The course of true love never did run smooth!

Welcome to Wu668's blog - Nhai biên ấp thạch xưng tri kỷ - Đài lý tầm thi kiến cố nhân

Subscribe to RSS feed

Posts tagged with "Danh nhân"

Tránh họa Tây Thi, Chúa ''bỏ độc''... giết người tình


Chúa Nguyễn Phúc Tần sinh năm Canh Thân (1620). Lúc đầu, ông được phong phó tướng Dũng lễ hầu, từng đánh giặc ở cửa biển, được chúa Phúc Lan rất ngợi khen. Năm Mậu Tý (1648), ông được tấn phong là Tiết chế chủ quân, thay Nguyễn Phúc Lan phá quân Trịnh ở sông Gianh.

Năm Mậu Tý (1648), khi Nguyễn Phúc Lan đột ngột qua đời, Nguyễn Phúc Tần lên ngôi ở tuổi 29. Ông là vị chúa Nguyễn thứ 4 trong lịch sử Việt Nam, tại vị đến năm 1687 và thường được gọi là Hiền vương.

Hiền Vương là người có tình cảm sâu nặng. Sách Nam Triều Công Nghiệp Diễn Chí chép: "Từ khi thái phu nhân Chu thị qua đời. Hiền Vương buồn rầu thương tiếc, mắt lệ ít khi khô, bữa ăn thường bỏ dở, đêm nằm, vẫn đặt chung đôi gối như khi thái phu nhân còn sống, các mỹ nhân trong cung không mấy khi được gần…”

Hiền vương cũng là người chăm lo chính sự, xa rời nữ sắc, yến tiệc và rất biết trọng dụng nhân tài. Một số tài liệu chép rằng, chúa là một vị có tài, đức độ, vì thế trong thời gian trị vì, nhiều vùng đất mới được mở mang, các kênh Trung Đan, Mai Xá được khơi đào, bờ cõi vô sự, thóc lúa được mùa, bớt lao dịch thuế má, nhân dân ngợi khen là thời thái bình.

”Anh hùng khó qua ải mỹ nhân”

Tương truyền, vào tháng 4 năm Nhâm Thìn (1652), giữa đám ca nhi trong phủ chúa Nguyễn Phúc Tần, có một áng “đào kiểm” thanh quý, lộng lẫy mười phân vẹn mười! Nhan sắc ấy là nàng Đào Thừa – sinh trưởng ở đất Nghệ An, vừa nết na đúng mực trâm anh, cành vàng lá ngọc, lại thêm biệt tài đàn ngọt hát hay - đã nhanh chóng làm phai nhạt, lu mờ tất cả những vẻ thanh tân, tứ lệ của đám phi tần, từng dày công trau chuốt sắc tài… lôi kéo "tình cảm" của chúa. "Nhan sắc, tài hoa cùng với ma lực của sóng mắt khuynh thành, nàng Đào Thừa đã chinh phục được trái tim cứng rắn của Hiền Vương", sử sách chép.

Từ khi có nàng, chúa dấn thân vào cõi mịt mờ của đam mê sắc dục, bỏ bê quốc sách, đại sự... Nhiều triều thần đã mạnh dạn đứng ra can gián, thẳng thắn vạch rõ cái họa nữ sắc và khẩn cầu chúa sớm rút lại tấc lòng sủng ái với nàng Đào Thừa…, thì bị Hiền Vương giận mắng rằng: "Ta từng nằm gai nếm mật để bảo vệ cơ đồ, nay giống nòi đã vững vàng, trăm họ đã an lạc, há ta chẳng có quyền được cung dưỡng bằng cái vui thanh sắc, yến ẩm hay sao?"

Giật mình họa nữ sắc...

Một hôm, nhân đọc sách Quốc ngữ, Hiền Vương rất chăm chú: “Vua nước Việt là Câu Tiễn đánh nhau với nước Ngô, bị thua. Được Phạm Lãi bày mưu, Câu Tiễn dùng kế mỹ nhân dâng người đẹp Tây Thi cho vua Ngô là Phù Sai. Phù Sai mê nàng Tây Thi quên cả quốc sự, thừa cơ Câu Tiễn đem quân đánh, quân nước Ngô đại bại. Sau khi thắng được Ngô, Phạm Lãi rước Tây Thi về rong chơi vùng Ngũ Hồ, rồi mới mất”. Lúc ấy, Hiền Vương giật mình, bàng hoàng: "Phải chăng nàng Thừa là Tây Thi của chúa Trịnh đưa từ Nghệ An vào để mê hoặc ta?"

Sáng hôm sau, chúa sai người đẹp sủng ái Đào Thừa mang đến tư thất của trung thần Nguyễn Cửu Kiều một bộ triều phục mới tinh… và rồi chẳng ai còn thấy nàng trở lại phủ chúa. Sử sách viết: Chính nàng Đào Thừa khi nhận lệnh, cũng không biết những gì đang diễn biến trong thâm tâm của Hiền Vương, nên càng không biết trong tay áo của bộ triều phục có thuốc độc và bức mật thư ủy thác cho Cửu Kiều "kết liễu đời nàng để tránh cho non nước xứ Đàng trong cái họa Tây Thi!"

