Skip navigation.

Log in | Sign up

The course of true love never did run smooth!

Welcome to Wu668's blog - 知彼知己,百戰不殆;不知彼而知己,一勝一負;不知彼,不知己,每戰必敗

Phạm Công Trứ - Tác giả phép "Bình lệ, Ngũ lượng"

,








Trong những thập niên đầu thế kỷ XVII, diễn biến chính trị - xã hội khá phức tạp bởi sự tranh giành quyền lực của các thế lực phong kiến Lê - Mạc, Trịnh - Nguyễn. Nhưng thời thế tạo anh hùng, bao giờ cũng vậy, trước những đòi hỏi, thách thức của lịch sử, thường xuất hiện những nhân tài đóng vai trò thúc đẩy sự phát triển xã hội, phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử. Một trong những nhân vật lịch sử xuất hiện đúng yêu cầu đó là Quốc lão, Thái bảo Yên Quận công Phạm Công Trứ (1600 - 1675). Cùng với những "anh tài" như Vũ Duy Chí, Nguyễn Quán Nho, Trần Đăng Tuyển, Đặng Đình Tướng... Phạm Công Trứ là một trong 39 người "phò tá có công lao tài đức" thời Trung hưng, đã đem hết sức lực, trí tuệ và tài năng của mình cống hiến cho đất nước, vì sự nghiệp "quốc thái, dân an".

Sự nghiệp chính trị

Sự nghiệp chính trị của Phạm Công Trứ, về cơ bản, có thể kể đến những cống hiến của Người đối với đất nước, với triều đình và, thời gian có thể tính từ khi Người thi đỗ và tham gia vào bộ máy chính quyền nhà nước. Trải qua gần 50 năm làm quan, phò tá 5 đời vua Lê, 2 đời chúa Trịnh, từng giữ nhiều chức vụ và cương vị khác nhau, Phạm Công Trứ đã đạt đến đỉnh cao của công danh và quyền lực; là người mưu lược, luôn chăm lo việc nước, tài năng xuất chúng trên mọi lĩnh vực: Nội trị, văn hoá, sử học, ngoại giao...

Theo chính sử, khoa Mậu Thìn, niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 10 (1628), Phạm Công Trứ dự kỳ thi Đình, đậu Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân (Tiến sĩ) và được bổ làm Hàn lâm viện Hiệu thảo. Từ đó trở đi, ông lần lượt giữ các chức vụ: Hiến sát sứ xứ Thanh Hoa (1631), Phụng Thiên Phủ doãn (1639), Tham chính xứ Thanh Hoa (1640), Thái thường Tự khanh (1642), Phó đô Ngự sử tước Khánh Yên bá (1645), Đô ngự sử (1646), Lễ bộ Thượng thư tước Yên Quận công (1657), Thiếu bảo kiêm Đông các Đại học sĩ, Tham tụng (1661), Lại bộ Thượng thư (1664), Thái bảo Quốc lão tham dự triều chính (1668), Chưởng Lục bộ sự - Thượng thư của sáu bộ (1673), ông mất được truy tặng Thái tể, ban tên thụy là Kinh tế (1675).

Như thế, con đường công danh của Phạm Công Trứ rất hanh thông, trước hết là do tài năng, phẩm hạnh và nhân cách; thêm nữa là sự giúp đỡ, đặc ân của các vua Lê chúa Trịnh. Cả hai vị chúa mà Phạm Công Trứ phò giúp là Trịnh Tráng và Trịnh Tạc đều được đánh giá là các chúa thánh minh: "Về thời Trịnh Tạc, Trịnh Căn, Trịnh Cương làm chúa, thì ông nào cũng hết lòng lo việc trị dân, và lại nhờ có những người tôi giỏi như Phạm Công Trứ, Nguyễn Công Hãng... đều hết sức giúp đỡ, cho nên sửa sang được nhiều việc, nước được yên trị". Là người có tài năng và đức độ nên Phạm Công Trứ được các vua Lê chúa Trịnh rất trọng vọng.

Trong suốt quá trình làm quan, tham gia vào công việc chính sự của triều đình cũng như của phủ chúa, Phạm Công Trứ đã có những sáng kiến đề xuất và cải cách rất táo bạo.

Với cương vị Đô Ngự sử, Phạm Công Trứ cùng với Tham tụng Dương Trí Trạch nhận thấy tầm quan trọng của chức nhiệm các quan đại thần văn võ, cho nên, năm Canh Tý (1660), hai ông đã dâng sớ tấu trình về việc quy định chức trách cũng như phẩm chất của quan văn võ. Những điều răn bảo các quan đương nhiệm này được vua Lê chúa Trịnh rất đồng tình ủng hộ, vì từ đây giữa quyền lợi, trách nhiệm và chức vụ đã gắn bó mật thiết với nhau, tạo thành sự giàng buộc, kiểm soát qua lại khiến các quan thực hiện tốt hơn chức vụ của mình.

Khi đảm đương trọng trách Lại bộ Thượng thư, năm Ất Tỵ (1665), Phạm Công Trứ giao cho Ngự sử đài khảo khoá các nha môn, đã phát hiện sai phạm của nhiều đại thần và tất nhiên, họ đều bị giáng chức. Những việc làm đó đã khiến cho "pháp lệnh nghiêm minh, sĩ phu danh đua cố gắng, người làm quan lấy phong thái khí tiết mà tự miễn, cho nên được gọi là đời thanh bình. Đó là công hiệu của phép làm sáng suốt vậy".

Trên lĩnh vực kinh tế, Phạm Công Trứ đề xuất thực thi phép Bình lệ (kê khai hộ khẩu tại các địa phương để làm cơ sở cho việc bình bổ thuế ngạch), ban hành phép Ngũ lượng nhằm thống nhất các đơn vị đo lường, đong đếm trong nhân gian.

Một điều dễ nhận thấy là, Phạm Công Trứ từng nắm giữ nhiều chức vụ và cương vị khác nhau, nhưng ở vị trí trọng trách nào, ông cũng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và để lại những dấu ấn đậm nét, xứng đáng là công thần lương đống của triều đình: "Phạm Công Trứ là nhà chính trị xuất sắc. Khi giữ chức Tham tụng, ông đã nêu rõ phép khảo khóa (cất nhắc quan lại), ban điều lệ giáo hóa, khen thưởng người có đức hiếu đễ tốt nghĩa, xét lại sổ đinh điền, định lại ngạch thuế. Những việc sắp đặt của ông được Trịnh Doanh tín nhiệm, thường theo ý ông để ổn định việc trị an. Người đương thời đều khen ông là một Tể tướng tốt".

