tỉnh Hưng yên



Và câu chuyện ít người ở đây biết
Nhà văn liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý sinh ngày 19-4-1941 tại Hà Nội trong một gia đình trí thức yêu nước, quê quán thôn Phú Thị, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Thuở nhỏ chị theo gia đình lên Thái Nguyên tham gia kháng chiến. Sau ngày giải phóng Thủ đô, chị về Hà Nội học phổ thông cấp 2 tại trường Trưng Vương, sau đó học Trung cấp Mỏ tại Quảng Ninh rồi theo học khóa báo chí do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức. Tốt nghiệp, chị về làm phóng viên Báo Phụ nữ Việt Nam từ 1961 đến 1968.
Tháng 4-1968, chị gửi lại con nhỏ mới 16 tháng tuổi cho thân mẫu nuôi dưỡng, lên đường vượt Trường Sơn vào chiến trường làm phóng viên Tạp chí Văn nghệ Giải phóng thuộc Ban Tuyên huấn khu 5. Ngày 8-3-1969, trên đường công tác, chị hy sinh trong một trận càn của lính Nam Triều Tiên tại thôn Thi Thại, xã Duy Thành, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam giữa tuổi 28 phơi phới thanh xuân đang tràn đầy sức viết và khát vọng sáng tạo.
Nhà văn liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý được truy tặng giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
Trong số báo này, An ninh Thủ đô trân trọng giới thiệu bài viết “Dương Thị Xuân Quý” cùa nhà văn Nguyên Ngọc, in trong cuốn sách này.

Dương Thị Xuân Quý
Dương Thị Xuân Quý đến chiến trường vào đúng cái thời thật gay go, đen tối: sau Xuân Mậu Thân. Tôi chỉ gặp chị một lần, hôm họp anh em viết văn ở căn cứ Quảng Đà. Chúng tôi họp, bom B52 nổ rền đâu đó sườn núi bên kia. Quý đến muộn một chút.
Chị vừa bị sốt rét rừng, gượng dậy mà đi. Thật tình hôm đấy tôi mong chờ chị đến. Đã nghe tên, quý mến, mà chưa được gặp người. Một cô gái bước vào. Tôi biết ngay là Quý, không rõ vì sao. Chị gầy và xanh quá. Nói là còm cõi cũng không đáng. Duy có đôi mắt, tất cả là ở đây. Đôi mắt vừa đằm thắm, vừa rắn rỏi, vừa thông minh.
Hay đúng hơn, nhìn vào đôi mắt ấy, anh bỗng hiểu rằng trước mặt anh là một con người có thể lặng lẽ suốt đời đi đến mục đích đã tự khẳng định của mình, bất chấp tất cả, không gì ngăn trở được. Suốt buổi họp, Quý không nói một câu nào. Chị chỉ lắng nghe, đôi mắt thông minh quan sát, nhận xét, suy nghĩ. Chị tự cho mình là người mới đến chiến trường, chưa có kinh nghiệm gì, chưa từng trải, phải học hỏi nhiều. Tôi hỏi:
- Quý bớt sốt chưa?
- Đỡ, anh ạ.
- Cháu thế nào?
- Em chưa được tin.
Quý có một nỗi đau, mà tất cả chúng tôi kính trọng: Hai anh chị đi chiến trường, gửi đứa con duy nhất tại Hà Nội.
Dương Hương Ly có câu thơ:
“... Và em gọi đó là hạnh phúc!”
Chúng tôi đều hiểu: ở đây, chiến trường, cái gì chúng tôi khó một, thì Quý khó gấp mười. Giọt máu của chị, một nửa cuộc đời chị, người mẹ, bây giờ thăm thẳm cách xa, một dải Trường Sơn đằng đẵng.
Và chị bảo đó là hạnh phúc.
Lúc này, vì mới vào, vả lại còn yếu, Quý chưa được xuống đồng bằng. Chị vui vẻ lẳng lặng nhận nhiệm vụ “trông nhà” cho anh em đi hoạt động - nghĩa là giữ cơ quan.
Mà thế nào là “trông nhà” những ngày ấy, các bạn có hình dung được không? Lúc này bọn Mỹ càn phá hết sức ác liệt. B52 ngày nào cũng đánh bom vùng căn cứ. Bọn Lữ đoàn 101 Mỹ sục sạo khắp các vùng núi, hang cùng ngõ hẻm.


Hình ảnh cuối cùng của Dương Thị Xuân Quý, tại căn cứ A7 miền tây Quảng Nam, tháng 12-1968

Để bảo tồn lực lượng, ngay trên núi, chúng tôi tránh ở tập trung, phân tán cơ quan thành từng bộ phận nhỏ, thường chỉ năm ba người, đóng rải rác ra mỗi bộ phận một cụm núi cách nhau có khi nửa ngày, một ngày đường, thường gần một con suối rất nhỏ, tốt hơn cả là suối nhỏ đến nỗi không có ghi trên bản đồ quân sự chi tiết nhất.
“Cơ quan” là một căn lều cất trong rừng, cách đó không xa là khu rẫy, nơi chúng tôi trỉa lúa trồng ngô, kiếm cái ăn, giải quyết cái nhiệm vụ mấy năm trước đồng chí Tư lệnh quân khu đã nói: “Phải tồn tại đã”.
Mỗi cơ quan có năm, ba người đi hoạt động đồng bằng, thường chỉ một người “trông nhà”; tôi đã sống những ngày như vậy, tôi biết, một mình thui thủi trong một khu rừng, một cụm núi, hàng tháng trời không thấy bóng, không nghe tiếng nói, bước chân con người, tự nấu lấy mà ăn, sốt rét nằm vùi một mình, tỉnh dậy cầm cái rựa, cái niết ra rẫy chặt cây, xới cỏ, đêm phải ngủ ngay chòi rẫy để đuổi khỉ rừng ra phá lúa, phá dưa (mà cái bọn khỉ mới láu lỉnh ghê gớm, biết mình chỉ có một người, nhất là con gái, chúng quay lại bắt nạt)...
Thế đấy, “giữ nhà”! Hàng tháng, hai tháng, ba tháng, Quý đã nhận cái công việc hậu cần ấy ngay từ buổi mới vào miền Nam. Cô gái Hà Nội, mấy tháng trước đây còn nhí nhảnh ở phố Hàng Bông! Tôi có nhận xét: Sức chịu đựng, khả năng thích ứng của phụ nữ bao giờ cũng lớn hơn bọn đàn ông chúng ta.
Thỉnh thoảng Quý lại ra đi một chuyến, kiếm cái ăn dự trữ cho anh em nay mai về họp hành, sơ kết, tổng kết, chị vào rừng hái trái xoay, sốt rét thế mà cũng một gùi oằn vai, đi ba ngày núi, xuống vùng bán sơn địa Tí, Sé đổi gạo cõng về. Gạo đổ vào kho, để dành. Còn mình thì ăn rau rừng...
Hôm gặp tôi, Quý đưa cho tôi một cái truyện ngắn:
- Anh đọc hộ, em mới viết xong.
Đó chính là truyện ngắn “Hoa rừng”. Quý viết trong những ngày “giữ nhà” một mình, chắc là vừa đuổi khỉ vừa viết.
Cho tôi nói điều này: Thật bất công nếu không gọi chị là một người Anh hùng!
Được đi đồng bằng chuyến đầu, chị lao xuống vùng sâu, rất sâu. Quả thật lần đó bàn chuyện chuyến đi của Quý, tôi rất ngại. Dẫu sao chị chưa quen chiến trường. Kinh nghiệm cho tôi biết những anh em mới vào chiến trường thường dễ hy sinh, và thường hy sinh ngay trên đường đi khi chưa kịp đến điểm công tác.
Trên đường đi, anh bị ba cái bất lợi lớn: Một là chưa hiểu quy luật hoạt động của thằng địch tại chỗ, hai là chưa thuộc địa hình, có bất trắc dễ chạy bậy, ba là cũng chưa quen dân, chưa hiểu nên nương tựa vào đâu lúc cần. Đáng lý ra Quý chưa nên đi sâu quá như vậy... Nhưng chẳng ai ngăn nổi Quý.
Chị đâm sâu xuống tận vùng biển Bình Triều, Bình Dương, rồi vượt qua vùng Hội An sông nước mênh mông, để ra vùng đông Duy Xuyên. Đây là địa bàn của bọn Nam Triều Tiên. Quý đến Xuyên Tân thì gặp càn. Chị ở hầm bí mật. Với Nam Triều Tiên, có một kinh nghiệm, chúng nó càn rất lì, rất dai. Chúng có thể nằm im, mai phục một chỗ, tuyệt không động tĩnh, một tuần, hai tuần. Quý nằm hầm hai ngày, một đêm. Đêm thứ hai, thấy yên tĩnh quá, chị ngoi lên. Một loạt đạn Nam Triều Tiên quật ngã chị.
Quý chết ở vùng sâu, lúc ấy anh em chúng tôi, đồng nghiệp đồng chí của chị, đều ở xa. Không ai nghe được lời nói cuối cùng của chị khi ngã xuống. Riêng tôi, tôi cứ tin lời cuối cùng của chị là một tiếng gọi:
- Con!...
Nguyên Ngọc
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Tưởng nhớ X.Q thân yêu (*)

