Đi Trong Lửa Đạn (trang 1)
Tuesday, August 10, 2010 11:02:53 PM
VIỆT NAM! VIỆT NAM!
Lời nói đầu
Đời tôi, đời của một con người chưa một lần nói dối, của một tâm tư không biết hận thù, mà khi tuổi đời chưa đủ thì những kinh qua đã quá đủ cho một kiếp người…
Mười lăm năm đèn sách, mười năm chinh chiến, mười một năm lao tù cộng sản, hơn hai mươi năm sống kiếp tha hương làm người vong quốc… Hồi tưởng lại những tháng năm xưa, lòng tôi ray rứt khôn nguôi! Có biết bao điều lẽ ra tôi phải làm, mà tôi lại bỏ qua… Và ngược lại tôi đã làm biết bao nhiêu điều không nên... Đời người thật ngắn ngủi, mà sao vô vàn hối tiếc, quá nhiều ăn năn…
Thế-Giới Tự-Do, Thế-Giới Cộng-Sản, Nga, Tầu, Mỷ... Cuộc Chiến tranh "Chống Mỹ Cứu Nước” của Miền Bắc, cuộc Chiến tranh Giữ Nước của Miền Nam… đã biến giải non sông gấm vóc Việt-Nam thành núi xương sông máu…
Mấy mươi năm đã trôi qua sau ngày 30 tháng 4 năm 1975… Từ những núi xương sông máu đó, đã và đang xuất hiện đầy dẫy những anh-hùng! Anh hùng chiến thắng, anh hùng chiến bại…
Nhìn những anh hùng lúc nhúc bò tới bò lui trong cái đống phân lịch sử 1954-1975, rồi nghĩ đến hàng hàng lớp
lớp những người con yêu của Tổ Quốc đã phải làm con vật hy sinh cho những chủ thuyết ngoại lai...
Hồi tưởng lại cảnh cốt nhục tương tàn trong một cuộc chiến dơ bẩn nhất trong lịch sử dân tộc đó, ai mà không thấy xót xa?
Tôi không hề muốn nhắc đến chuyện xưa, nhưng nếu không nói lên bây giờ, “sẽ là có tội… có tội với những người đã nằm xuống, cho chúng ta được hưởng thêm những ngày tự do ít ỏi”. Nên tôi xin góp nhặt lại nơi đây, chỉ là những kỷ niệm đã hằn sâu trong ký ức... Tôi không phải là một nhà lý luận, càng không phải là một chính trị gia, những gì tôi viết ra đây, đơn giản chỉ là những gì đã xảy ra, mà tôi là người trong cuộc, là một chứng nhân. Nơi đây, sẽ có những cái nhìn về chiến cuộc của riêng tôi, mà tôi tin rằng trong đó sẽ không có những hậu ý để che đậy sự thật, để đánh lạc tầm nhìn của những thế hệ con em.
Tôi xin thành kính nghiên mình trước vong linh của bao người dân Việt đã một thời tơi tả trong khói lửa đạn bom... Những người đã một thời cùng tôi đối mặt trong chinh chiến oan khiên, cốt nhục tương tàn... Những người đã một thời tôi được kề vai chiến đấu, những kỵ-binh xưa, những người con yêu thực sự của Tổ Quốc, của Miền Nam hiền hòa bị bức tử...
Tốt-nghiệp khóa 14 Sỉ Quan Căn bản Thiết Giáp cuối năm 1965, tôi về trình diện Trung Đoàn 2 Kỵ Binh Thiết Giáp (Sau này là Thiết Đoàn 2 Kỵ Binh) đồn trú tại Vỉnh-Long, và đây cũng là đơn vị duy nhất mà tôi phục vụ trong suốt mười năm quân ngủ, cho đến ngày bỏ cuộc. Trung đoàn trưởng lúc đó là Trung tá Trần Tín, nguyên là giáo-sư trường Quốc-Học Huế. Ông là một cấp chỉ huy dũng cảm, trong sạch và đầy lòng nhân hậu mà tôi đã coi như một mẫu mực để noi theo trong suốt cuộc đời binh nghiệp, cho cả đến ngày hôm nay! Đó chính là cái may mắn của tôi, của một tuổi trẻ đầy nhiệt huyết đang chập chửng bước vào đời trong một xã hội nhiễu nhương, phân hóa… khi cuộc chiến bắt đầu quyết liệt, tuổi đời vừa tròn 20.
Với ưu thế hỏa lực hùng hậu, khả năng di động trên mọi địa thế, đơn vị tôi được xử dụng như là đơn vị chủ lực của toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long từ Mỷ Tho xuống đến Cà Mau (Vùng IV Chiến Thuật), dọc theo biên giới Việt-Miên, và đến năm 1970 thì vượt biên sang Kampuchia để tiêu diệt những căn cứ hậu cần của quân Cộng Sản Bắc Việt từ Svay Rieng chạy dài đến tận cảng Kompong Som. Hôm nay truy quét mật khu Ấp Bắc ở Mỷ Tho thì ngày hôm sau vây hang Tup Chup ở vùng núi Thất Sơn... Vừa tiếp tế cho tiền đồn Long Hửu ở ven biển Trà Vinh hôm trước thì hôm sau đã có mặt ở Sóc Trăng, rồi thẳng xuống Bạc Liêu... Trở về chưa kịp ghé thăm hậu cứ thì đã có lệnh vô luôn Đồng Tháp...
Đại-khái cuộc sống của chúng tôi là như vậy. Mỗi tháng đi hành quân ít nhất cũng phải hai mươi ngày. Ngoài những cuộc hành quân bất thần như đi tiếp viện các đơn vị bạn đang chạm địch, giải tỏa các vị trí bị bao vây hoặc bị địch tạm chiếm... thì nhiệm vụ thường xuyên của chúng tôi là thực hiện các cuộc hành quân càn quét vào ngay căn cứ, mật khu địch. Còn những “vùng giải-phóng”, vùng xôi đậu thì thường là chỗ được chúng tôi dùng làm nơi để nghỉ dưỡng quân, tu bổ xe cộ... Chỉ khi nào đơn vị về hậu cứ, mới có chuyện vui chơi phố phường!
Trong những tháng năm ngang dọc trên khắp vùng đồng bằng sông Cửu Long đó, biết bao nhiêu kỷ-niệm buồn vui. Tôi chỉ xin ghi lại nơi đây những mẩu chuyện thật ngắn, không theo thứ tự thời gian, những kỷ niệm của một thời trai trẻ...[/SIZE][/I][/FONT]
Việt Nam Quê Hương Tìm lại
CỐ VẤN MỸ
Cấp số Chi Đoàn Trưởng Chi Đoàn Thiết Kỵ là Thiếu Tá, nhưng vì việc đào tạo sỹ quan không theo kịp mức phát triển quá nhanh của quân đội và chiến trường, nên sau khi thăng cấp Trung Úy được 8 tháng thì tôi được bổ nhiệm chức vụ Chi Đoàn Trưởng Chi Đoàn 3/2 Thiết Kỵ sau khi làm Chi Đoàn Trưởng Chi Đoàn 2 Chỉ Huy và Công Vụ mấy tháng.
Tôi đã rất sung sướng khi được nắm quyền chỉ huy đơn vị này, vì đó là một trong những đơn vị chì nhất của Thiết Giáp Binh Việt Nam Cộng Hoà, hầu hết tướng Thiết Giáp VNCH đều xuất thân từ đó; nó cũng là một trong những đơn vị Thiết Giáp đầu tiên được mang dây biểu chương màu đỏ Bảo Quốc Huân Chương trong khi đơn vị gốc là Thiết Đoàn 2 Kỵ Binh chỉ mới được đeo dây màu Quân Công Bội Tinh.
Sau một tuần hoạt động ở vùng núi Thất Sơn, tôi được lệnh đưa đơn vị về Vĩnh Bình (Trà Vinh) với nhiệm vụ giải tỏa áp lực địch ở vùng Long Hửu , quận Cầu Ngan (bây giờ thuộc huyện Duyên Hải).
Chi đoàn có 2 viên cố vấn Mỹ, một thượng sĩ và một đại úy. Viên cố vấn đi chung xe với tôi là đại úy Baker, người Mỹ gốc Đức. Suốt tuần lễ đầu tôi chỉ nói chuyện với anh ta vài lần vì thực sự tôi không thích có cố vấn Mỹ đi bên cạnh. Lý do là khi tôi còn làm Chi Đội Trưởng Chi Đội Súng Cối 106 ly của Thiết Đoàn, cũng có một viên cố vấn đi theo. Một hôm đang nằm nghỉ bên cạnh một trường học ở quận Vũng Liêm, Trà Vinh thì có một giáo viên đến hỏi chuyện chơi. Trong lúc nói chuyện, anh giáo viên thành thật hỏi tôi có phải người Mỹ đó là người chỉ huy đơn vị của tôi hay không! Dĩ nhiên là không hề có chuyện đó, nhưng từ đó tôi vẫn có mặc cảm khó chịu khi có người Mỹ đi bên cạnh. Đến người giáo viên mà còn nghĩ như vậy, thì người dân thường nghĩ thế nào!
Cũng tội cho anh chàng cố vấn, lúc nào cũng cố lấy cảm tình, ví dụ như khi tôi hỏi một câu, thì anh cố trả lời tràng giang đại hải với ý muốn giúp tôi học thêm tiếng Anh!
Hôm đó, sau khi ăm cơn chiều, thì đại úy Baker lấy cái bản đồ ra nói với tôi: “Trước đây tôi có đến vùng này nhiều lần, nên tôi biết rất rõ, vậy tôi đề nghị mình nên qua đêm ở chỗ này…”. Nhìn vào tay anh ta chỉ trên bản đồ, thì đó cũng chính là điểm tôi đã chọn! Thế là tôi nhân dịp đó để chỉnh anh ta về cách làm việc với tôi, tôi nói “Đúng! Đó là vị trí tốt nhất ở đây, xạ trường tốt, quan sát tốt, nếu cần trong đêm đi tiếp ứng các đơn vị bạn cũng dễ dàng…”. Nói xong tôi nhìn thẳng vào mắt anh ta: “Tôi cũng đã báo vị trí đó về trung tâm hành quân rồi! Nhưng rất tiếc, bây giờ tôi phải bỏ vị trí đó để chọn vị trí khác dù nó có xấu hơn… Lý do duy nhất là vì anh đã có ý kiến!”. Viên cố vấn Mỹ ngỡ ngàng nhìn tôi, rồi nói nhỏ: “Tôi hiểu!”.