Một số đóng góp của Phạm Công Trứ trên lĩnh vực quân sự

Trên lĩnh vực quân sự, Phạm Công Trứ luôn là một mưu sĩ rất đáng tin cậy của vua Lê chúa Trịnh. Điều đặc biệt, cả ba biến cố chính trị lớn, xảy ra ở thế kỷ XVII, thì ông đều tham gia và lập nhiều công lớn.

Về việc đánh dẹp nhà Mạc ở Cao Bằng: Chúng ta biết rằng, Mạc Đăng Dung "tiếm ngôi" năm Đinh Hợi (1527), truyền được 5 đời, đến Mạc Mậu Hợp thì mất (1592). Sau đó, Mạc Kính Cung chạy lên chiếm cứ Cao Bằng và dư đảng nhà Mạc vẫn thường xuyên hoạt động ở đây. Vì thế, vào các năm Giáp Thân (1644), Đinh Mùi (1667), Kỷ Dậu (1669), Phạm Công Trứ phò tá vua Lê cùng chúa Trịnh chinh phạt nhà Mạc và giành được những thắng lợi quyết định. Quan trọng hơn cả là dưới sự tham vấn của ông, nhà Trịnh đã tránh được một cuộc chiến tranh với nhà Mãn Thanh, vì chúng định mượn cớ Phù Lê để xâm lược nước ta.

Về việc chinh phạt quân Nguyễn ở Đàng Trong: Từ khi cuộc chiến Trịnh - Nguyễn nổ ra, trải qua 7 lần đại chiến thì Phạm Công Trứ có đến 5 lần Nam chinh vào các năm: Quý Mùi (1643), Ất Mùi (1655), Canh Tý (1660), Tân Sửu (1661), Tân Hợi (1671). Tuy nhiên, cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn vẫn không phân định được thắng thua. Hai bên giằng co, lúc Trịnh mạnh, khi Nguyễn suy và ngược lại; cuối cùng năm Nhâm Tý (1672) hai bên lấy sông Gianh làm giới tuyến. Từ đó, Nam - Bắc triều tạm chấm dứt chiến tranh.

Về việc dẹp nội loạn: Do mâu thuẫn trong nội bộ nhà Trịnh, năm Ất Dậu (1645), Trịnh Lịch và Trịnh Sầm đã dấy quân phản loạn. Nhờ mưu lược khôn khéo và quyết đoán, Phạm Công Trứ đã khuyên phủ Tiết chế (tức phủ chúa Trịnh) nên hành sự trước khi chúng tập hợp lực lượng. Kết quả là, nội loạn trong cung đã được dẹp yên, đó là công lớn của Phạm Công Trứ và Đào Quang Nhiêu vậy.

Có thể nói, Phạm Công Trứ luôn là "cánh tay đắc lực" cho Trịnh Tạc và Trịnh Căn lập công. Từ Tán lý, Tham tán quân vụ đến Tham tán việc quân, Phạm Công Trứ đã tham mưu đề xuất những mưu sách đúng đắn, giúp vua Lê chúa Trịnh bình ổn được thù trong, giặc ngoài.

Những đóng góp của Phạm Công Trứ trên lĩnh vực văn hóa - xã hội

Trên lĩnh vực văn hóa Phạm Công Trứ cũng có những đóng góp quan trọng. Đầu tiên là ban bố bản Lê triều giáo hoá điều luật (47 điều giáo hóa) nhằm chấn chỉnh tôn ti trật tự trong triều đình, khiến cho các kinh điển của Nho giáo thấm nhuần trong xã hội, làm cho nhân dân trở về với thuần phong mỹ tục tốt đẹp của dân tộc.

Không những quan tâm, chăm sóc đến việc Đạo, việc Đời, Phạm Công Trứ còn tưởng nhớ đến công lao của các vị công thần tử tiết triều Lê. Năm Bính Ngọ (1666), Phạm Công Trứ đã dâng biểu tấu nhằm tuyên dương 13 bầy tôi tử tiết thời Lê sơ, phong làm Phúc thần, cho dựng từ đường và phụng thờ hương khói.

Là người đứng đầu bộ Lễ, Phạm Công Trứ đã kiến nghị vua Lê chúa Trịnh sửa sang lễ nghi, triều phục và định thành quy chế rõ ràng cho các quan văn võ đại thần. Ông cũng quy định phụ nữ và nam giới ăn mặc y phục theo đúng tục lệ truyền thống. Ngoài ra, Phạm Công Trứ cũng nhiều lần tấu xin ra lệnh nghiêm cấm hút thuốc, bởi không chỉ có hại cho sức khỏe mà còn trở thành một vấn nạn trong xã hội lúc bấy giờ.

Cũng như nhiều nhà khoa bảng khác, ngoài việc làm quan, Phạm Công Trứ còn là một nhà thơ, nhà văn nổi tiếng. Với quan niệm Thi ngôn chí (làm thơ để tỏ chí hướng), ông đã mượn hình tượng Cây Quế, Cây Tùng để khẳng định bản lĩnh trung trực, cứng rắn và sẵn sàng ghé vai gách vác công việc của sơn hà, xã tắc của mình. Đặc biệt, trong chuyến hộ giá vua Lê Thần Tông đi Nam chinh ở Thuận Hoá năm Tân Sửu (1661), Phạm Công Trứ cùng với Trần Đăng Tuyển và Nguyễn Văn Thiệu làm thơ và xướng hoạ về những thắng tích, những nhân vật nổi tiếng của các địa phương mà đoàn quân đi qua, tất cả bao gồm 18 bài. Đây là những cảm nhận tinh tế, sâu sắc về thiên nhiên đất nước, con người của ông, đồng thời, quan trọng hơn là thể hiện ý chí quyết tâm của đoàn quân trong việc bình ổn và thu phục châu Ô (do nhà Nguyễn ở Đàng Trong chiếm đóng). Ở trong triều hay trong gia đình, Phạm Công Trứ đã lấy thơ văn để thể hiện quan điểm cũng như sự hiếu đễ của mình.

Phạm Công Trứ cũng gắn bó sâu sắc với sự nghiệp giáo dục - đào tạo. Để mở mang nền nếp Nho học, giáo dục kẻ sĩ, tuyển chọn nhân tài cho đất nước, ông phụng mệnh làm Giám thủ Quốc Tử Giám, vừa coi sóc việc trùng tu, tôn tạo Văn miếu Quốc Tử Giám, đồng thời đôn đốc và rèn luyện việc học tập của các học sinh ở Quốc Tử Giám. Không những thế, ông cùng quan Tham tụng Dương Trí Trạch dâng sớ xin cung đốn mọi vật cần thiết cho trường thi, đặt biệt là trường thi hương ở các địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho học trò học tập. Khi về trí sĩ ở quê hương, ngoài thú vui điền viên, ông còn làm nhiều việc công đức cho làng quê và thúc đẩy nho phong, truyền thống học tập của cả huyện.