Ở đây, nhắc lại một chút về thời Trịnh - Nguyễn. Vào thời đó, Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần biết tận dụng hai tướng tài giỏi là Nguyễn Hữu Dật và Nguyễn Hữu Tiến. Quân chúa Nguyễn nhiều lần vượt sông Gianh tiến ra đất Đàng Ngoài. Năm 1656, sau hai năm tấn công ra Bắc, quân Nguyễn đã chiếm được 7 huyện của Nghệ An. Tự thân Nguyễn Phúc Tần đã đem quân ra đến Nghệ An đóng tại xã Vân Cát, quân Nguyễn có thể tiến sâu thêm nữa, nhưng nghe tin Trịnh Tráng mất, con là Trịnh Tạc lên ngôi chúa đang chịu tang, chúa cho người sang điếu, rồi rút quân về, lưu các tướng đóng đồn từ sông Lam trở về Nam, đắp luỹ từ núi đến cửa biển để phòng ngự. Sau đợt tấn công đó, quân Nguyễn còn chiếm đất Nghệ An thêm 5 lần nữa và năm 1660, chúa Trịnh mới khôi phục lại được. Từ đó, Trịnh - Nguyễn cầm cự nhau suốt mấy chục năm không phân thắng bại.

Lời tiên đoán về cốt nhục của Vua Lê Thánh Tông

,


Theo sách Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, Lê Thánh Tông là một ông vua thông minh, thờ mẹ rất có hiếu, ở với bề tôi đãi lấy lòng thành. Ngài trị vì được 38 năm, sửa sang được nhiều việc chính trị, mở mang sự học hành, chỉnh đốn các việc vũ bị, đánh dẹp nước Chiêm, nước Lào, mở thêm bờ cõi, khiến cho nước Nam...bấy giờ được văn minh thêm ra và lại lừng lẫy một phương, kể từ xưa đến nay chưa bao giờ cường thịnh như vậy.

Là vị vua cao siêu, anh minh quyết đoán; các sách kinh sử, các sách lịch toán, các việc thánh thần cái gì cũng tinh thông, thế nhưng, trong việc lựa chọn người kế vị và giữ vững ngai vàng vường triều Lê thì dường như Lê Thánh Tông giỏi đến mấy... cũng đành bất lực. Sử sách chép rằng: Một hôm, lúc chầu trong triều, Vua hớn hở nói với Trạng Lường Lương Thế Vinh: "Trẫm có nhiều con trai, việc thiên hạ không việc gì phải lo ngại nữa".

Thấy vậy, Lương Thế Vinh tâu: "Lắm con trai là lắm giặc. Không lo sao được".

Vua lấy làm lạ hỏi: "Ta không rõ sao lại thế?"

Trạng tâu không úp mở: "Ngôi báu chỉ có một. Bệ hạ có nhiều con trai, càng có nhiều sự tranh giành ngôi báu. Như vậy, phải lo lắm chứ!

Đúng như lời tiên đoán của Lương Thế Vinh, sau này con cháu nhà vua: người hiền tài nối ngôi thì mệnh yểu, kẻ tài trí mọn, tư tưởng phóng túng, sống sa đọa thì lúc nào cũng đua tranh giành ngôi thứ, chém giết lẫn nhau, làm cho triều chính đổ nát, trăm họ lầm than...

Sách Đại Việt sử ký toàn thư cũng ghi: Vua Lê Thánh Tông qua đời vì bệnh phong thũng. Vua ở ngôi được 38 năm, thọ 56 tuổi; được an táng ở Chiêu lăng (Lam Kinh, Thanh Hóa). Tương truyền, sau khi nhà vua mất, gươm thần và ấn thân đều bị mất và theo người xưa, điều này ám chỉ sự suy vi của nhà Hậu Lê sau khi Lê Thánh Tông băng hà?

Theo Bách Khoa toàn thư mở, vào năm 1497, sau khi vua cha Thánh Tông qua đời, Thái tử Lê Tranh lên ngôi, tức Vua Lê Hiến Tông (1461 - 1504). Ông là một vị hoàng đế thông minh, nhân từ và ôn hoà. Thường sau khi bãi triều, Hiến Tông ra ngồi nói chuyện với các quan. Ai có điều gì phải trái, ông nhẹ nhàng khuyên bảo, chứ không gắt mắng bao giờ. Nhà vua thường nói rằng: "Thánh tổ ta đã gây dựng nên cơ đồ, vua cha ta đã sửa sang mọi việc, ta nay chỉ nên lo giữ gìn nếp cũ và mở mang sự nhân chính ra cho sáng rõ công đức của ông cha trước".