Từ đó anh ta không hề “cố vấn” gì nửa, chỉ còn là một cái bóng đi bên cạnh tôi! Nhiệm vụ anh ta chỉ còn là giúp gọi trực thăng tải thương, tiếp tế, gọi những phi tuần oanh kích… vì khi cấp thiết thì xin những phương tiện đó bên hệ thống của Mỹ sẽ nhanh và hiệu quả hơn! Hôm nào vui thì tôi mời anh ta ăn cơm chung, không thì anh ta cứ ăn riêng bằng đồ hộp, lương khô của anh ta mang theo!
Tôi cũng không như một số đơn vị trưởng khác, thường nhờ cố vấn Mỹ mua đồ ở PX giùm như TV, máy hát, đồng hồ… vì đó là nơi bán đồ miễn thuế cho quân nhân Mỹ. Có lần anh ta tặng tôi cái máy chụp ảnh mới, thì tôi nói dành cho đơn vị chụp ảnh khi cần, và giao cho trưởng ban 3 giữ!
Nhiều khi tôi cũng thấy mình quá đáng, nhất là những khi lâm chiến, xin trực thăng tải thương mà chậm trễ thì coi như anh ta tránh mặt tôi cho đến khi nào trực thăng sắp đến anh ta mới ra mặt vì không muốn đối diện với cơn thịnh nộ của tôi!
Có điều đáng nói là tất cả những cố vấn Mỹ sau đó cũng đều là những người Mỹ gốc Đức, phải công nhận một điều là họ rất dũng cảm, hiên ngang… Cũng chính vì sự hiện diện của họ mà tôi phải luôn luôn cố gắng để cho thuộc cấp, người dân thấy rằng, đi bên cạnh tôi, họ chỉ như chiếc bóng…
Nhắc lại chuyện này, tôi khẳng định, người Việt Nam không bao giờ chấp nhận làm tay sai cho ai cả!
Chúng tôi là những Chiến Sĩ Tự Do, vì lý tưởng Tự Do mà chúng tôi đã chiến đấu bảo vệ Miền Nam Tự Do. Những từ ngữ “tay sai”, “bán nước”… đã bị áp đặt đó, không hề có trong cuộc đời chúng tôi![/SIZE][/FONT]
NGƯỜI NỮ CÁN BINH VIỆT CỘNG
Vượt tuyến xuất phát tại quận Mỹ Xuyên, Sóc Trăng, đoàn xe chúng tôi tiến về hướng Đông để đến Lịch Hội Thượng. Đi băng đồng được khoảng 6 cây số, khi 5 chiếc xe đi đầu của chi đoàn vừa vượt qua một con kinh, thì chúng tôi phát hiện cách đó khoảng gần 1 cây số có những bóng người thấp thoáng bỏ chạy dọc theo con kinh ngang. Tôi lập tức ra lệnh cho 4 chiếc của chi đội đã vượt qua sông tức tốc rượt theo, chỉ để lại một chiếc để kéo phần còn lại qua sông.
Bốn chiếc xe dàn hàng ngang băng băng trên cánh đồng lúa chín vàng. Thường thì chúng tôi đi theo hàng dọc để giảm thiểu tối đa việc gây hư hại lúa, nhưng khi chạm súng hoặc phát hiện địch thì chúng tôi dàn hàng ngang để mở rộng xạ trường và tầm quan sát. Chi đội đi đầu đã bám được mục tiêu và có tiếng súng bắn trả.
Khi tôi và phần còn lại của chi đoàn đến nơi, thì đã im tiếng súng và tôi cho lệnh chi đoàn bung rộng ra lục soát. Bỗng cách chỗ xe tôi khoảng 200 mét, trong đám lúa vàng, một tiếng nổ to cùng với những mảnh da thịt tung lên. Một anh Việt Cộng nào đó đã dùng lựu đạn tự sát! Rồi thỉnh thoảng lại có những tiếng nổ khác và những mảnh da thịt tung lên…
Khoảng nửa giờ sau, chúng tôi tịch thu được 4 khẩu súng AK, và thiếu úy Nguyên chi đội trưởng chi đội 2 báo cáo bắt được một nữ Việt Cộng, tôi bảo đưa cô ấy đến trình diện tôi.
Người nữ VC khoảng hai mươi tuổi. Nhìn khuôn mặt sáng sủa, nước da trắng mịn, nửa thân người phía dưới ướt sủng khiến cho cái quần đen bám chặt vào những phần da thịt chắc nịch. Cô bị bắt vì khi chúng tôi đến, thì cô đang dọn dẹp trong nhà mà nửa người cô lại bị ướt. Kêu bà chủ nhà ra ngoài hỏi riêng thì bà nói không biết cô ấy!
Tất cả những câu tra hỏi của tôi đều bị cô ấy đáp lại bằng sự im lặng với nét mặt thật bình thản! Trong khi đó, lại một tiếng nổ tung từ trong ruộng lúa. Nhìn về phía có tiếng nổ với những mảnh da thịt tung lên, rồi quay lại nhìn cô gái, tôi bắt gặp ánh mắt cô thoáng lạc đi. Trong cơn bực tức, tôi nói “Tại sao ngu quá vậy, bị chúng tôi bắt thì làm tù binh… Tại sao lại phải chết như vậy chứ!”. Cô gái vẫn giữ im lặng… Nhìn nét mặt bình thản đến lạ kỳ, tôi chợt muốn thử xem mức độ lỳ lợm của cô ấy đến đâu, liền bảo hạ sỉ nhất Hoàng vốn là một trong những đệ tử ruột của tôi đang đứng gần đó: “Kê súng vô đầu nó, nếu tôi đếm từ 1 tới 3 mà nó không khai thì bắn bỏ!”. Sau khi mũi súng được dí vào màng tang cô gái, tôi liền nói với cô “Nếu không khai ra có bao nhiêu người, thì chúng tôi sẽ bắn nát óc, nghe chưa?”, và tôi bắt đầu đếm. Vừa đếm tôi vừa quan sát… Nét mặt cô vẫn bình thản đến lạ lùng, tôi nheo mắt bảo hạ sĩ nhất Hoàng “Bắn!”. Trong tiếng súng nổ chát chúa đó, tôi nhìn cô gái thật kỹ và bắt gặp cái mĩm cười thoáng nở trên môi cô…
Người con gái trẻ đã đón nhận cái chết như thế đó!
Thật ra thì hạ sĩ nhất Hoàng biết ý tôi, chỉ bắn lên trời chứ không bắn vào đầu cô gái. Tôi bần thần nhìn lên xe, viên cố vấn Mỹ đang ngồi trân trối nhìn cô gái với ánh mắt chan chứa cảm tình.
Tôi quay lại nói với cô, rất nhỏ nhẹ: “Tôi biết chắc chắn cô là Việt Cộng, nhưng hôm nay tôi thả cô. Vậy cô đi đi! Nhớ là đừng để tôi gặp lại lần thứ hai! Đi đi!”. Người nữ cán binh bất chợt nhìn lên xe, nơi viên cố vấn Mỹ đang ngồi, rồi bước đi. Tôi đứng nhìn theo người con gái bước đi trên bờ mẫu dọc bên hông chiếc xe tôi đang đậu, qua khỏi chiếc xe vài bước, cô nghiên mình đưa tay bứt một nhành lúa, đưa lên miệng và tiếp tục bước đi về giữa cánh đồng.
Tôi bước lên xe, đứng nhìn theo người con gái đã đi xa, rồi nói với viên cố vấn Mỹ “Tôi thả cô ấy vì tôi kính trọng những người như thế! Một kẻ thù rực rỡ…”
Thật ra trong đời tôi, tôi chỉ bắt giữ và giải giao 2 cô gái Việt Cộng mà thôi, còn lại tôi đều thả đi. Lý do duy nhất là tôi không muốn họ rơi vào những bàn tay sàm sở, sẵn sàng nhận tiền đúc lót để thả họ ra của những nhân viên phòng 2 Tiểu Khu, hoặc Sở 4 An Ninh Quân Đội…
Nhưng trường hợp này là cá biệt, người con gái đó đã làm tôi suy nghĩ rất nhiều…
Tôi hiểu, trong ánh mắt em chất ngất căm hờn khi em nhìn người lính Mỹ ngồi trên xe, chỉ vì em tin rằng họ là kẻ xâm lược!
Tôi hiểu, em, người con gái miền Nam đơn giản yêu quê hương mình. Em không hề biết rằng em chính là một trong vô số những người yêu nước bị cộng sản lừa đảo…
Có thể đàng kia, nơi em vừa dõi mắt nhìn, chính người em yêu vừa nở nụ cười trước khi rút chốt cho quả lựu đạn nổ tung xác thân mình, bởi vì ngay cả trước khi nhắm mắt lìa đời họ cũng vẫn tin rằng họ đang chết cho tổ quốc, đang chết cho tương lai dân tộc như tổ tiên họ đã chết giữa Bạch Đằng Giang, trên bến Chương Dương, trong đầm Dạ Trạch, giữa núi rừng Yên Thế… Họ chết đi trong giấc mơ tuyệt đẹp về một đất nước tương lai, một đất nước của nòi giống Rồng Tiên, một đất nước của công bằng và giàu mạnh. Họ đã tin như thế, em đã tin như thế.
Em yêu nước bằng tình yêu trong sáng, em đâu có biết rằng dân tộc này đã bị biến thành những con vật hy sinh, những kẻ đánh thuê cho một chủ nghĩa, những ý thức hệ ngoại lai…
Ôi! Quê Hương tôi… những người như em… và những con người tài tuấn đã từng giờ, từng phút, từng giây phải gục ngã giữa đạn bom vì Tổ Quốc thương yêu nhưng đầy nghiệp chướng oan khiên này…
[/SIZE][/FONT]

TẾT MẬU THÂN
Phải nói rằng, cứ mỗi khi họ “lên đợt”, nghĩa là họ tập trung lực lượng để đánh vào những quận lỵ, đồn bót hay tấn công một đơn vị địa phương nào đó, là coi như đó là dịp tốt để chúng tôi đến mà “hốt” gọn! Vì quanh năm suốt tháng phải đi hành quân truy lùng hàng ngày vào tận sào huyệt (mật khu) của họ, mà chẳng bao giờ chạm súng cả. Họa hoằng lắm, có anh du kích nào đó cà ngơ chạy không kịp thì bị chúng tôi bắt sống mà thôi.
Cho nên sau này mỗi khi anh em nhắc đến Tết Mậu Thân, là coi như chúng tôi nhắc đến một cái dịp bằng vàng!
Hôm đó, chiều 30 Tết, chúng tôi được lệnh rời Vĩnh Bình (Trà Vinh) trở về hậu cứ ở Cái Vồn (cạnh bến phà Cần Thơ) để nghỉ Tết.