I
Thôi em nằm lại.
Với đất lành Duy Xuyên
Trên mồ em có mùa xuân ở mãi...
Trời chiến trường vẫn một sắc xanh nguyên
Trời chiến trường không một phút bình yên.

Súng nổ gấp,
Anh lên đường đuổi giặc
Lấy nỗi đau vô cùng làm sức mạnh vô biên
Bước truy kích đạp trăm rào gai sắc
Ôi mũi lê này hôm nay sao sáng quắc
Anh mất em như mất nửa cuộc đời
Nỗi đau anh không thể nói bằng lời
Một ngọn lửa thâm trầm âm ỉ cháy...
Những viên đạn quân thù bắn em, trong lòng anh sâu xoáy
Bên những vết đạn xưa chúng giết bao người.
Anh bàng hoàng như ngỡ trái tim rơi,
Như bỗng tắt vầng mặt trời hạnh phúc
Nhưng em ạ, giây phút này chính lúc.
Anh thấy lòng anh tỉnh táo lạ thường
Nhằm thẳng quân thù, mắt không giọt lệ vương
Anh nổ súng...

II
Hạnh phúc là gì?
Bao lần ta lúng túng
Hỏi nhau hoài mà nghĩ mãi chưa ra
Cho đến ngày cất bước đi xa,
Miền Nam gọi, hai chúng mình có mặt...

Nhớ chăng em, cái mùa mưa đói quay đói quắt
Mỗi bữa chia nhau nửa bát măng rừng
Em xanh gầy, gùi sắn nặng trên lưng
Môi tái ngắt, mái tóc mềm đẫm ướt
Bao dốc cao em cần cù đã vượt
Và mỗi lần ngồi nghỉ, em nhìn anh...
Em nói tới tương lai tươi thắm ngọt lành
Em nói tới những điều em định viết,
Giữa hai cơn đau em ngồi ghi chép
Con sông Giằng gầm réo miên man,
Nước lũ về... Trang giấy nhỏ mưa chan
Em vẫn viết: lòng dạt dào cảm xúc...
Và em gọi đó là hạnh phúc...

Nhớ chăng em ngày mở màn chiến dịch Đông Xuân?
Em lên đường phơi phới bước chân
B52 bom nghìn tấn dội
Kìa dáng em băng rừng bước vội
Vẫn nụ cười tươi tắn ấy trên môi
Thôn Sáu Bình Dương bãi cát sóng dồi
Nắng long lanh trong mắt người bám biển
Giặc mới lui càn khi em vừa đến,
Bà mẹ già kể chuyện chặn xe tăng
Quanh những bờ dương bị giặc san bằng
Đã lại mở những chiến hào gan góc
Những em bé, dưới mưa bom vẫn đi làm đi học
Những vồng khoai ruộng lúa vẫn xanh tràn
Trong một góc vườn cháy khét lửa Napan
Em sửng sốt gặp một nhành hoa cúc.
Và em gọi đó là hạnh phúc...

Như trời biếc gặp mưa xuân
Như chim én say trời
Em mải mê đi, đi giữa bao người
Xuyên Thọ, Xuyên Châu, Xuyên Hà, Xuyên Phú
Những mảnh đất anh hùng quyến rũ
Phút giây đầu đã ràng buộc đời em
Như tự lọt lòng từng biết mấy thân quen
Em nhỏ giao liên, mẹ hiền trụ bám
Cô du kích dịu dàng dũng cảm...
Sông Thu Bồn hằng xáo động tâm tư
Em đã đến tắm mình trên sóng nước...
Sông kể em nghe chuyện đôi bờ thuở trước
Em bàng hoàng kinh ngạc những làng thôn
Và kêu lên khi được thấy cội nguồn
Mỗi sự tích trên đất này thắng Mỹ
Em đã gặp bao anh hùng dũng sĩ...
Đã cùng họ sẻ chia
Cọng rau làng bèo miệng hố bom đìa
Phút căng thẳng khi vòng vây giặc siết
Nỗi thống khổ ngút ngàn không kể xiết
Của một thời nô lệ đau thương!
Em lớn lên bên họ can trường
Giữa bom gào, đạn réo
Em đã thấy được những tâm hồn tuyệt vời trong trẻo
Những con người như ánh sánh lung linh.
Nơi em ra đi giản dị hiểu mình.
Để làm nên những buổi mai đầy nắng
Em bối rối và sững sờ đứng lặng
Vẻ đẹp này em chưa biết đặt tên!
Thức dậy bao điều cao quý trong em
Thức dậy bao điều mới mẻ trong em
Nơi ngọn bút nghe cuộc đời thôi thúc
Và em gọi... đó là hạnh phúc!