Phạm Công Trứ còn là một người thầy năng lực và đầy nhiệt huyết. Nhiều học trò của ông sau này thành đạt, đỗ khoa bảng cao và đảm nhận những chức vụ quan trọng trong triều cũng như ngoài trấn, như: Đặng Công Chất, Nguyễn Công Bích, Đào Công Chính, Lê Hữu Danh, Lê Nhân Kiệt, Lê Sĩ Triệt, Hồ Sĩ Dương, Nguyễn Công Bích, Nguyễn Viết Thứ... Như thế, trong ba điều vui nhất của người quân tử thì Phạm Công Trứ đều đạt được cả, trong đó có điều vui thứ ba, là được nhận các bậc anh tài trong thiên hạ mà dạy dỗ thành tài.

Ngoài những đóng góp trong nhiều lĩnh vực như đã nêu trên, Phạm Công Trứ còn là một nhà sử học tiêu biểu của thế kỷ XVII. Cùng với Lê Văn Hưu, Phan Phù Tiên, Ngô Sĩ Liên, Lê Hy..., Phạm Công Trứ là người có công lớn trong quá trình biên soạn và hoàn thành bộ quốc sử lớn của dân tộc - bộ Đại Việt sử ký tục biên; đồng thời cũng là người đúc kết, nêu ra những quan điểm và phương pháp cơ bản của sử học, như về mục đích và đối tượng của sử học; về thái độ cũng như phương pháp viết sử của sử gia. Về sử gia Phạm Công Trứ, GS. Phan Huy Lê đã tổng kết:

- Hoàn chỉnh cấu trúc của bộ sử bằng cách phân chia phần Bản kỷ thành 3 phần: Bản kỷ toàn thư, Bản kỷ thực lục, Bản kỷ tục biên, và xác định lại ranh giới các phần, các quyển;

- Hiệu đính bộ Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, chỉnh lý và viết tiếp đoạn cuối quyển 10, phần Bản kỷ toàn thư tục biên 3 quyển;

- Bổ sung thêm phần phàm lệ Tục biên và chú giải phàm lệ Toàn thư của Ngô Sĩ Liên;

- Viết thêm bài tựa sách Đại Việt sử ký tục biên.

Với những đóng góp đó, Phạm Công Trứ thực sự là một trong những nhà sử học tiêu biểu của thời kỳ phát triển của sử học Việt Nam dưới thời trung đại.

Nói tóm lại, Phạm Công Trứ là một tấm gương sáng về một vị quan đầu triều hết lòng tận tụy phục vụ đất nước, triều đình. Ông để lại danh tiếng cho muôn đời con cháu mai sau bởi cuộc đời của một con người làm quan cao cấp nhưng thanh liêm, trung thực, ngay thẳng như những lời ngợi ca: "Ông đã sửa mình chính trung tại triều đình, đem tài đức cố gắng hoàn thành trách nhiệm. Trên vì đức, dưới vì dân, ngoài bờ cõi giữ yên lặng, trong đất nước được yên vui no ấm. Ân đức tới mọi người, ai ai không ca tụng".

Cả cuộc đời cống hiến cho sự nghiệp quốc thái, dân an, Phạm Công Trứ là một vị Tể tướng được vua quý, chúa yêu; bạn bè đồng liêu và học trò kính trọng; là tấm gương ngời sáng cho hậu thế noi theo, xứng danh là Trung hưng hiền tướngcủa thời Lê Trung hưng./.


Hà Nội xưa qua ảnh

,


Bán đào tết

Trụ sở báo Hanoimoi ngày nay

Ngã tư Trần Phú - Điện Biên Phủ

Ngày nay là tượng đài chiến sĩ

Đường Thanh Niên

Ga Hà Nội thời kỳ đầu, tòa nhà trung tâm duy nhất

Sau đó được xây thêm 2 khối ở bên


Tầu hỏa ngày xưa


Cầu Long Biên

Bến xưa

Phủ Chủ tịch

Vườn hoa con cóc

Tràng Tiền

Nhà hát lớn

Tượng đài này trước cửa Nhà hát lớn đã bị phá

Ngân hàng trung ương

Nhà đấu xảo (trung tâm thương mại lúc đó) - nay là Cung văn hóa hữu nghị Việt Xô



Nhà máy gạch phố Cát Linh

Phố cổ




Tượng nữ thần tự do (bị giật đổ lúc 09 giờ 40 ngày 01/08/1945)

Chiều thu Tây Hồ...

, ,


Hồ Tây mưa nắng trả vay
Thuyền không gặp sóng mà say đắm lòng

Liễu buồn rủ nét mi cong
Người không đến nữa còn mong nỗi gì

Bỏ quên thương nhớ người đi
Thuyền chèo một mái, mái thì buông xuôi

Tìm đâu những tiếng em cười
Ta về gom lại trả người cho xong

Còn gì đâu nữa mà mong
Lẻ loi ghế đá buồn trông mây trời

Tiếng chuông Trấn Vũ vừa rơi
Đò neo bến vắng ta ngồi chơ vơ... ...



Bách hóa tổng hợp, xưa và nay

,







Khi Nguyễn Ánh chiếm được Thăng Long và quyết định dời đô vào đất Thuận Hóa năm 1802 thì Thăng Long, từ kinh đô trở thành tỉnh, nhưng vì muốn yên dân nên Nguyễn Ánh gọi thành Thăng Long là Bắc thành. Khu vực quanh hồ Gươm lúc đó vẫn còn hoang tàn và đổ nát...

Năm 1808, nhà Nguyễn đã cho lập xưởng đúc tiền ở đất thôn Tràng Tiền nên có tên gọi là Tràng Tiền (hay Trường Tiền). Tràng Tiền thuộc đất làng Cựu Lâu huyện Thọ Xương. Tràng đúc này đúc cả tiền đồng lẫn tiền kẽm. Nhưng không biết vì lý do gì mà chính quyền nhà Nguyễn chỉ tuyển phụ nữ vào làm. Hết giờ làm việc, khi đi qua cổng, các chị em đều bị lính gác sờ nắn, kiểm tra nên mới có câu vè:

Thứ nhất làm lính Tràng Tiền
Thứ nhì được cúng quan hiền Kẻ Mơ.

Hoặc:

Sống làm lính gác Tràng Tiền
Chết làm Thành hoàng làng Mơ.