Trong những năm Lê Hiến Tông trị vì, đất nước yên ổn không có loạn lạc. Năm 1504, Lê Hiến Tông lại lâm bệnh nặng và qua đời ngày 23 tháng 5 năm Giáp Tý, thọ 44 tuổi. Con trai của ông là Lê Túc Tông nối ngôi. Ông cũng thực thi nền quân chủ chuyên chế, không để bị lấn át và thần dân Đại Việt vui mừng với đời sống thái bình thịnh trị.

Tuy nhiên, không may, Túc Tông cũng mắc trọng bệnh và mất sớm vào cuối năm 1504. Ông không có con nối dõi và sau cái chết sớm của ông, vương triều Hậu Lê bắt đầu suy yếu, với sự nối ngôi của người anh tàn ác là Lê Uy Mục.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Vua mới có tên huý là Tuấn, còn gọi là Huyên, là con thứ hai của Hiến Tông, anh thứ của Túc Tông, ở ngôi 5 năm, thọ 22 tuổi, bị Giản Tu Công Oanh đuổi đánh, rồi bị hại, chôn ở An Lăng. Vua nghiện rượu, hiếu sát, hoang dâm, thích ra oai, tàn hại người tông thất, giết ngầm tổ mẫu, họ ngoại hoành hành, trăm họ oán giận, người bấy giờ gọi là Quỷ vương, điềm loạn đã xuất hiện từ đấy".

Về Giản Tu Công Oanh, sau khi giết Lê Uy Mục, ông tự lập làm vua, lấy niên hiệu là Hồng Thuận, tức là Tương Dực đế. Vua rất chuyên quyền, độc đoán và bạo ngược. Ông chơi bời xa xỉ truỵ lạc, bỏ bê việc nước. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi: Tháng Giêng năm Quý Dậu (1513), chánh sứ nhà Minh là Trần Nhược Thuỷ và Phó sứ là Phạm Hy Tăng sang phong cho Tương Dực làm An Nam quốc vương và nhận xét: Quốc vương An Nam mặt thì đẹp mà người lệch, tính thích dâm, là vua lợn, loạn vong sẽ không bao lâu... Tháng 5 năm Giáp Tuất (1514), vua nghe lời tâu của Hiệu úy Hữu Vĩnh, giết chết 15 vương công, cho gọi các cung nhân của Mẫn Lệ công (vua Uy Mục) và triều trước vào để gian dâm. Năm Bính Tý (1516), vua cho đắp thành mấy nghìn trượng, bao vây cả điện Tường Quang, quán Trấn Vũ, chùa Thiên Hoa, chắn ngang sông Tô Lịch và lại làm điện hơn trăm nóc, đóng thuyền chiến, sai bọn nữ sử cởi truồng chèo thuyền ở hồ Tây cùng vua chơi đùa, lấy làm thích thú...

Trước tình hình đó, các thế lực phong kiến địa phương như Trần Cảo nổi lên. Trịnh Duy Sản nhiều lần can ngăn, vua không nghe lại còn đem Sản ra đánh bằng trượng. Duy Sản bàn cùng với một số quần thần khác như Lê Quảng Độ, Trịnh Chí Sâm mưu việc phế lập. Tháng 4 năm Bính Tý (1516), Trịnh Duy Sản sai người đâm chết Tương Dực...

Cuối cùng, chỉ 30 năm sau khi Hoàng đế Lê Thánh Tông mất, Mạc Đăng Dung đã nhân cơ hội mà cướp ngôi nhà Lê, sáng lập ra nhà Mạc, kéo dài từ năm 1527 đến năm 1592, trong giai đoạn lịch sử của Việt Nam, mà người ta gọi là thời kỳ Lê - Mạc phân tranh, hay Nam - Bắc triều của Đại Việt.

Số phận của đệ nhất mỹ nhân phủ Chúa Trịnh

,


Sử sách chép rằng, Thị Huệ có nguồn gốc xuất thân nghèo khổ, là cô gái hái chè quê ở làng Phù Đổng, huyện Đông Anh, Bắc Ninh (nay là Hà Nội). Vì có nhan sắc, nói năng nhanh nhẹn, làm việc hoạt bát nên Thị Huệ được phủ Chúa chọn vào làm thị tỳ cho một trong những bà Tiệp Dư của Trịnh Sâm là Trần Thị Vinh. Xét về thứ bậc, Tiệp Dư chỉ là vợ thứ của Chúa, cho nên thị tỳ của vợ thứ chẳng danh giá gì. Tuy nhiên, Đặng Thị Huệ lại khôn khéo tận dụng mọi cơ hội để mở lối tiến thân và đã thành công.