Chi đoàn vừa di chuyển đến ngả ba Vũng Liêm thì được lệnh dừng lại ở đó để chờ lệnh mới! Và sáng hôm sau chúng tôi được lệnh quay trở lại Vĩnh Bình! Ai cũng bực tức, vì ăn Tết mà không về hậu cứ thì cũng như không! Nhưng khi chi đoàn còn cách Bình Phú khoảng 1 cây số thì gặp phải cái mô mới đắp nằm giữa đường… Mọi người chợt hiểu!
Tôi thầm hỏi hưu chiến cái kiểu gì vậy?!
Khi chi đoàn xuống ruộng đi vòng để tránh cái mô thì Đại Úy Tá (chi đoàn trưởng) cho biết là đêm qua Việt Cộng đã chiếm Toà Hành Chánh và nhiều vị trí khác trong thành phố Vĩnh Bình.
Thế là xong cái Tết! Tết Mậu Thân.
Ngay sau khi vào thành phố chúng tôi phối hợp với Đại Đội Trinh Sát 14 tấn công vào Tòa Hành Chánh, đến chiều thì ổ kháng cự cuối cùng của VC bị tiêu diệt và chúng tôi chiếm lại Toà Hành Chánh. Qua hôm sau, phối hợp với Trung Đoàn 14 Bộ Binh đồn trú tại Vĩnh Bình, chúng tôi chia nhau đánh vào những cứ điểm khác bị địch chiếm rãi rác trong thành phố… Riêng chùa Ông Mẹt đã bị thiệt hại lớn vì chùa được xây cất rất kiên cố và đối phương cố thủ trong đó. Đến ngày mùng 5 Tết thì coi như không còn bóng dáng anh Việt Cộng nào trong thành phố Vĩnh Bình nửa, và chi đoàn đã xé lẻ từng chi đội để qua đêm ở những điểm trọng yếu.
Đêm mùng 6 Tết, chi đội tôi bố trí qua đêm ở trước Bưu Điện, nằm trong xe mở radio nghe tin tức, tôi lần qua nghe đài Việt cộng, và “Đây là Đài Phát thanh Giải Phóng, tiếng nói của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam”, trong bản tin đó, có một bản tin mà cho đến giờ này tôi vẫn còn nhớ từng tiếng : “Toàn bộ chi đoàn xe bọc thép ngụy Sài Gòn tại tỉnh Trà Vinh đã bị tiêu diệt”. Trời đất! Tôi vội tắt máy, bước ra khỏi xe. Đưa mắt nhìn về những con cua sắt đang nằm lầm lỳ trước cổng Tòa Án gần đó, tôi bỗng bật cười… Cười vì trong mấy ngày qua, chi đoàn tôi chỉ bị trúng có một viên đạn súng cá nhân bắn tỉa mà thôi. Viên đạn đó trúng vào cái lá chắn che đạn trên xe của tôi nghe một tiếng “keng” và để lại một vết trầy nhỏ. Lúc đó hạ sỉ nhất Thạch Inh đang nhắm điều chỉnh khẩu đại bác không giật để bắn vào một vị trí cố thủ trong chùa Ông Mẹt thì nghe tiếng “keng” đó, anh từ từ quay sang nhìn tôi rồi nói chậm rãi “Nó mới bắn đó!”, rồi cũng từ từ quay lại tiếp tục điều chỉnh khẩu đại bác và bắn! Ngoài ra tính đến hôm đó, chẳng có xe nào bị trúng đạn, cũng chẳng có ai bị thương cả! Ngoài ra họ có bắn được một quả đạn chống tăng (B40), nhưng bắn hụt!
Vậy mà họ có thể đưa tin là đơn vị chúng tôi đã bị tiêu diệt hoàn toàn, thì còn trời đất gì nửa!!!
Qua ngày hôm sau chúng tôi bắt đầu qua đêm bên ngoài thành phố để chuẩn bị hành quân đến các vùng phụ cận, các quận lỵ, đồn bót trong tỉnh để giải toả áp lực địch ờ những nơi đó.
Đêm đó, cách chỗ chúng tôi qua đêm khoảng 1 cây số, họ tập họp dân chúng để hô vang những tiếng “Hoan hô… Hoan hô”, cho đến khi chúng tôi phải dùng súng cối bắn mấy quả đạn chiếu sáng, tiếng hô mới im!
Cho nên sáng hôm sau trên hướng tiến đầu tiên của chúng tôi là tiến về quận Cầu Ngan, chúng tôi đã phải di chuyển rất thận trọng. Đi được khoảng 5 cây số, thì xe đi đầu phát hiện địch, anh trưởng xa báo cáo trong máy “Tụi nó đông quá, chạy qua chạy lại tùm lum…”. Thế là chúng tôi tăng tốc độ, và đúng như vậy, họ đang chạy dọc theo con đường đất dẫn ra khu đầm lầy phía sau xã Bàng Đa và nổ súng, chúng tôi lập tức khai hỏa và tràn tới bám lấy con đường đất. Cuộc giao tranh chỉ diễn ra khoảng 15 phút ngắn ngủi thì họ đã im tiếng súng, Đại úy Tá ra lệnh cho khinh kỵ hạ chiến lục soát.
Nhìn khoảng 20 mươi xác chết được kéo lên xếp dọc trên con đường đất, có những xác trên người chỉ có một quả lựu đạn…Rồi hỏi chuyện khoảng hơn 20 người bị chúng tôi bắt sống thì trong đó có đến gần 10 người là thiếu niên chỉ mới đi theo họ vài ngày, mỗi người cũng chỉ được họ cấp cho một hoặc hai quả lựu đạn! Tôi chợt hiểu…
Họ không ngờ chúng tôi đến bất thần như thế! Có lẽ vì bản tin “Toàn bộ chi đoàn xe bọc thép ngụy Sài Gòn tại tỉnh Trà Vinh đã bị tiêu diệt” mà họ đã phải nhận lấy hậu quả, vì đã tin theo những lời dối trá đó!
Rồi thì đại khái như thế, những ngày sau đó chúng tôi lần lượt giải toả áp lực địch trên toàn lãnh thổ tỉnh Vĩnh Bình từ Cầu Ngan ra tận biển, rồi quay lại Trà Cú, Tiểu Cần, Cầu Kè, ngược lên Càng Long và sau cùng là trở về Vĩnh Long để tăng cường các đơn vị bạn ở đó.
Chỉ trong một tháng đầu ngắn ngủi của năm Mậu Thân 1968 mà đã có biết bao nhiêu chuyện buồn vui…
Từ chuyện vợ tôi bây giờ (năm đó còn là người tình, chưa cưới) cũng chỉ vì nghe được cái bản tin toàn bộ chi đoàn tôi bị tiêu diệt của “đài giải phóng” và nghe ai đó nói tôi đã tử trận, nên đã lặn lội (đi bộ) từ Vĩnh Long xuống đến Vĩnh Bình và sau cùng là vào đến Thầy Phó với biết bao nhiêu bất trắc chờ đợi trên đường, tay chỉ ôm theo một bộ quần áo trận của tôi, nhưng vẫn không gặp được tôi vì đơn vị nay đây mai đó!
Chuyện người con gái khoảng 17 mà tôi không hề biết tên, nhà cô là ngôi biệt thự bên kia đường xéo với chợ Càng Long mà có một lần xe tôi đậu bên cạnh, tôi đã vào nhờ cô vá giùm cái quần bị móc rách. Ngay hôm mùng 2 Tết đang đánh vào chùa Ông Mẹt, cô đã đến tận xe tìm tôi trong tiếng đạn bay… Tôi phải hét lên giận dữ cô mới chịu đi về…
Chuyện tôi lần đầu gặp “Út Bàng Đa”, người con gái Miên lai Tàu nổi danh là người đẹp nhất Trà Vinh thời đó, trong cảnh cô và gia đình đang nằm im dưới gầm bộ ván trong nhà cô… Trong cơn kinh hoàng vì kẹt giữa bom đạn, cô nằm yên đưa mắt nhìn tôi… Ôi cha… Đôi mắt mà cho đến bây giờ tôi chưa thấy đôi mắt nào đẹp hơn!
Chuyện những người lính ở những tiền đồn xa xôi bị vây hãm, những người bị chết đã phải bị chôn cất ngay bên trong đồn vào ban đêm vì không thể ra khỏi đồn được…
Chuyện những tiền đồn đã cố thủ hơn 20 ngày, gọi về Tiểu Khu kêu cứu trước khi họ buông súng đầu hàng, dù Tiểu Khu trấn an hãy cố thủ thêm chỉ 1 ngày nửa là chúng tôi sẽ đến nơi… Và đúng như lời Tiểu Khu hứa, ngày hôm sau chúng tôi đến nơi thì chỉ còn cái đồn hoang vắng, họ đã bị giết hoặc bị bắt dẫn đi vì đã đầu hàng… Nhưng nói chung thì những người lính Địa Phương Quân, Nghĩa Quân đã bỏ đồn về đêm, rồi lén đến những chùa Miên gần đó cạo đầu, mặc áo cà sa… như những nhà sư… Cho đến khi chúng tôi đến! (Ở tỉnh Trà Vinh, hầu hết lính ở đồn là người Việt gốc Miên)
Buồn cười nhất là có một cô nữ giao liên VC khoảng 18 tuổi bị chúng tôi bắt 4 lần, lần đầu là trong đám khoảng hơn 20 VC bị bắt sống ở Bàng Đa, và 3 lần sau đó ở những nơi khác sau khi chạm súng. Cô trông khá đẹp và rất hiền lành, sau khi rời khỏi địa đểm giao tranh thì chúng tôi luôn luôn bỏ cô lại đó, chỉ bắt giữ nhũng anh VC mà thôi, vì chở đàn bà con gái trên xe… xui lắm! Buồn cười ở chỗ là cả 4 lần cô đều bị chi đội của thiếu úy Đứa bắt, mà thiếu úy Đứa lại là anh chàng rất đẹp trai, cao lớn… Không biết có phải vì cô mê Đứa đến nỗi dẫn đồng chí của mình đi nạp mạng chỉ để… gặp Đứa hay không!
Đại khái Tết Mậu Thân đối với đơn vị tôi là như thế…
Rồi đơn vị tôi dời hậu cứ xuống đồn trú luôn tại Vĩnh Bình, hậu cứ đầu tiên là tại Ao Bà Om, giáp với hàng rào chùa Âng.