Năm 1887, thực dân Pháp đã phá tràng đúc. Khu vực này xuất hiện các nhà một tầng mà chủ phần lớn là người Pháp. Họ mở các cửa hàng bán đồ cho lính và phụ nữ Pháp theo chồng. Đầu thế kỷ XX, Liên hiệp thương mại Đông Dương và châu Phi (LUCIA) đã xây dựng Trung tâm Thương mại Godard. Godard là tòa nhà hai tầng, tầng dưới cao 6m, tầng trên 5m. Diện tích mặt bằng xấp xỉ 4.500m2. Sàn tầng một lát đá thấm thủy khổ lớn để hạn chế nhớp nháp vào ngày nồm. Trần trát vôi rơm, sàn tầng hai bằng gỗ lim. Mái bằng khung thép uốn thành vòm, dưới vòm cũng trát vôi rơm, trên lợp miếng tôn nhỏ hình chữ nhật. Xung quanh là cửa kính để lấy ánh sáng. Từ tầng một lên tầng hai có bốn cầu thang bậc gỗ, lan can bằng thép có hoa văn, trụ cầu thang bằng đồng đúc. Cứ hai hay ba năm người ta lại cho làm mới Godard bằng cách quét vôi, sơn cửa. Do thời gian sơn sửa, quét vôi rất lâu, phải mất hàng tháng trời nên người ta phải chọn phường sơn vôi giỏi để công việc kinh doanh diễn ra bình thường. Dân sơn, vôi làng Phương Liệt (nay là phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân) bao giờ cũng là ứng cử viên đầu tiên.

Phương Liệt còn có tên nữa là Giáp Cửu, làng ít ruộng, bởi vậy từ già đến trẻ thường vào nội thành làm nhiều nghề khác nhau. Không phường nghề nào có thể vượt qua được Phương Liệt về lọc vôi, pha màu, đặc biệt là chọn đót làm chổi. Nước vôi sánh nhưng không đặc nên bám tường và khi khô rất mịn. Thợ Phương Liệt quét trần Bách hóa Tổng hợp thì việc mua bán ở dưới diễn ra bình thường, không rơi một giọt vôi.

Godard có ba mặt phố, phía bắc là Tràng Tiền, phía nam là Hai Bà Trưng và phía tây là Hàng Bài. Ba cửa chính ra vào bách hóa có dòng chữ tiếng Pháp "Không dựng xe ở đây" bằng đá trắng gắn chìm trên vỉa hè. Vỉa hè rất cao so với mặt đường để phòng ô tô có lao lên sẽ bị chặn lại, bảo đảm an toàn tính mạng cho người đi lại trên vỉa hè. Vỉa hè bo bằng đá đen chôn sâu dưới đất hơn một mét. Vì sao Godard không xây cao? Giản đơn vì chính quyền thời đó không cho phép các công trình quanh hồ Gươm xây quá cao, họ sợ hồ Gươm sẽ lọt thỏm trong các khối nhà, như thế làm mất vẻ đẹp thơ mộng của khu vực này. Nhưng tại sao dân số Hà Nội đầu thế kỷ XX chỉ có hơn 10 vạn, mà người ta lại xây Godard lớn như vậy?

Việc xây dựng Nhà Godard là bước ngoặt cho thương mại Hà Nội vốn trước đó chỉ có các chợ truyền thống. Hai chợ nổi tiếng Thăng Long gồm Bạch MãCầu Đông. Chợ Bạch Mã có từ thời Lý (khoảng 1035). Lúc đầu gọi là chợ Cửa Đông. Đến đời nhà Trần đổi thành Bạch Mã vì ở gần đền Bạch Mã (nay là 76 phố Hàng Buồm). Chợ Cầu Đông ở cạnh chùa Cầu Đông (nay là 38B phố Hàng Đường). Chợ Đồng Xuân do người Pháp xây dựng năm 1889 và khánh thành vào năm 1890. Ban đầu các gian hàng trong chợ làm bằng tre lợp lá. Sau đó được xây kiên cố vào đầu thế kỷ XX. Chợ Đồng Xuân là tiếp nối các chợ truyền thống của Thăng Long. Nếu trước kia chợ truyền thống họp theo phiên và chỉ bán nông sản, đồ thủ công, lương thực... sản xuất tại Hà Nội hay các vùng lân cận hoặc bán một số mặt hàng từ các tỉnh phía nam Trung Quốc mang qua thì Godard bán đủ thứ nhập từ Pháp, Ấn Độ, Hồng Công hay các nước thuộc địa của Pháp. Tuy nhiên, trong hàng chục năm đầu thế kỷ XX, khách đến Godard chủ yếu là lính, sĩ quan, công chức Pháp và vợ con họ cùng một số ít người Việt giàu có.

Năm 1909, nhà hàng này xảy ra cuộc đình công. Nguyên nhân là chủ nhà hàng kiểm tra thấy mất hàng hóa đã ra lệnh cho nhân viên bảo vệ người Ấn Độ hằng ngày lục soát từng người, bất kể nam hay nữ. Sáng ngày 6-5-1909, không thấy một số thông ký đi làm, chủ nhà hàng đã thuê ngay người khác và chiều hôm đó cuộc đình công xảy ra để phản đối việc thay nhân viên không báo trước và lục lọi vô cớ. Năm 1950, lo sợ sự thất bại của người Pháp ở Việt Nam, chủ nhà hàng Godard đã chia lô bán cho thương nhân Việt.

Năm 1958, Nhà nước thực hiện cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh thì 49 quầy hàng trong Godard được đưa vào công tư hợp doanh. Và chính quyền thành phố khi đó cũng muốn Godard trở thành cửa hàng thương nghiệp lớn của Thủ đô nên quyết định cho sửa sang lại. Năm 1959, ông Vũ Đình Trọng (nhà ở phố Hàng Giò nay là đầu phố Bà Triệu, sau này ông chuyển xuống sinh sống ở huyện Thanh Trì) đi kháng chiến về được phân công làm Trưởng tiểu ban trang trí nội thất, thiết kế các gian hàng sao cho hợp lí và hơn hẳn cách bài trí trước đó để lộ rõ tính ưu việt của thương mại xã hội chủ nghĩa. Ông Trọng không có chuyên môn, nhưng nhờ ham học hỏi từ bạn bè, sách vở nên đã hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Tháng 9-1959, Godard được đổi tên thành Bách hóa Tổng hợp. Cũng có người gọi là Bách hóa Tràng Tiền vì nó nằm trên phố Tràng Tiền. Đầu tháng 9-1960, Bách hóa Tổng hợp khai trương, người đứng chờ vào xem cửa hàng thương nghiệp quốc doanh vốn xa lạ với người dân đông cứng vỉa hè phố Hàng Bài, Hai Bà Trưng và Tràng Tiền. Khi nhân viên mở cửa, dân chen chúc xô nhau đến nỗi nhiều người tuột cả giày dép nhưng do sức đẩy ở phía sau quá mạnh, họ không thể lấy được giày dép đành phải đi chân trần vào bách hóa. Nhân viên bảo vệ gom lại thành 3 đống lớn ngoài vỉa hè. Xem xong, họ đi ra bới đống dép tìm nhưng do nhiều đôi giống nhau nên đành xỏ đại một đôi.