Tình cảm của Chúa với Huệ ngày càng đắm say

Sau khi vào phủ Chúa, Đặng Thị Huệ vốn khéo ngon ngọt yêu chiều, được Trịnh Sâm coi như báu vật, ngọc ngà. Tình cảm của Chúa đối với Huệ không hề nhạt phai, mà trái lại ngày càng tha thiết, sâu đậm, đắm say. Chúa phong cho Huệ làm Tuyên phi, ban cho bà bao nhiêu thứ quý giá và sẵn sàng chiều theo mọi ý thích của bà, dù nhỏ nhặt nhất. Đặng Thị Huệ rất hay vật vã, giận hờn, kêu khóc khi gặp chuyện trái ý, nhưng Chúa Trịnh Sâm đầy quyền lực thì ngày càng chịu lép vế trước người con gái xinh đẹp quá sắc sảo này.

Sách Hoàng Lê Nhất thống chí chép: “Ả được đặc ân ở chung với chúa, cứ y như một cặp vợ chồng những nhà thường dân. Mọi vật dụng như xe, kiệu, áo quần... đều được sắm hệt như của Chúa…” Thậm chí, để chiều lòng người đẹp, Chúa không ngừng dùng ngân khố để làm nên những trò vui mới. Cứ đến dịp trung thu hằng năm, Chúa cho lấy những vật liệu quý trong kho ra làm đèn lồng – mỗi cái ước tính khoảng vài chục lạng, và dựng hàng trăm cây phù dung ven hồ Long Trì tại Bắc cung để treo đèn. Trịnh Sâm còn cho quan lại và phi tần, cung nữ trong phủ chúa mặc sức vui chơi, nhưng cũng không quên phục vụ Chúa và Tuyên phi. Tích này được ví giống Ngô Phù Sai cho xây cung Quán Khuê làm từ châu báu để Tây Thi chơi; rồi còn cho làm Hưởng Điệp Lang - là chiếc guốc có thể kêu leng keng theo mỗi bước chân của Tây Thi.

Có giai thoại rằng, Chúa Trịnh Sâm có ngọc dạ quang, đây là chiến lợi phẩm của một trận đánh phương Nam, nên rất quý viên ngọc này. Trong một lần lấy viên ngọc xem, Thị Huệ lấy tay mân mê viên ngọc, Chúa nói: "Nhè nhẹ tay chứ, đừng làm ngọc xây xát!". Thị Huệ bèn ném viên ngọc xuống đất mà khóc rằng: "Làm gì cái hạt ngọc này! Chẳng qua vào Quảng Nam kiếm giả Chúa hạt khác là cùng. Sao Chúa nỡ trọng của khinh người như vậy?". Rồi Thị tự ý bỏ ra ở cung khác, từ chối không gặp Chúa nữa. Chúa phải dùng nhiều cách dỗ dành cho Thị Huệ vui lòng, lúc ấy mới chịu làm lành.

Cũng tương truyền, một lần, có tay truyền giáo người Tây Dương đem theo lọ nước hoa đáng giá mười xe ngọc, Thị Huệ bỏ cơm ba bữa làm Trịnh Sâm phải đồng ý. Lần khác, có người lái buôn mang sang đôi giày đáng giá mười dãy phố, thấy Chúa trù trừ, Thị Huệ leo hẳn lên kỳ đài dọa nhảy xuống tự vẫn, khiến Trịnh Sâm rốt cuộc cũng phải bằng lòng.

Có thể nói, không gì Đặng Thị Huệ không dám đòi, kể cả việc hỏi con gái Chúa là Công nữ Ngọc Lan cho em trai mình là Đặng Mậu Lân, một kẻ nổi tiếng có tính hung bạo, dâm dật và càn rỡ…

Âm mưu giành ngôi báu

Khi Đặng Thị Huệ có thai, Chúa Trịnh sai người lễ khắp các chùa để mong sinh con thánh. Năm 1777, Tuyên phi hạ sinh hoàng nam, Chúa yêu dấu khác thường, lấy tên của mình ngày còn nhỏ đặt tên cho đứa bé là Cán, tỏ ra giống mình. Cán được một tuổi đã có tướng mạo khôi ngô và tư chất thông minh.

Biết Chúa cưng chiều Cán, Đặng Thị Huệ âm mưu giành ngôi thế tử cho con. Bà tìm được đồng minh là Quận Huy công Hoàng Đình Bảo.

Bấy giờ, Thái phi Ngọc Hoan có con trai là Trịnh Tông. Khi Tông đến tuổi lập phủ, các quan nhắc thì Trịnh Sâm im lặng. Trịnh Tông thấy cha lạnh nhạt với mình và lại biết âm mưu của Đặng Thị Huệ và Quận Huy, liền nhân lúc cha ốm, tìm cách giết Quận Huy, bắt giam hai mẹ con Thị Huệ để tự lập ngôi chúa. Không ngờ Trịnh Sâm lại qua khỏi, việc bại lộ, Trịnh Tông bị biếm truất xuống làm con thứ và bị giam. Từ đó, phe cánh của Đặng Thị Huệ ngày càng lớn mạnh.