Những tháng ngày sau đó, chuyện đi hành quân các loại như truy tìm, bình định… ở tỉnh Trà Vinh đối chúng tôi chẳng khác gì đi cắm trại, vì chẳng bao giờ đụng trận cả, họ đã bỏ trốn đi trước khi chúng tôi đến nơi, nhà cửa của họ trong mật khu,vùng giải phóng chỉ có đàn bà con nít là vợ con của họ mà thôi. Dù biết chính những phụ nử, trẻ em đó cũng hoạt động du kích, giao liên… nhưng chúng tôi không đá động gì đến họ, kể cả khi tìm gặp được khẩu súng dấu trong bồ lúa ở nhà họ cũng vậy! [/SIZE][/FONT]
Trận Kampong Trabek
Với sự trợ lực của các đơn vị Khmer Đỏ, lực lượng quân Cộng sản Bắc Việt đã đánh chiếm và tổ chức nhiều chốt chận kiểm soát từ vùng Mỏ Vẹt đến bến phà Neak Luong trên sông Mekong. Đến đầu tháng 7, 1972, quân đội Cộng Hòa Kampuchia chỉ còn kiểm soát được hai thị trấn Neak Luong và Soài Riêng (Svay Rieng). Trước tình hình nguy kịch, Kampuchia đã khẩn yêu cầu quân lực VNCH tăng viện. Dù phải đối phó với các cuộc tấn công của Cộng Quân, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV đã điều động chúng tôi khẩn cấp tiếp cứu.
Đã hơn 1 tuần mà Liên Đoàn 7 Biệt Động Quân và quân đội Kampuchia vẫn chưa đánh bật được cộng quân ra khỏi thị trấn Kampong Trabek (nằm ở khoảng giữa Svay Rieng và Neak Luong, tức cách quận Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp khoảng gần 20 kí lô mét về hướng Đông Bắc). Chúng tôi đã được điều động đến tiếp ứng, và đã đánh bật Cộng Quân ra khỏi thành phố này rồi truy quét địch dọc theo Quốc Lộ 1 về hướng Tây đến khi đã bắt tay được với lực lượng trú phòng Neak Luong.
Cũng cần ghi nhận rằng Kampong Trabek là một vị trí chiến lược trọng yếu. Thị trấn này nằm trên trục vận chuyển giữa hai khu vực tiếp vận chính của các đơn vị Cộng Quân trên đất Kampuchia. Do đó, Cộng Quân đã tái phối trí lực lượng ở gần thị trấn này với quyết tâm là sẽ phản công để dành quyền kiểm soát thị trấn chiến lược này.
Gần cuối tháng 7, 1972, do tình hình Quân Khu 4 sôi động, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV phải điều động chúng tôi trở về nội địa.
Ngay sau đó cộng quân đã tung quân tái chiếm thị trấn này!
Từ sông Cái Cái, chúng tôi vượt sông Sở Hạ (sông ranh giới Việt-Miên từ Hồng Ngự về hướng Mộc Hoá) rồi vượt qua những cánh đồng, xóm làng… thẳng hướng Kampong Trabek. Sau khi vượt qua rặng cây cuối cùng, thị trấn Kampong Trabek sừng sửng hiện ra trong nắng, ngay sát bên kia quốc lộ 1. Khi còn cách thị trấn khoảng 500 mét, chúng tôi dừng lại bố trí.
Xe tôi nằm ngay dưới một cây đa to nên đã gặp phải một chuyện buồn cười. Vì chúng tôi đến quá nhanh, một anh bộ đội có nhiệm vụ quan sát còn đang kẹt ở trên cây đa mà chúng tôi không thấy! Khoảng 1 tiếng đồng hồ sau anh ta tuột xuống. Anh chàng này rất mồm mép, chúng tôi chưa hỏi thì anh đã khai tùm lum, hình như anh ta có nói anh ta là thiếu uý, nhưng tôi không quan tâm! Rồi anh ta còn bảo chúng tôi đưa bản đồ ra để anh ta chỉ những nơi đơn vị anh đang bố trí nửa! Tôi không thích những người mồm mép quá nên bảo anh em trói tay anh ta lại rồi bỏ đó…
Khoảng 2 giờ sau, phía Biệt Động Quân đề nghị chúng tôi dùng hoả lực yểm trợ cho họ tiến chiếm thị trấn một lần chót, nếu họ không chiếm được thì sẽ giao cho chúng tôi thanh toán! Nhiệm vụ yểm trợ đó dược giao cho chi đoàn của anh Ngô Văn Cứ, còn tôi thì án ngữ mặt sau.
Khi 2 tiểu đoàn Biệt Động Quân bám được bên này bờ quốc lộ, thì từ ven làng phía sau mà chúng tôi đã vượt qua để nhìn thấy Kampong Trabek, cộng quân bắn một quả đạn đại bác vào một xe của chúng tôi, nhưng quả đạn chạm vào bờ mẫu và nổ tung.
Tôi đứng lên nhìn về ven cây rậm rạp nơi xuất phát quả đạn, quan sát địa thế và cân nhắc tình hình thật nhanh, nghĩ rằng như vậy là chúng tôi đang bị bao vây! Khi đối phương có ý định bao vây hoặc khóa đít chúng tôi là một lực lượng gồm một Liên Đoàn Biệt Động quân và 1 Thiết Đoàn ngay giữa ban ngày như thế, thì chắc họ phải dùng đến một lực lượng đáng kể, nên tôi quyết định xử dụng toàn lực để xung phong càn quét mục tiêu.
Ngay sau đó tôi nói với cả đơn vị ý nghĩ của tôi: “Nó muốn khóa đít như ở Kampong Trạch! Gặp Đông Phương mà mày muốn khóa đít là coi như mày đi nạp mạng rồi!”. Lập tức chi đoàn phó của tôi là Nghê Thành Thân lên tiếng: “Ngon ăn quá Đông Phương!”. Cùng lúc đó Biệt Động Quân đề nghị cho họ tăng cường một đại đội để tùng thiết, tôi từ chối vì mục tiêu quả thật rất ngon ăn!
Sau đó tôi điều động chi đội súng cối 106 ly và phân đội xe phun lửa vừa mượn của Thiết đoàn án ngử bên phải, 5 chiếc của chi đội yểm trợ án ngử bên trái, còn lại 15 chiếc của 3 chi đội khinh kỵ và tôi dàn hàng ngang chuẩn bị xung phong.
Khi 3 khẩu súng cối vừa rót đạn vào mục tiêu, thì lập tức 15 con cua sắt gầm rú lên xông tới. Khi còn cách mục tiêu khoảng 300 mét tôi ra lệnh khai hỏa… 45 khẩu đại liên trên 15 chiếc xe khinh kỵ đồng loạt nhả đạn. Địch bắt đầu bắn trả bằng một qủa B.41, một quả hỏa tiễn chống tăng AT-3 cả hai đều chạm vào bờ mẫu phía trước và phát nổ chứ không trúng xe nào cả (Hỏa tiễn AT-3 sẽ không có hiệu quả đối với mục tiêu ở gần vì chưa thể điều chỉnh đạn đạo được, còn B41 mà ở tầm 300 mét thì chẳng ăn nhằm gì), tiếp theo là một loạt đại liên từ góc phải bắn ra. Tôi liền điều động khẩu đại bác không giật 106 ly cho một quả vào đó, thế là khẩu đại liên im bặt.
Với hỏa lực dày đặc của 45 khẩu đại liên, toàn bộ mục tiêu chìm trong khói bụi mịt mù. Và chúng tôi đã bám được mục tiêu. Lập tức tôi ra lệnh cho khinh kỵ hạ chiến trong khi những khẩu đại liên vẫn tiếp tục giăng lưới lửa. Gần 10 phút sau, từ trong sâu phía sau của vườn cây có 3 chiếc áo được đưa lên cao bằng cây tre quơ qua quơ lại… Họ đã đầu hàng!
Sau đợt xung phong đó, Nghê Thành Thân là người duy nhất bị thương, một mảnh đạn vô ngực, tôi rất mừng, vì sự báo ứng của tượng Phật đã ứng nghiệm, nhưng không nguy hiểm. Và Thân không còn lý do để từ chối được tải thương về quân y viện!
Tôi đứng trước cây thốt nốt ngay đầu xe quan sát đoàn tù binh 22 người đang xếp hàng một đi ngang trước mặt tôi. Tất cả họ đều rất trẻ, trên dưới 20, và nước da ai cũng đều vàng vọt vì bệnh sốt rét! Bỗng có một chú bộ đội dừng lại ngay trước mặt tôi, khoanh tay lại và đưa đôi mắt cũng vàng nghệ nhìn tôi: “Thưa ông em có được sống không?”. Tôi lạnh lùng nhìn anh ta và gật gật đầu…
Khi trực thăng báo còn khoảng 10 phút nửa họ sẽ đến để bốc đám tù binh đi, tôi liền đến nói chuyện với họ. Nhìn những khuôn mặt hiền lành đang ngồi trong tư thế hai tay bị trói ra sau lưng, họ là những bộ đội thuộc công trường 5 CSBV, tôi nói lớn: “Vừa rồi có một người trong các anh hỏi tôi các anh có được sống không. Nên tôi muốn nói để các anh yên tâm: Ở tại đây thì tôi không bảo đảm mạng sống của các anh được, vì có thể người của các anh sẽ pháo vào đây… Nhưng chúng tôi sẽ cố gắng bảo vệ an ninh tối đa cho các anh. Chúng tôi sẽ chuyển các anh về hậu phương, ở đó các anh sẽ là tù binh và sẽ được đối xử đúng với quy chế về tù binh, có nghĩa là các anh sẽ được đối xử tử tế. Vậy các anh yên tâm”.
Nhìn lướt qua những khuôn mặt thoáng vui, tôi vẫy tay chào họ rồi trở lại xe.
Hôm đó 2 tiểu đoàn Biệt Động Quân vẫn chưa vào được thị trấn!
Sáng hôm sau, khi chúng tôi xung phong lên bám lấy bờ bên này quốc lộ 1. Không có tiếng súng bắn trả, Biệt Động Quân dưới sự yểm trợ hỏa lực của chúng tôi đã tràn vào thị trấn…
Quân cộng sản Bắc Việt đã rút đi từ trong đêm.
******** Sở dĩ tôi muốn nhắc đến trận đánh này, là nó có một điểm rất quan trọng mà ít người chú ý : Nếu chúng tôi không tiêu diệt ngay đơn vị cộng quân đánh bọc hậu đó, có nghĩa là chúng tôi bị bao vây vì không có quyết tâm đánh trả, thì họ đã không rút quân khỏi thị trấn Kampong Trabek trong đêm đó! Tôi nghĩ có lẽ họ đã biết chúng tôi là ai, sau khi chúng tôi giải toả Kampong Trach tháng trước để đưa Lữ Đoàn 4 Kỵ Binh và Liên Đoàn 7 Biệt Động Quân ra khỏi vòng vây ở Kampong Trach.