III
Em ra đi chẳng để lại gì.
Ngoài ánh mắt cười lấp lánh sau hàng mi
Và anh biết khi bất thần trúng đạn
Em đã ra đi với mắt nhìn thanh thản...
Bởi được góp mình làm ánh sáng ban mai
Bởi biết mình có mặt ở tương lai.
Anh sẽ sống đẹp những ngày em chưa kịp sống,
Sẽ yêu trọn những gì em chưa kịp yêu,
Em trong anh là mùa xuân náo động
Từ phút này càng rực rỡ bao nhiêu...
-1969- (Bùi Minh Quốc)




Kim sơn – Bài viết kỷ niệm ngày thành lập HVKTQS 28/10/1966

Kim sơn – Bài viết kỷ niệm ngày thành lập HVKTQS 28/10/1966


Một buổi chiều mùa thu đầu đông năm 199X
Người Ta thấy một người đàn Ông đi xe Uóat vào thị trấn Kim sơn của Tỉnh Ninh bình
Trông dáng phong trần của Ông,với bộ quần áo vương bùn đất mọi người nghĩ ngay là Ông từ vùng đắp đê lấn biển mạn .Cồn thoi hay ở mấy xã Kim Hải,Kim Trung,Kim đồng không thì chí ít cũng ở mạn nông trường rạng đông bên nghĩa hưng sang
Người đàn Ông tần ngần đi ngắm phong cảnh ở Thị Trấn Phát Diệm





Cùng học lớp sĩ quan với Ông năm xưa có hai tay người ở đây
Sau khi tốt nghiệp một lên biên giới –Quân Khu 2,Người kia vào quân khu 5
Hôm trước 30 năm thành lập học viện Ông không về dự được vì họ đăng báo mời họp lại là đăng trên Báo Quân đội nhân dân. Có người gửi cho Ông quyển kỷ yếu


Vậy là Ông biết có 1 tay cùng học mới ở quân khu 2 về Huyện đội thị trấn này
Sau khi tham quan phong cảnh,ngắm mấy con kênh,mấy nhà đan chiếu…Hàng phố lúc về chiếu
Ông đến Huyện đội hỏi rõ họ tên tay kia
Hắn xuống
Đeo quân hàm thiếu tá ( Hắn châm mấy năm…Tầm này bạn Ông nhiều người đã thượng tá
Người đàn Ông vẫn nhớ
Hắn hát hay lắm,đánh bòng chuyền giỏi lắm….Ngày ở trường tại sân trên đồi 41 Một mình Hắn chấp mấy đứa
Mấy chục năm
Thế là buổi chiều ra quán rượu
Người đàn Ông là khách phải uống với cả Huyện đội bạn của Ông chỉ mỗi người đôi chén
Mớ có mấy tiếng với rượu kim sơn
Men Rượu
Men Tình (Đồng đội)
Ông say không biết giời đất gì nữa
Đêm ấy
Trong căn phòng tầng hai của trụ sở huyện đội.Người đàn Ông tỉnh rượu Ông nhớ rằng trong lúc Uống rượu mấy anh bạn của bạn Ông cũng từ chiến trường về hỏi
-Thế lứa sĩ quan ở trường cùng học với có nhiều người hy sinh ở chiến trường không?
Ông chỉ biết trả lời theo những điều Ông đã đọc trong cuốn kỷ yếu :
là có hai cậu khóa 12 cùng tiểu đoàn với Ông là liệt sĩ là
Nguyễn Xuân Đỏ và Vũ quốc Thất ( Trong đó Vũ quốc Thất là anh hùng quân đội)

Lúc đó Ông không biết
Khóa sau Ông có một người tên là Trần Bá Toàn vào mặt trận 579 Cũng đã trở thành liệt sĩ
Vì lúc đó Chưa có In tơ nét . Nên Ông chưa đọc bài của tay Nguyên khóa sau ( Nó Kém Ông mấy tuổi và là Em họ Ông Thịnh cùng lớp với Ông)
Thế
Hình như bây giờ
Cái thằng Nguyên ấy đang tổ chức tìm mộ Liệt sĩ nguyễn Bá Toàn thì
phải???
Trong danh sách của khoa cũng không ghi Toàn là liệt sĩ?


Thằng Nguyên ấy (chú Em ấy) xem ra thật có tình
---------------------------------
Hôm nay
Đêm đã gần về sáng.Trong trụ sở của huyện đội .
Gió từ con sông Vạc thổi vào lành lạnh Ông đắp chiếc chăn mỏng lên bụng và thiu thiu ngủ
Ừ bạn bè mấy chục năm giời mới gặp lại
Thật buồn và thật nhớ những con người mãi mãi ra đi vì sự bình yên của đất nước

Bài viết nhân ngày 20/10/2009

Bài viết nhân ngày 20/10/2009


Hôm nay ngày 20/10
Sẩm Tối người ta vẫn thấy một người đàn bà lúi húi bên chiếc bàn cân của mấy con mẹ thu mua đồ nhựa,giấy vụn,sắt vụn
Nhà chị ở gần chùa hương
Hàng năm cứ sau tết là chị lại chống đò đưa khách thập phương tới thăm chùa
hết mùa lễ
Chị lại lên Hà nội làm nghề buôn đồng nát (Ấy là nói theo cách của Chị chứ giờ Ta gọi cho mô đen là từ ngoại thành vào nội thành)
Chồng chị mất sớm
Nhà có 2 đứa con gái đi lấy chồng
Đứa con trai út đang đi học
Chị mới xin được cho đứa con gái thứ 3 học xong y tá vào bệnh viện tỉnh HT
Đi làm mấy tháng rồi nhưng làm không có lương…(Chắc chỉ được chia luơng dịch vụ)
Cứ vào ngày chủ nhật
Những nhà neo người thường thuê chị lau sàn nhà và dọn vệ sinh cứ được hai nhà như thế là chị được 60000 đồng
Hôm nay là ngày 20/10 họ bảo là ngàu của phụ nữ việt nam
Trên phố hoa hoét nhiều lắm


Khối đứa được nịnh đầm ( Lũ trẻ sướng thế không biết????)
“Còn duyên kẻ đón người đưa
Hết duyên bới rác sớm khuya như mình…”
Chị lẩm bẩm khi thấy người ta kể chuyên trên phố như thế

Nhưng chị nào có biết
Hàng ngày chị còn mải bới đống rác này với đống rác kia

Tối cân cho cửa hàng thu mua đồng nát là mệt rồi
về nhà cũng chỉ cơm với tý dưa tí rau
Chứ làm gì có bún ốc,với tào phớ mà sợ béo hở giời




Cái “con mẹ béo phì” trong tranh kia …còn xa với chị lắm
Chị đếm đống tiền lẻ
Cho vào cái ruột tượng,quấn cẩn thận quanh bụng … rồi nằm ngủ
Trong mơ
Chị mơ thấy
Mấy năm nữa chị sẽ hoàn lại số vốn..mới bỏ ra xin việc cho con
Chị ngủ.
Mới có gần 8 h tối
ừ hôm nay ngày 20/10/2009 đấy

Sốt xuất huyết

Sốt xuất huyết


Hôm qua Chủ nhật sang Văn lâm - Hưng yên đi làm lại thấy thiếu một người Bác kỹ sư già móc điện thoại gọi bạn:
-Bác hôm nay đi đâu mà không thấy?
Lại được nghe
-Tôi bị sốt xuất huyết đang nằm bệnh viện Thanh Nhàn bệnh nhân đông như họp chợ ..Tôi bị giảm tiểu cầu
Quái
Cuối thu rồi mà muỗi ở đâu ra ,à lắm thế? Cái lũ muỗi này gớm thật -..Chúng “kích cầu” giúp mấy “bà bán cơm” và mấy “mẹ bán thuốc” quanh bệng viện đây…à quên và cho “mấy tay trông xe máy quanh bệnh viện” mà vốn chỉ có mấy cuộn dây thừng
Chẳng nói đâu xa
Dãy nhà Bác ở hôm qua hôm kia cũng có hai đứa bị sốt xuất huyết cấp cứu.Trong đó một đứa bệnh nó chạy vào cả thận… mặt to như cái đĩa tây…với lại thằng ấy không mua bảo hiểm y tế tự nguyên nên giờ mỗi ngày tốn có hơn 2 triệu tiền thuốc (Mà nó nằm đấy hơn chục ngày nay rồi)

