Friday, 23. October 2009, 11:51:21
Phố chợ- Xã Mễ sở-Huyện Văn Giang-Tỉnh Hưng yên



Và câu chuyện ít người ở đây biết
Nhà văn liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý sinh ngày 19-4-1941 tại Hà Nội trong một gia đình trí thức yêu nước, quê quán thôn Phú Thị, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Thuở nhỏ chị theo gia đình lên Thái Nguyên tham gia kháng chiến. Sau ngày giải phóng Thủ đô, chị về Hà Nội học phổ thông cấp 2 tại trường Trưng Vương, sau đó học Trung cấp Mỏ tại Quảng Ninh rồi theo học khóa báo chí do Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức. Tốt nghiệp, chị về làm phóng viên Báo Phụ nữ Việt Nam từ 1961 đến 1968.
Tháng 4-1968, chị gửi lại con nhỏ mới 16 tháng tuổi cho thân mẫu nuôi dưỡng, lên đường vượt Trường Sơn vào chiến trường làm phóng viên Tạp chí Văn nghệ Giải phóng thuộc Ban Tuyên huấn khu 5. Ngày 8-3-1969, trên đường công tác, chị hy sinh trong một trận càn của lính Nam Triều Tiên tại thôn Thi Thại, xã Duy Thành, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam giữa tuổi 28 phơi phới thanh xuân đang tràn đầy sức viết và khát vọng sáng tạo.
Nhà văn liệt sĩ Dương Thị Xuân Quý được truy tặng giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
Trong số báo này, An ninh Thủ đô trân trọng giới thiệu bài viết “Dương Thị Xuân Quý” cùa nhà văn Nguyên Ngọc, in trong cuốn sách này.

Dương Thị Xuân Quý
Dương Thị Xuân Quý đến chiến trường vào đúng cái thời thật gay go, đen tối: sau Xuân Mậu Thân. Tôi chỉ gặp chị một lần, hôm họp anh em viết văn ở căn cứ Quảng Đà. Chúng tôi họp, bom B52 nổ rền đâu đó sườn núi bên kia. Quý đến muộn một chút.
Chị vừa bị sốt rét rừng, gượng dậy mà đi. Thật tình hôm đấy tôi mong chờ chị đến. Đã nghe tên, quý mến, mà chưa được gặp người. Một cô gái bước vào. Tôi biết ngay là Quý, không rõ vì sao. Chị gầy và xanh quá. Nói là còm cõi cũng không đáng. Duy có đôi mắt, tất cả là ở đây. Đôi mắt vừa đằm thắm, vừa rắn rỏi, vừa thông minh.
Hay đúng hơn, nhìn vào đôi mắt ấy, anh bỗng hiểu rằng trước mặt anh là một con người có thể lặng lẽ suốt đời đi đến mục đích đã tự khẳng định của mình, bất chấp tất cả, không gì ngăn trở được. Suốt buổi họp, Quý không nói một câu nào. Chị chỉ lắng nghe, đôi mắt thông minh quan sát, nhận xét, suy nghĩ. Chị tự cho mình là người mới đến chiến trường, chưa có kinh nghiệm gì, chưa từng trải, phải học hỏi nhiều. Tôi hỏi:
- Quý bớt sốt chưa?
- Đỡ, anh ạ.
- Cháu thế nào?
- Em chưa được tin.
Quý có một nỗi đau, mà tất cả chúng tôi kính trọng: Hai anh chị đi chiến trường, gửi đứa con duy nhất tại Hà Nội.
Dương Hương Ly có câu thơ:
“... Và em gọi đó là hạnh phúc!”
Chúng tôi đều hiểu: ở đây, chiến trường, cái gì chúng tôi khó một, thì Quý khó gấp mười. Giọt máu của chị, một nửa cuộc đời chị, người mẹ, bây giờ thăm thẳm cách xa, một dải Trường Sơn đằng đẵng.
Và chị bảo đó là hạnh phúc.
Lúc này, vì mới vào, vả lại còn yếu, Quý chưa được xuống đồng bằng. Chị vui vẻ lẳng lặng nhận nhiệm vụ “trông nhà” cho anh em đi hoạt động - nghĩa là giữ cơ quan.
Mà thế nào là “trông nhà” những ngày ấy, các bạn có hình dung được không? Lúc này bọn Mỹ càn phá hết sức ác liệt. B52 ngày nào cũng đánh bom vùng căn cứ. Bọn Lữ đoàn 101 Mỹ sục sạo khắp các vùng núi, hang cùng ngõ hẻm.

Hình ảnh cuối cùng của Dương Thị Xuân Quý, tại căn cứ A7 miền tây Quảng Nam, tháng 12-1968
Để bảo tồn lực lượng, ngay trên núi, chúng tôi tránh ở tập trung, phân tán cơ quan thành từng bộ phận nhỏ, thường chỉ năm ba người, đóng rải rác ra mỗi bộ phận một cụm núi cách nhau có khi nửa ngày, một ngày đường, thường gần một con suối rất nhỏ, tốt hơn cả là suối nhỏ đến nỗi không có ghi trên bản đồ quân sự chi tiết nhất.