Trường hợp đó, mục đích của cộng quân sẽ đạt vì khi chúng tôi bị cầm chân ở đó, họ sẽ đưa quân vào nội địa trong ý định biến vùng IV trở thành như 3 vùng kia trong mùa Hè đỏ lửa năm 1972![/SIZE][/FONT]
Lời nói đầu
Đời tôi, đời của một con người chưa một lần nói dối, của một tâm tư không biết hận thù, mà khi tuổi đời chưa đủ thì những kinh qua đã quá đủ cho một kiếp người…
Mười lăm năm đèn sách, mười năm chinh chiến, mười một năm lao tù cộng sản, hơn hai mươi năm sống kiếp tha hương làm người vong quốc… Hồi tưởng lại những tháng năm xưa, lòng tôi ray rứt khôn nguôi! Có biết bao điều lẽ ra tôi phải làm, mà tôi lại bỏ qua… Và ngược lại tôi đã làm biết bao nhiêu điều không nên... Đời người thật ngắn ngủi, mà sao vô vàn hối tiếc, quá nhiều ăn năn…
Thế-Giới Tự-Do, Thế-Giới Cộng-Sản, Nga, Tầu, Mỷ... Cuộc Chiến tranh "Chống Mỹ Cứu Nước” của Miền Bắc, cuộc Chiến tranh Giữ Nước của Miền Nam… đã biến giải non sông gấm vóc Việt-Nam thành núi xương sông máu…
Mấy mươi năm đã trôi qua sau ngày 30 tháng 4 năm 1975… Từ những núi xương sông máu đó, đã và đang xuất hiện đầy dẫy những anh-hùng! Anh hùng chiến thắng, anh hùng chiến bại…
Nhìn những anh hùng lúc nhúc bò tới bò lui trong cái đống phân lịch sử 1954-1975, rồi nghĩ đến hàng hàng lớp
lớp những người con yêu của Tổ Quốc đã phải làm con vật hy sinh cho những chủ thuyết ngoại lai... Hồi tưởng lại cảnh cốt nhục tương tàn trong một cuộc chiến dơ bẩn nhất trong lịch sử dân tộc đó, ai mà không thấy xót xa?
Tôi không hề muốn nhắc đến chuyện xưa, nhưng nếu không nói lên bây giờ, “sẽ là có tội… có tội với những người đã nằm xuống, cho chúng ta được hưởng thêm những ngày tự do ít ỏi”. Nên tôi xin góp nhặt lại nơi đây, chỉ là những kỷ niệm đã hằn sâu trong ký ức... Tôi không phải là một nhà lý luận, càng không phải là một chính trị gia, những gì tôi viết ra đây, đơn giản chỉ là những gì đã xảy ra, mà tôi là người trong cuộc, là một chứng nhân. Nơi đây, sẽ có những cái nhìn về chiến cuộc của riêng tôi, mà tôi tin rằng trong đó sẽ không có những hậu ý để che đậy sự thật, để đánh lạc tầm nhìn của những thế hệ con em.
Tôi xin thành kính nghiên mình trước vong linh của bao người dân Việt đã một thời tơi tả trong khói lửa đạn bom... Những người đã một thời cùng tôi đối mặt trong chinh chiến oan khiên, cốt nhục tương tàn... Những người đã một thời tôi được kề vai chiến đấu, những kỵ-binh xưa, những người con yêu thực sự của Tổ Quốc, của Miền Nam hiền hòa bị bức tử...
Tốt-nghiệp khóa 14 Sỉ Quan Căn bản Thiết Giáp cuối năm 1965, tôi về trình diện Trung Đoàn 2 Kỵ Binh Thiết Giáp (Sau này là Thiết Đoàn 2 Kỵ Binh) đồn trú tại Vỉnh-Long, và đây cũng là đơn vị duy nhất mà tôi phục vụ trong suốt mười năm quân ngủ, cho đến ngày bỏ cuộc. Trung đoàn trưởng lúc đó là Trung tá Trần Tín, nguyên là giáo-sư trường Quốc-Học Huế. Ông là một cấp chỉ huy dũng cảm, trong sạch và đầy lòng nhân hậu mà tôi đã coi như một mẫu mực để noi theo trong suốt cuộc đời binh nghiệp, cho cả đến ngày hôm nay! Đó chính là cái may mắn của tôi, của một tuổi trẻ đầy nhiệt huyết đang chập chửng bước vào đời trong một xã hội nhiễu nhương, phân hóa… khi cuộc chiến bắt đầu quyết liệt, tuổi đời vừa tròn 20.
Với ưu thế hỏa lực hùng hậu, khả năng di động trên mọi địa thế, đơn vị tôi được xử dụng như là đơn vị chủ lực của toàn vùng đồng bằng sông Cửu Long từ Mỷ Tho xuống đến Cà Mau (Vùng IV Chiến Thuật), dọc theo biên giới Việt-Miên, và đến năm 1970 thì vượt biên sang Kampuchia để tiêu diệt những căn cứ hậu cần của quân Cộng Sản Bắc Việt từ Svay Rieng chạy dài đến tận cảng Kompong Som. Hôm nay truy quét mật khu Ấp Bắc ở Mỷ Tho thì ngày hôm sau vây hang Tup Chup ở vùng núi Thất Sơn... Vừa tiếp tế cho tiền đồn Long Hửu ở ven biển Trà Vinh hôm trước thì hôm sau đã có mặt ở Sóc Trăng, rồi thẳng xuống Bạc Liêu... Trở về chưa kịp ghé thăm hậu cứ thì đã có lệnh vô luôn Đồng Tháp...
Đại-khái cuộc sống của chúng tôi là như vậy. Mỗi tháng đi hành quân ít nhất cũng phải hai mươi ngày. Ngoài những cuộc hành quân bất thần như đi tiếp viện các đơn vị bạn đang chạm địch, giải tỏa các vị trí bị bao vây hoặc bị địch tạm chiếm... thì nhiệm vụ thường xuyên của chúng tôi là thực hiện các cuộc hành quân càn quét vào ngay căn cứ, mật khu địch. Còn những “vùng giải-phóng”, vùng xôi đậu thì thường là chỗ được chúng tôi dùng làm nơi để nghỉ dưỡng quân, tu bổ xe cộ... Chỉ khi nào đơn vị về hậu cứ, mới có chuyện vui chơi phố phường!
Trong những tháng năm ngang dọc trên khắp vùng đồng bằng sông Cửu Long đó, biết bao nhiêu kỷ-niệm buồn vui. Tôi chỉ xin ghi lại nơi đây những mẩu chuyện thật ngắn, không theo thứ tự thời gian, những kỷ niệm của một thời trai trẻ...[/SIZE][/I][/FONT]
Việt Nam Quê Hương Tìm lại
CỐ VẤN MỸ
Cấp số Chi Đoàn Trưởng Chi Đoàn Thiết Kỵ là Thiếu Tá, nhưng vì việc đào tạo sỹ quan không theo kịp mức phát triển quá nhanh của quân đội và chiến trường, nên sau khi thăng cấp Trung Úy được 8 tháng thì tôi được bổ nhiệm chức vụ Chi Đoàn Trưởng Chi Đoàn 3/2 Thiết Kỵ sau khi làm Chi Đoàn Trưởng Chi Đoàn 2 Chỉ Huy và Công Vụ mấy tháng.
Tôi đã rất sung sướng khi được nắm quyền chỉ huy đơn vị này, vì đó là một trong những đơn vị chì nhất của Thiết Giáp Binh Việt Nam Cộng Hoà, hầu hết tướng Thiết Giáp VNCH đều xuất thân từ đó; nó cũng là một trong những đơn vị Thiết Giáp đầu tiên được mang dây biểu chương màu đỏ Bảo Quốc Huân Chương trong khi đơn vị gốc là Thiết Đoàn 2 Kỵ Binh chỉ mới được đeo dây màu Quân Công Bội Tinh.
Sau một tuần hoạt động ở vùng núi Thất Sơn, tôi được lệnh đưa đơn vị về Vĩnh Bình (Trà Vinh) với nhiệm vụ giải tỏa áp lực địch ở vùng Long Hửu , quận Cầu Ngan (bây giờ thuộc huyện Duyên Hải).
Chi đoàn có 2 viên cố vấn Mỹ, một thượng sĩ và một đại úy. Viên cố vấn đi chung xe với tôi là đại úy Baker, người Mỹ gốc Đức. Suốt tuần lễ đầu tôi chỉ nói chuyện với anh ta vài lần vì thực sự tôi không thích có cố vấn Mỹ đi bên cạnh. Lý do là khi tôi còn làm Chi Đội Trưởng Chi Đội Súng Cối 106 ly của Thiết Đoàn, cũng có một viên cố vấn đi theo. Một hôm đang nằm nghỉ bên cạnh một trường học ở quận Vũng Liêm, Trà Vinh thì có một giáo viên đến hỏi chuyện chơi. Trong lúc nói chuyện, anh giáo viên thành thật hỏi tôi có phải người Mỹ đó là người chỉ huy đơn vị của tôi hay không! Dĩ nhiên là không hề có chuyện đó, nhưng từ đó tôi vẫn có mặc cảm khó chịu khi có người Mỹ đi bên cạnh. Đến người giáo viên mà còn nghĩ như vậy, thì người dân thường nghĩ thế nào!
Cũng tội cho anh chàng cố vấn, lúc nào cũng cố lấy cảm tình, ví dụ như khi tôi hỏi một câu, thì anh cố trả lời tràng giang đại hải với ý muốn giúp tôi học thêm tiếng Anh!
Hôm đó, sau khi ăm cơn chiều, thì đại úy Baker lấy cái bản đồ ra nói với tôi: “Trước đây tôi có đến vùng này nhiều lần, nên tôi biết rất rõ, vậy tôi đề nghị mình nên qua đêm ở chỗ này…”. Nhìn vào tay anh ta chỉ trên bản đồ, thì đó cũng chính là điểm tôi đã chọn! Thế là tôi nhân dịp đó để chỉnh anh ta về cách làm việc với tôi, tôi nói “Đúng! Đó là vị trí tốt nhất ở đây, xạ trường tốt, quan sát tốt, nếu cần trong đêm đi tiếp ứng các đơn vị bạn cũng dễ dàng…”. Nói xong tôi nhìn thẳng vào mắt anh ta: “Tôi cũng đã báo vị trí đó về trung tâm hành quân rồi! Nhưng rất tiếc, bây giờ tôi phải bỏ vị trí đó để chọn vị trí khác dù nó có xấu hơn… Lý do duy nhất là vì anh đã có ý kiến!”. Viên cố vấn Mỹ ngỡ ngàng nhìn tôi, rồi nói nhỏ: “Tôi hiểu!”.
Từ đó anh ta không hề “cố vấn” gì nửa, chỉ còn là một cái bóng đi bên cạnh tôi! Nhiệm vụ anh ta chỉ còn là giúp gọi trực thăng tải thương, tiếp tế, gọi những phi tuần oanh kích… vì khi cấp thiết thì xin những phương tiện đó bên hệ thống của Mỹ sẽ nhanh và hiệu quả hơn! Hôm nào vui thì tôi mời anh ta ăn cơm chung, không thì anh ta cứ ăn riêng bằng đồ hộp, lương khô của anh ta mang theo!