Thế
Hôm trước có một nhà cạnh nhà có người bị sốt xuất huyết ấy có một đứa con giai học lớp 6 bị cúm đưa đi BV Bạch Mai. Ở đấy họ xét nghiệm xong rồi đưa thẳng vào phòng cách ly hơn chục ngày.Gia đình không được bén mảng tới
Hàng xóm biết chuyện có hỏi,Mẹ nó bảo Chẳng biết là loại cúm gì?
Nay thằng con ra viện rồi.
Con Mẹ nó được thể nói rằng:
-Hic Hà nội cứ sợ H1N1 thế mà đã thấy lây chết nhiều đâu….Chỉ có sốt xuất huyết đầy Hà nội đấy thôi..Xem ra sốt xuất huyết còn lo hơn H1 N1
Khiếp sốt
Bác kỹ sư già lại phun thuốc muỗi lần nữa (Cho nó chắc-bác mới phun thuốc diệt muỗi cách đây hai tháng)
Thế nhưng
Bên kia hàng rào nhà Bác…có cái kho của một cơ quan.
đận này chẳng biết họ bận gì mà mấy tháng nay không dọn vệ sinh bên ấy cây cỏ mọc um tùm .. hế ai vô ý đi gần… lũ muỗi bay ra đốt lấy đốt để
Cũng chẳng quen ai bên ấy để thỉnh cầu họ dọn vệ sinh môi trường được trong lành
Chỉ thấy mấy thằng (thuê sân đánh ten nít bên ấy) hàng ngày đi qua đấy
Chúng nhìn vào trong và bảo:
-Vẫn thấyTrưởng kho,thủ kho, nhân viên bảo vệ của cái kho gì gì đấy ngồi quanh ấm chè và xem phim Hàn quốc trên tivi có nối truyền hình cáp,ngày này qua ngày kia
Và việc dọn cỏ hay vệ sinh trong kho…không phải việc của mấy đứa ấy
Mới nghĩ đến đấy
Bác kỹ sư cúi xuống nhìn cánh tay, bắp chân của mình trên đám da dẻ dăn deo kia nổi lên thật nhiều đường gân tính mạch xanh xanh
Bác hy vọng:
- Chỉ mong lũ muỗi nó chê… thịt mình tanh tanh để nó đừng có đốt….
Bác sợ vào bệnh viện lắm



Ngoại ô Hà nội

Ngoại ô Hà nội

Vào một ngày mùa thu. Tại cổng nghĩa trang tại một ngôi làng ngoại thành (thuộc tỉnh Hà tây cũ) giáp thủ đô Hà nội
Có mấy người đi vào nghĩa trang

Họ đến viếng mộ Ông Tiến sĩ Bác sĩ đang nằm trong đấy dưới mấy thước đất-Ngày này trong lý lịch của Ông là ngày sinh nhật
Hôm ấy..Ở thế giới thực trên dương gian
Người ta chào đón
Ngày giải phóng Thủ đô và ngày ký ức cầu Long biên


Nhưng ở đây nơi Ông nằm và những người nằm bên cạnh (chắc có lẽ trong số đó có nhiều người đã đi trong đoàn quân tiến về thủ đô cách đây 55 năm -Thật là yên lặng)

Có nhẽ Ông và những người khác có nghe thấy tiếng ầm ì của máy múc,xe đổ cát đương làm khu đô thị mới ngay bên cạnh đấy

Đô thị mới xây nhanh quá.Mới sát nhập về thủ đô mà đã lấn hết ruộng lúa và sắp nuốt chửng nghĩa trang này rồi
Khu nghĩa trang chở nên trũng so với địa hình xung quanh

Bức tường đá bằng cốt 0.0 cao đến thế kia cơ mà - Bằng đầu người chứ chả không à?
Mọi người để đồ lễ ở cách mộ Ông mấy bước chân và vái. Nước ngập thế không vào tận nơi được …Chắc Ông cụ nằm dưới đất cũng không trách đâu nhỉ?
Sau khi thắp hương và cầu khẩn xong
Có một người đàn ông trong đám người đi thăm ấy nói chuyện với người quản trang của Nghĩa trang
Người quản trang bảo :
-Làng giờ hết đất lúa rồi
-Họ đền bù một sào (360 m2) là 42 triệu mấy trăm nghìn .Sau khi san nền và làm cơ sở hạ tầng xong họ bán lại cho người có ruộng được đền bù là 10% trong số diện tích mất đất (cứ một sào được mua 36 m2 với giá là một triệu 2/1m2) thế là những người có suất đấy buôn đi bán lại
Và thế là xung quanh làng có đầy trung tâm môi giới buôn bán nhà đất-Buôn nước bọt
Cái ruộng dưới ảnh đây cũng đã được đền bù rồi

Chắc chắn cái nghĩa trang này mới xây được 10 năm rồi cũng phải cải tạo lại (Tôn lên cao-Hoặc di dời đi chỗ khác)
Đô thị mới ảnh hưởng đến cuộc sống của người đương sống và chỗ nằm của những người đã chết
Thật chứ lỵ
Trên đường về
Người đàn ông nhìn ngôi làng nhà ngói nhà xây bây giờ họ xây san sát

Lại nhìn vào trong ngôi chợ đông đúc
Hàng ngày có thêm nhiều người người bây giờ không có ruộng ra đấy ngồi bán hàng
kiếm sống

Nào có phải riêng chố này
Tại một xã ngoại thành của thành phố Hà đông cũ
Rất nhiều công trình xây dựng cũng đang mọc lên và cũng ngần ấy người không có đất phải tìm kế khác sinh nhai




Hình như Ông có nghe đến ai nói đến mùa lúa hay mùa gặt thì phải

Vâng những hình ảnh đồng lúa và mùa gặt bây giờ đã trở thành hoài niệm
Thực sự xa lắm rồi
Phải thích nghi thôi
Biết làm thế nào bây giờ

Viết đến đây Người đàn Ông buông bút
Ông đi nghỉ
Mai Ông sang Hưng yên đi kiếm cơm sớm.Ông cũng phải thích nghi cuộc sống mới sau khi đã rời quân ngũ
Nhiều người lính cũng giống ông như thế
Hôm nay Trời Hà nội có tý gió mùa đông bắc
Thật dịu
Nhẹ lòng
Tối nay chắc có nhiều người thức làm thơ đây.Mai tha hồ đọc
Thế thôi
Ông buông màn và không nghĩ nữa.

Hình nộm

Hình nộm

Cánh đồng lúa đương chín,lũ chim sẻ ờ đâu bay về mổ thóc,cứ thế này thì công sức mấy tháng giời của Mẹ con nhà nọ là đổ xuống sông xuống bể
Thế nhưng chúng cũng tinh, cứ thấy bóng người là bay mất,không thể nào mà bấy được
Thế là
Mẹ con nhà chị làm mấy hình nộm cắm giữa ruộng

Lũ chim cũng ngu
Nhìn thấy “Hình nộm” sợ quá bay mất
Nhà ấy năm ấy thóc mất ít hơn hẳn so với nhà kia.Sau vụ thu hoạch đó xung quanh các gia đình bắt chước nhà Mẹ con nhà nọ cũng làm con bù nhìn đặt giữa ruộng
Lũ chim sợ quá bay hết lên rừng
Tiếng lành đồn xa

Ở một nước bên Tây
Sau khi sang tham quan ruộng nhà nọ về
họ cũng làm mấy hình nộm đặt ở gần đường. Mấy tay lái xe mới nhìn.. phát khiếp
Tai nạn giảm hẳn
Hôm trước xem tờ báo
Thấy mấy tay buôn trứng gà ở nước nọ tận châu Nam cực cũng “dốt”
-Giá như nó làm mấy hình nộm bằng rơm ..cứ tối đặt ở mấy lùm cây ở gần mấy cái nhà trọ và quán cà fê đèn mờ.. để đuổi "chim bướm".Thì làm gì đến nỗi bị tù 9 tháng...
-Giá như chúng chỉ làm mỗi nghề buôn trứng thì vợ con nó đâu có đứt bữa đến ..9 tháng giời...