Thời bao cấp, Bách hóa Tổng hợp là nơi bán vải vóc, đồ điện máy, giày dép, văn phòng phẩm… lớn nhất Hà Nội và miền Bắc nên có người gọi đó là pháo đài thương nghiệp xã hội chủ nghĩa. Dù các cửa hàng bách hóa nằm rải rác khắp nơi trong thành phố nhưng Bách hóa Tổng hợp bao giờ cũng đông đúc vì đây là khu trung tâm, gần hồ Gươm, kem Tràng Tiền và gần điểm đỗ tàu điện. Nó nổi tiếng đến mức khách các tỉnh về chơi mà chưa vào Bách hóa Tổng hợp coi như chưa về Hà Nội. Do hàng hóa thiếu thốn không đủ cung cấp cho người tiêu dùng nên mới sinh ra những người mua đi bán lại. Họ mua lại phiếu đường, phiếu sữa, bìa mua hàng... nói tóm lại là tất cả những gì bán qua tem phiếu. Người dân gọi họ là "phe tem phiếu" hay từ chung là "phe phẩy". "Phe phẩy" là sản phẩm đặc trưng của cơ chế bao cấp. Người làm nghề "phe phẩy" hầu hết là đàn bà con gái. Từ sớm, họ đã có mặt ở các cửa hàng thực phẩm, chất đốt, bách hóa... Ai bán phiếu thịt, đậu phụ, nước mắm, phiếu vải, phiếu đường hay phiếu dầu họ mua hết. Có thời kỳ Bách hóa Tổng hợp tập trung tới mấy chục "phe phẩy". Bảo vệ đuổi, họ ra ngoài, bảo vệ đi họ lại vào gạ mua tem phiếu. Thỉnh thoảng cũng có phe bị bắt vào đồn công an, phải viết bản kiểm điểm cam kết không buôn bán tem phiếu nữa. Nhưng thả ra, họ lại tiếp tục công việc "phân phối" lại hàng hóa. Việc bán hàng theo tem phiếu khiến người nước ngoài ngạc nhiên. Trong cuốn sách có tên "Mùa xuân trên phố Hàng Đào" của Nhà xuất bản Kossuth Budapest năm 1977 có tới mấy chục trang viết về Bách hóa Tổng hợp cùng nhiều hình ảnh chụp năm 1974.

Tháng 4-1993, Công ty Thương mại Hà Nội liên doanh với Công ty Dragon Property Asia Limited lập dự án phá Bách hóa Tổng hợp xây dựng "Tràng Tiền Plaza" với thời hạn 50 năm. Liên doanh này đã đưa ra thiết kế tòa nhà có chiều cao mặt phố Tràng Tiền là 10 tầng, mặt phố Hai Bà Trưng là 20 tầng. Tháng 5-1994, Ủy ban Nhà nước về Hợp tác đầu tư cấp giấy phép đầu tư số 855/GP, thành lập Công ty Liên doanh Trung tâm Thương mại Hà Nội với cái tên "The Hà Nội Plaza". Tháng 5-1995, Kiến trúc sư trưởng thành phố ra quyết định cho phép phá Bách hóa Tổng hợp. Nhưng 4 tháng sau, ngày 29-9-1995, Bách hóa Tổng hợp mới ngừng bán hàng.

Buổi bán hàng cuối cùng ở nơi gắn bó một thời với người Hà Nội thật cảm động. Chưa bao giờ mậu dịch viên lại dịu dàng đến thế và chưa bao giờ Bách hóa Tổng hợp lại có không khí trầm lắng đến thế... Lặng lẽ mua... lặng lẽ bán... Nhiều người thở dài buồn bã, họ cảm thấy như chính mình mất mát điều gì...

Ngày 28-5-1996, lễ khởi công được tổ chức long trọng với tuyên bố, công trình sẽ hoàn tất trong 3 năm. Tháng 7-1997, Thái Lan khủng khoảng tài chính kéo nhiều nước châu Á vào vòng xoáy và dự án đã không thu xếp được vốn với ngân hàng, thế là Bách hóa Tổng hợp trở thành bãi đất hoang cho đến năm 1999. Cuối cùng thì Vinaconex, một Tổng công ty lớn thuộc Bộ Xây dựng đàm phán mua lại. Năm 2000, đơn vị thi công đào móng để xây trung tâm thương mại đã phát hiện được dấu tích của xưởng đúc.

Bây giờ thì xưởng đúc tiền từ đầu thế kỷ XIX đã trở thành Trung tâm Thương mại Tràng Tiền, nhộn nhịp kẻ bán người mua với hàng hóa được sản xuất từ nhiều nước trên thế giới. Hình ảnh một Bách hóa Tổng hợp xưa giờ chỉ còn trong ký ức của những người trung niên và cao tuổi mà thôi...

Tập huấn KLB...

,


Hôm nay kết thúc đợt tập huấn ngắn hạn tại Học viện Ngân hàng. Sau tập huấn cũng kiếm chác thêm được ít nhiều kiến thức, nhưng đúc kết lại là tâm đắc nhất câu nói để đời của thầy giáo: "Đã xác định làm nghề C.O thì làm cũng chết, mà không làm... cũng chết".

Nhưng nếu không làm thì... chắc mai chít lun á :mad:




Tranh thủ qua Phố Huế lấy ảnh cưới, lại nhận được lời của hứa ngọt như mật ong rừng: "Dạ, mùng 5/11 chúng em sẽ trả ảnh cho anh chị ạ"... Thật không biết nói gì hơn, grừ grừ...

Lâu roài mới có thời gian thư thả lượn phượn ngoài đường...


Hàng quán bên kia đường xe dựng kín đặc, quán phở bên này chỉ có độc con ngựa sắt của 2 vợ chồng, vẫn còn may chán, ít nhất cũng kiếm được bữa tối...


Nguyễn Tử Quảng và tham vọng về "đào tạo lò hiệp sĩ"

“Làm một chàng hiệp sĩ như sáu năm trước thì đơn giản lắm. Nhưng đổi lại, cộng đồng sẽ nhận được ít hơn từ chàng hiệp sĩ đó, vì anh ta không phân thân được. Ngược lại, khi chúng tôi xây dựng thành Bkis như ngày nay, có cả một đội ngũ lớn mạnh với hạ tầng hiện đại và văn hoá hiệp sĩ… có thể giúp nhiều người hơn”, Tổng giám đốc Nguyễn Tử Quảng chia sẻ với phóng viên tạp chí Doanh Nhân trong cuộc trò chuyện gần đây. Bkav.com.vn mời bạn tham khảo bài viết này.