Tôi cũng không như một số đơn vị trưởng khác, thường nhờ cố vấn Mỹ mua đồ ở PX giùm như TV, máy hát, đồng hồ… vì đó là nơi bán đồ miễn thuế cho quân nhân Mỹ. Có lần anh ta tặng tôi cái máy chụp ảnh mới, thì tôi nói dành cho đơn vị chụp ảnh khi cần, và giao cho trưởng ban 3 giữ!
Nhiều khi tôi cũng thấy mình quá đáng, nhất là những khi lâm chiến, xin trực thăng tải thương mà chậm trễ thì coi như anh ta tránh mặt tôi cho đến khi nào trực thăng sắp đến anh ta mới ra mặt vì không muốn đối diện với cơn thịnh nộ của tôi!
Có điều đáng nói là tất cả những cố vấn Mỹ sau đó cũng đều là những người Mỹ gốc Đức, phải công nhận một điều là họ rất dũng cảm, hiên ngang… Cũng chính vì sự hiện diện của họ mà tôi phải luôn luôn cố gắng để cho thuộc cấp, người dân thấy rằng, đi bên cạnh tôi, họ chỉ như chiếc bóng…
Nhắc lại chuyện này, tôi khẳng định, người Việt Nam không bao giờ chấp nhận làm tay sai cho ai cả!
Chúng tôi là những Chiến Sĩ Tự Do, vì lý tưởng Tự Do mà chúng tôi đã chiến đấu bảo vệ Miền Nam Tự Do. Những từ ngữ “tay sai”, “bán nước”… đã bị áp đặt đó, không hề có trong cuộc đời chúng tôi![/SIZE][/FONT]
NGƯỜI NỮ CÁN BINH VIỆT CỘNG
Vượt tuyến xuất phát tại quận Mỹ Xuyên, Sóc Trăng, đoàn xe chúng tôi tiến về hướng Đông để đến Lịch Hội Thượng. Đi băng đồng được khoảng 6 cây số, khi 5 chiếc xe đi đầu của chi đoàn vừa vượt qua một con kinh, thì chúng tôi phát hiện cách đó khoảng gần 1 cây số có những bóng người thấp thoáng bỏ chạy dọc theo con kinh ngang. Tôi lập tức ra lệnh cho 4 chiếc của chi đội đã vượt qua sông tức tốc rượt theo, chỉ để lại một chiếc để kéo phần còn lại qua sông.
Bốn chiếc xe dàn hàng ngang băng băng trên cánh đồng lúa chín vàng. Thường thì chúng tôi đi theo hàng dọc để giảm thiểu tối đa việc gây hư hại lúa, nhưng khi chạm súng hoặc phát hiện địch thì chúng tôi dàn hàng ngang để mở rộng xạ trường và tầm quan sát. Chi đội đi đầu đã bám được mục tiêu và có tiếng súng bắn trả.
Khi tôi và phần còn lại của chi đoàn đến nơi, thì đã im tiếng súng và tôi cho lệnh chi đoàn bung rộng ra lục soát. Bỗng cách chỗ xe tôi khoảng 200 mét, trong đám lúa vàng, một tiếng nổ to cùng với những mảnh da thịt tung lên. Một anh Việt Cộng nào đó đã dùng lựu đạn tự sát! Rồi thỉnh thoảng lại có những tiếng nổ khác và những mảnh da thịt tung lên…
Khoảng nửa giờ sau, chúng tôi tịch thu được 4 khẩu súng AK, và thiếu úy Nguyên chi đội trưởng chi đội 2 báo cáo bắt được một nữ Việt Cộng, tôi bảo đưa cô ấy đến trình diện tôi.
Người nữ VC khoảng hai mươi tuổi. Nhìn khuôn mặt sáng sủa, nước da trắng mịn, nửa thân người phía dưới ướt sủng khiến cho cái quần đen bám chặt vào những phần da thịt chắc nịch. Cô bị bắt vì khi chúng tôi đến, thì cô đang dọn dẹp trong nhà mà nửa người cô lại bị ướt. Kêu bà chủ nhà ra ngoài hỏi riêng thì bà nói không biết cô ấy!
Tất cả những câu tra hỏi của tôi đều bị cô ấy đáp lại bằng sự im lặng với nét mặt thật bình thản! Trong khi đó, lại một tiếng nổ tung từ trong ruộng lúa. Nhìn về phía có tiếng nổ với những mảnh da thịt tung lên, rồi quay lại nhìn cô gái, tôi bắt gặp ánh mắt cô thoáng lạc đi. Trong cơn bực tức, tôi nói “Tại sao ngu quá vậy, bị chúng tôi bắt thì làm tù binh… Tại sao lại phải chết như vậy chứ!”. Cô gái vẫn giữ im lặng… Nhìn nét mặt bình thản đến lạ kỳ, tôi chợt muốn thử xem mức độ lỳ lợm của cô ấy đến đâu, liền bảo hạ sỉ nhất Hoàng vốn là một trong những đệ tử ruột của tôi đang đứng gần đó: “Kê súng vô đầu nó, nếu tôi đếm từ 1 tới 3 mà nó không khai thì bắn bỏ!”. Sau khi mũi súng được dí vào màng tang cô gái, tôi liền nói với cô “Nếu không khai ra có bao nhiêu người, thì chúng tôi sẽ bắn nát óc, nghe chưa?”, và tôi bắt đầu đếm. Vừa đếm tôi vừa quan sát… Nét mặt cô vẫn bình thản đến lạ lùng, tôi nheo mắt bảo hạ sĩ nhất Hoàng “Bắn!”. Trong tiếng súng nổ chát chúa đó, tôi nhìn cô gái thật kỹ và bắt gặp cái mĩm cười thoáng nở trên môi cô…
Người con gái trẻ đã đón nhận cái chết như thế đó!
Thật ra thì hạ sĩ nhất Hoàng biết ý tôi, chỉ bắn lên trời chứ không bắn vào đầu cô gái. Tôi bần thần nhìn lên xe, viên cố vấn Mỹ đang ngồi trân trối nhìn cô gái với ánh mắt chan chứa cảm tình.
Tôi quay lại nói với cô, rất nhỏ nhẹ: “Tôi biết chắc chắn cô là Việt Cộng, nhưng hôm nay tôi thả cô. Vậy cô đi đi! Nhớ là đừng để tôi gặp lại lần thứ hai! Đi đi!”. Người nữ cán binh bất chợt nhìn lên xe, nơi viên cố vấn Mỹ đang ngồi, rồi bước đi. Tôi đứng nhìn theo người con gái bước đi trên bờ mẫu dọc bên hông chiếc xe tôi đang đậu, qua khỏi chiếc xe vài bước, cô nghiên mình đưa tay bứt một nhành lúa, đưa lên miệng và tiếp tục bước đi về giữa cánh đồng.
Tôi bước lên xe, đứng nhìn theo người con gái đã đi xa, rồi nói với viên cố vấn Mỹ “Tôi thả cô ấy vì tôi kính trọng những người như thế! Một kẻ thù rực rỡ…”
Thật ra trong đời tôi, tôi chỉ bắt giữ và giải giao 2 cô gái Việt Cộng mà thôi, còn lại tôi đều thả đi. Lý do duy nhất là tôi không muốn họ rơi vào những bàn tay sàm sở, sẵn sàng nhận tiền đúc lót để thả họ ra của những nhân viên phòng 2 Tiểu Khu, hoặc Sở 4 An Ninh Quân Đội…
Nhưng trường hợp này là cá biệt, người con gái đó đã làm tôi suy nghĩ rất nhiều…
Tôi hiểu, trong ánh mắt em chất ngất căm hờn khi em nhìn người lính Mỹ ngồi trên xe, chỉ vì em tin rằng họ là kẻ xâm lược!
Tôi hiểu, em, người con gái miền Nam đơn giản yêu quê hương mình. Em không hề biết rằng em chính là một trong vô số những người yêu nước bị cộng sản lừa đảo…
Có thể đàng kia, nơi em vừa dõi mắt nhìn, chính người em yêu vừa nở nụ cười trước khi rút chốt cho quả lựu đạn nổ tung xác thân mình, bởi vì ngay cả trước khi nhắm mắt lìa đời họ cũng vẫn tin rằng họ đang chết cho tổ quốc, đang chết cho tương lai dân tộc như tổ tiên họ đã chết giữa Bạch Đằng Giang, trên bến Chương Dương, trong đầm Dạ Trạch, giữa núi rừng Yên Thế… Họ chết đi trong giấc mơ tuyệt đẹp về một đất nước tương lai, một đất nước của nòi giống Rồng Tiên, một đất nước của công bằng và giàu mạnh. Họ đã tin như thế, em đã tin như thế.
Em yêu nước bằng tình yêu trong sáng, em đâu có biết rằng dân tộc này đã bị biến thành những con vật hy sinh, những kẻ đánh thuê cho một chủ nghĩa, những ý thức hệ ngoại lai…
Ôi! Quê Hương tôi… những người như em… và những con người tài tuấn đã từng giờ, từng phút, từng giây phải gục ngã giữa đạn bom vì Tổ Quốc thương yêu nhưng đầy nghiệp chướng oan khiên này…
[/SIZE][/FONT]

TẾT MẬU THÂN
Phải nói rằng, cứ mỗi khi họ “lên đợt”, nghĩa là họ tập trung lực lượng để đánh vào những quận lỵ, đồn bót hay tấn công một đơn vị địa phương nào đó, là coi như đó là dịp tốt để chúng tôi đến mà “hốt” gọn! Vì quanh năm suốt tháng phải đi hành quân truy lùng hàng ngày vào tận sào huyệt (mật khu) của họ, mà chẳng bao giờ chạm súng cả. Họa hoằng lắm, có anh du kích nào đó cà ngơ chạy không kịp thì bị chúng tôi bắt sống mà thôi.
Cho nên sau này mỗi khi anh em nhắc đến Tết Mậu Thân, là coi như chúng tôi nhắc đến một cái dịp bằng vàng!
Hôm đó, chiều 30 Tết, chúng tôi được lệnh rời Vĩnh Bình (Trà Vinh) trở về hậu cứ ở Cái Vồn (cạnh bến phà Cần Thơ) để nghỉ Tết.