“Cơ quan” là một căn lều cất trong rừng, cách đó không xa là khu rẫy, nơi chúng tôi trỉa lúa trồng ngô, kiếm cái ăn, giải quyết cái nhiệm vụ mấy năm trước đồng chí Tư lệnh quân khu đã nói: “Phải tồn tại đã”.
Mỗi cơ quan có năm, ba người đi hoạt động đồng bằng, thường chỉ một người “trông nhà”; tôi đã sống những ngày như vậy, tôi biết, một mình thui thủi trong một khu rừng, một cụm núi, hàng tháng trời không thấy bóng, không nghe tiếng nói, bước chân con người, tự nấu lấy mà ăn, sốt rét nằm vùi một mình, tỉnh dậy cầm cái rựa, cái niết ra rẫy chặt cây, xới cỏ, đêm phải ngủ ngay chòi rẫy để đuổi khỉ rừng ra phá lúa, phá dưa (mà cái bọn khỉ mới láu lỉnh ghê gớm, biết mình chỉ có một người, nhất là con gái, chúng quay lại bắt nạt)...
Thế đấy, “giữ nhà”! Hàng tháng, hai tháng, ba tháng, Quý đã nhận cái công việc hậu cần ấy ngay từ buổi mới vào miền Nam. Cô gái Hà Nội, mấy tháng trước đây còn nhí nhảnh ở phố Hàng Bông! Tôi có nhận xét: Sức chịu đựng, khả năng thích ứng của phụ nữ bao giờ cũng lớn hơn bọn đàn ông chúng ta.
Thỉnh thoảng Quý lại ra đi một chuyến, kiếm cái ăn dự trữ cho anh em nay mai về họp hành, sơ kết, tổng kết, chị vào rừng hái trái xoay, sốt rét thế mà cũng một gùi oằn vai, đi ba ngày núi, xuống vùng bán sơn địa Tí, Sé đổi gạo cõng về. Gạo đổ vào kho, để dành. Còn mình thì ăn rau rừng...
Hôm gặp tôi, Quý đưa cho tôi một cái truyện ngắn:
- Anh đọc hộ, em mới viết xong.
Đó chính là truyện ngắn “Hoa rừng”. Quý viết trong những ngày “giữ nhà” một mình, chắc là vừa đuổi khỉ vừa viết.
Cho tôi nói điều này: Thật bất công nếu không gọi chị là một người Anh hùng!
Được đi đồng bằng chuyến đầu, chị lao xuống vùng sâu, rất sâu. Quả thật lần đó bàn chuyện chuyến đi của Quý, tôi rất ngại. Dẫu sao chị chưa quen chiến trường. Kinh nghiệm cho tôi biết những anh em mới vào chiến trường thường dễ hy sinh, và thường hy sinh ngay trên đường đi khi chưa kịp đến điểm công tác.
Trên đường đi, anh bị ba cái bất lợi lớn: Một là chưa hiểu quy luật hoạt động của thằng địch tại chỗ, hai là chưa thuộc địa hình, có bất trắc dễ chạy bậy, ba là cũng chưa quen dân, chưa hiểu nên nương tựa vào đâu lúc cần. Đáng lý ra Quý chưa nên đi sâu quá như vậy... Nhưng chẳng ai ngăn nổi Quý.
Chị đâm sâu xuống tận vùng biển Bình Triều, Bình Dương, rồi vượt qua vùng Hội An sông nước mênh mông, để ra vùng đông Duy Xuyên. Đây là địa bàn của bọn Nam Triều Tiên. Quý đến Xuyên Tân thì gặp càn. Chị ở hầm bí mật. Với Nam Triều Tiên, có một kinh nghiệm, chúng nó càn rất lì, rất dai. Chúng có thể nằm im, mai phục một chỗ, tuyệt không động tĩnh, một tuần, hai tuần. Quý nằm hầm hai ngày, một đêm. Đêm thứ hai, thấy yên tĩnh quá, chị ngoi lên. Một loạt đạn Nam Triều Tiên quật ngã chị.
Quý chết ở vùng sâu, lúc ấy anh em chúng tôi, đồng nghiệp đồng chí của chị, đều ở xa. Không ai nghe được lời nói cuối cùng của chị khi ngã xuống. Riêng tôi, tôi cứ tin lời cuối cùng của chị là một tiếng gọi:
- Con!...
Nguyên Ngọc
-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------
Tưởng nhớ X.Q thân yêu (*)
I
Thôi em nằm lại.
Với đất lành Duy Xuyên
Trên mồ em có mùa xuân ở mãi...
Trời chiến trường vẫn một sắc xanh nguyên
Trời chiến trường không một phút bình yên.