Đặng Thị Huệ hối thúc Trịnh Sâm lập Cán làm thế tử và Chúa Trịnh cũng nghe theo, dù Cán mới 5 tuổi. Và nhân thời điểm Chúa Trịnh Sâm bị bệnh trĩ, luôn ở trong cung; Đặng Thị Huệ tự ý xếp đặt công việc, gài tay chân giữ những vị trí then chốt trong phủ Chúa…

Kết cục bi đát

Năm Tân Sửu (1781), bệnh tình của Sâm nặng thêm và qua đời. Đặng Thị Huệ thông đồng với Quận Huy lập Cán lên ngôi chúa. Tuyên phi nghiễm nhiên trở thành người điều khiển triều chính giúp con. Lòng người lo sợ, từ phủ Chúa ra kinh thành, thôn dã, ai cũng biết chắc hoạ loạn sẽ xảy ra.

Tháng 10 cùng năm, binh lính Tam phủ nổi loạn, truất ngôi Cán, giáng xuống làm Cung quốc công, đập phá nhà cửa, giết Quận Huy cùng thân thuộc phe cánh. Họ đón Trịnh Tông lên ngôi vương, phong là Nguyên soái Đoan Nam vương. Phe cánh Đặng Thị Huệ bị truy lùng và trả thù.

Lại nói bà Ngọc Hoan bị Trịnh Sâm ruồng bỏ, trở lại nắm ngôi mẫu hậu, đã bắt Đặng Thị Huệ, truất xuống thứ nhân, đánh đập rất tàn tệ, rồi giam vào ngục. Đến ngày giỗ Chúa Trịnh Sâm, Tuyên phi mới được cho ra dự lễ. Bà đã gào khóc và uống thuốc độc tự tử trước bàn thờ chồng.

Huệ bị truất xuống thứ nhân, sau uống thuốc độc chết. Trịnh Cán bị giáng, ra ở phủ Lượng Quốc, ốm bệnh chết, ở ngôi được một tháng.

Bí ẩn cái chết của vua Kiến Phúc

,


Vua Kiến Phúc (1869 – 1884) có tên húy là Nguyễn Phúc Ưng Đăng, là vị hoàng đế thứ 7 của vương triều nhà Nguyễn.

Ông là con thứ ba của Kiên Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Cai và bà Bùi Thị Thanh. Vua Tự Đức vì lúc nhỏ bị bệnh đậu mùa nên không có con. Ông nhận ba con trai của hai người em làm con nuôi, trong đó con đầu là vua Dục Đức. Năm 1870, lúc được 2 tuổi, Ưng Đăng được vua Tự Đức nhận làm con nuôi thứ ba.

Ngay trong đêm 29/10/1883, sau khi phế bỏ Hiệp Hòa, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết đã cho người đến nhà Dưỡng Thiện ở Khiêm Lăng (lăng Tự Đức) đón hoàng tử thứ ba (Ưng Đăng) về lập làm vua. Sách Đại Nam thực lục chép, khi được được lên làm vua, Ưng Đăng nói: “Ta còn bé sợ không làm nổi”, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết tâu: “Tiên đế đã có ý ấy, nhưng chưa lập làm, nay là mệnh trời vậy, xin nghĩ đến tôn miếu xã tắc là trọng”.

Ngày 3/11/1883, Ưng Đăng chính thức được đưa lên ngôi, lấy niên hiệu Kiến Phúc. Khi ấy, ông mới 14 tuổi, nhưng 8 tháng sau thì đột ngột băng hà, khiến người đương thời rất hoài nghi, đặt nhiều nghi vấn.

Uống chén thuốc độc... Vua ngủ giấc nghìn thu

Sử sách chép rằng, thuở trước khi Ứng Đăng làm con nuôi của vua Tự Đức, ông được giao cho bà Học phi Nguyễn Thị Hương nuôi dưỡng, nên lúc lên ngôi thì bà hoàng này càng trở nên có thế lực, ảnh hưởng lớn trong triều. Bà được quan đại thần Nguyễn Văn Tường tỏ ra thân thiện nhằm chiếm cảm tình.

Một dịp, vua Kiến Phúc bị bệnh đậu mùa. Sách Kể chuyện các vua Nguyễn viết: "Kiến Phúc bị bệnh đậu mùa, bà Học phi lúc nào cũng ở bên cạnh đức vua còn bé bỏng của mình từ mờ sáng đến nửa đêm. Thế là quan phụ chính Nguyễn Văn Tường đêm nào cũng vào chầu hoàng đế và hoàng mẫu có khi đến nửa đêm mới về. Kiến Phúc đã nhiều lần chú ý thái độ lả lơi của Nguyễn Văn Tường mỗi khi trao cho bà Học phi điếu thuốc đã châm lửa của mình. Một đêm, Kiến Phúc giả vờ ngủ say, nghe được câu chuyện thì thầm to nhỏ giữa hai người, nhưng cuối cùng không nén được, bỗng kêu lên: "Lành bệnh rồi, ta sẽ chặt đầu cả ba họ nhà mi”.