Chi đoàn vừa di chuyển đến ngả ba Vũng Liêm thì được lệnh dừng lại ở đó để chờ lệnh mới! Và sáng hôm sau chúng tôi được lệnh quay trở lại Vĩnh Bình! Ai cũng bực tức, vì ăn Tết mà không về hậu cứ thì cũng như không! Nhưng khi chi đoàn còn cách Bình Phú khoảng 1 cây số thì gặp phải cái mô mới đắp nằm giữa đường… Mọi người chợt hiểu!
Tôi thầm hỏi hưu chiến cái kiểu gì vậy?!
Khi chi đoàn xuống ruộng đi vòng để tránh cái mô thì Đại Úy Tá (chi đoàn trưởng) cho biết là đêm qua Việt Cộng đã chiếm Toà Hành Chánh và nhiều vị trí khác trong thành phố Vĩnh Bình.
Thế là xong cái Tết! Tết Mậu Thân.
Ngay sau khi vào thành phố chúng tôi phối hợp với Đại Đội Trinh Sát 14 tấn công vào Tòa Hành Chánh, đến chiều thì ổ kháng cự cuối cùng của VC bị tiêu diệt và chúng tôi chiếm lại Toà Hành Chánh. Qua hôm sau, phối hợp với Trung Đoàn 14 Bộ Binh đồn trú tại Vĩnh Bình, chúng tôi chia nhau đánh vào những cứ điểm khác bị địch chiếm rãi rác trong thành phố… Riêng chùa Ông Mẹt đã bị thiệt hại lớn vì chùa được xây cất rất kiên cố và đối phương cố thủ trong đó. Đến ngày mùng 5 Tết thì coi như không còn bóng dáng anh Việt Cộng nào trong thành phố Vĩnh Bình nửa, và chi đoàn đã xé lẻ từng chi đội để qua đêm ở những điểm trọng yếu.
Đêm mùng 6 Tết, chi đội tôi bố trí qua đêm ở trước Bưu Điện, nằm trong xe mở radio nghe tin tức, tôi lần qua nghe đài Việt cộng, và “Đây là Đài Phát thanh Giải Phóng, tiếng nói của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam”, trong bản tin đó, có một bản tin mà cho đến giờ này tôi vẫn còn nhớ từng tiếng : “Toàn bộ chi đoàn xe bọc thép ngụy Sài Gòn tại tỉnh Trà Vinh đã bị tiêu diệt”. Trời đất! Tôi vội tắt máy, bước ra khỏi xe. Đưa mắt nhìn về những con cua sắt đang nằm lầm lỳ trước cổng Tòa Án gần đó, tôi bỗng bật cười… Cười vì trong mấy ngày qua, chi đoàn tôi chỉ bị trúng có một viên đạn súng cá nhân bắn tỉa mà thôi. Viên đạn đó trúng vào cái lá chắn che đạn trên xe của tôi nghe một tiếng “keng” và để lại một vết trầy nhỏ. Lúc đó hạ sỉ nhất Thạch Inh đang nhắm điều chỉnh khẩu đại bác không giật để bắn vào một vị trí cố thủ trong chùa Ông Mẹt thì nghe tiếng “keng” đó, anh từ từ quay sang nhìn tôi rồi nói chậm rãi “Nó mới bắn đó!”, rồi cũng từ từ quay lại tiếp tục điều chỉnh khẩu đại bác và bắn! Ngoài ra tính đến hôm đó, chẳng có xe nào bị trúng đạn, cũng chẳng có ai bị thương cả! Ngoài ra họ có bắn được một quả đạn chống tăng (B40), nhưng bắn hụt!
Vậy mà họ có thể đưa tin là đơn vị chúng tôi đã bị tiêu diệt hoàn toàn, thì còn trời đất gì nửa!!!
Qua ngày hôm sau chúng tôi bắt đầu qua đêm bên ngoài thành phố để chuẩn bị hành quân đến các vùng phụ cận, các quận lỵ, đồn bót trong tỉnh để giải toả áp lực địch ờ những nơi đó.
Đêm đó, cách chỗ chúng tôi qua đêm khoảng 1 cây số, họ tập họp dân chúng để hô vang những tiếng “Hoan hô… Hoan hô”, cho đến khi chúng tôi phải dùng súng cối bắn mấy quả đạn chiếu sáng, tiếng hô mới im!
Cho nên sáng hôm sau trên hướng tiến đầu tiên của chúng tôi là tiến về quận Cầu Ngan, chúng tôi đã phải di chuyển rất thận trọng. Đi được khoảng 5 cây số, thì xe đi đầu phát hiện địch, anh trưởng xa báo cáo trong máy “Tụi nó đông quá, chạy qua chạy lại tùm lum…”. Thế là chúng tôi tăng tốc độ, và đúng như vậy, họ đang chạy dọc theo con đường đất dẫn ra khu đầm lầy phía sau xã Bàng Đa và nổ súng, chúng tôi lập tức khai hỏa và tràn tới bám lấy con đường đất. Cuộc giao tranh chỉ diễn ra khoảng 15 phút ngắn ngủi thì họ đã im tiếng súng, Đại úy Tá ra lệnh cho khinh kỵ hạ chiến lục soát.
Nhìn khoảng 20 mươi xác chết được kéo lên xếp dọc trên con đường đất, có những xác trên người chỉ có một quả lựu đạn…Rồi hỏi chuyện khoảng hơn 20 người bị chúng tôi bắt sống thì trong đó có đến gần 10 người là thiếu niên chỉ mới đi theo họ vài ngày, mỗi người cũng chỉ được họ cấp cho một hoặc hai quả lựu đạn! Tôi chợt hiểu…
Họ không ngờ chúng tôi đến bất thần như thế! Có lẽ vì bản tin “Toàn bộ chi đoàn xe bọc thép ngụy Sài Gòn tại tỉnh Trà Vinh đã bị tiêu diệt” mà họ đã phải nhận lấy hậu quả, vì đã tin theo những lời dối trá đó!
Rồi thì đại khái như thế, những ngày sau đó chúng tôi lần lượt giải toả áp lực địch trên toàn lãnh thổ tỉnh Vĩnh Bình từ Cầu Ngan ra tận biển, rồi quay lại Trà Cú, Tiểu Cần, Cầu Kè, ngược lên Càng Long và sau cùng là trở về Vĩnh Long để tăng cường các đơn vị bạn ở đó.
Chỉ trong một tháng đầu ngắn ngủi của năm Mậu Thân 1968 mà đã có biết bao nhiêu chuyện buồn vui…
Từ chuyện vợ tôi bây giờ (năm đó còn là người tình, chưa cưới) cũng chỉ vì nghe được cái bản tin toàn bộ chi đoàn tôi bị tiêu diệt của “đài giải phóng” và nghe ai đó nói tôi đã tử trận, nên đã lặn lội (đi bộ) từ Vĩnh Long xuống đến Vĩnh Bình và sau cùng là vào đến Thầy Phó với biết bao nhiêu bất trắc chờ đợi trên đường, tay chỉ ôm theo một bộ quần áo trận của tôi, nhưng vẫn không gặp được tôi vì đơn vị nay đây mai đó!
Chuyện người con gái khoảng 17 mà tôi không hề biết tên, nhà cô là ngôi biệt thự bên kia đường xéo với chợ Càng Long mà có một lần xe tôi đậu bên cạnh, tôi đã vào nhờ cô vá giùm cái quần bị móc rách. Ngay hôm mùng 2 Tết đang đánh vào chùa Ông Mẹt, cô đã đến tận xe tìm tôi trong tiếng đạn bay… Tôi phải hét lên giận dữ cô mới chịu đi về…
Chuyện tôi lần đầu gặp “Út Bàng Đa”, người con gái Miên lai Tàu nổi danh là người đẹp nhất Trà Vinh thời đó, trong cảnh cô và gia đình đang nằm im dưới gầm bộ ván trong nhà cô… Trong cơn kinh hoàng vì kẹt giữa bom đạn, cô nằm yên đưa mắt nhìn tôi… Ôi cha… Đôi mắt mà cho đến bây giờ tôi chưa thấy đôi mắt nào đẹp hơn!
Chuyện những người lính ở những tiền đồn xa xôi bị vây hãm, những người bị chết đã phải bị chôn cất ngay bên trong đồn vào ban đêm vì không thể ra khỏi đồn được…
Chuyện những tiền đồn đã cố thủ hơn 20 ngày, gọi về Tiểu Khu kêu cứu trước khi họ buông súng đầu hàng, dù Tiểu Khu trấn an hãy cố thủ thêm chỉ 1 ngày nửa là chúng tôi sẽ đến nơi… Và đúng như lời Tiểu Khu hứa, ngày hôm sau chúng tôi đến nơi thì chỉ còn cái đồn hoang vắng, họ đã bị giết hoặc bị bắt dẫn đi vì đã đầu hàng… Nhưng nói chung thì những người lính Địa Phương Quân, Nghĩa Quân đã bỏ đồn về đêm, rồi lén đến những chùa Miên gần đó cạo đầu, mặc áo cà sa… như những nhà sư… Cho đến khi chúng tôi đến! (Ở tỉnh Trà Vinh, hầu hết lính ở đồn là người Việt gốc Miên)
Buồn cười nhất là có một cô nữ giao liên VC khoảng 18 tuổi bị chúng tôi bắt 4 lần, lần đầu là trong đám khoảng hơn 20 VC bị bắt sống ở Bàng Đa, và 3 lần sau đó ở những nơi khác sau khi chạm súng. Cô trông khá đẹp và rất hiền lành, sau khi rời khỏi địa đểm giao tranh thì chúng tôi luôn luôn bỏ cô lại đó, chỉ bắt giữ nhũng anh VC mà thôi, vì chở đàn bà con gái trên xe… xui lắm! Buồn cười ở chỗ là cả 4 lần cô đều bị chi đội của thiếu úy Đứa bắt, mà thiếu úy Đứa lại là anh chàng rất đẹp trai, cao lớn… Không biết có phải vì cô mê Đứa đến nỗi dẫn đồng chí của mình đi nạp mạng chỉ để… gặp Đứa hay không!
Đại khái Tết Mậu Thân đối với đơn vị tôi là như thế…
Rồi đơn vị tôi dời hậu cứ xuống đồn trú luôn tại Vĩnh Bình, hậu cứ đầu tiên là tại Ao Bà Om, giáp với hàng rào chùa Âng.