Hoài niệm năm ấy-Viết cho người Hà nội đi xa

, , ,

Hoài niệm năm ấy-Viết cho người Hà nội đi xa

Hôm nay đài báo cơn bão số 10 quay lại vào Bắc Bộ- Có nhẽ chiều và tối Hà nội mưa to
Có ngập không nhỉ?

Lại nhớ năm nào Hà nội cũng bị ảnh hưởng của Bão đi qua đường kim liên thấy bên trái giao nhau với đường giải phóng mấy nhà tung hết mái tôn
“ Mùa này quê mình thật nhiều bão
Cơn bão cũ vừa đi cơn bão mới lại vào
Lại thấy nhà đổ,những mẹ già rơi nước mắt
Mắt Em thơ ngơ ngác với những gói mỳ tôm”

Tại thành phố Lép Zig ở một nước ở châu âu xa xôi.Trong một ngôi nhà cao tầng

Có một người đàn bà chăm chú đọc những tin tức viết trên báo họ nóivề bão lũ,nói về thủ đô Hà nội nhân 55 ngày tiếp quản,giải phóng thủ đô


Hà nội của Bà
Mới ngày nào giải phóng thế mà đã 55 năm rồi.Thảo nào Bà nhìn thấy những sợi tóc bạc trên đầu mình…khi soi gương vào mỗi buổi sáng
Vậy đấy
Có những người đi trong đoàn quân về giải phóng năm xưa và cả những có rất nhiều người đã đi xa...cả bây giờ nữa nhỉ
Người phụ nữ.. nhắm mắt
Bà nhớ lại buổi giao lưu với nhà thơ Phan Vũ về “Bài thơ Em ơi Hà nội phố”
Ở đõ người ta biết
Ở tuổi 82 nhà thơ Phan Vũ cũng mới trưng bày các tác phẩm tranh và bắt đầu in tập thơ đầu tiên
(Có người chưa nổi tiếng cũng in thơ để cho nổi tiếng
Có người tác phẩm thơ của mình nổi tiếng quá rồi mới in thơ
Đấy là cách chọn lựa-Tụ do mà)



Em ơi! Hà Nội – Phố , Gửi những người Hà Nội đi xa


1.
Em ơi! Hà Nội – Phố!
Ta còn em mùi hoàng lan
Ta còn em mùi hoa sữa
Tiếng giày ai gõ nhịp đường khuya
Cọt kẹt bước chân quen
Thang gác thời gian
Mòn thân gỗ
Ngôi sao lẻ lạc vào căn xếp nhỏ
Ta còn em chấm lửa
Điếu thuốc cuối cùng
Xập xòe
Kỷ niệm
Một con đường
Một ngôi nhà
Khuôn mặt ai
Dừng trong khung cửa
Những phong thư bỏ quên trong hộc tủ
Không tên người
Không tên phố
Người gửi không tên

Ta còn em chút vang động lặng im
Âm âm tiếng gọi
Trong lòng phố
2.
Em ơi! Hà – Nội – Phố!
Ta còn em một gốc cây
Một cột đèn
Ai đó chờ ai
Tóc cắt ngang
Xõa xõa bờ vai
Khung trời gió
Con đường như bỏ ngỏ
Ta còn em khăn choàng màu tím đỏ
Thoáng qua
Khuôn mặt chưa quen
Bỗng xao nỗi nhớ
Mỗi góc phố một trang tình sử…
3.
Em ơi! Hà Nội – Phố
Ta còn em rì rào cơn mưa trong chùm lá

Những hạt nhỏ đọng trên mái tóc ai
Vòm trên cao chuông hồi đổ xuống
Nhà thờ Cửa Bắc
Tan chiều lẻ
Kinh cầu còn mãi ngân nga
Ta còn em đôi mắt buồn
Dõi cánh chim xa
Trên hè phố
Chàng Trương Chi ôm ghi ta
Ngước lên cửa sổ
Một ngày nào
Trống không ô cửa
Tiếng hát Trương Chi
Ngợi một số nhà
Ta còn em chuyến tàu khuya
Về muộn
Vào ga…
4.
Em ơi! Hà Nội – Phố!
Ta còn em quả bóng lăn
Một mình
Trên sân cỏ

Cơn mưa đầy
Chiếc thuyền giấy
Lang thang không bến đỗ
Thằng bé qua tuổi thơ
Bâng khuâng
Vội vã
Ta còn em cánh cửa sắt
Lâu ngày không mở
Nhà ai
Qua đó
Nao nao nhớ tuổi học trò…
Ta còn em dàn thiên lý chết khô
Những chùm hoa năm xưa
Thơm hò hẹn
Cuộc tình đầu ngọt lịm
Nụ hôn còn xanh mãi trên môi…
5.
Em ơi! Hà Nội – Phố!
Ta còn em chuỗi cười vừa dứt
Chút nắng còn le lói vườn hoang
Vàng vàng cỏ
Cô gái nhẹ buông rèm cửa
Chàng mũ lệch diễu qua
Lời tỏ tình hôm qua dang dở
Ta còn em ngày vui cũ
Tàn theo mùa hạ
Tiếng ghi ta
Bập bùng tự sự
Đêm kinh kỳ
Thuở ấy
Xanh lơ…
6.
Em ơi! Hà Nội – Phố!
Ta còn em tiếng tíc tắc
Chiếc đồng hồ quả lắc
Đong đưa tiếng gõ



Nhịp thời gian chậm chậm
Già nua
Căn phòng trống
Mệt nhoài
Bóng lẻ…
Ta còn em hồi chuông thu không
Ngôi chùa ẩn trong cùng hẻm phố
Những hàng xoan
Nghiêng nghiêng bóng đổ

Đầu ngõ sót cây hoa gạo
Từng sợi nắng rớt theo màu đỏ
Lao xao tiếng phố
Chợ chiều còn họp giữa kinh đô
7.
Em ơi! Hà Nội – Phố!
Ta còn em những ngọn đèn mờ
Trên nóc cao
Vầng trăng không tỏ
Tiếng rao đêm lạc giọng
Ơ hờ…