Quan Tường bẽn lẽn rút lui xuống Thái y viện, lấy thuốc pha chế sẵn cho nhà vua, nhưng y lại chê thuốc xấu, rồi tự tay mình pha chế một thang thuốc khác đưa lên. Sau khi uống xong chén thuốc, vua Kiến Phúc ngủ luôn giấc nghìn thu. Do vậy, nếu đây là sự thật thì lời nói chứa đựng phẫn nộ của nhà vua đã phải trả giá bằng cả mạng sống...

Tuy nhiên, cũng có một giả thuyết cho rằng, vua Kiến Phúc bị Nguyễn Văn Tường cùng Tôn Thất Thuyết đầu độc chết nhằm đưa Hàm Nghi lên ngôi.

Vua chết tự nhiên

Về cái chết của vua Kiến Phúc, chính sử của nhà Nguyễn - Ðại Nam thực lục chính biên ghi: "Vua không khỏe, ngọc thể vi hòa, đình thần đã xin vua tĩnh dưỡng và chia nhau đi cầu đảo ở các linh từ, sau đó đã khỏe, nhưng chưa được bình phục như cũ. Đến ngày mồng bảy tháng này, ngày kỷ mão mới ngự điện Văn Minh; chịu lễ chầu mừng, ban thưởng lụa hoa cho các bầy tôi có sai bậc, rồi sau lại không được khỏe. Thái y tiến thuốc, không thấy công hiệu. Ngày mồng mười nhâm ngọ, bệnh kịch, giờ ngọ hôm ấy vua mất ở chính tẩm điện Kiến Thành".

Ngày 01/08/1884, một ngày sau khi vua Kiến Phúc băng hà, Khâm sứ Rheinart ghi chú rằng, vua mất vì bệnh một cách bình thường: "Vua Kiến Phúc mất ngày hôm qua lúc đứng bóng sau khi cơn bệnh trở lại trong môt thời gian rất ngắn. Tôi đã đánh điện đi Paris và Hà Nội để báo tin. Vị vua trẻ tuổi, theo tôi tưởng, đã bị một bệnh về óc nảo hay tủy xương sống...

... Cha của vua đã mất vì bệnh điên. Cái chết của vua là một cái chết tự nhiên, nhưng nó đã đến một cách quá bất ngờ làm cho mọi người kinh ngạc. Ðứa trẻ đáng thương đã làm vua một cách miễn cưỡng: nó sống trong sự kinh hoàng, luôn luôn lo sợ bị một số phận như người tiền nhiệm, buồn bực, trầm mặc, trốn tránh mọi người. Trong một thời gian khá lâu, nó không dậy nổi, tôi không biết nó có thể đứng lên mà không cần người đỡ không, từ lúc bị bịnh, nghĩa là từ ba tháng nay..."

Theo một số nhà nghiên cứu, các nguồn thông tin về giả thuyết đầu độc là không chính xác và cho rằng, vào giai đoạn lịch sử này ở Việt Nam, Pháp và những người theo họ muốn tung tin để hạ uy tín Nguyễn Văn Tường, Tôn Thất Thuyết (những người chủ trương chống Pháp) và làm triều Nguyễn rệu rã, suy vong. Đồng thời, căn cứ vào sử liệu Đại Nam thực lục chính biên cùng với quy chế nội cung liên quan, một số nhà nghiên cứu cho rằng, vua mất vì bệnh tái phát nguy kịch, mà mọi loại thuốc thang do các quan ngự y dâng lên đều vô hiệu...

Lúc mất, vua Kiến Phúc chưa nạp phi, không có con cái.

Sau khi mất, bài vị vua được đưa vào thờ trong Thái miếu và có miếu hiệu là Giản tông Nghị Hoàng đế. Thụy hiệu là Thiệu Đức Chí Hiếu Uyên Duệ Nghị Hoàng Đế. Lăng của Kiến Phúc, hiệu Bối lăng, ở phía trái Khiêm lăng, tại làng Dương Xuân Thượng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.

Triệu Việt Vương đi theo ''vết xe đổ'' của An Dương Vương?

,


Dù sống cách xa nhau về thời gian, nhưng ở An Dương Vương Thục Phán và Triệu Việt Vương Triệu Quang Phục, chúng ta nhìn thấy nhiều điểm trùng hợp đến ngẫu nhiên giữa hai tiền nhân này. Hãy cùng điểm qua điều đó.

Nắm quyền bằng chuyển giao quyền lực

Thục Phán theo sử cũ chép, vốn dòng dõi Thục Vương, vì đời tiền nhân của Thục Phán cầu hôn con gái Hùng Vương không được nên sinh cừu hận. Nhân khi Hùng Vương không phòng bị, Thục Phán cướp nước Văn Lang lập nên nhà nước mới.