Doanh nhân - “Hiệp sĩ công nghệ thông tin” Nguyễn Tử Quảng tóm gọn chặng đường 8 năm của Bkis bằng hai từ “bền bỉ”, cùng một niềm tin sắt đá vào trí tuệ Việt Nam và tham vọng xây dựng Bkis thành một “lò đào tạo hiệp sĩ”.

Leo lên vai người khổng lồ

PV: Một cách ngắn gọn nhất, ông muốn nói gì về 8 năm khởi xướng và lãnh đạo Bkis với vai trò là Giám đốc?

Nguyễn Tử Quảng: Bền bỉ, đó là cách diễn đạt đúng nhất.

PV: Sự bền bỉ đó đã đưa Bkis tới đâu?

Nguyễn Tử Quảng: Sau 4 năm kể từ khi thành lập từ cơ sở vật chất eo hẹp và số lượng nhân sự khiêm tốn, Bkis đã có thể cân đối thu chi với vai trò như một doanh nghiệp độc lập. Đến nay, Bkis đã đạt tới 85% thị phần phần mềm diệt virus có bản quyền tại Việt Nam, và chúng tôi tự hào về năng lực phục vụ, chăm sóc khách hàng thực sự hiệu quả và ấn tượng.

PV: Nhưng có phải Bkis vẫn quanh quẩn “sau lũy tre làng” là thị trường Việt Nam?

Nguyễn Tử Quảng: Chúng tôi coi thị trường Việt Nam là hậu phương lớn. Trước khi tiến hành những chiến lược khác, cần phải xây dựng vững chắc hậu phương này, bằng chất lượng sản phẩm và thái độ phục vụ nghiêm túc.

PV: Đã có “hậu phương lớn”, thì chắc hẳn phải có “tiền tuyến lớn”?

Nguyễn Tử Quảng: Đúng vậy! Tiền tuyến của chúng tôi hiện nay đang là thị trường Mỹ. Hơn một năm qua, chúng tôi đã vạch ra chi tiết các kế hoạch cho bước tiến chiến lược này. Và trong suốt một năm nay, Bkis đã tiến hành những bước đệm cơ bản, bắt đầu từ xây dựng niềm tin vào năng lực và sản phẩm của mình. Việc các cơ quan truyền thông thế giới chuyển từ cách gọi chúng tôi là “a Vietnamese company” rồi mới nhắc tới Bkis sang cách nói ngắn gọn “Bkis” đã chứng tỏ nhận thức quốc tế về chúng tôi đang trở nên sâu rộng hơn.


PV: Tại sao lại là Mỹ - một gã khổng lồ trong lĩnh vực công nghệ thông tin?

Nguyễn Tử Quảng: Thay vì phải đi chiếm lĩnh từng thị trường nhỏ, chúng tôi chọn một thị trường lớn nhất để tập trung toàn bộ công sức. Khi chúng tôi thành công trên thị trường lớn, thì hiển nhiên chúng tôi sẽ được chấp nhận trên các thị trường nhỏ hơn. Nói cách khác, để bước ra toàn cầu Bkis cần phải leo lên vai người khổng lồ. Và Mỹ chính là người khổng lồ trong tầm ngắm của chúng tôi.

PV: Ông có sợ “ngã ngựa” như chàng Don Quixote đánh cối xay gió không?

Nguyễn Tử Quảng: Rủi ro là điều phải tính đến, nhưng tôi có niềm tin lớn hơn vào thành công tại thị trường hàng đầu thế giới này, vì bản chất của vấn đề là sản phẩm của Bkis có thể cạnh tranh sòng phẳng với các sản phẩm toàn cầu khác.

Minh oan cho virus

PV: Làm sao để biết sản phẩm của Bkis là không thua kém so với sản phẩm của các thương hiệu toàn cầu?

Nguyễn Tử Quảng: Dường như anh muốn hỏi ai sẽ là người cấp một cái tương tự như là “chứng chỉ” xác nhận chất lượng sản phẩm của Bkis? Theo tôi, câu trả lời xác đáng nhất chính là thị trường – thị trường sẽ là cái chứng chỉ công minh nhất để đánh giá sản phẩm nào tốt hay không tốt. Hãy thử nhìn Windows của Microsoft, hiện đang thống lĩnh thị trường hệ điều hành toàn cầu, có ai bảo Microsoft phải xuất trình chứng chỉ do một bên nào khác cấp cho Windows thì mới chấp nhận sử dụng hệ điều hành này không?

PV: Vâng, cứ cho là Bkis không “chuộng bằng cấp”, có tiêu chí nào để so sánh chất lượng phần mềm diệt virus của ông với các sản phẩm khác?

Nguyễn Tử Quảng: Trong phòng kiểm định (Test lab), các chuyên gia Bkis hằng ngày vẫn kiểm nghiệm và so sánh khả năng diệt virus của phần mềm của chúng tôi với các phần mềm có tiếng trên thế giới. Kết quả rất khả quan, phần mềm của Bkis thậm chí còn chiếm ưu thế so với “đối thủ”. Vì nhiều lý do, cả ở góc độ nguyên tắc về cạnh tranh, mà chúng tôi không thể công bố rộng rãi kết quả thử nghiệm này; nhưng thị trường đã làm thay việc đó, chứng minh bằng thị phần như tôi đã nói. Còn một thực tế là nhiều phần mềm diệt virus phổ biến trên thị trường sau khi diệt được virus rồi thì cũng làm hỏng luôn hệ điều hành, mà người sử dụng máy tính thì cứ nghĩ là hệ điều hành bị hỏng do virus. Đó là một khiếm khuyết về công nghệ, nhưng sản phẩm Bkav của chúng tôi không mắc lỗi như thế.

PV: Vậy tại sao ông không đem sản phẩm của mình sang Mỹ để bán ngay khi đã rất tự tin vào chất lượng của nó?

Nguyễn Tử Quảng: Mục tiêu của chúng tôi vẫn kiên định trước tiên là xây dựng thật vững thị trường trong nước và Bkis đang xúc tiến mạnh mẽ các hoạt động để đạt được điều này. Song song với đó chúng tôi gây dựng uy tín của Bkis trên thế giới bằng cách tham gia tích cực các sự việc an ninh mạng mang tính toàn cầu. Khi một nhà sản xuất đã có uy tín thì việc tung ra sản phẩm mới sẽ dễ dàng được chấp nhận. Còn hiện tại chưa cần vội vã, vì đó là cả một quá trình dài. Nhưng trong năm 2010, chúng tôi sẽ tung sản phẩm vào thị trường Mỹ.

PV: Quan điểm của ông đối với thị trường nói chung là như thế nào?