Người phu xe đợi khách bến đầu ô
Lão Mozart hàng xóm
Bẩy nốt cù cưa
Từng đêm quên giấc ngủ
Ta còn em tiếng dương cầm
Căn nhà đổ
Lả tả trên thềm
Bettho và Sonate Ánh Trăng
Những nốt nhạc thiên tài
Lẫn trong mảnh vỡ…
Ta còn em một đam mê
Một vật vã
Một trống không
Tan tiệc
Tàn đêm
Cô gái áo đỏ Venise
Một bản valse dang dở
Những phím đàn long
Một kiếp người
8.
Em ơi! Hà Nội – Phố!
Ta còn em khuya phố mênh mông
Vùng sáng nhỏ
Bà quán ê a chuyện nàng Kiều
Rượu làng Vân lung linh men ngọt
Mắt cô nàng lúng liếng đong đưa
Ngơ ngẩn bao chàng trai Kẻ Chợ
Cơn say quá dài thành một cơn mê…
9.
Em ơi! Hà Nội – Phố!
Ta còn em tiếng hàng ngày
Reo vang đường phố
Lanh canh! Lanh canh!
Tia hồi quang chớp xanh
Toa xe điện lên đèn
Người soát vé áo bành tô sờn rách
Ai xuống Bờ Hồ!
Ai đi Mơ!
- Ai lên Bưởi!
Lanh canh! Lanh canh!
Một đời cơ nhỡ
Trăm ngày ngược xuôi
Đầm đìa nước mắt
Á vã mồ hôi
Bơ gạo mớ rau
Mẹ về buổi chợ
Lanh canh! Lanh canh!
Lá bánh, củ khoai
Đàn con trên bến đợi
Cuối ngày…
10.
Em ơi! Hà Nội – Phố!
Ta còn em ráng đỏ chiều hôm
Đôi chim khuyên gọi nhau trong bụi cỏ
Đôi guốc bỏ quên bên ghế đá
Gã đầu trần thơ thẩn đường mưa…
Ta còn em một tên thật cũ Cổ Ngư
Chiều phai nắng
Cành phượng vĩ la đà
Bông hoa muộn in hình ngọn lửa
Chiếc lá rụng
Khởi đầu nguồn gió
Lao xao sóng biếc Tây Hồ
Hoàng hôn xa đến tự bao giờ?
Những bước chân tìm nhau
Vồi vội
Cuộc tình hờ bỗng chốc nghiêm trang
Ta còn em ngọn gió Nghi Tàm
Thoáng mùi sen nở muộn
Nhớ Nhật Tân
Mùa hoa năm ấy
Cánh đào phai

11.
Em ơi! Hà Nội – Phố!
Ta còn em cơn mưa rào
Lướt nhanh qua phố
Chiếc lá bàng đầu tiên nhuộm đỏ
Cô gái băng qua đường
Chợt hồng đôi má
Một chút xanh hơn
Trời Hà – Nội
Hôm qua…
Ta còn em cô hàng hoa
Gánh mùa thu qua cổng chợ
Những chùm hoa tím
Ngát
Mùa thu…
12.
Em ơi! Hà Nội – Phố!
Ta còn em con đê lộng gió
Dòng sông chảy mang hình phố
Cô gái dựa lưng bên gốc me già
Ngọn đèn đường lặng thinh
Soi bờ đá…
Ta còn em mùa nước xuống
Mất tăm bãi giữa sông Hồng
Chiếc bè nứa xuôi qua
Lặng lờ
Không ghé bến
Con tàu nhổ neo
Hồi còi vọng
Như tiếng than dài
Mùa này trăng vỡ trên sông
Trong trống vắng
“Người đi! Ừ nhỉ! Người đi thực”
Lữ khách khẽ ngâm bài Tống biệt:
“Mẹ thà coi như chiếc lá bay…”* (Thơ Tâm Tâm)
Ta còn em hàng cây khô
Buồn như dãy phố
Người bỏ xứ
Quay nhìn lần cuối
Những ngôi nhà cửa đóng
Im lìm
13.
Riêng về một chuyến đi
Ga Hàng Cỏ.
Những người con lên đường.
Năm khởi chiến.
Tuổi mười tám trong hàng quân.
Đầu đời
Chàng trai nhận nụ hôn
Từ cô gái trong đám đông đưa tiễn…
Con tàu chở những người lính.
Về phía Nam vào trận đánh
Chở theo những căn phố.
Những con đường.
Chở nguyên Hà Nội nhớ.
Với những vết môi hôn.
Anh lính trẻ
Nghe tiếng súng khai trận.
Bỗng bàng hoàng.
Bỡ ngỡ.
Và thật bất ngờ.
Như nhận nụ hôn…
14.
Em ơi! Hà - Nội - Phố!
Ta còn em chiếc xe hoa



Qua hàng liễu rủ
Cánh tay trần trên gác cao
Mở cửa
Mùa xuân trong khung
Chi chít chồi sinh
Ước vọng in hình xanh nõn lá
Giò phong lan
Điệp vàng rực rỡ
Ta còn em tà áo nhung huyết dụ
Bờ môi ai đậm đỏ bích đào
Những gót son dập dìu đại lộ
Đất nghìn năm còn mãi dáng kiêu sa
Phường cũ lưu danh người đẹp lụa
Bậc thềm nào in dấu hài hoa?
15.
Em ơi! Hà - Nội – Phố!
Ta còn em đường lượn mái xong
Ngôi chùa cổ
Năm tháng buồn
Xô lệch ngói âm dương
Ai đó còn ngồi bên gốc đại?
Chợt quên vườn hồng đã ra hoa
Chợt quên bên đường ai đứng đợi
Cuộc đời có lẽ nào
Là một thoáng bâng quơ!
Ta còn em một cuộc tình
Như một bài thơ
Những nỗi đau gặm mòn phận số
Nhật ký sang trang
Ghi thêm nỗi khổ…
16.
Em ơi! Hà – Nội – Phố!
Ta còn em lô xô màu ngói cũ
Hiu quạnh
Một ngôi nhà
Oa oa tiếng khóc



Ngày ra đời
Cơn bão rớt
Bẻ gãy cành đa
Con vừa lớn
Chinh chiến gần kề trước cửa
Ta còn em con đường đá
Lát bao niên kỷ
Cây si kia trồng tự năm nào
Nhớ ngày tóc mẹ chưa lên trắng
Chiều nay qua sông vắng
Xót mẹ
Còng lưng
Gánh tuổi già…
17.
Em ơi! Hà – Nội – Phố!
Ta còn em đồng kim ngân
Đổ đầy Hàng Mã
Lâu đài, cung điện
Võng, lọng, ngựa, xe
Những hình nhân
Xênh xang áo mão
Một thời nào
Ngập ngụa vàng son…
Ta còn em mớ tro than
Tiền giấy
Mịt mù mặt phố
Che mờ
Khổ ải
Trần gian…
18.
Em ơi! Hà Nội – Phố!
Ta còn em một Hàng Đào
Không bán đào
Một Hàng Bạc
Không còn thợ bạc
Đường Trường Thi
Không chõng, không lều
Không ông nghè bái tổ vinh quy…
Ta còn em tiếng gọi trong đêm
Người trở về
Ngày đi nặng nỗi mang tên Nhớ
Ngày về căn nhà không biển số
Phố cũ quên tên
Quên bậc đá
Quên mái hiên
Quên cây táo trồng ngay trước cửa
Ngày về ra rả tiếng ve kêu
Thuở ấu thơ thỏa thích leo trèo
Võng trưa hè
Đung đưa kẽo kẹt
“À ơi! Trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền
Nước mắt như mưa”
Bài tập đọc
Quốc văn giáo khoa thư
Bà ru cháu ngủ…
Người về sững sờ bên cánh cửa
Tiếng ơi à
Gọi lại
Mảnh đời quên…
14.
Em ơi! Hà Nội – Phố!
Ta còn em mảnh đại bác
Ghim trên thành cũ
Một thịnh
Một suy
Thời thế
Lẽ hưng vong
Người qua đó hững hờ bài học sử…
Ta còn em dãy bia đá
Danh hình hội tụ
Rêu phong gìn giữ nét tài hoa
Ly rượu đầy xin rót cúng cha
Nghìn lạy cúi đầu thương đất tổ|
Bến nước nào đã neo thuyền ngự|
Đám mây nào in bóng rồng bay?
Ta còn em những giấc mơ nhã nhạc
Lộng lẫy xiêm y
Nhịp nhàng dáng vóc cung phi
Những hào kiệt
Những anh hùng
Vương triều nào cũng có
Những kẻ cuồng si cũng có
Thắp nén hương nhớ người tri kỷ
20.
Riêng về một tháng chạp
Tháng Chạp
Những tàng cây óng ả sợi tơ hồng
Tháng Chạp thủ thỉ lời hò hẹn:
“Qua đợt gió mùa
Ngày mai ta đến với mùa xuân”
Tháng Chạp
Đôi tân hôn chưa kịp nằm chiếu hoa
Đã có tên
Trong vòng hoa tưởng niệm
Một tháng Chạp
Trắng khăn sô
Khói hương dài theo phố…
Một tháng chạp.
Thâu đêm.
Mẹ.
Thức.
Hóa vàng…
Một tháng chạp.
Con đường ngẩn ngơ.
Dãy phố không người ở.