Những tháng ngày sau đó, chuyện đi hành quân các loại như truy tìm, bình định… ở tỉnh Trà Vinh đối chúng tôi chẳng khác gì đi cắm trại, vì chẳng bao giờ đụng trận cả, họ đã bỏ trốn đi trước khi chúng tôi đến nơi, nhà cửa của họ trong mật khu,vùng giải phóng chỉ có đàn bà con nít là vợ con của họ mà thôi. Dù biết chính những phụ nử, trẻ em đó cũng hoạt động du kích, giao liên… nhưng chúng tôi không đá động gì đến họ, kể cả khi tìm gặp được khẩu súng dấu trong bồ lúa ở nhà họ cũng vậy! [/SIZE][/FONT]
Trận Kampong Trabek
Với sự trợ lực của các đơn vị Khmer Đỏ, lực lượng quân Cộng sản Bắc Việt đã đánh chiếm và tổ chức nhiều chốt chận kiểm soát từ vùng Mỏ Vẹt đến bến phà Neak Luong trên sông Mekong. Đến đầu tháng 7, 1972, quân đội Cộng Hòa Kampuchia chỉ còn kiểm soát được hai thị trấn Neak Luong và Soài Riêng (Svay Rieng). Trước tình hình nguy kịch, Kampuchia đã khẩn yêu cầu quân lực VNCH tăng viện. Dù phải đối phó với các cuộc tấn công của Cộng Quân, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV đã điều động chúng tôi khẩn cấp tiếp cứu.
Đã hơn 1 tuần mà Liên Đoàn 7 Biệt Động Quân và quân đội Kampuchia vẫn chưa đánh bật được cộng quân ra khỏi thị trấn Kampong Trabek (nằm ở khoảng giữa Svay Rieng và Neak Luong, tức cách quận Hồng Ngự tỉnh Đồng Tháp khoảng gần 20 kí lô mét về hướng Đông Bắc). Chúng tôi đã được điều động đến tiếp ứng, và đã đánh bật Cộng Quân ra khỏi thành phố này rồi truy quét địch dọc theo Quốc Lộ 1 về hướng Tây đến khi đã bắt tay được với lực lượng trú phòng Neak Luong.
Cũng cần ghi nhận rằng Kampong Trabek là một vị trí chiến lược trọng yếu. Thị trấn này nằm trên trục vận chuyển giữa hai khu vực tiếp vận chính của các đơn vị Cộng Quân trên đất Kampuchia. Do đó, Cộng Quân đã tái phối trí lực lượng ở gần thị trấn này với quyết tâm là sẽ phản công để dành quyền kiểm soát thị trấn chiến lược này.
Gần cuối tháng 7, 1972, do tình hình Quân Khu 4 sôi động, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV phải điều động chúng tôi trở về nội địa.
Ngay sau đó cộng quân đã tung quân tái chiếm thị trấn này!
Từ sông Cái Cái, chúng tôi vượt sông Sở Hạ (sông ranh giới Việt-Miên từ Hồng Ngự về hướng Mộc Hoá) rồi vượt qua những cánh đồng, xóm làng… thẳng hướng Kampong Trabek. Sau khi vượt qua rặng cây cuối cùng, thị trấn Kampong Trabek sừng sửng hiện ra trong nắng, ngay sát bên kia quốc lộ 1. Khi còn cách thị trấn khoảng 500 mét, chúng tôi dừng lại bố trí.
Xe tôi nằm ngay dưới một cây đa to nên đã gặp phải một chuyện buồn cười. Vì chúng tôi đến quá nhanh, một anh bộ đội có nhiệm vụ quan sát còn đang kẹt ở trên cây đa mà chúng tôi không thấy! Khoảng 1 tiếng đồng hồ sau anh ta tuột xuống. Anh chàng này rất mồm mép, chúng tôi chưa hỏi thì anh đã khai tùm lum, hình như anh ta có nói anh ta là thiếu uý, nhưng tôi không quan tâm! Rồi anh ta còn bảo chúng tôi đưa bản đồ ra để anh ta chỉ những nơi đơn vị anh đang bố trí nửa! Tôi không thích những người mồm mép quá nên bảo anh em trói tay anh ta lại rồi bỏ đó…
Khoảng 2 giờ sau, phía Biệt Động Quân đề nghị chúng tôi dùng hoả lực yểm trợ cho họ tiến chiếm thị trấn một lần chót, nếu họ không chiếm được thì sẽ giao cho chúng tôi thanh toán! Nhiệm vụ yểm trợ đó dược giao cho chi đoàn của anh Ngô Văn Cứ, còn tôi thì án ngữ mặt sau.
Khi 2 tiểu đoàn Biệt Động Quân bám được bên này bờ quốc lộ, thì từ ven làng phía sau mà chúng tôi đã vượt qua để nhìn thấy Kampong Trabek, cộng quân bắn một quả đạn đại bác vào một xe của chúng tôi, nhưng quả đạn chạm vào bờ mẫu và nổ tung.
Tôi đứng lên nhìn về ven cây rậm rạp nơi xuất phát quả đạn, quan sát địa thế và cân nhắc tình hình thật nhanh, nghĩ rằng như vậy là chúng tôi đang bị bao vây! Khi đối phương có ý định bao vây hoặc khóa đít chúng tôi là một lực lượng gồm một Liên Đoàn Biệt Động quân và 1 Thiết Đoàn ngay giữa ban ngày như thế, thì chắc họ phải dùng đến một lực lượng đáng kể, nên tôi quyết định xử dụng toàn lực để xung phong càn quét mục tiêu.
Ngay sau đó tôi nói với cả đơn vị ý nghĩ của tôi: “Nó muốn khóa đít như ở Kampong Trạch! Gặp Đông Phương mà mày muốn khóa đít là coi như mày đi nạp mạng rồi!”. Lập tức chi đoàn phó của tôi là Nghê Thành Thân lên tiếng: “Ngon ăn quá Đông Phương!”. Cùng lúc đó Biệt Động Quân đề nghị cho họ tăng cường một đại đội để tùng thiết, tôi từ chối vì mục tiêu quả thật rất ngon ăn!
Sau đó tôi điều động chi đội súng cối 106 ly và phân đội xe phun lửa vừa mượn của Thiết đoàn án ngử bên phải, 5 chiếc của chi đội yểm trợ án ngử bên trái, còn lại 15 chiếc của 3 chi đội khinh kỵ và tôi dàn hàng ngang chuẩn bị xung phong.
Khi 3 khẩu súng cối vừa rót đạn vào mục tiêu, thì lập tức 15 con cua sắt gầm rú lên xông tới. Khi còn cách mục tiêu khoảng 300 mét tôi ra lệnh khai hỏa… 45 khẩu đại liên trên 15 chiếc xe khinh kỵ đồng loạt nhả đạn. Địch bắt đầu bắn trả bằng một qủa B.41, một quả hỏa tiễn chống tăng AT-3 cả hai đều chạm vào bờ mẫu phía trước và phát nổ chứ không trúng xe nào cả (Hỏa tiễn AT-3 sẽ không có hiệu quả đối với mục tiêu ở gần vì chưa thể điều chỉnh đạn đạo được, còn B41 mà ở tầm 300 mét thì chẳng ăn nhằm gì), tiếp theo là một loạt đại liên từ góc phải bắn ra. Tôi liền điều động khẩu đại bác không giật 106 ly cho một quả vào đó, thế là khẩu đại liên im bặt.
Với hỏa lực dày đặc của 45 khẩu đại liên, toàn bộ mục tiêu chìm trong khói bụi mịt mù. Và chúng tôi đã bám được mục tiêu. Lập tức tôi ra lệnh cho khinh kỵ hạ chiến trong khi những khẩu đại liên vẫn tiếp tục giăng lưới lửa. Gần 10 phút sau, từ trong sâu phía sau của vườn cây có 3 chiếc áo được đưa lên cao bằng cây tre quơ qua quơ lại… Họ đã đầu hàng!
Sau đợt xung phong đó, Nghê Thành Thân là người duy nhất bị thương, một mảnh đạn vô ngực, tôi rất mừng, vì sự báo ứng của tượng Phật đã ứng nghiệm, nhưng không nguy hiểm. Và Thân không còn lý do để từ chối được tải thương về quân y viện!
Tôi đứng trước cây thốt nốt ngay đầu xe quan sát đoàn tù binh 22 người đang xếp hàng một đi ngang trước mặt tôi. Tất cả họ đều rất trẻ, trên dưới 20, và nước da ai cũng đều vàng vọt vì bệnh sốt rét! Bỗng có một chú bộ đội dừng lại ngay trước mặt tôi, khoanh tay lại và đưa đôi mắt cũng vàng nghệ nhìn tôi: “Thưa ông em có được sống không?”. Tôi lạnh lùng nhìn anh ta và gật gật đầu…
Khi trực thăng báo còn khoảng 10 phút nửa họ sẽ đến để bốc đám tù binh đi, tôi liền đến nói chuyện với họ. Nhìn những khuôn mặt hiền lành đang ngồi trong tư thế hai tay bị trói ra sau lưng, họ là những bộ đội thuộc công trường 5 CSBV, tôi nói lớn: “Vừa rồi có một người trong các anh hỏi tôi các anh có được sống không. Nên tôi muốn nói để các anh yên tâm: Ở tại đây thì tôi không bảo đảm mạng sống của các anh được, vì có thể người của các anh sẽ pháo vào đây… Nhưng chúng tôi sẽ cố gắng bảo vệ an ninh tối đa cho các anh. Chúng tôi sẽ chuyển các anh về hậu phương, ở đó các anh sẽ là tù binh và sẽ được đối xử đúng với quy chế về tù binh, có nghĩa là các anh sẽ được đối xử tử tế. Vậy các anh yên tâm”.
Nhìn lướt qua những khuôn mặt thoáng vui, tôi vẫy tay chào họ rồi trở lại xe.
Hôm đó 2 tiểu đoàn Biệt Động Quân vẫn chưa vào được thị trấn!
Sáng hôm sau, khi chúng tôi xung phong lên bám lấy bờ bên này quốc lộ 1. Không có tiếng súng bắn trả, Biệt Động Quân dưới sự yểm trợ hỏa lực của chúng tôi đã tràn vào thị trấn…
Quân cộng sản Bắc Việt đã rút đi từ trong đêm.
******** Sở dĩ tôi muốn nhắc đến trận đánh này, là nó có một điểm rất quan trọng mà ít người chú ý : Nếu chúng tôi không tiêu diệt ngay đơn vị cộng quân đánh bọc hậu đó, có nghĩa là chúng tôi bị bao vây vì không có quyết tâm đánh trả, thì họ đã không rút quân khỏi thị trấn Kampong Trabek trong đêm đó! Tôi nghĩ có lẽ họ đã biết chúng tôi là ai, sau khi chúng tôi giải toả Kampong Trach tháng trước để đưa Lữ Đoàn 4 Kỵ Binh và Liên Đoàn 7 Biệt Động Quân ra khỏi vòng vây ở Kampong Trach.
Trường hợp đó, mục đích của cộng quân sẽ đạt vì khi chúng tôi bị cầm chân ở đó, họ sẽ đưa quân vào nội địa trong ý định biến vùng IV trở thành như 3 vùng kia trong mùa Hè đỏ lửa năm 1972![/SIZE][/FONT]