Nguyễn Tử Quảng: Bkis tập trung vào người dùng cá nhân, những người sẽ mua hàng dựa trên nhu cầu thực sự và thước đo hiệu quả - đó là thị trường thật, chứ không phải là kết quả của lobby. Tức là chất lượng sản phẩm phải làm thoả mãn nhu cầu của người tiêu dùng. Sau đó đến chất lượng dịch vụ, chế độ sau bán hàng và giá bán.

Lò đào tạo hiệp sĩ

PV: Ông từng được vinh danh là “Hiệp sĩ công nghệ thông tin”, giờ đây ông có phật lòng không khi ai đó nói ông là “hiệp sĩ đi buôn”?

Nguyễn Tử Quảng: Tôi không cho rằng hoạt động mà tôi và Bkis đang thực hiện là “đi buôn”, vì chúng tôi không bươn chải chỉ để kiếm lời. Mười bốn năm trước, tôi thấy máy tính của mọi người bị nhiễm virus thì tôi nghiên cứu cho ra phần mềm diệt virus thôi, hoàn toàn miễn phí. Mười năm sau, đến năm 2005, tôi vẫn làm thế. Nhưng cho đến nay, có quá nhiều virus, và có quá nhiều người cần giúp đỡ, mà nếu tôi chỉ có vài ba người, thì mong muốn giúp đỡ mọi người sẽ chỉ là mong muốn chứ không thực hiện được. Nói cách khác là một hiệp sĩ sẽ không thể giúp tất cả mọi người. Làm thế nào bây giờ? Vậy thì thương mại hoá là cách để có tái đầu tư, có nhiều hiệp sĩ hơn để giúp nhiều người hơn. Theo anh, nên chọn gì? Một hiệp sĩ, hay là hơn 500 hiệp sĩ như chúng tôi đang có?


PV: Bảo vệ danh dự hiệp sĩ và giữ gìn uy tín thương hiệu, điều nào khó hơn?

Nguyễn Tử Quảng: Một trời một vực. Làm một chàng hiệp sĩ như sáu năm trước thì đơn giản lắm. Nhưng đổi lại, cộng đồng sẽ nhận được ít hơn từ chàng hiệp sĩ đó, vì anh ta không phân thân được. Ngược lại, khi chúng tôi xây dựng thành Bkis như ngày nay, có cả một đội ngũ lớn mạnh với hạ tầng hiện đại và văn hoá hiệp sĩ… có thể giúp nhiều người hơn, thì bản thân tôi cũng khó tránh được những thành kiến đại loại như “ông ấy vì tiền”. Không sao cả, phải chấp nhận hiểu lầm, để có hàng trăm, hàng ngàn hiệp sĩ nữa.

PV: Tức là Bkis sẽ là một “lò đào tạo hiệp sĩ”?

Nguyễn Tử Quảng: Đúng vậy! Quy mô của Bkis sẽ ngày càng được mở rộng, chúng tôi đang cho ra lò hàng trăm hiệp sĩ và sắp tới sẽ là hàng ngàn.

PV: Có nhiều ý kiến cho rằng ông đang rất “nổ”.

Nguyễn Tử Quảng: Thú thật là tôi không phải là thần thánh để có thể cười ngay trước những lời như thế được. Lúc đầu cũng buồn lắm, cũng có bức xúc nữa. Nhưng tôn chỉ của tôi là phải tìm ra bản chất của vấn đề. Trong một môi trường mà niềm tin bị xói mòn rất nhiều như hiện nay, tính bao dung của mỗi người bị co lại, sản phẩm kém chất lượng và chộp giật nhiều nhan nhản, thì người ta dễ có cách nhìn tiêu cực, đánh đồng mọi thứ. Hơn nữa, sản phẩm của chúng tôi là sản phẩm công nghệ cao, xuất hiện trong một đất nước có nền công nghệ còn kém phát triển, Bkis lại “dám” tuyên bố sản phẩm có thể cạnh tranh sòng phẳng với sản phẩm của các nước phát triển hàng đầu như Mỹ, Nga thì rõ ràng không tránh khỏi những thành kiến. Hiểu được bản chất như vậy thì sẽ thấy giải pháp hợp lý không phải là tìm cách đôi co, tranh luận, mà phải bằng chính chất lượng thực của sản phẩm và thị phần mà Bkis tạo dựng được. Bền bỉ vượt qua những định kiến rồi sẽ đến ngày mọi người sẽ hiểu và đó là lúc chúng tôi có được hậu phương vững vàng để đưa sản phẩm ra toàn cầu. Tức là chúng tôi muốn chiếm trọn trái tim của người Việt.

PV: Ông đánh giá sao về người Việt trong lĩnh vực công nghệ thông tin nói riêng?

Nguyễn Tử Quảng: Trí tuệ Việt Nam đâu có thua kém thế giới, quyết tâm, động lực của người Việt còn lớn hơn họ cả trăm lần vì chúng ta còn quá nghèo, vậy thì chúng ta hoàn toàn có thể tạo ra được các sản phẩm công nghệ thông tin tương đương hoặc thậm chí vượt trội so với các nước khác chứ? Và đến khi sản phẩm của chúng ta được thừa nhận trên thế giới rồi, thì câu chuyện “người Việt dùng hàng Việt” sẽ là đương nhiên, chứ không phải là khẩu hiệu hay phong trào, vì trong chúng ta còn có niềm tự tôn dân tộc.

PV: Cảm ơn ông đã có cuộc trò chuyện cởi mở với Doanh Nhân. Xin chúc ông sớm được bật champagne mừng chiến thắng trên vai người khổng lồ!


Nguồn: bkav.com.vn

Rét đầu mùa

,


Cái rét đầu mùa anh rét xa em

Đêm dài lạnh, chăn chia làm hai nửa

Một đắp cho em ở vùng sóng bể

Một đắp cho mình ở phía không em



Hà Nội đêm tháng 10

, ,






Những cơn gió thu len lỏi qua từng con phố cuốn theo những chiếc lá vàng còn vương lại trên vỉa hè. Hà Nội đêm tháng 10...

Phía cuối con phố nhỏ dài hun hút, chỉ còn tiếng bác lao công quét sột soạt và một cụ già đứng lặng trên đường phố. Lại một mùa thu nữa sắp đi qua đất trời Hà Nội...