Những khu trắng nằm trong tọa độ.

Sập gụ, tủ chè, sách xưa và bình cổ.
Dòng chữ phấn ghi trên cánh cửa.
Tất cả thí thân cho một mất một còn.
Lời thề ra đi của những người bỏ phố.
“Còn một đống gạch còn trở về nhà cũ!”
Một tháng chạp.
Phường phố rền vang còi hụ.
Cái chết đến tự phương nào?
Cách Thủ đô bao nhiêu cây số?
Giọng Hà Nội thật ngọt ngào.
Cô gái loan truyền tin bão lửa.
“Hỡi đồng bào! Hỡi đồng bào!”
Một tháng Chạp
Cây bàng mồ côi mùa đông
Mảnh trăng mồ côi mùa đông
Nóc phố mồ côi mùa đông…
Tháng Chạp năm ấy in hình bao mộ phố
21.
Em ơi! Hà Nội Phố!
Ta còn em năm cửa ô
Năm cửa gió.
Cơn bão những năm nào qua đó.
Ba mươi sáu phố
Bao nhiêu mảnh vỡ?
Ta còn em một màu xanh thời gian
Một màu xám hư vô
Chợt nhòe
Chợt hiện
Chợt lung linh ngọn nến
Chợt mong manh
Một dáng hình
Nhợt nhạt vàng son
Đậm đầy cay đắng
Người nghệ sĩ lang thang hoài trên phố.
Bỗng thấy mình không nhớ nổi con đường!
Một mình giữa bóng chiều sa
Tha hương ngay trước cổng nhà mẹ cha
Một bầu trời mãi mãi của riêng ta
Những nỗi buồn vô cớ!
Luôn luôn rất lạ
22.
Em ơi! Hà Nội – Phố!
Ta còn em cánh nhạn chao nghiêng.
Những giọt sương nhòa bóng điện.
Mặt nước Hồ Gươm.
Bỗng nhiên trở lạnh.
Tháp Rùa bóng nước lung linh.
Người ra đi mang theo buốt giá.
Áo choàng không ấm thân gầy.
Cầm bằng theo cánh chim bay.
Người đi tìm khoảng cách
Để quên.
Nào biết nơi phương xa.
Tháng năm mài mòn.
Đôi mắt nhớ.
23.
Em ơi! Hà Nội – Phố!
Ta còn em mùi hoàng lan
Ta còn em mùi hoa sữa
Tiếng giày ai gõ nhịp đường khuya
Thang gác thời gian
Mòn thân gỗ,
Ngôi sao lẻ lạc vào căn xếp nhỏ…
Ta còn em!
Ta còn em
Ta còn em
Mãi mãi…./.
12/1972

Vâng bài thơ này dành cho những người Hà nội đi xa
Tháng 12 năm 1972 ấy tại một vùng quê ở một tỉnh sát Hà nội mọi người ai cũng nhìn thấy
Hàng nghìn người Hà nội lũ lượt đi sơ tán,họ đi bộ những người cha dắt xe đạp thồ quần áo,những người mẹ gánh gồng,trẻ con đi chân đất áo sống nhàu nát,mặt mũi bơ phờ
Đoàn người ấy qua chỗ Bà ở (cũng là chỗ sơ tán ) mấy ngày mới dứt
Rồi cũng những ngày năm ấy
Có một Ông Bác sĩ
Trong một ngày về thăm đội cái mũ sắt liên xô to tướng Ông Bác sĩ kể lại cho vợ con về sự tích chiếc mũ sắt là
Hôm nọ sau một ca mổ cấp cứu cho một đồng chí đại úy tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn tên lửa SAM
Đại diện Ban chỉ huy tiểu đoàn biếu Ông thầy giáo-Bác sĩ một chiếc mũ sắt…Để thầy còn có cơ hội mổ cho thương binh
Và lúc bấy giờ
Ông Phan Vũ viết bài thơ Em ơi Hà nội phố để người Ta chép vào sổ tay
Người ta ngâm ,người ta đọc để có nghị lực chịu đựng qua các trận bom của Tàu bay Mỹ
Vâng như thế
Người Hà nội giờ như thế nào?
Lâu rồi
Bà chưa về
Bà chắc chắn rằng Người Hà nội chung tay giúp đỡ những người dân vùng mới trải qua cơn bão,nhiệt tình tự nguyện
Giống như những người dân ngoại thành ngày xưa dang tay rộng mở đón người thành phố về sơ tán trong những năm máy bay mỹ phá hoại
Thế rồi
Bà nhấn chuột vào bức ảnh dẫn đến đường link của bản nhạc “Em ơi Hà nội Phố” Do nhạc sĩ Phú Quang viết nhạc
Bà nghe Ca sĩ Mỹ Linh hát và mong đến ngày trở về Hà nội


Mẹ kể Cho Con nghe :Truyện Con Chuột và con Mèo

, , ,

Mẹ kể Cho Con nghe :Con Chuột và con Mèo


Một buổi Tối người Ta nhìn thấy có hai Mẹ con ngồi một chiếc bàn.Người Mẹ lấy một cuốn truyện kể cho con nghe
Giọng chị mượt mà dịu dàng..có pha một tý giọng miền trung...nhè nhẹ
Truyện rằng:
Đời xưa, chuột vốn là một giống linh thiêng ở trên Trời. Trời giao cho nó giữ chìa khóa kho lúa của Trời. Nhưng chuột không phẳi là một loài đáng tin cẩn, nhân được giữ chìa khóa, cứ tự do đến mở kho rủ nhau vào ăn rả rích hết bao nhiêu là lúạ
Sau Trời biết, lấy làm giận lắm, mới không cho ở trên ấy nữa, mà đuổi xuống dưới hạ giới để săi giữ chìa khóa lẫm thóc của nhân gian.
Nhưng chứng nào tật ây, chuột lại rủ nhau vào lẫm thóc của người rả rích ăn. Đến nỗi người phải có câu than rằng:
"Chuột kia xưa ở nơi nào ?
Bây giờ ăn lúa nhà tao thế này ?"
Người lấy làm chua sót, mới kêu với vua Bếp. Vua Bếp liền bắt nó đem lên trả Trời và tâu rằng:
- Chuột này vốn chuột ở của Thiên Đình, sao Thiên Đình lại thả nó xuống hạ giới ?
Trời nói:
- Ừ, trước nó ở trên này giữ chìa khoá kho thóc cho ta. Nhưng bởi nó ăn vụng lúa của ta nhiều lắm nên ta không cho nó ở trên này, ta đuổi nó xuống hạ giới cho nó giữ lúa ở dưới ấy.
Vua Bếp tâu:
- Nó xuống dưới ấy nó lại ăn vụng lúa hại lắm. Bẩm,chúng con thiết nghĩ: luá của Trời nhiều, lúa của người ít, của Trời nó ăn không hết chớ của người nó cứ ăn mãi, thì có ngày hết cả, người đến chết đói mất. Vậy xin bây giờ lại cho nó lên trên Trời là phải.
Trời nghe tâu phán rằng:
- Không được. Ta đã đuổi nó đi cho xa, ta không thể cho nó lại lên đây nữạ Thôi bây giờ có mộ cách: Ta có một con mèo, ta cho chú đem xuống hạ giới để khi nào chuột nó ăn lúa của nhân gian thì thả mèo ra cho nó bắt chuột, rồi gầm gừ ăn chuột đi, còn khi nào nó không muốn bắt chuột, thì chú bảo con mèo cứ kêu với con chuột rằng: "Nghèo, nghèo, nghèo", thì chuột nó cũng sợ mà nó phải bỏ đi.
Vua Bếp lạy tạ, rồi lại đem chuột va đem cả mèo xuống hạ giới. Rồi cứ theo như lời dậy mà làm.
Thành tự bấy giờ khi nào mèo rình bắt được chuột, rồi mèo cứ "gầm gừ, gầm gừ" và khi nào không bắt được chuột thì mèo ngồi kêu: "nghèo, nghèo, nghèo, nghèo"...
Nhưng lúc ấy, mèo hồi nghĩ lại, mới lấy làm giận vua Bếp, vì tại vua Bếp mèo mới phải xuống dương gian. Nhưng không làm gì nổi vua Bếp, mèo chỉ còn cách thỉnh thoảng vào giữa đống tro bếp mèo để phóng uế.
--------------------
Nghe truyện xong con chỉ vào tờ Báo vứt trên bàn hỏi Mẹ:
-Thế Ông này có phải là chuột không hở Mẹ?
- Mẹ quay ra nhìn quanh