Đại Việt sử ký toàn thư ghi: “Hùng Vương bỏ bê không sửa sang việc võ bị, chỉ ham ăn uống vui chơi. Quân Thục kéo sát đến nơi, hãy còn say mềm chưa tỉnh, rồi thổ huyết nhảy xuống giếng chết, quân lính quay giáo đầu hàng Thục Vương”.

Đại Việt sử lược (khuyết danh) thì chép ngắn gọn: “Cuối đời nhà Chu, Hùng Vương bị con vua Thục là Phán đánh đuổi rồi lên thay.” Lên ngôi rồi, An Dương Vương đặt tên nước là Âu Lạc. Tên gọi này theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép lại theo Dư địa chí của Cổ Hi Phùng “Giao Chỉ về đời Chu gọi là Lạc Việt, về đời Tần gọi là Tây Âu”. Như vậy tên Âu Lạc là cách gọi kết hợp về cùng một địa danh.

Nếu An Dương Vương nắm quyền lực sau khi truất ngôi Hùng Vương thì Triệu Quang Phục cũng nắm quyền từ một cuộc chuyển giao quyền lực, nhưng mang tính chất hòa bình.

Sau khi lập nên nước Vạn Xuân năm Giáp Tý (544), Lý Nam đế - Lý Bí lại phải chống quân Lương do Trần Bá Tiên dẫn đầu sang xâm lược. Tháng 8 năm Bính Dần (546) bị thua ở hồ Điển Triệt (huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay), “phải lui giữ ở trong động Khuất Lão để sửa binh đánh lại, ủy cho đại tướng là Triệu Quang Phục giữ việc nước” (Đại Việt sử ký toàn thư). Năm 548, Lý Bí bị bệnh chết ở động Khuất Lão, Triệu Quang Phục lên nắm quyền, tức là Triệu Việt Vương.

Hai vị vua tài ba

An Dương Vương từng đánh Hùng Vương, rồi đuổi quân xâm lược Triệu Đà. Nhưng bằng chứng hùng hồn nhất cho tài thao lược của ông phải kể đến đỉnh cao của nghệ thuật kiến trúc quân sự thời Âu Lạc, đó là thành Cổ Loa (vì thành có hình xoáy ốc, lại có tên là Trung Qui thành, thời Đường gọi là Côn Lôn thành, có ý nói là thành rất cao) với ba vòng thành Nội, thành Trung, thành Ngoại, phối kết hợp với hào lũy từ dòng nước tự nhiên của sông Hoàng làm nên công trình quân sự kiên cố chống giặc xâm lược.

Bên cạnh đó, nhà nước Âu Lạc của An Dương Vương còn có thứ vũ khí đáng sợ là nỏ liên châu, hay Linh Quang thần trảo mà dân gian gọi là nỏ thần, một lúc có thể bắn được nhiều mũi tên.

Đối với Triệu Việt Vương, tài năng của ông thể hiện rõ qua việc được Lý Nam đế Lý Bí tin cẩn giao cho quyền bính, và hiện thực hóa qua kế đánh “trì cửu” (cầm cự lâu dài) với việc lấy Nhất Dạ Trạch (tức đầm Một Đêm, thuộc Khoái Châu, Hưng Yên) làm đại bản doanh chống giặc Lương: “Ngày ngày, quân sĩ thay phiên nhau vừa luyện tập, vừa phát bờ, cuốc ruộng, trồng lúa, trồng khoai để tự túc binh lương. Ban ngày tắt hết khói lửa, im hơi lặng tiếng như không có người, đến đêm nghĩa quân mới kéo thuyền ra đánh úp các trại giặc, cướp được nhiều lương thực” (Việt sử tiêu án – Ngô Thì Sỹ). Nhờ cách đánh “trì cửu” đó, năm Canh Ngọ (550), Triệu Quang Phục đánh đuổi quân Lương lấy lại được đất nước.

Được thần giúp vũ khí

An Dương Vương đắp thành Cổ Loa vừa làm kinh đô, vừa làm căn cứ chống giặc phương Bắc. Nhưng thành cứ đắp lại đổ, sau nhờ có thần Kim Quy giúp mới đắp không quá nửa tháng thì xong. Lại được thần “trút chiếc móng trao cho vua và nói: “Nước nhà yên hay nguy đều do số trời, nhưng người cũng nên phòng bị; nếu có giặc đến thì dùng móng thiêng này làm lẫy nỏ, nhằm vào giặc mà bắn thì không phải lo gì”.

Vua sai bề tôi là Cao Lỗ làm nỏ thần, lấy móng rùa làm lẫy, đặt tên là Linh Quang Kim Trảo thần nỏ” (Đại Việt sử ký toàn thư). Nhờ có nỏ thần đó, quân Nam Việt năm lần bảy lượt xâm lược Âu Lạc đều thất bại.