Hình như Hà Nội đang chuyển mùa, tôi đã cảm nhận được điều này từ mấy ngày trước khi đi qua từng con phố nhỏ. Từ khoảng chiều tối, những cơn gió mùa mang hơi lạnh kéo ùa về từng ngõ ngách trong lòng thành phố. Nhưng dường như Thu vẫn còn lưu luyến, chưa muốn rời xa Hà Nội thân yêu…

Bởi thế, mỗi ngày khi đi ngang trên đường Hoàng Diệu, người ta vẫn có thể nhìn ngắm những chiếc lá theo nhau rời cành rơi xuống nhuộm vàng cổng Bắc thành. Mỗi ngày tha thẩn bên Hồ Tây, trông ra những vạt sen bát ngát tưởng đã tàn mà vẫn còn lưu lại chút hương thơm kỳ lạ. Rồi thì cùng nhau ngồi trên bờ mà thưởng một chén "Thu ẩm hoàng hoa tửu" giữa mênh mông trời đất thật không gì thú cho bằng. Nhưng những khoảnh khắc được sống bằng tất cả tâm hồn với thu Hà Nội như thế bây giờ hiếm hoi lắm…

Trong quá khứ, đám bạn đồng trang lứa với tôi, ai cũng đã từng được đắm mình trong thu Hà Nội bằng cốm Vòng và thơ. Bây giờ, vẫn cảm giác ấy nhưng nét mặt mọi người không còn được vui như trước… bởi Thu Hà Nội bây giờ ồn ào quá. Nó không còn có được cái khí thu nhuần nhị của Hà Nội như cách đây chục năm về trước. Ra đường phố ban ngày, nếu ai có ý định đứng ngắm nhìn Hà Nội mùa thu thì chỉ có mà mờ mắt vì nạn tắc đường, vì xe cộ tấp nập. Hơi thu xao xác bây giờ có lẽ chỉ là những làn khói xăng mù mịt, những làn bụi bốc tung lên mỗi khi có xe chạy qua…

Người Hà Nội bây giờ thưởng tiết thu theo cách của riêng mình: đeo khẩu trang kín mặt để tránh bụi và phóng xe thật nhanh qua các con phố ồn ào để về nhà. Chẳng còn ai chia sẻ với nhau một cảm nhận về thu, người nào cũng mải miết với công việc, tiền bạc…

Đêm nay Hà Nội se se lạnh. Thu sắp đi qua mất rồi. Tôi chưa thể ngủ được, cố đi tìm lại một không gian thu Hà Nội giống như ngày xưa… Mà bây giờ, chỉ ban đêm, Hà Nội mới còn giữ lại được…

Một cơn gió chợt ùa lại làm tôi khẽ run lên. Trong tiếng gió, văng vẳng đâu đây một âm thanh từ một người chơi vĩ cầm. Những nốt nhạc Phú Quang ngọt ngào và êm dịu như đêm thu Hà Nội. Tôi choàng dậy, lặng lẽ một mình trong căn gác nhỏ lộng gió…

Gần nửa đêm, những con phố nhỏ trước mặt đã thưa thớt người qua lại lắm rồi. Có lẽ giờ này, mọi người đã chìm trong vào giấc ngủ. Hàng đèn chiếu trên phố như sáng hơn, lung linh hơn qua những vòm cây…

Đêm sâu hơn, những cơn gió lạnh hơn và con đường cũng vắng hơn. Tiếng vĩ cầm bây giờ trong trẻo và sâu lắng hơn bao giờ hết. Phía dưới đường, có tiếng sột soạt của chổi tre, bác lao công làm đêm đang quét…

Ban ngày, lá rơi nhiều, mỗi nhát chổi của bác lại khiến đám lá khô chuyển động với tiếng xao xác lạ tai. Một cơn gió thổi qua, lá lại rơi tung trên khắp vỉa hè. Bác dừng lại, có tiếng nhạc lan trong gió. Bác đang thưởng thức bản nhạc hay cũng đang tìm về với khoảnh khắc êm dịu cuối cùng của đêm thu Hà Nội…

Tôi vẫn ngồi yên lặng nghe nhịp thời gian trôi chầm chậm. Tiếng vĩ cầm đã dứt, không gian càng lặng lẽ hơn. Tôi thấy Hà Nội đêm đẹp hơn bao giờ hết. Con phố trước mặt tôi bỗng trải dài như vô tận. Những hàng cây theo nhau hun hút không biết tới đâu. Đầu tháng, trời không trăng sao, không gợn mây mà cao vời vợi. Sương xuống nhiều làm mờ đi cả những ánh đèn đường. Hà Nội đêm thu đẹp và vẻ đẹp ấy mãi mãi tồn tại vĩnh hằng như hồn thiêng đất kinh kỳ…

Có lẽ, chính trong đêm thu lặng thế này, người ta trở nên hiểu nhau, dễ đồng cảm với nhau hơn. Người ta có thể bỏ đi mọi bộn bề, toan tính thường nhật để tận hưởng vẻ đẹp đêm thu vạn kỷ… Thu Hà Nội đẹp khắc khoải bởi tồn tại trong nó là trái tim yêu thương của những người con đất Hà Thành, dù có đi đâu về đâu vẫn hướng về những khoảnh khắc thu nơi mọi người cùng hướng về nhau…

Vẫn ngước mắt lên bầu trời cao thăm thẳm, tôi chợt nhớ về người bạn cùng học thủa nhỏ của mình. Bây giờ, đang một mình giữa trời Âu, người ấy có còn nhớ đến những đêm thu Hà Nội quê hương mà mới năm nào cả hai còn ghi dấu…

Hình như đêm đã bớt lạnh và những cơn gió đã thôi khắc khoải…

Ở dưới đường, bác lao công đang tất tả khua những nhát chổi. Cần phải trả lại một con phố sạch trơn trước khi mọi người thức giấc, bác càng mau tay hơn. Từ xa xa, những người bán hàng rong đang đạp vội xe qua các ngóc ngách phố phường…

Một lát nữa thôi, khi Hà Nội tỉnh giấc, tất cả sẽ chỉ còn là sự ồn ào, bụi bặm thường nhật. Mỗi người sẽ lại mải miết với công việc của mình. Hà Nội ban ngày là Hà Nội công nghiệp. Mà ở đó, con người không được phép sống và đắm mình với những cảm xúc tâm hồn. Chẳng ai quan tâm xem ai khác nghĩ gì. Và khi mùa thu đến hay đi, đó đơn giản là một sự thay đổi thời tiết, thế thôi. Không còn những cơn gió heo may trong không gian phố sâu hun hút thì cũng vẫn là mùa thu vậy mà…

Bây giờ, chỉ có đêm, Hà Nội mới thực sự có thu. Đêm thu tĩnh lặng, đẹp và sâu lắng như chính tâm hồn Hà Nội…

Những chiếc lá cuối cùng đã theo gió lìa cành. Hà Nội lại chuẩn bị bước sang một mùa đông giá buốt. Những đêm thu tĩnh lặng cuối cùng có lẽ cũng sắp rời xa…


December 2009
M T W T F S S
November 2009January 2010
1 2 3 4 5 6
7 8 9 10 11 12 13
14 15 16 17 18 19 20
21 22 23 24 25 26 27
28 29 30 31