Và nói thật nhỏ với con-chỉ mấp máy đôi môi
hình như đó không phải là câu trả nhời:
-Là Con hỏi Mẹ đó nhá

(Nhấn chuột vào ảnh để xem )

Truyền thuyết Hồ Gươm -Kỷ niệm 55 Giải phóng thủ đô

Truyền thuyết Hồ Gươm -Kỷ niệm 55 Giải phóng thủ đô

(Nhấn chuột vào ảnh Trên nghe Ca sĩ Đăng Dương hát bài truyền thuyết Hồ gươm của Nhạc sĩ Hoàng Phúc Thắng)

Vào thời giặc Minh đặt ách đô hộ ở nước Nam, chúng coi dân ta như cỏ rác, làm nhiều điều bạo ngược, thiên hạ căm giận chúng đến xương tủy. Bấy giờ ở vùng Lam Sơn, nghĩa quân nổi dậy chống lại chúng, nhưng trong buổi đầu thế lực còn non yếu nên nhiều lần nghĩa quân bị thua. Thấy vậy, đức Long Quân quyết định cho nghĩa quân mượn thanh gươm thần để họ giết giặc.

Hồi ấy, ở Thanh Hóa có một người làm nghề đánh cá tên là Lê Thận. Một đêm nọ, Thận thả lưới ở một bến vắng như thường lệ. Khi kéo lưới lên, chàng thấy nằng nặng, trong bụng mừng thầm, chắc là có cá to. Nhưng khi thò tay vào bắt cá, Thận chỉ thấy có một thanh sắt; chàng vứt luôn xuống nước, rồi lại thả lưới ở một chỗ khác. Thận không ngờ thanh sắt vừa rồi lại chui vào lưới mình. Chàng lại nhặt lên và ném xuống sông. Lần thứ ba, lại vẫn thanh sắt ấy mắc vào lưới. Lấy làm quái lạ, Thận đưa lại mồi lửa nhìn xem. Bỗng chàng reo lên:
- Ha ha! Một lưỡi gươm!

Về sau Thận gia nhập đoàn quân khởi nghĩa Lam Sơn. Chàng hăng hái gan dạ không nề nguy hiểm. Một hôm chủ tướng Lê Lợi cùng mấy người tùy tòng đến nhà Thận. Trong túp lều tối om, thanh sắt hôm đó tự nhiên sáng rực lên ở xó nhà. Lấy làm lạ, Lê Lợi cầm lấy xem và thấy có hai chữ "Thuận Thiên" khắc sâu vào lưỡi gươm. Song tất cả mọi người vẫn không biết đó là báu vật.

Một hôm, bị giặc đuổi, Lê Lợi và các tướng chạy tháo thân mỗi người một ngả. Lúc đi qua một khu rừng, Lê Lợi bỗng thấy một ánh sáng lạ trên ngọn cây đa. Ông trèo lên mới biết đó là một cái chuôi gươm nạm ngọc. Nhớ đến lưỡi gươm ở nhà Lê Thận, Lê Lợi rút lấy chuôi giắt vào lưng.

Ba ngày sau, Lê Lợi gặp lại tất cả các bạn trong đó có Lê Thận. Lê Lợi mới đem chuyện bắt được chuôi gươm kể lại cho mọi người nghe. Khi đem tra gươm vào chuôi thì vừa như in.
Lê Thận nâng gươm lên ngang đầu nói với Lê Lợi:
- Ðây là Trời có ý phó thác cho minh công làm việc lớn. Chúng tôi nguyện đem xương thịt của mình theo minh công, cùng với thanh gươm thần này để báo đền Tổ quốc!

Từ đó nhuệ khí của nghĩa quân ngày một tăng tiến. Trong tay Lê Lợi, thanh gươm thần tung hoành khắp các trận địa, làm cho quân Minh bạt vía. Uy thanh của nghĩa quân vang khắp nơi. Họ không phải trốn tránh như trước mà xông xáo đi tìm giặc. Họ không phải ăn uống khổ cực như trước nữa, đã có những kho lương của giặc mới cướp được tiếp tế cho họ. Gươm thần đã mở đường cho họ đánh tràn ra mãi, cho đến lúc không còn bóng một tên giặc trên đất nước.

Một năm sau khi đuổi giặc Minh, một hôm Lê Lợi - bấy giờ đã làm vua - cưỡi thuyền rồng dạo quanh hồ Tả Vọng trước kinh thành. Nhân dịp đó, Long Quân sai rùa vàng lên đòi lại thanh gươm thần. Khi chiếc thuyền rồng tiến ra giữa hồ, tự nhiên có một con rùa lớn nhô đầu và mai lên khỏi mặt nước. Theo lệnh vua, thuyền đi chậm lại. Ðứng ở mạn thuyền, vua thấy lưỡi gươm thần đeo bên người tự nhiên động đậy. Con rùa vàng không sợ người, nhô đầu lên cao nữa và tiến về phía thuyền vua. Nó đứng nổi trên mặt nước và nói: "Xin bệ hạ hoàn gươm lại cho Long Quân!".

Vua rút gươm quẳng về phía rùa vàng. Nhanh như cắt, rùa há miệng đớp lấy thanh gươm và lặn xuống nước. Gươm và rùa đã chìm đáy nước, người ta vẫn còn thấy vật gì sáng le lói dưới mặt hồ xanh.

Từ đó hồ Tả Vọng bắt đầu mang tên là hồ Gươm hay hồ Hoàn Kiếm.

Chợ Kệ -Thường Tín-(Hà Tây cũ)

Chợ Kệ -Thường Tín-(Hà Tây cũ)









Website counter




Download Opera, the fastest and most secure browser
October 2009
M T W T F S S
September 2009November 2009
1 2 3 4
5 6 7 8 9 10 11
12 13 14 15 16 17 18
19 20 21 22 23 24 25
26 27 28 29 30 31