Còn Triệu Việt Vương khi đóng quân ở đầm Dạ Trạch, cũng là đầm nơi trước kia hai vợ chồng Tiên Dung – Chử Đồng Tử theo truyền thuyết đã bay lên trời. Quang Phục thấy quân Lương không rút lui, bèn đốt hương khấn trời thì có điềm tốt là được móng rồng để đính lên mũ đâu mâu, dùng để uy hiếp quân giặc. Đại Việt sử ký toàn thư chép lại việc này: “Tục truyền rằng thần nhân trong đầm là Chử Đồng Tử bấy giờ cưỡi rồng vàng từ trên trời rơi xuống, rút móng rồng trao cho vua, bảo gài lên mũ đâu mâu mà đánh giặc. Từ đó thanh thế quân đội lừng lẫy, đánh đâu được đấy”.

Như vậy, An Dương Vương và Triệu Việt Vương đều được thần giúp. Có một điều rất hay nữa là, vũ khí thần ở đây đều là của hai con vật thần thoại nằm trong bộ “Tứ linh” (long, lân, quy, phụng) và đều là chiếc móng. Rùa và rồng là hai con vật gắn liền với cư dân nông nghiệp lúa nước Việt Nam (rồng được thần thánh hóa từ hình tượng có thật là con rắn).

Thông gia và kết cục - Hai kịch bản, một nội dung?

An Dương Vương - Triệu Đà - Trọng Thủy - Mỵ Châu: Không xâm lược được nước Âu Lạc, Nam Việt Vương Triệu Đà giả thác hòa thân, dùng con bài hôn nhân chính trị để cướp nước. Trọng Thuỷ con Triệu Đà kết hôn với công chúa Mỵ Châu của An Dương Vương. An Dương Vương vì trọng hòa bình, hữu hảo mà tác thành, lại cho Trọng Thuỷ theo cái tục “Chuế tế” - gửi rể chỉ ở Trung Quốc đời Tần mới có (con trai không có tiền nộp sính lễ, lấy thân ở gửi nhà vợ nên gọi là chuế tế (ở gửi rể). Để rồi từ đây, Mỵ Châu với tình yêu dành cho chồng đã tiết lộ hết bí mật quân sự (móng rùa thần), quốc gia cho Trọng Thuỷ, An Dương Vương mất nước.

Triệu Việt Vương - Lý Phật Tử - Nhã Lang - Cảo Nương: Vết xe đổ xảy ra ở thế kỷ 2 TCN của An Dương Vương còn đó, nhưng Triệu Việt Vương vẫn dẫm vào. Sau khi đánh đuổi quân Lương, Triệu Việt Vương giao tranh với Lý Phật Tử (vốn là bộ tướng của Lý Thiên Bảo là anh của Lý Bí) rồi vạch đôi sơn hà cai trị. Lý Phật Tử cũng như Triệu Đà, cho con trai mình Nhã Lang kết hôn với công chúa Cảo Nương của Triệu Việt Vương rồi đánh cắp bí mật quân sự (móng rồng) để rồi cướp nước. Năm Canh Dần, (570), Triệu Việt Vương mất nước về tay Lý Phật Tử.

Dù ở hai thời khác nhau, nhưng An Dương Vương và Triệu Việt Vương đều bị kẻ thù lừa cùng một kịch bản: Hôn nhân, gửi rể - vợ tiết lộ bí mật quân sự cho chồng - thông gia cướp nước. Bí mật quân sự ở được nói tới là móng rùa thần, móng rồng, nhưng thực tế đó chính là việc Trọng Thuỷ, Nhã Lang phá vỡ sự đoàn kết nhất trí trong nội bộ triều đình An Dương Vương, Triệu Việt Vương. Mất đi điều đó, dù có thành cao, hào sâu, vũ khí lợi hại bao nhiêu đi chăng nữa cũng mất nước.

Mất nước, cả An Dương Vương, Triệu Việt Vương đều đem theo con gái yêu chạy về phía nam và cùng tìm ra bờ biển làm nơi tự tận. An Dương Vương “xuống biển” ở xã Cao Xá ở Diễn Châu, Nghệ An. Còn Triệu Việt Vương chết ở cửa biển Đại Nha, nay thuộc Nghĩa Hưng, Nam Định. Cái chết của An Dương Vương cùng việc mất nước Âu Lạc mở đầu cho thời kỳ hơn 1.000 năm Bắc thuộc. Còn Triệu Việt Vương mất nước, chỉ thời gian ngắn sau, với việc Lý Phật Tử hàng Tuỳ, nước ta lại rơi vào thân phận nô lệ.
May 2013
M T W T F S S
April 2013June 2013
1 2 3 4 5
6 7 8 9 10 11 12
13 14 15 16 17 18 19
20 21 22 23 24 25 26
27 28 29 30 31