Súng nổ gấp,
Anh lên đường đuổi giặc
Lấy nỗi đau vô cùng làm sức mạnh vô biên
Bước truy kích đạp trăm rào gai sắc
Ôi mũi lê này hôm nay sao sáng quắc
Anh mất em như mất nửa cuộc đời
Nỗi đau anh không thể nói bằng lời
Một ngọn lửa thâm trầm âm ỉ cháy...
Những viên đạn quân thù bắn em, trong lòng anh sâu xoáy
Bên những vết đạn xưa chúng giết bao người.
Anh bàng hoàng như ngỡ trái tim rơi,
Như bỗng tắt vầng mặt trời hạnh phúc
Nhưng em ạ, giây phút này chính lúc.
Anh thấy lòng anh tỉnh táo lạ thường
Nhằm thẳng quân thù, mắt không giọt lệ vương
Anh nổ súng...
II
Hạnh phúc là gì?
Bao lần ta lúng túng
Hỏi nhau hoài mà nghĩ mãi chưa ra
Cho đến ngày cất bước đi xa,
Miền Nam gọi, hai chúng mình có mặt...
Nhớ chăng em, cái mùa mưa đói quay đói quắt
Mỗi bữa chia nhau nửa bát măng rừng
Em xanh gầy, gùi sắn nặng trên lưng
Môi tái ngắt, mái tóc mềm đẫm ướt
Bao dốc cao em cần cù đã vượt
Và mỗi lần ngồi nghỉ, em nhìn anh...
Em nói tới tương lai tươi thắm ngọt lành
Em nói tới những điều em định viết,
Giữa hai cơn đau em ngồi ghi chép
Con sông Giằng gầm réo miên man,
Nước lũ về... Trang giấy nhỏ mưa chan
Em vẫn viết: lòng dạt dào cảm xúc...
Và em gọi đó là hạnh phúc...
Nhớ chăng em ngày mở màn chiến dịch Đông Xuân?
Em lên đường phơi phới bước chân
B52 bom nghìn tấn dội
Kìa dáng em băng rừng bước vội
Vẫn nụ cười tươi tắn ấy trên môi
Thôn Sáu Bình Dương bãi cát sóng dồi
Nắng long lanh trong mắt người bám biển
Giặc mới lui càn khi em vừa đến,
Bà mẹ già kể chuyện chặn xe tăng
Quanh những bờ dương bị giặc san bằng
Đã lại mở những chiến hào gan góc
Những em bé, dưới mưa bom vẫn đi làm đi học
Những vồng khoai ruộng lúa vẫn xanh tràn
Trong một góc vườn cháy khét lửa Napan
Em sửng sốt gặp một nhành hoa cúc.
Và em gọi đó là hạnh phúc...
Như trời biếc gặp mưa xuân
Như chim én say trời
Em mải mê đi, đi giữa bao người
Xuyên Thọ, Xuyên Châu, Xuyên Hà, Xuyên Phú
Những mảnh đất anh hùng quyến rũ
Phút giây đầu đã ràng buộc đời em
Như tự lọt lòng từng biết mấy thân quen
Em nhỏ giao liên, mẹ hiền trụ bám
Cô du kích dịu dàng dũng cảm...
Sông Thu Bồn hằng xáo động tâm tư
Em đã đến tắm mình trên sóng nước...
Sông kể em nghe chuyện đôi bờ thuở trước
Em bàng hoàng kinh ngạc những làng thôn
Và kêu lên khi được thấy cội nguồn
Mỗi sự tích trên đất này thắng Mỹ
Em đã gặp bao anh hùng dũng sĩ...
Đã cùng họ sẻ chia
Cọng rau làng bèo miệng hố bom đìa
Phút căng thẳng khi vòng vây giặc siết
Nỗi thống khổ ngút ngàn không kể xiết
Của một thời nô lệ đau thương!
Em lớn lên bên họ can trường
Giữa bom gào, đạn réo
Em đã thấy được những tâm hồn tuyệt vời trong trẻo
Những con người như ánh sánh lung linh.
Nơi em ra đi giản dị hiểu mình.
Để làm nên những buổi mai đầy nắng
Em bối rối và sững sờ đứng lặng
Vẻ đẹp này em chưa biết đặt tên!
Thức dậy bao điều cao quý trong em
Thức dậy bao điều mới mẻ trong em
Nơi ngọn bút nghe cuộc đời thôi thúc
Và em gọi... đó là hạnh phúc!
III
Em ra đi chẳng để lại gì.
Ngoài ánh mắt cười lấp lánh sau hàng mi
Và anh biết khi bất thần trúng đạn
Em đã ra đi với mắt nhìn thanh thản...
Bởi được góp mình làm ánh sáng ban mai
Bởi biết mình có mặt ở tương lai.
Anh sẽ sống đẹp những ngày em chưa kịp sống,
Sẽ yêu trọn những gì em chưa kịp yêu,
Em trong anh là mùa xuân náo động
Từ phút này càng rực rỡ bao nhiêu...
-1969- (Bùi Minh Quốc)